 |
06 tháng 11, 2010 |
Chú tôi mất. Đấy là tổn thất vô cùng to lớn của gia
đình. Chỉ có điều rất lạ là cây lộc vừng chú tôi yêu quí và gắn bó từ lâu
cũng tự nhiên héo úa.
Chú tôi là công nhân lâm nghiệp, cả cuộc đời gắn bó với
rừng. Có thể nói rừng là một phần không thể thiếu trong cuộc đời chú. Bàn
chân chú đã từng in dấu trên nhiều cánh rừng của Tổ Quốc. Ở đâu khó khăn
hoặc cần là chú có mặt.
Anh em tôi được chú cưu mang từ nhỏ khi mẹ tôi không
may bị tai nạn mất sớm. Chú coi anh em tôi như con, còn anh em tôi coi chú
vừa như cha, vừa như một người bạn lớn. Chú luôn dang tay che chở cho anh em
tôi, bên chú chúng tôi thấy yên tâm và thanh thản. Mỗi lần về thăm nhà chú
đều có quà cho chúng tôi, khi thì chùm quả vả căng đầy những mật, khi lại
chùm dâu da đỏ rực… Ngày ấy chúng tôi rất thích nghe chú kể chuyện. Khi chú
kể về khu rừng mới trồngđã lên xanh tốt, trong ánh mắt chú như có hai đốm
lửa sáng ngời. Còn những hôm bắt gặp những cánh rừng bị bọn lâm tặc tàn phá,
chú xót xa đau đớn như chính cơ thể mình bị tổn thương….
Có lần chú cho tôi vào rừng cùng. Tôi như đứa trẻ lạc
vào khu rừng cổ tích. Rừng xanh đầy những bất ngờ, đây đó những cây cổ thụ
to đến mấy người ôm không xuể, cao vút, bạnh cây gân guốc, tán lá rậm rạp,
ánh nắng xuyên qua thành những tia vàng óng. Những chùm dây leo như bầy rắn
khổng lồ đang gồng mình cuồn cuộn. Dưới thấp là thảm cây rậm rạp, nhiều lòai
hoa đủ sắc mầu rất lạ mắt. Những con sóc chuyền cành nhanh thoăn thoắt, một
tiếng chim lảnh lót trong tán lá, thỉnh thoảng một chú chim từ bụi cây bên
cạnh bay vút lên khiến tôi giật mình thích thú. Tiếng gió reo trong lá tạo
thành những âm thanh ru dương trầm bổng. Tôi bắt trước chú áp tai vào thân
cây, lắng nghe tiếng nhạc rừng đang ngân rung những giai điệu bất tận của
tình yêu cuộc sống, trong lồng ngực non trẻ bỗng dâng lên một cảm giác xốn
xang rất lạ.

Chú đưa tôi đến một cánh rừng mới trồng, chú bảo đây là
nơi bọn lâm tặc đã khai thác trộm, chú và anh em mới trồng lại. Có mấy cây
con bị gió thổi ngã rạp xuống, chú nhẹ nhàng nâng dậy và cứ xuýt xoa mãi.
Nhìn tôi đang vụng về lấy cành cây cắm xuống đất làm điểm tựa cho những cây
yếu, chú xoa đầu trìu mến:
- Cháu ạ, cây cũng có đời sống và tình cảm như người,
chỉ có những người yêu rừng, yêu cây và hết lòng vì nó mới có thể cảm nhận
được.
Chú tôi nói về rừng về cây một cách say sưa.
Rừng là lá phổi xanh của trái đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất… rồi cây
cũng biết vui biết buồn, biết giận. Nhiều điều chú nói sau này được học
trong nhà trường tôi càng thấm thía hơn. Còn lúc đó trong trí óc non nớt của
mình, tôi cứ tưởng tượng có một cô gái xinh đẹp như cô tiên ẩn trong thân
cây. Khi cô khỏe, cây vui cứng cáp mỡ màng, mỗi khi cô yếu hay buồn là cây
lại ủ rũ…
Hai chú cháu dừng chân bên một gốc vả, quả sai trĩu
từng chùm mọng căng quanh gốc. Chú lựa mấy quả chín đỏ bổ cho tôi ăn, lát vả
thơm lựng dâng đầy mật ngọt làm bao mệt nhọc tan biến. Nhìn ra phía rừng xa,
chú vui vẻ:
Lộc của rừng đấy cháu ạ. Còn nhiều thứ quí và của ngon
vật lạ lắm, nếu ta biết trân trọng nâng niu, rừng sẽ cho ta hưởng lộc.
Từ ngày nghỉ hưu, chú tôi qui hoạch lại khu vườn, mùa
nào cũng xanh tốt và sai trĩu quả. Chú trồng một vườn cây cảnh, đủ cả sung,
si, đa, lộc vừng… Nhìn chú chăm chút khu vườn mới biết tình yêu rừng trong
chú vẫn như ngày nào.
Lần ấy thấy tôi về chơi chú mừng lắm, kéo tôi ra vườn
khoe:
- Chú mới có một cây lộc vừng đẹp tuyệt vời.
Cây này do anh em trong lâm trường tặng. Cả đời gắn bó với rừng mà chú chưa
thấy cây lộc vừng nào đẹp đến như vậy.
Nói rồi chú đưa tôi đến bên cây lộc vừng, đi xung
quanh rồi lại ra xa ngắm. Cây lộc vừng thân to xù xì u cục nhưng tiềm ẩn một
sức sống mãnh liệt, tán cây xòe rộng hình tháp, xanh mướt vươn lên kiêu
hãnh, bộ rễ xum xuê vững chãi.
Nhìn chú vui tôi mừng lắm và hiểu rằng chú quí cây lộc
vừng trước hết vì đó là cái tình sâu nặng của đồng đội. Mà cây lộc vừng ấy
đẹp thật, càng ngắm càng thấy tỏa ra thần thái của bậc trượng phu, khí tiết
của trang quân tử. Chẳng khác nào chú tôi cả đời ngay thẳng, trung thực, hết
lòng vì những cánh rừng.
Chú từng kể cho tôi nghe, nhiều lần bọn lâm tặc tìm mọi
cách mua chuộc chú để chú làm ngơ cho chúng khai thác gỗ trái phép, bị chú
từ chối chúng tưởng chú chê ít chúng lại tăng gấp bội, nhưng chú kiên quyết
không tiếp tay cho kẻ ác, chú bảo:
- Mình sống nghèo mà thanh thản, chứ ăn của rừng “rưng
rưng nước mắt” đấy cháu ạ. Những lời nói chân thành mộc mạc ấy làm tôi xúc
đông và nhớ mãi.
Thế rồi chú tôi bất ngờ đổ bệnh. Khi gia đình đưa chú
đi khám mới biết chú bị ung thư giai đoạn cuối. Cả gia đình đều quây quần
bên chú. Nhìn hình hài bé nhỏ gầy guộc, đến trở mình cũng khó khăn của chú,
mọi người đều cố kìm xúc động, ra sân khóc lén. Riêng chú là vẫn cười nói
như không, chỉ khi trong giấc ngủ ít ỏi mới thoáng thấy chú rên nhè nhẹ.
Khi chú hỏi thăm cây lộc vừng và bảo đem sang gửi ở nhà
người con thứ ở cuối làng, kẻo cây biết chú ốm sẽ buồn phiền, ai cũng nghĩ
chú nói đùa. Cũng đến lúc đó mọi người mới để ý tới cây lộc vừng. Vẫn cái
dáng cứng cáp ấy nhưng lá đã ngả vàng từ lúc nào, lác đác đã có vài chiếc lá
lìa cành. Tôi nghe loáng thoáng ai đó nói rằng từ khi chú tôi đổ bệnh không
chăm sóc được nên cây mới thế, chứ khi còn khỏe ngày nào cũng thấy chú bên
cây, có lúc còn thầm thì như đôi bạn tâm giao, tri âm tri kỷ. Tôi bỗng ớn
lạnh khi nhớ tới chuyện hồn sống của cây mà chú tôi kể ngày nào. Tôi tin
rằng bằng một cách nào đó, cây lộc vừng đã cảm nhận được tình trạng sức khỏe
của chú tôi.
Thế rồi chú tôi lặng lẽ ra đi, vầng trán rộng còn vương
nỗi ưu tư trăn trở. Chúng tôi đem khăn tang thắt cho cây lộc vừng và những
cây trong vườn, cả khu vườn trắng một mầu tang tóc. Anh em chúng tôi không
ai cầm lòng được, nức nở gọi chú trong nước mắt. Hàng cây chịu tang đứng im
phăng phắc bỗng rùng mình xao xác, trời không mưa mà những giọt nước trên
vòm lá rơi ướt lạnh trên má anh em tôi.
Đưa chú tôi ra đồng, chúng tôi kính cẩn gửi chú vào
lòng đất mẹ xong, tôi thắp hương xin phép chú rồi mấy anh em xúm lại xem xét
cây lộc vừng. Cây không có biểu hiện sâu bệnh, bộ rễ vẫn từng chùm đầy sức
sống, cây đã rụng hết lá, vài cành nhỏ khô cứng nhưng bấm vào nhựa vẫn ứa
ra. Mấy anh em tôi tỉa cành khô, chuyển cây vào nơi dịu nắng. Trong thâm tâm
mấy anh em tôi ao ước cây lộc vừng xanh tốt trở lại. Chúng tôi đã quen với
hình ảnh chú bên cây lộc vừng, đến mức có lúc cứ ngỡ cây với chú đã hòa làm
một.
Dịp bốn chín ngày chú tôi, chúng tôi không hẹn mà cùng
ra thăm cây lộc vừng, chú em tôi nghẹn ngào:
- Hàng ngày chúng em vẫn chăm sóc cho cây,
nhiều lúc chúng em vẫn nói chuyện với cây như ngày trước bố em vẫn làm.
Chúng em không muốn cây thiếu vắng tình người…
Thế rồi cây lộc vừng xanh tốt lại thật,
những chiếc lá non tơ mới nhú óng lên trong nắng sớm, những hạt nước li ti
long lanh trên lá như muôn hạt châu. Cả khu vườn mơn mởn một mầu xanh. Trong
gió thoang thoảng hương thơm của lá, của hoa, ngây ngất một sức sống diệu kỳ
dâng lên từ đất.

Gần đến ngày giỗ đầu chú, chú em điện cho tôi giọng
mừng rỡ:
- Lạ lắm anh ạ, cây lộc vừng sai nụ lắm, em
cứ cầu trời khấn phật để cây trổ hoa đúng ngày giỗ anh ạ.
Ngày giỗ chú, dù làm việc gì thì anh em tôi thỉnh
thoảng vẫn ngó về phía cây lộc vừng với một sự chờ đợi thấp thỏm. Chiều ấy
khi mọi việc đã xong, mấy anh em tôi ngồi quanh cây lộc vừng, câu chuyện đưa
về những kỷ niệm về người chú thân yêu đã đi xa. Mỗi người đều kể về chú với
một tình cảm sâu nặng.
Trăng lên. Tán lá xanh ánh lên một mầu vàng dịu, những
chùm nụ đung đưa lung linh huyền ảo. Tôi thắp một nén hương trên bàn thờ
chú, khi quay ra chợt sững người lại. Trời ơi! Tôi có nhầm không, khi từ
trong tĩnh lặng như có tiếng lách tách nhè nhẹ. Những cánh hoa lộc vừng bừng
nở đỏ thoáng chốc ngỡ ngàng, rồi chẳng mấy chốc đã buông thành một rèm hoa
tha thướt. Mấy anh em tôi không ai kìm được tiếng xuýt xoa. Thấy vậy cả nhà
ùa đến, thím tôi khóc nức lên: “Ông ơi là ông ơi! Ông sống khôn thác
thiêng…”
Tôi chợt cay sè sống mũi vội bước ra sân, dưới ánh
trăng, những cánh rừng bạt ngàn nối nhau xa tít tắp, mùi hoa, mùi lá cây lan
tỏa khắp không gian. Tôi như thấy chú tôi vẫn còn đâu đó, lưng áo bạc trắng
mồ hôi, cần mẫn vì sự sống của những cánh rừng.
Những bài cùng tác giả:
Chè “Hai không”, “năm cực” Suối Giàng (Trần Vân Hạc)
Chữ Viết Khoa Đẩu Duy Nhất Trên Đá Cổ Sa Pa (Trần Vân Hạc)
Công Trình Chữ Việt Cổ Của Giáo Sư Lê Trọng Khánh (Trần Vân Hạc)
Gửi Người Tạc Tượng Alexandre De Rhodes (Vân Hạc)
Huyền Thoại Tắm Tiên Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Hình Tượng Cây Nêu Với Một Số Dân Tộc Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Hương Sắc Rừng Xuân Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Hội thảo: Kinh thành Thăng Long - Thủ đô Hà Nội (Văn Hạc)
Không gian cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – Một hướng tiếp cận mới (Trần Vân Hạc)
Kính gửi Ban biên tập Tuần báo Văn nghệ TPHCM (Trần Vân Hạc & Nguyễn Lê)
Lê Văn Tám: Lửa Bất Diệt (Trần Vân Hạc)
Mùa Xuân Tây Bắc Trong Tôi (Trần Vân Hạc)
Một ngôi chùa cổ rất cần những tấm lòng (Trần Vân Hạc)
Một văn bản chữ cổ của người Pà Thẻn (Trần Vân Hạc)
Nghĩa Trang Mang Tên Một Dòng Sông (Trần Vân Hạc)
Nguyễn Trãi, hợp tuyển thơ của soạn giả Gia Dũng (Vân Hạc)
Người Giữ Hương Chè Shan Tuyết Suối Giàng (Vân Hạc)
Người Lắng Thầm Tìm Con Chữ Việt Cổ (Trần Vân Hạc)
Người phụ nữ Thái hết lòng vì văn hóa dân tộc (Trần Vân Hạc)
Ngọn lửa Lệ Chi Viên (Trần Vân Hạc)
Nhà Sàn Của Người Thái Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Nhân Sinh Trong Tiếng Đại Ngàn (Trần Vân Hạc)
Những ngôi chùa trên huyện đảo Trường Sa (Trần Vân Hạc)
Nét Đẹp Tục Chơi Còn Của Người Thái Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Núi Rừng Tây Bắc Đón Xuân: Inh Lả Ơi, Xao Nọong Ơi! (Vân Hạc)
Thông báo xuất bản sách chữ Việt cổ (Trần Vân Hạc)
Tinh thần yêu nước trong thơ Nguyễn Khắc Nhu (Trần Vân Hạc)
Triết lý nhân sinh qua các món ăn của người Thái Tây Bắc (Trần Vân Hạc)
Trái Tim Của Biển (Trần Vân Hạc)
Trống đồng vang vọng giữa Trường Sa (Trần Vân Hạc)
Tây Bắc trong thơ Nguyễn Quang Bích (Trần Vân Hạc)
Tính hòa đồng của những ngôi chùa cổ Việt Nam (Trần Thi)
Tấm lòng vàng của một nhà khoa học chân chính (Trần Vân Hạc)
Tập Thơ Đường "Thuận Nghịch Độc" Của Tiến Sỹ Đặng Văn Phú (Trần Vân Hạc)
Vui buồn trên đường dâng sách (Trần Vân Hạc)
Vài nét về rừng thiêng của dân tộc Thái (Trần Vân Hạc)
Vài nét về tiến trình của chữ Quốc ngữ (Trần Vân Hạc)
Vàng Son Huyết Lệ (Trần Vân Hạc)
Yếu tố Việt cổ trong ngôn ngữ Thái (Trần Vân Hạc)
Đài Giọt Lệ (Hoàng Đạo Chúc)
Đầu xuân gặp nhà văn Sơn Tùng (Trần Vân Hạc)