|
“THẾ À!”
Tiền thoại:
-
Này, nhà sư hổ mang. Cái bào thai kia
là của ông đấy!
-
Thế à!
Tám tháng sau…
-
Bớ gã phàm tăng, con của ông đây, giữ
mà nuôi nó đi.
-
Thế à!
Ba năm sau…
-
Thưa đại sư, xin thầy từ bi hỷ xả, tôi
đã đổ oan cho thầy.
-
Thế à!
Cuộc chiến đấu với thị phi đã kéo dài
2 nghìn 500 năm. Nếu thay tiếng “Thế à!” bằng lời phẫn nộ, đay
nghiến, mắng nhiếc, lý sự, trả đũa… thì đạo Phật đã trở về với cát
bụi bên bờ sông Hằng Hà như những Kim Tự Tháp của Ai Cập bị chôn vùi
trong sa mạc hay như những lâu đài La Mã chỉ còn trơ lại dăm mảnh
của đấu trường…
***
Tâm lý thường tình cho rằng, những
chuyện khen chê – thị phi… nhập nhằng – chỉ xảy ra trong những mảnh
đời sống vụn vặt hàng ngày mà thôi. Còn những lĩnh vực “đại sự” như
tôn giáo, chính trị, văn hóa… thì phải cần đến những sự vụ đao to
búa lớn hơn là những chuyện thị phi như thế. Thực tế thì đốm lửa và
đám cháy rừng lắm lúc vẫn có những quan hệ hữu cơ ngoài tầm dự liệu.
Tuy nhiên, đốm lửa, đám cháy và cánh rừng sẽ không bao giờ là ba
thực thể, ba đối tượng ngang nhau cả. Đạo pháp và chuyện thị phi
cũng thế. Đạo Phật, người tu theo đạo Phật và chuyện khen chê xưa
nay không thể có sự lẫn lộn.
Từ thuở đức Phật Thích Ca thành đạo,
chuyển pháp luân cho đến ngày hôm nay đã trải qua hơn 25 thế kỷ, bên
cạnh những lời ngợi ca vang vọng lâu đời nhất thì vẫn có những lời
chê bai đầy biên kiến nhất. Cho nên, chuyện thị phi trong sinh hoạt
Phật giáo hay bất cứ một tôn giáo nào không bao giờ thiếu vắng như
hai mặt sáng tối, nóng lạnh tất nhiên của đời sống.
Sau năm 1975, Phật giáo Việt Nam cũng
theo dòng người di tản lan ra nước ngoài. Đời sống tâm linh, tôn
giáo mang dấu ấn văn hóa và xã hội của con người tin theo. Phật giáo
Việt ở nước ngoài, từ gốc rể cũng mang bản sắc của người Việt tha
hương. Tuy nhiên, tác động của hoàn cảnh cụ thể từng nơi đã trở
thành những “trợ duyên” cho sinh hoạt thờ phụng, chiêm bái và tu
học. Mội trường kinh tế, xã hội và nếp sống thực dụng tại các nước
phương Tây trở thành một sự thử thách mới cho Phật giáo Việt Nam
truyền thống. Tinh thần Đại Thừa phát huy mạnh mẽ do tác dụng khách
quan lẫn chủ quan của môi trường kinh tế thực dụng và truyền thông
đại chúng quá phong phú và đa dạng tại các xứ nầy. Sự thử thách mới
cụ thể, thường xuyên, trực tiếp và mạnh mẽ nhất đối với khuynh hướng
tu hành thanh tịnh và tinh tấn là vật chất (tự viện, tiền bạc, xe
cộ, vật dụng) và sắc dục (vẻ đẹp hào nhoáng khêu gợi bên ngoài, cung
cách tự do cởi mở, có sẵn phương tiện vật chất, lòng ham muốn tính
dục…)
Sự thử thách mới đã tự chứng tỏ quyền
năng của nó trong suốt 30 năm qua trong cộng đồng người Việt ở nước
ngoài. Cũng có tu sĩ Phật giáo đã rủ áo hoàn tục. Cũng đã có hiện
tượng tăng ni không giữ được bồ đề tâm kiên cố và dính mắc vào những
hệ lụy đời thường. Tuy nhiên, đây cũng là ngọn lửa thử vàng đối với
các bậc cao tăng thạc đức, những bậc tu hành vẫn giữ được tấm gương
ngời sáng của bậc chân tu, tiếp tục hành đạo và hóa đạo cho đời.
Hệ quả tất nhiên của một xã hội vàng
thau lẫn lộn như thế là phản ứng của đời thường. Mức độ và nguyên
nhân tuy khác nhau nhưng có thể tìm thấy được rằng: (1) Do động cơ
chính trị; (2) do động cơ “thánh chiến” giữa các tôn giáo chống báng
nhau; (3) do sự bất mãn, ganh tỵ, mưu đồ trục lợi; (4) do thiện chí
nhưng “lực bất tòng tâm” vì sự hiểu biết hạn hẹp và quan điểm chủ
quan, phiến diện; (5) do thành tâm thiện ý muốn xây dựng đạo cho
đời.
Bao năm qua, người theo đạo Phật cũng
như đồng hương đứng ngoài, càng ngày, càng cảm thấy không còn nhiệt
tình quan tâm và hứng thú để theo dõi những ý kiến khen chê, những
lời bình luận về sinh hoạt chùa chiền tự viện và về những tu sĩ Phật
giáo “có vấn đề”. Lý do đơn giản là vì lý luận nghiêm túc thì ít mà
hý luận vu vơ thì nhiều; biên kiến ngày càng khơi rộng thì chánh
kiến càng ngày càng hiếm hoi. Con người càng đi nhiều, biết rộng;
càng trở nên tỉnh táo hơn, độc lập hơn trong thái độ lựa chọn một
hướng đi, một nếp sinh hoạt riêng cho đời sống tâm linh, tín ngưỡng
của mình. Do đó, mọi sự vọng động nhằm lôi kéo người Phật tử thời
nay nghiêng lệch, đảo điên bằng phương kế tin đồn, sách báo xuyên
tạc, băng đĩa dèm pha… đang trở thành những trò chơi phù phiếm, lỗi
thời của quá khứ.
Phải chăng đấy là lý do mấy tập sách
mang tên “Giặc Thầy Chùa” của ông Đặng Văn Nhâm – ngỡ như là
sẽ làm chấn động giới chùa chiền – lại không tạo được một phản ứng
nào ngoạn mục về phía “giặc” lẫn phía người đọc nghiêm túc trong
suốt mấy năm qua.
Khi “dường như đã lãng quên” thì tin
tức Giặc Thầy Chùa lại bỗng đâu lù lù hiện đến. Qua thông tin trên
mạng lưới vi tính đề ngày 31 tháng 7 năm 2007, hàng chữ đậm in đầu
trang đập vào mắt người đọc như sau: Án Lệnh Chung Quyết của
Tòa án Tư pháp Sơ thẩm khu vực tài phán thứ 165, hạt Harris, Texas
về vụ án 2006-71920 xử vào ngày 16-2-2007. Nguyên cáo là cô Lương
Thùy Trúc và Giáo Hội Long Hoa Phật Nhị Hội nộp hồ sơ thông qua tổ
hợp luật sư Hoang & Associates kiện ông Đặng Văn Nhâm về tội mạ lỵ.
Ông Đặng Văn Nhâm không đến hầu tòa nên bị xử khiếm diện. Phiên
tòa kết thúc với phán quyết là: “Tòa án đã tìm ra và phán
quyết rằng bị cáo Đặng Văn Nhâm đã bịa chuyện mạ lỵ với ác ý”
(Founded, adjudged and ordered that Defendant Nham Van Dang made the
libelous statements with malicious intent). Theo phán
quyết nầy, tòa án ra lệnh cho ông Đặng Văn Nhâm phải đền bù thiệt
hại về vật chất 25.000 đô la; bồi thường danh dự 100 đô la; trả
500.000 đô la thiệt hại về đức hạnh. “Tập sách Giặc Thầy Chùa
III cấm phát hành vĩnh viễn. Bất cứ ai tiếp tục phổ biến tập sách
nầy phải chịu trách nhiệm về sự sai trái mà toà án đã phán quyết.”
(The book Giac Thay Chua III, Bandit Monks III, is to be permanently
enjoined from distribution. Any distribution of this book is a
continuation of such libel and the party distributing this book is
also responsible for such libel).
Những người không theo dõi “khổ nạn”
chữ nghĩa nầy từ đầu sẽ thắc mắc đại khái như: Ôi! Không biết có gì
trục trặc đây? Cái nước tự nhận là tự do ngôn luận tận lông mày,
chân tóc như Huê Kỳ mà lại đi xử ép nhà văn An Nam ta nặng nề như
vậy sao?! Thật ra, tự bản chất của vụ án, đây không phải là một
phán quyết của tòa án về tự do ngôn luận mà chỉ là một cách giải
quyết của luật pháp về trò “lộn xộn” chữ nghĩa của thánh… bất hiền
mà thôi. Người ném chữ nghĩa vi vút là nhà văn Đặng Văn Nhâm – Hội
viên hội Nhà Văn Chiến Đấu Tây (Association des Écrivains Combattant
Francais); cựu chủ tịch Hội Văn Bút Nước Nam Hải Ngoại – từ nước Đan
Mạch xa xăm lặn lội sang Huê Kỳ hành hiệp và khổ chủ bị ném trúng
phóc là cô Lương Thùy Trúc.
Nhà văn Đặng Văn Nhâm đã cho ra đời 4
cuốn sách được in ấn và bày bán rộng rãi tại Mỹ. Ba cuốn nhan đề là
“Giặc Thầy Chùa 1, 2, 3” và cuốn “Đời Tôi” y như thể là “My Life”
của cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton (!) Nội dung của 3 cuốn Giặc
Thầy Chùa viết về các tu sĩ Phật giáo tại nước ngoài mà trọng điểm
là tại Mỹ. Liên tục trong 3 cuốn nầy, ông Đặng Văn Nhâm đã lôi các
nhà sư có tên tuổi để hài tội, luận tội và kết tội họ về các phương
diện (1) quan hệ tình dục, (2) thâm lạm tiền bạc, (3) lợi dụng quyền
thế.
Mở đầu cho cuốn Giặc Thầy Chùa I, ông
Đặng Văn Nhâm đã noi gương và trích dẫn chuyện Chiếc Áo Đại Triều
(The Emperor’s New Suit) của đại văn hào Đan Mạch, Hans Andersen và
nhấn mạnh về cái phương pháp luận “xích tử chi tâm” mà ông sẽ ứng
dụng trong sách ông viết. Nói một cách nôm na là ông Đặng Văn Nhâm
chủ trương “tấm lòng con đỏ”, thấy chi nói nấy chứ không gạn đục
khơi trong, vo tròn bóp méo gì cả. Nói về quan điểm nầy, ông Hồ
Hoàng Đức viết trên báo Phù Sa số 126 – tháng 6/2006, đã nhận định
một cách đầy tính hoạt kê về chiến lược “con đỏ” của ông Đặng như
sau: “Nhà văn là người làm văn hóa, người đem vẻ đẹp của ngôn từ
và tư tưởng vào tác phẩm mà phục vụ cho đời. Nay Đặng Văn Nhâm dùng
lối ‘xích tử chi tâm’ như con nít sơ sanh vớ phải cục cứt gà cũng
tưởng nhằm là vú mẹ đun ngay vào miệng, không gạn lọc, chọn lựa, sắp
đặt, trang trí cho hay cho đẹp thì còn gì là văn vẻ, văn chương…”
Tôi không muốn lạm bàn về chuyện văn
chương như ông Hồ Hoàng Đức, nhưng cũng đành phải để cho cái “tôi”
đáng ghét của mình xuất đầu lộ diện chút đỉnh vì nhà văn Đặng Văn
Nhâm đã sử dụng trên cả nghìn trang viết làm phương tiện truyền
thông về một lĩnh vực có liên quan đến phạm vi chuyên môn của tôi.
Trong lúc đó, ông Đặng chưa chứng tỏ và chứng minh được một phương
pháp thu thập dữ kiện nào đáng tin cậy, có tính thuyết phục trước
khi áp đặt những kết luận “điếng người” về những nội vụ thuộc về một
lĩnh vực nhân sinh cực kỳ nghiêm trọng. Đấy là lĩnh vực điều tra
các vụ án xâm phạm tình dục.
Trước hết, tôi xin tóm tắt về những
hiểu biết khiêm tốn của mình về lĩnh vực vừa nêu. Từ ngày 1 tháng 8
năm 1988, tôi làm việc cho cơ quan CPS (Children’s Protective
Services: Cơ quan bảo vệ thiếu niên) của Sacramento thuộc tiểu bang
California. Đây là cơ quan làm việc trực tiếp với nạn nhân và thủ
phạm để điều tra và bảo vệ trẻ em từ lúc còn ở dạng bào thai đến 18
tuổi. Trong các hình thức ngược đãi trẻ em thì sự lạm dụng tình dục
(sexual abuse) là nghiêm trọng nhất. Sự lạm dụng tình dục có 3 mức
độ: Làm tình (intercourse), đụng chạm xác thịt (molestation) và lợi
dụng tình dục (exploitation). Ngoài ra, có hàng chục hình thức, khái
niệm và diễn giải liên quan đến sự quan hệ tình dục.
Để thụ lý một hồ sơ về sự xâm phạm
tình dục, khởi đầu, tôi phải đi từ việc nghiên cứu nội dung của báo
cáo (hay tố cáo), xác định mức độ đáng tin cậy của dữ kiện nội vụ,
thu thập tất cả hồ sơ về tiền án của nạn nhân và thủ phạm. Bước
tiếp theo là trực tiếp phỏng vấn nạn nhân và tất cả những ai có liên
hệ hay biết về nội vụ. Sau đó đối chứng lời khai của nạn nhân, thủ
phạm, những người chứng và đưa vào bộ phận chuyên môn kiểm nghiệm y
khoa (DNA, thương tích thế xác, tình trạng tinh thần…) và một trong
những yêu cầu đặt nặng hàng đầu là phải hoàn toàn nghiêm khắc giữ bí
mật (strict confideltiality) nội vụ và tuyệt đối tránh ảnh hưởng chủ
quan, cảm tính cá nhân vào quá trình làm việc.
Suốt 18 năm làm việc liên tục trong
lĩnh vực điều tra, bảo vệ trẻ em tại Mỹ, tôi quá đỗi kinh ngạc khi
đọc những bài viết tường trình về các trường hợp “xâm phạm tình dục”
giữa các tu sĩ và đối tượng tình dục do ông Đặng Văn Nhâm kể lại
trong các trận đánh “Giặc Thầy Chùa” của ông. Kinh ngạc không phải
vì những kết luận “oanh liệt” như những chiến thắng mà ông Đặng đã
đắc chí đưa vào trong sách; nhưng là vì tác giả tự chứng tỏ cái
“nghề mọn riêng tay” của mình quá đơn giản và ngô nghê khi “mang
thai Thị Mầu níu đầu Thị Kính” bằng những thông tin mà ngành điều
tra chuyên môn của Mỹ gọi một cách đầy hoài nghi và mĩa mai là
“streetwise hearsay” (thông tin nghe ngóng lém lỉnh kiểu hè phố)
không đáng tin cậy. Lượng thông tin thuần trực giác và cảm tính
trong Giặc Thầy Chùa cùng với một văn phong thô nhám, dung tục tự nó
đã làm mất vẻ trí tuệ và sức thuyết phục cần thiết khi tác giả đang
cần xây dựng một luận điểm cơ bản cho nội hàm tác phẩm của mình.
Cũng là một người theo đạo Phật và cầm
bút tiêu khiển, trong cảnh vàng thau lẫn lộn như đã có dịp trình bày
ở phần trên, tôi sẽ rất tôn trọng và khâm phục khi ông Đặng Văn Nhâm
có can đảm nói lên được những điều sai trái của một số người lợi
dụng, núp bóng nhà tu. Và cũng như nhiều Phật tử thầm lặng khác,
chúng tôi không ngây thơ để tin kính vô điều kiện vào chiếc áo nhà
tu; cũng như chẳng vội vàng mất thì giờ quan tâm đến những hiện
tượng ồn ào, cáo buộc bung xung, tùy hứng nhất thời. Nếu nói đúng,
chúng ta sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng và cải thiện đạo
Phật và sẽ được hưởng phước quả tốt đẹp của tinh thần Duy Ma Cật.
Nếu cố tình nói sai để mưu cầu tiếng tăm dễ dãi thì sẽ nhận hậu quả
ngược lại. Tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh và ý hướng nào thì cũng
mong ông Đặng Văn Nhâm vui lòng lưu ý đến “luật chơi.” Nghĩa là
người cầm bút cần sử dụng phương pháp và phương tiện thích hợp. Khi
phê phán và quy kết một điều gì, nhất là những điều liên quan đến uy
tín, danh dự của kẻ khác nếu chưa đủ bằng chứng khách quan, chứng lý
khoa học thì phải tự lượng sức mình để khỏi suy diễn chủ quan, có
khả năng làm trò cười cho đại chúng.
Giữa ánh sáng truyền thông công cộng
nhanh như chớp mắt của thế kỷ 21, chúng ta nên tỉnh táo nhìn rõ và
nhìn đúng vấn đề lẫn đối tượng làm căn bản cho “sự nghiệp sáng tạo
văn chương” của mình để tránh tình trạng lẫn lộn giữa bóng và hình,
giữa dữ kiện và tin đồn, giữa hiện tượng và thực chất. Kết luận hay
suy diễn vội vàng có thể tạo ra sự nở rộ, hấp dẫn thoáng qua nhưng
tác hại lại lâu dài, vì một trăm cuốn sách viết sai sẽ trăm lần tệ
hơn một câu viết đúng.
Nhân đây, cũng xin được thưa với nhà
văn Đặng Văn Nhâm rằng, tôi tự hào và hãnh diện khi có một nhà văn
xứ mình đã từng lãnh đạo giới Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và nay lại
được đứng vào đội ngũ Nhà Văn Chiến Đấu Pháp như ông. Tuy khác nhau
về đất ở nhưng tôi tin rằng nhà văn là người trân trọng truyền thống
tốt đẹp của dân tộc mình và dân tộc bạn. Và ít nhiều thì những tác
phẩm văn chương của hội viên như Giặc Thầy Chùa cũng phản ánh khuynh
hướng “chiến đấu” trên mặt trận văn học nghệ thuật của Hội. Mong
rằng, nhà văn Đặng Văn Nhâm sẽ góp phần truyền đạt và uốn nắn cho
các bạn đồng môn trong Hội Nhà Văn Chiến Đấu Pháp tinh thần khiêm
cung và lễ độ; tránh những sự áp đặt tư tưởng thô thiển và lối hành
văn dung tục khi họ viết về con người và bối cảnh Việt Nam, nhất là
viết về các nhà tu.
Không rõ luật lệ ở nước Đan Mạch nơi
nhà văn Đặng Văn Nhâm trú ngụ như thế nào, nhưng riêng luật pháp tại
Hoa Kỳ thì hầu như tất cả các trường hợp “đánh đấm” trong Giặc Thầy
Chùa đều có khả năng đi đến kết luận tương tự như trường hợp của cô
Trương Thùy Trúc.
Nhưng sự im lặng từ trước đến nay của
các tu sĩ Phật giáo bị “lên list” trong Giặc Thầy Chùa là sự im lặng
của thiền sư “Thế à!”. Thế mà hay!
Trong dòng chảy từ thời xa xưa của quá
khứ, lịch sử nhân văn đời đời vẫn nhận ra dáng vẻ bất chính, ồn ào,
vọng động của Thị Mầu là ma vương quỷ sứ. Nhưng sự im lặng “Thế à!”
của Thị Kính vẫn muôn đời là tiếng hải triều âm vang vọng của Bồ tát
Kỉnh Tâm.
Natomas, Mùa Vu Lan 2007
Trần Kiêm Đoàn
Hoang & Associates
Attorneys & Counselor At Law
1900 N. Loop West, Suite 500 -
Houston, Texas 77018
Tel.: 713-600-3700 · Fax: 713-600-3705
Email: Law500inc@yahoo.com
Ngày 12 tháng 9 năm 2007.
Về việc phán quyết
chung thẩm vụ án “2006-71920”, tòa án 165 ở Hạt Harris Texas tuyên
án nhà văn Đặng Văn Nhâm viết sách Giặc Thầy Chùa III mạ lỵ người
khác và ngăn cấm không cho sách này được lưu hành nữa.
Kính gởi quý vị lãnh đạo tinh thần,
quý vị lãnh đạo các tổ chức đấu tranh, quý cơ quan truyền thông báo
chí, quý nhà sách nhà báo, quý vị trưởng thượng, quý thiện nam tín
nữ, và toàn thể quý bạn trẻ:
Ngày 4 tháng 5 năm 2007, văn phòng
chúng tôi công bố về phán quyết của vụ án này, ông Đặng Văn Nhâm
thuê Tổ Hợp Luật Sư Wesley Coddou đại diện cho ông nộp đơn lên tòa
165: 1/ Xin xét xử thẩm quyền của Tòa (Special Appearance); và 2/
Nếu tòa xét có thẩm quyền thì xin tòa cho mở lại hồ sơ xét xử lại
(set aside the Default Judgment).
Ông luật sư Wesley Coddou ra tòa và
ngày 26/7/2007, văn phòng chúng tôi không hiện diện, tòa ký Lệnh Bãi
Nại (Dismissal Order). Nhận được Lệnh Bãi Nại này, văn phòng chúng
tôi nộp hơ sơ xin tòa hủy bỏ lệnh đó vì văn phòng của chúng tôi chưa
hề nhận được giấy Thông Báo Buổi Điều Trần (Notice of Hearing) của
luật sư Coddou.
Ngày 27/08/2007, buổi điều trần được
diễn ra, trong buổi điều trần chúng tôi chất vấn luật sư Wesley
Coddou nói đã gởi Thông Báo Buổi Điều Trần cho văn phòng chúng tôi
thì gởi hồi nào và bằng chứng ở đâu. Luật sư Wesley Coddou nói đã
gởi Thông Báo vào ngày 12/7/07 qua điện thư (facsimile). Chúng tôi
hỏi giấy xác nhận (confirmation) của điện thư thì ông trả lời ông
không có. Chúng tôi lập luận trước tòa rõ ràng đây là chiêu thức
của văn phòng luật sư Coddou để đạt được Lệnh Bãi Nại. Chánh án
Elizabeth Ray ngay lập tức ký Lệnh Hủy Bỏ Lệnh Bãi Nại. Đính kèm là
Lệnh Hủy Bỏ Lệnh Bãi Nại có chữ ký của chánh án, của chúng tôi, và
ngay cả chữ ký của luật sư Wesley Coddou.
Như thế, Án Lệnh ngày 16/2/2007 vẫn
còn hiệu lực. Án lệnh đó như sau: Ông Nhâm phải đền bồi thiệt hại
vật chất $25,000, thiệt hại danh dự $100, phạt làm gương $500,000,
và cấm không cho lưu hành quyển sách Giặc Thầy Chùa III nữa và nếu
ai tiếp tục phân phát quyển Giặc Thầy Chùa III thì người ấy sẽ bị
tội đồng lõa và sẽ chịu chung trách nhiệm tội phỉ báng giống như ông
Đặng Văn Nhâm.
Xin nhắc lại đây là vụ án của một nữ
phật tử, cô Trương Thùy Trúc, tố ông Đặng Văn Nhâm phỉ báng tiết
hạnh của cô vì cô đi mổ bướu trong bụng (có hồ sơ y lý) mà ông Nhâm
dựng chuyện nói là đi phá thai. Vụ án của cô Trương Thùy Trúc ở tòa
165 của quận hạt Harris, số “2006-71920”. Long Hoa Phật Nhị Hội còn
nộp một hồ sơ khác truy tố ông Đặng Văn Nhâm, vụ án mang ký hiệu
The Buddhist Church of the Second Long Hoa Assembly aka Long Hoa
Phat Nhi Hoi vs. Nham Van Dang, cause no. “2006-71977” in the 190th
Judicial District Court of Harris County Texas. Long Hoa Phật
Nhị Hội tố ông Đặng Văn Nhâm tội mạ lỵ vì dám dựng chuyện nói Giáo
Hội này “một là của Cộng Sản hai là của băng nhóm sát nhân” mà trong
thực tế Giáo Hội này bị chính Cộng Sản Việt Nam đàn áp, bị tịch thu
tài sản, và những việc làm của Long Hoa Phật Nhị Hội ngay tại địa
phương được cơ quan cảnh sát của Houston ca ngợi đóng góp nhiều ích
lợi cho xã hội. Hai vụ án khác nhau và ở hai tòa khác nhau, và tôi
là luật sư thụ lý cả hai vụ kiện.
Trở lại việc tòa xử khiếm diện ông
Đặng Văn Nhâm vào tháng 2 năm 2007. Khi ấy, ông Đặng Văn Nhâm có
thuê luật sư Anne Osbak ở Coppenhagen nước Đan Mạch đại diện cho
ông. Luật sư Anne Osbak nghĩ rằng tòa án Texas không có thẩm quyền
xét xử ông Nhâm. Chúng tôi trả lời bà Osbak là tòa Texas có quyền xử
ông Nhâm vì ông Nhâm đã đến tận Texas để “điều tra” các sự kiện và
ông đã đăng tất cả chuyện này trên quyển Giặc Thày Chùa III. Như
vậy, Texas là hiện trường (alibi). Texas còn có thẩm quyền xử ông
Nhâm vì sách của ông được bày bán tại Houston. Chúng tôi khuyên bà
Anne Osbak hãy mau kiếm một luật sư ở Texas để trả lời tại tòa kẻo
không ông Nhâm sẽ bị xử khiếm diện (default judgment). Bà Osbak
đồng ý đi tìm một luật sư ở Houston, nghe đâu lúc đầu luật sư Ngô
Quốc Lân nhận giúp ông Nhâm vụ này, nhưng cuối cùng không ai trả lời
tại tòa án.
Văn phòng chúng tôi thông báo cho luật
sư Anne Osbak ngày giờ và địa điểm tòa xử khiếm diện, bà thông báo
lại cho chúng tôi biết bà không liên lạc được với ông Đặng Văn Nhâm.
Theo bà, ông Nhâm nói ông đi du lịch hay đi nghỉ hè!!
Ngay khi tòa ký Bản Án Chung Thẩm, văn
phòng chúng tôi thông báo đến luật sư Anne Osbak. Sau này chúng tôi
còn gởi nguyên bản đến văn phòng luật sư Anne Osbak, bà liền viết
thư trả lời nói bà không đại diện cho ông Nhâm nữa, xin hãy trao án
lệnh trực tiếp cho ông Nhâm. Nhận lá thư này, ngày 8/5/2007, văn
phòng chúng tôi gởi án lệnh đến ông Nhâm. Thủ tục tòa án đó là 30
ngày sau khi tòa ký án lệnh thì mới có hiệu lực. Lúc ấy ông Nhâm đã
có tổ hợp luật sư Osbak thì tất cả thông báo chúng tôi chỉ cần gởi
đến tổ hợp luật sư đó chớ không phải gởi đến ông Nhâm nên án lệnh đã
có hiệu lực, và chúng tôi tin chắc nay mai trong buổi điều trần án
lệnh này là chung thẩm. Trong lúc đó, trát tòa vụ án của Long Hoa
Phật Nhị Hội đến nhà ông Nhâm, ông Nhâm không nhận. (Sau này Luật
sư Anne Osbak gởi thư cho văn phòng chúng tôi cho biết chính bà yêu
cầu ông Nhâm đừng nhận những văn thư xuất phát từ văn phòng của tôi,
của tòa án hoặc của Bộ Ngoại Giao của Texas vì bà tin rằng không
nhận trát thì không phải trả lời.)
Tôi phải bay qua Đan Mạch, hối thúc tổ
hợp trao trát ở Đan Mạch phối hợp tổ hợp trao trát ở Mỹ để trát trao
tận tay ông Nhâm một cách có hiệu lực. Tổ Hợp Trao Trát (độc lập với
tòa án và văn phòng của chúng tôi) đã phải lấy địa chỉ hộp thư của
phật tử Thiện Quang ở Houston gởi cho ông Nhâm. Thiện Quang là người
quen thân của ông Nhâm đã chở ông Nhâm tới chùa để “điều tra” về
Long Hoa Phật Nhị Hội.
Ông Nhâm ký nhận vì ông tưởng đó là
của Thiện Quang nhưng thật ra đó là của công ty trao trát tòa. Thư
ông ký nhận gởi trả lại cho Thiện Quang (thật sự là công ty trao
trát tòa) tỏ rõ ông không hiểu gì về luật pháp mà ông đã vội kết án:
“Anh nhận được thư bảo đảm của Thiện Quang. Trong đó chỉ vỏn vẹn có
độc nhất bản Plaintiff's Original Petition ngày 12/4/07 của Giáo
phái Long Hoa tại Houston. Đây có lẽ là thói quen ám muội, chơi trò
ném đá giấu tay của nhóm người này, thường nhắm mục đích hù dọa và
khủng bố tinh thần các đệ tử nào xem ra có vẻ chống đối việc làm mờ
ám của họ.” Chắc bây giờ ông Nhâm hiểu rõ nguyên do tại sao lá thư
ông gởi cho Thiện Quang mà không bao giờ thấy sự hồi báo là vậy.
Mới đây ông Đặng Văn Nhâm lập một
trang mạng lưới www.dangvannham.com đưa tin ông đã thắng kiện vẻ
vang vì tòa 165 đã ký Lệnh Bãi Nại. Ông còn viết nhiều điều cho
thấy một là ông không hiểu gì về luật pháp Hoa Kỳ, hai là ông giận
quá mất khôn nên viết ẩu. Chính vì hành vi này, văn phòng chúng tôi
có nộp một Đơn Xin Phạt (Motion For Sanction) ông Đặng Văn Nhâm vì
đã đưa lên mạng Lệnh Bãi Nại mà ông biết rằng lệnh này đã bị Tòa ra
lệnh hủy bỏ vào ngày 27/8/07. Nếu ai có thắc mắc, xin quý vị đến
tòa 165 ở địa chỉ 201 Caroline, Houston TX 77002 vào ngày 8 tháng
10 năm 2007 lúc 10 giờ sáng. Ngày hôm ấy tòa cũng xử luôn Thẩm
Quyền của Tòa (Special Appearance) và nếu Tòa có thẩm quyền thì có
nên cho mở lại hồ sơ xét xử (Set Aside the Default Judgment) hay
không. Nếu tòa phán quyết Tòa có thẩm quyền và tòa thấy Lệnh Xử
Khiếm Diện đúng thủ tục luật pháp thì coi như án lệnh ngày 16/2/2007
là chung thẩm.
Bên phía vụ án của Long Hoa Phật Nhị
Hội, luật sư Wesley Coddou đã nộp hồ sơ xin tòa xét thẩm quyền xét
xử (special appearance) của tòa án và văn phòng chúng tôi đã nộp hồ
sơ trả lời. Ngày 19/10/2007, lúc 11 giờ, tòa 190th sẽ có buổi điều
trần để xét xử vấn đề này, chúng tôi mong những ai quan tâm đến tham
dự để biết rõ sự kiện và kết quả.
Xin nhắc quý vị rõ đó là hiện nay văn
phòng chúng tôi mới đại diện cho nữ phật tử Trương Thùy Trúc và Long
Hoa Phật Nhị Hội chớ không phải toàn thể Giáo Hội Phật Giáo hay các
vị tăng sĩ trong 3 quyển Giặc Thày Chùa mà ông Đặng Văn Nhâm là tác
giả. Tuy nhiên, chỉ riêng vụ cô Trương Thùy Trúc đi mổ bướu, có hồ
sơ y lý đàng hoàng, mà ông Đặng Văn Nhâm còn dám hạ bút phóng thành
chuyện đi phá thai thì huống hồ gì những chuyện khác đối với Giáo
Hội Phật Giáo. Đạo nào cũng có người tốt kẻ xấu, không thể quy chụp
cách tổng quát, viết tựa đề tác phẩm “Giặc Thày Chùa” làm
người đọc dễ ngộ nhận tất cả các chùa chiền và các vị tăng là những
tên giặc tồi bại. Đây là nguyên do chính yếu tại sao văn phòng chúng
tôi thụ lý hồ sơ vụ kiện với tâm nguyện không để cho những người chỉ
vì một chút danh hão hoặc vì muốn tạo một chấn động để bán chạy sách
mà làm tổn thương đến Giáo Hội Phật Giáo nói chung, Long Hoa Phật
Nhị Hội và nữ phật tử Trương Thùy Trúc nói riêng. Tôi (luật sư
Hoàng Duy Hùng) là một tín đồ Thiên Chúa Giáo thì tôi hy vọng ở
cương vị này việc làm của tôi sẽ khách quan hơn.
Để quý vị tiện theo dõi, chúng tôi xin
đính kèm lá thư ngày 4/5/2007.
Xin chân thành cám ơn quý vị về sự lưu
tâm này. Nếu quý vị có thắc mắc, quý vị liên lạc với văn phòng
chúng tôi và chúng tôi sẽ vui lòng giải đáp. Những bài viết có tính
cách chưởi đổng hoặc thóa mạ thì chúng tôi miễn trả lời.
Trân trọng,
_______________
Hoàng Duy Hùng,
Luật sư của nguyên đơn Trương Thùy
Trúc và Giáo Hội Long Hoa Phật Nhị Hội.
==========================
Những bài cùng tác giả:
1 2
3
|