Tổng Quan về Lý Thuyết Dây

https://lyhoclythuyet.blogspot.com/

NXQ (không rõ tên)

03 tháng 09, 2010

Lý học lý thuyết, một ngành khoa học lý thuyết rất mới nhưng theo tôi dường như nó đã từng tồn tại trên Trái đất ít nhất trên 6000 năm... Phải chăng "Tánh không duyên khởi - Chân không diệu hữu" là phát biểu chính thức của nguyên lý số 1 - nguyên lý TỒN TẠI ?. Logic hóa nguyên lý này có lẽ chúng ta sẽ có: TIÊN ĐỀ TỒN TẠI. Everything are from Nothing - Lý học lý thuyết sẽ nghiên cứu tường minh về sự thật này!

08-08-2009

Tổng quan về Lý thuyết dây

Lý thuyết dây là một sự tiếp tục cách tiếp cận toán học của vật lý lý thuyết đối với những đối tượng hình học cơ bản nhất, đó là những đối tượng một kích thước gọi là những dây. Không giống hạt điểm trong lý thuyết trường lượng tử như trong mô hình tiêu chuẩn của vật lý hạt, những dây tương tác theo cách gần như là duy nhất, được xác định bởi sự chặt chẻ của toán học, và qua đó hình thành được một học thuyết lượng tử về hấp dẫn một cách minh bạch và tự nhiên.
Hiện nay thuật ngữ lý thuyết dây đã thay đổi để bao gồm các nhóm của lý thuyết dây riêng lẻ và cả framework mở rộng hơn có liên quan, chẳng hạn như M-Lý thuyết là cái đã hợp nhất chúng. Trong đó, có một thuộc tính được chia sẻ của toàn bộ của các lý thuyết dây này là nguyên lý toàn ảnh.
Tuy vậy, những lý thuyết gia về Dây vẫn chưa hoàn toàn mô tả được những lý thuyết này, và họ cũng chưa xác định một cách chắc chắn được những lý thuyết này liên quan đến vũ trụ vật lý như thế nào. Nhưng, gắn kết logic của cách tiếp cận, và thực tế là lý thuyết dây có thể bao hàm tất cả các lý thuyết vật lý cũ, nhiều nhà vật lý đã tin tưởng rằng một kết nối như vậy là khả dĩ. Đặc biệt, lý thuyết dây đang được cho là ứng cử viên hàng đầu cho lý thuyết của mọi thứ (TOE), một lý thuyết mô tả mọi lực tự nhiên đã biết (hấp dẫn, điện từ, yếu và mạnh) và vật chất (quark và lepton) trong một hệ thống toán học hoàn toàn.
Tuy nhiên, thực tế là không ít người đã phê phán lý thuyết dây, vì nó chưa đưa ra được những bằng chứng thực nghiệm, cũng như những dự đoán có thể kiểm tra được.
Ta biết cũng như các thuyết lượng tử khác về hấp dẫn, việc kiểm tra lý thuyết dây bằng thực nghiệm là một công việc quá khó đến mức bất khả thi, trong đó có thể yêu cầu phải có những tiến bộ vĩ đại về kỹ thuật nhằm thực hiện các thí nghiệm trên một quy mô kích cở của hệ mặt trời.
Dù lý thuyết dây, như mọi lý thuyết khoa học khác, là có thể hoàn toàn đúng về nguyên tắc, nhưng những nhà phê bình bảo thủ cho rằng nó vẫn chứa đựng nguy cơ có thể hoàn toàn sai trong tương lai, vì thế họ đã nói hiện tại chưa nên gọi nó là một lý thuyết khoa học.
Làm việc với Lý thuyết dây thực sự rất hấp dẫn và thú vị do bởi nền tảng toán học đẹp đẽ của nó, và cũng do bởi số lượng lớn những thứ mà những lý thuyết này có thể nắm bắt. Lý thuyết dây mạnh mẽ cho rằng spacetime có 11 kích thước, nhưng lý thuyết dây cũng có thể dễ dàng mô tả những vũ trụ với spacetime 4 kích thước.
Lý thuyết dây cũng bao gồm những đối tượng nhiều chiều hơn so với dây, được gọi là Brane. Bằng việc nghiên cứu các P-Branes và việc nhận dạng chúng so với D-Branes, điểm mút của những dây, các loại lý thuyết dây nhất định đã được chỉ ra là tương đương với các kiểu lý thuyết gauge truyền thống.
Nghiên cứu sự tương đương này đã dẫn tới những hiểu biết mới trên sắc động lực lượng tử, lý thuyết cơ bản của lực hạt nhân mạnh.
Vật chất được tạo thành từ những nguyên tử, và… lần lượt được tạo thành từ những quark và những lepton. Theo lý thuyết dây, tất cả các hạt như vậy thật sự đều là những vòng nhỏ xíu hay là những đoạn dây rung động. Ý tưởng đứng sau mọi lý thuyết dây là mỗi “hạt cơ bản” thật sự là một đoạn dây ở thang rất nhỏ (có lẽ ở bậc của chiều dài Planck) rung động tại những tần số cộng hưởng đặc biệt đối với loại hạt đó. Như vậy, bất kỳ hạt sơ cấp nào cần phải xem là một đối tượng dao động nhỏ xíu, hơn là như một điểm. Đối tượng này có thể rung động trong những mode khác nhau (tương tự như một dây ghi-ta có thể sinh ra các note nhạc khác nhau), với mỗi mode xuất hiện như một hạt ( electron, photon ...). Một cách ước định, những dây có thể phân chia và kết hợp, chúng xuất hiện như những hạt phát xạ và hấp thụ những hạt khác, dẫn đến các tương tác đã biết giữa các hạt.
Ngoài những dây, lý thuyết này cũng bao gồm những đối tượng có kích thước bậc cao hơn, như D-Branes và NS-Branes. Hơn nữa, các lý thuyết dây đều dự đoán sự tồn tại của các bậc tự do thường được mô tả như những chiều dư. Lý thuyết Dây cho rằng không-thời gian bao gồm 10, 11, hay 26 kích thước tùy vào từng lý thuyết và đặc thù riêng.
Mối quan tâm của lý thuyết dây được dẫn dắt chủ yếu bởi hy vọng sẽ là một lý thuyết minh bạch về hấp dẫn lượng tử hay thậm chí là lý thuyết của mọi thứ. Cũng như nó có thể mô tả một cách tự nhiên những tương tác tương tự như lực điện từ và những lực khác trong thiên nhiên.
Những lý thuyết siêu dây nói về các fermion, những hạt kiến tạo nên vật chất, và siêu đối xứng, là một loại đối xứng được phỏng đoán là đối xứng căn bản của thiên nhiên. Người ta chưa biết liệu lý thuyết dây sẽ có khả năng mô tả một vũ trụ bằng tập hợp chính xác của những lực và những hạt đã được khảo sát, và cũng không rõ sự ràng buộc nào sẽ cho phép lý thuyết chọn lựa các tham số chi tiết này.
Lý thuyết dây nói chung chưa thể kiểm chứng bằng thực tế để khẳng định sự đúng đắn của mình. Vẫn chưa có những dự đoán có thể tiến hành kiểm tra bằng thí nghiệm hoặc bằng sự quan sát thiên nhiên để có thể xác nhận một số khía cạnh quan trọng của lý thuyết, như sự đối xứng và các chiều dư.
Ngoài ra, lý thuyết dây hoàn chỉnh vẫn chưa có. Chẳng hạn, lý thuyết còn chưa có một định nghĩa thoả mãn bên ngoài của lý thuyết nhiễu loạn. Cơ học lượng tử của Branes vẫn chưa rõ. Đặc tính của lý thuyết dây trong việc thiết đặt vũ trụ học là những background phụ thuộc thời gian vẫn còn đang trong giai đoạn nghiên cứu. Và lý thuyết dây nào sẽ lựa chọn trạng thái chân không nào cũng là một đề tài đang được tranh luận sôi nổi.
Lý thuyết Dây riêng lẻ được xem là trường hợp riêng của một lý thuyết căn bản hơn đó là Lý thuyết M, nhưng hiện tại Lý thuyết M chỉ mới xác định được từng phần và cũng chưa được xem xét thấu đáo.
Tính chất cơ bản
Lý thuyết dây được công thức hóa dưới dạng một nguyên lý tác dụng, đó là tác dụng Nambu- Goto hoặc tác dụng Polyakov, có thể hiểu đó là sự mô tả cách thức mà những dây di chuyển trong không gian và thời gian.
Cũng như những dây không có ngoại lực tác động, dây sẽ có xu hướng co lại, như là cách để tối giản thế năng của chúng, nhưng sự bảo toàn năng lượng cản trở chúng biến mất, và thay vào đó chúng phải dao động.
Bằng việc áp dụng các ý tưởng của cơ học lượng tử vào những dây, điều khả dĩ có thể suy ra được là, ứng với những mode dao động khác nhau của dây, mỗi trạng thái dao động sẽ có dáng vấp của một hạt tương ứng.
Khối lượng của hạt, và phương thức mà nó có thể tương tác, được xác định tùy theo cách thức dây rung động. Dây có thể rung động trong nhiều mode khác nhau, giống như một dây đàn có thể tạo ra nhiều nốt nhạc. Mỗi mode rung tương ứng với một loại hạt và chúng làm thành một “phổ” của lý thuyết.
Các dây có thể chia ra từng phần và kết hợp lại, chúng xuất hiện như những hạt phát xạ và hấp thụ các hạt khác, dẫn đến các tương tác đã biết giữa những hạt.
Lý thuyết dây bao gồm cả những dây mở có hai điểm mút phân biệt lẫn những dây đóng, nơi mà điểm mút gặp nhau để làm một vòng.
Hai mẫu dây xử sự trong những cách hơi khác, theo hai hình ảnh khác. Chẳng hạn, trong đa số những lý thuyết dây, một trong số những mode dây đóng là graviton, và một trong những mode dây mở là photon.
Vì hai kết thúc của một dây mở có thể luôn luôn gặp và nối, tạo nên một dây đóng, không có những lý thuyết dây không có những dây đóng.
Mô hình dây sớm nhất là dây bosonic, nhưng chúng chỉ phù hợp với các boson, mô tả trong mức năng lượng đủ thấp là lý thuyết hấp dẫn lượng tử, nó cũng bao gồm (nếu những dây mở được hợp nhất nữa) các trường gauge như photon, hay tổng quát hơn là bất kỳ lý thuyết gauge nào.
Tuy nhiên, mô hình này có những vấn đề. Quan trọng nhất, lý thuyết này có một sự bất ổn định cơ bản, khi dẫn đến kết quả là sự co rút, ít nhất là trong từng phần của bản thân không-thời gian. Đồng thời, như tên gọi đã bao hàm, phổ của các hạt chỉ chứa đựng các boson, là những hạt chẳng hạn như photon, luôn hành xử theo những quy tắc riêng. Nói chung, boson là những phần tử của sự bức xạ, không phải của vật chất là cái được tạo nên từ các fermion.
Việc nghiên cứu để đưa ra một lý thuyết dây có thể bao gồm fermion trong phổ của nó đã dẫn tới ý tưởng về siêu đối xứng, thể hiện trong mối liên hệ toán học giữa các boson và các fermion. Những lý thuyết dây bao gồm các rung động fermionic bây giờ được biết đến như các lý thuyết siêu dây. Một vài loại khác nhau đã được đưa ra, nhưng tất cả bây giờ đều chỉ là trường hợp riêng của Lý thuyết M.
Một số thuộc tính định tính của những dây lượng tử có thể hiểu được theo cách khá trực giác. Chẳng hạn, với những dây lượng tử có sức căng, được hình dung tương tự như sự kết thắt từ những dây bình thường. Sức căng này được coi là một tham số cơ bản của lý thuyết. Sức căng của một dây lượng tử có mối liên hệ gần gũi đến kích thước của nó. Đối với một vòng đóng của dây, sự vận động qua không gian không cần phải có những ngoại lực. Sức căng của nó sẽ làm cho nó có xu hướng tiến tới một vòng ngày càng nhỏ. Trực giác cho thấy rằng nó có thể co lại tới một điểm đơn, nhưng điều này xâm phạm nguyên lý bất định Heisenberg. Kích thước đặc trưng của vòng dây sẽ là một sự cân bằng giữa lực căng, tác động để làm cho nó trở nên nhỏ, và hiệu ứng bất định, cái giữ nó trải ra. Vậy thì, kích thước tối thiểu của một dây liên quan đến sự căng của dây.
Worldsheet
Một hạt giống như điểm, sự chuyển động có thể mô tả bằng việc vẽ một đồ thị vị trí của nó theo thời gian. Bức tranh kết quả miêu tả worldline của hạt, đó là lịch sử của hạt điểm ở spacetime.
Bằng cách làm tương tự, một đồ thị tương tự miêu tả diễn tiến của một dây khi thời gian trôi qua thì dây, đối tượng một chiều, sẽ tạo vết là một bề mặt là một đa tạp hai chiều, được biết đến như worldsheet.
Những mode dây khác (đại diện cho những hạt khác, như photon hay graviton) là những sóng trên mặt trên đa tạp này.
Một dây đóng trông như một vòng nhỏ, vì vậy worldsheet của nó sẽ trông như một cái ống, Hay nói tổng quát hơn nó như một bề mặt Riemannian (Một đa tạp có hướng hai chiều) không có những ranh giới ( tức là không có mép). Một dây mở trông như một đoạn ngắn, vì vậy worldsheet của nó sẽ trông như một mảnh, Hay nói chung nó như một mặt Riemann có một ranh giới.
Những dây có thể chia ra từng phần và kết nối lại. Điều này được phản ảnh bởi dạng worldsheet của chúng hay nói đúng hơn là do bởi tính topo của nó. Chẳng hạn, nếu một dây đóng được chia ra từng phần, worldsheet của nó sẽ trông như một cái ống đơn chia ra 2 phần ( hay kết nối) tới hai ống ( thường được hình dung như 2 ống quần dài).
Nếu một dây đóng chia ra hai phần và hai phần được chia ra sau đó ghép lại, thì worldsheet của nó sẽ trông như một cái ống đơn chia ra từng phần tới hai và sau đó ghép lại sẽ trông như một đường viền tròn ở chân cột được nối tới hai cái ống ( một ống cho dây đi vào và ống kia là lối ra). Một dây mở làm cùng cách sẽ cho nối tới hai mảnh worldsheet của nó trông như một cái vòng.
Sự tương tác trong thế giới hạ nguyên tử: những worldline của điểm- như những hạt trong Mô hình Tiêu chuẩn hay một worldsheet được quét lên bởi những dây đóng trong lý thuyết dây.
Lưu ý rằng quá trình của một dây chia ra từng phần (hay những dây nối) là một quá trình toàn cục của worldsheet, không phải là cục bộ địa phương: cụ thể thì worldsheet nhìn như nhau ở mọi nơi và không thể xác định một điểm đơn trên worldsheet nơi sự phân tách xảy ra. Bởi vậy những quá trình này là một phần gắn liền với lý thuyết, và được mô tả bởi cùng bản chất động lực học kiểm soát các mode dây.
Trong một số lý thuyết dây bao gồm những dây đóng trong Loại I và một số phiên bản của dây bosonic, những dây có thể chia ra và ghép lại ở phía đối diện (như trong một mảnh Möbius hay một chai Klein). Những lý thuyết này được gọi là không định hướng. Một cách hình thức, worldsheet trong những lý thuyết này là bề mặt không định hướng được
Tính đối ngẫu
Trước năm 1990, những lý thuyết gia về dây tin tưởng có năm lý thuyết dây là phân biệt bao gồm: Loại I, Loại IIA – Loại IIB, và hai lý thuyết dây heterotic ( SO(32) và E8xE8). Người ta đã từng nghĩ rằng, trong năm lý thuyết ứng cử viên này sẽ có duy nhất một lý thuyết sẽ đúng là lý thuyết của mọi thứ, và lý thuyết đó là giới hạn năng lượng thấp của cái mà với spacetime 10 kích thước được compact hóa xuống còn 4, sẽ phù hợp với đặc trưng vật lý được quan sát trong thế giới của chúng ta hôm nay.
Bây giờ ta đã được biết rằng bức tranh này không phù hợp, năm lý thuyết dây đó được nối tới một Lý thuyết khác, khi đó chúng chỉ là những trường hợp đặc biệt của lý thuyết cơ bản hơn (chỉ Lý thuyết M). Những lý thuyết này được liên quan bởi những phép biến đổi được gọi là tính đối ngẫu. Nếu hai lý thuyết được liên quan bởi một phép biến đổi đối ngẫu, có nghĩa là lý thuyết đầu tiên có thể thay đổi được bằng cách thức xác định nào đó để nó kết luận trông giống như của lý thuyết thứ hai. Hai lý thuyết như vậy được gọi là đối ngẫu tới một nữa kia dưới phép biến đổi đối ngẫu. Nói cách khác, hai lý thuyết đối ngẫu là những mô tả toán học khác nhau của cùng hiện tượng.
Những đại lượng liên kết của tính đối ngẫu này cũng được cho là riêng biệt. Những thang khoảng cách lớn và nhỏ, cũng như cường độ của tương tác mạnh và yếu, chúng là những đại lượng có giới hạn phân biệt luôn luôn rõ ràng tùy vào đặc trưng của một hệ thống vật lý trong cả lý thuyết trường cổ điển lẫn vật lý hạt lượng tử. Nhưng những dây có thể làm mờ đi sự khác nhau giữa lớn và nhỏ, mạnh và yếu, và đây là cách mà năm lý thuyết rất khác nhau này thể hiện sự liên quan.
T- Đối ngẫu liên quan đến những thang khoảng cách lớn và nhỏ giữa các lý thuyết dây, Trong khi S – Đối ngẫu liên hệ đến cường độ gắn kết mạnh và yếu giữa những lý thuyết dây.
U- Đối ngẫu liên kết T- Đối ngẫu và S – Đối ngẫu
Trước cuộc cách mạng của tính đối ngẫu, người ta đã tin rằng có năm phiên bản phân biệt của lý thuyết dây cộng với lý thuyết bosonic (không bền) và lý thuyết gluonic.
Các lý thuyết dây:
  • Loại Bosonic : spacetime 26 chiều, Chỉ có boson không có ferrmion, có nghĩa là chỉ có lực không có vật chất, bao gồm cả dây mở và dây đóng. khiếm khuyết chủ yếu: cho phép hạt có khối lượng ảo gọi là tachyon (v > c).
  • Loại I: spacetime 10 chiều, Siêu đối xứng giữa lực và vật chất, bao gồm cả dây mở và dây đóng; không có tachyon; nhóm đối xứng là SO(32)
  • Loại IIA: spacetime 10 chiều, Siêu đối xứng giữa lực và vật chất, bao gồm cả dây mở và dây đóng vạch biên cho D-Branes; không có tachyon; ferrmion không có khối lượng, có spin theo cả 2 cách (achiral)
  • Loại IIB: spacetime 10 chiều, Siêu đối xứng giữa lực và vật chất, bao gồm cả dây mở và dây đóng vạch biên cho D-Branes; không có tachyon; ferrmion không có khối lượng, có spin theo 1 cách (chiral)
  • Loại HO: spacetime 10 chiều, Siêu đối xứng giữa lực và vật chất, chỉ có dây đóng; không có tachyon; heterotic, có nghĩa là các dây chuyển động trái và phải là khác nhau; nhóm đối xứng SO(32)
  • Loại HE: spacetime 10 chiều, Siêu đối xứng giữa lực và vật chất, chỉ có dây đóng; không có tachyon; heterotic, có nghĩa là các dây chuyển động trái và phải là khác nhau; nhóm đối xứng E8xE8.
Chú ý rằng những lý thuyết dây Loại IIA và Loại IIB các dây đóng được phép di chuyển mọi nơi xuyên suốt 10 chiều không-thời gian (gọi là bulk), trong khi những dây mở có kết thúc của chúng được trỏ tới D-Branes, là những màng có bậc thấp hơn (các chiều của chúng là lẻ: 1, 3, 5, 7 , 9, ở loại IIA và 0, 2, 4, 6 hay 8 trong loại IIB, bao gồm cả chiều thời gian)
Về các chiều dư - Số chiều
Một đặc tính hấp dẫn của lý thuyết dây là nó chứa đựng luôn cả sự dự đoán về những chiều dư. Số chiều không được cố định bởi bất kỳ tiêu chuẩn ràng buộc nào, nhưng các nghiệm spacetime phẳng sẽ tồn tại trong cái gọi là “kích thước tới hạn”. Những nghiệm Vũ trụ học tồn tại trong tính đa dạng mở của các bậc kích thước, và với những kích thước khác nhau này, chính xác hơn là của những giá trị khác nhau của các"tích hiệu dụng", việc đếm bậc tự do sẽ làm giảm bậc kích thước trong miền có độ cong nhỏ, và được cho là liên quan đến các dịch chuyển động lực.
Không có gì trong Lý thuyết điện từ của Maxwell hay trong Lý thuyết tương đối của Einstein làm nên loại dự đoán kiểu này; trong các lý thuyết truyền thống này các nhà vật lý sẽ đưa vào số bậc kích thước "bằng tay", và con số này cố định, độc lập với thế năng. Lý thuyết dây cho phép có một liên hệ với bậc kích thước tới thế năng vô hướng. Về mặt kỹ thuật, điều này xảy ra vì dị thường gauge tồn tại mỗi con số riêng biệt cho dự đoán về bậc kích thước, và sự dị thường gauge có thể chống lại qua việc bao gồm thế năng không tầm thường vào trong những phương trình để giải quyết bài toán chuyển động. Hơn nữa, sự vắng mặt của thế năng trong “kích thước tới hạn” giải thích tại sao nghiệm spacetime phẳng là có thể.
Khối lượng của photon được dự đoán bởi lý thuyết dây phụ thuộc vào năng lượng của mode dây đại diện cho photon. Năng lượng này bao gồm cả sự đóng góp từ hiệu ứng Casimir, tức là từ những thăng giáng lượng tử trong dây. Mức độ của đóng góp này phụ thuộc vào số chiều đến từ các chiều dư, nơi có những thăng giáng khả dĩ hơn tại vị trí dây. Bởi vậy, photon trong spacetime phẳng sẽ không có khối lượng , và một lý thuyết vững chắc chỉ có ở một số chiều đặc biệt.
Khi sự tính toán được thực hiện, kích thước tới hạn sẽ không là 4 như mong đợi (ba chiều không gian và một chiều thời gian). Những lý thuyết dây không gian phẳng có 26 kích thước trong trường hợp bosonic, trong khi các lý thuyết siêu dây và lý thuyết M bao gồm 10 hay 11 kích thước cho những nghiệm phẳng. Trong những lý thuyết dây bosonic, 26 kích thước đến từ phương trình Polyakov. Bắt đầu từ bất kỳ kích thước nào lớn hơn 4, người ta buộc xem xét cách để làm suy giảm đến không-thời gian bốn chiều
Các chiều compact
Hai cách khác đã được đề xướng để giải quyết sự mâu thuẫn hiển nhiên này. Đầu tiên sẽ compact hóa những kích thước thêm; tức là., 6 hay 7 chiều dư sẽ rất nhỏ, nhỏ đến mức không thể nhìn được theo kinh nghiệm của chúng ta. Để giữ vững những thuộc tính siêu đối xứng của lý thuyết dây, những không gian này phải rất đặc biệt. Lời giải từ các mẫu 6 kích thước đến từ những không gian Calabi- Yau (là đa tạp phức có tính chất compact, Kahler và metric Ricci phẳng). Trong 7 kích thước, chúng được gọi đa tạp G2. Những kích thước thêm này được compact hóa bằng việc làm cho chúng tự uốn thành vòng trên chính mình.
Một sự tương tự cho điều này là ta sẽ xem xét không gian nhiều chiều như một ống nước. Nếu một ống nước được nhìn từ một khoảng cách đủ xa, nó xuất hiện chỉ có một kích thước là chiều dài của nó. Thực vậy, nếu ta có một quả bóng đủ nhỏ để có thể chui vào ống, khi ném quả bóng vào bên trong ống, quả bóng sẽ di chuyển nhiều hay ít, chỉ trong một kích thước. Tức là, sự chuyển động quan trọng duy nhất sẽ chỉ một chiều, đó là dọc theo ống. Tuy nhiên, khi tiếp cận thật gần ống, ta sẽ thấy nó chứa đựng một kích thước thứ hai, là đường tròn của nó, và khoảng không trong ống là kích thước thứ 3. Như vậy, một con kiến bò bên trong nó sẽ di chuyển trong hai kích thước và một ruồi bay trong nó di chuyển trong ba kích thước. Một cách tương đối, với “chiều dư” này ta chỉ nhìn thấy rõ chỉ trong phạm vi gần ống, hay nếu ta ném vào trong đó những vật thể đủ nhỏ. Tương tự như vậy, những chiều dư compact chỉ nhìn được ở những khoảng cách cực nhỏ, hay bằng việc thử nghiệm với những hạt với bước sóng cực nhỏ (cùng bậc với đường kính của kích thước compact), tương ứng trong cơ học lượng tử là sẽ có năng lượng cực cao.
Kịch bản Brane-world
Khả năng khác là chúng ta bị "kẹt" trong một không gian con 3+1 kích thước (ba kích thước không gian cộng với 1 kích thước thời gian) của vũ trụ đầy đủ. Không gian con này phải là một D-Brane, do đó điều này được biết như là lý thuyết braneworld. Nhiều người tin rằng sự kết hợp nào đó từ hai ý tưởng - Sự compact hóa và Branes - cuối cùng sẽ sinh ra lý thuyết có tính hiện thực nhất
Hiệu ứng của các chiều ẩn dấu
Trong mọi trường hợp, tác động hấp dẫn trong những kích thước ẩn ảnh hưởng đến các lực không hấp dẫn khác như lực điện từ. Thật vậy, công trình của Kaluza và Klein từ rất sớm đã chứng minh rằng thuyết tương đối tổng quát với bốn kích thước lớn và một kích thước nhỏ đã thật sự tiên đoán được sự tồn tại của trường điện từ. Tuy nhiên, bởi vì bản chất của những đa tạp Calabi- Yau , không có những lực mới xuất hiện từ những kích thước nhỏ, nhưng hình dạng của chúng sẽ có một tác động sâu sắc đến cách thức mà những lực giữa những dây xuất hiện trong Vũ trụ bốn kích thước của chúng ta.
Do đó theo nguyên tắc, có thể dẫn ra bản chất của những chiều dư đó bằng việc yêu cầu về tính chặt chẻ của mô hình tiêu chuẩn, nhưng điều này đến nay vẫn chưa là một khả năng hiện thực. Cũng có thể rút ra những thông tin đáng quan tâm liên quan tới những kích thước ẩn bởi việc kiểm tra tính chính xác của sự hấp dẫn, nhưng cho đến lúc này những điều này chỉ đặt ra những hạn chế trên kích thước của những chiều ẩn.
D-Branes
Đặc tính mấu chốt khác của lý thuyết dây là sự tồn tại của D- Branes. Đây là những màng có bậc khác nhau (màng 0-kích thước - thật ra là một điểm - và bậc cao hơn, bao gồm màng 2-kích thước, khối 3-kích thước, v.v…).
D-Branes được định nghĩa bởi thực tế biên của worldsheet gắn liền đối với chúng. Như vậy D-Branes có thể phát xạ và hấp thụ những dây đóng. Do đó chúng có khối lượng (từ việc phát ra graviton) và - trong các lý thuyết siêu dây – là các tích khác cũng được (từ đó chúng phát ra những dây đóng là các boson gauge).
Từ quan điểm của những dây mở, D-Branes là những đối tượng để những điểm mút của những dây mở gắn kết vào. Những dây mở gắn liền đối với một D-Brane được gọi là "sống" trên nó, và chúng làm phát sinh những lý thuyết gauge "sống" trên nó (do một trong số những mode dây mở là boson gauge như photon). Trong trường hợp của một D-Brane sẽ tồn tại một loại boson gauge và tương ứng ta sẽ có lý thuyết gauge Abel (với boson gauge là photon). Nếu có nhiều D- Brane song song, tương ứng sẽ là nhiều loại boson gauge, chúng làm phát sinh lý thuyết gauge không Abel.
Vậy với D-Branes là những nguồn hấp dẫn, lý thuyết gauge nào “sống” trên nó. Lý thuyết gauge này được ghép với hấp dẫn (được gọi là để tồn tại trong bulk), do đó bình thường thì mỗi cái trong hai quan điểm khác nhau này là không đầy đủ.
Tính đối ngẫu Hấp dẫn/Gauge
Tính đối ngẫu hấp dẫn/gauge là một tính đối ngẫu được phỏng đoán giữa lý thuyết lượng tử về hấp dẫn trong những trường hợp nhất định và lý thuyết gauge trong số chiều thấp hơn. Điều này có nghĩa là từng hiện tượng và đại lượng được dự đoán trong một lý thuyết này có một sự tương tự trong lý thuyết khác, như là một “từ điển” phiên dịch từ một lý thuyết này tới lý thuyết khác

Mô tả tính đối ngẫu
Trong những trường hợp nhất định lý thuyết gauge trên D-Branes là không tương tác với hấp dẫn đang sống trong bulk, như vậy những dây mở gắn liền đối với D-Branes không phải đang tương tác với những dây đóng. Một hoàn cảnh như vậy được gọi một giới hạn decoupling.
Trong những trường hợp đó, D-Branes có hai sự mô tả thay thế độc lập. Như bàn luận ở trên, từ quan điểm của những dây đóng, D-Branes là những nguồn hấp dẫn, và như vậy chúng ta có lý thuyết hấp dẫn trên spacetime với một số trường nền. Từ quan điểm của những dây mở, vật lý của D-Branes được mô tả bởi lý thuyết gauge thích hợp. Bởi vậy trong những trường hợp như vậy nó thường được phỏng đoán rằng lý thuyết hấp dẫn trên spacetime với những trường nền thích hợp là đối ngẫu ( tức là về mặt vật lý là tương đương) tới lý thuyết gauge trên biên của spacetime này (do không gian con được choán bởi D-Branes là biên của spacetime này).
Cho đến lúc này, tính đối ngẫu này vẫn chưa từng được kiểm chứng trong bất kỳ trường hợp nào, vì vậy có sự bất đồng trong số những lý thuyết gia về dây có sự quan tâm sâu sắc đến tính đối ngẫu khi ứng dụng vào những mô hình khác.
Những ví dụ và trực giác
Ví dụ nổi tiếng nhất và đầu tiên được nghiên cứu đó là tính đối ngẫu giữa siêu hấp dẫn Loại IIB trên AdS5xS5 (một không gian tích của không gian Anti de Sitter 5 chiều và một hình cầu 5 chiều), và lý thuyết Yang-Mills siêu đối xứng N=4 trên biên 4- kích thước của không gian Anti de Sitter (là spacetime bốn chiều phẳng R3,1 hoặc là hình cầu 3 chiều + thời gian S3xR). Điều này được biết và gọi là Tương đương AdS/ CFT (CFT: lý thuyết trường conformal), một cái tên thường được sử dụng để chỉ tính đối ngẫu Gauge/ Hấp dẫn nói chung.
Tính đối ngẫu này có thể được hiểu như sau: Giả sử có một spacetime với một nguồn hấp dẫn, chẳng hạn một lỗ đen. Khi những hạt rời xa nguồn này, chúng được mô tả bởi những dây đóng ( tức là lý thuyết hấp dẫn, hay bình thường là siêu hấp dẫn). Khi những hạt tiếp cận nguồn hấp dẫn, chúng có thể vẫn còn được mô tả bởi những dây đóng. Nói cách khác, chúng có thể được mô tả bởi những đối tượng tương tự như các dây QCD, chúng được làm từ các boson gauge (các gluon) và bậc tự do của lý thuyết gauge khác. Vì thế nếu một có khả năng (trong giới hạn decoupling) để mô tả hệ thống hấp dẫn như hai vùng phân biệt - một (bulk) rời xa nguồn, và một khác tiến gần đến nguồn – Sau đó vùng mới cũng có thể được mô tả bởi một lý thuyết gauge trên D- Branes. Vùng mới rồi này (gần nguồn) được gọi giới hạn cận chân trời, do thông thường có một chân trời sự kiện xung quanh ( hay tại) nguồn hấp dẫn.
Trong lý thuyết hấp dẫn, một trong những chiều trong spacetime là hướng xuyên tâm, đi từ nguồn hấp dẫn và ra khỏi (về phía bulk). Lý thuyết gauge chỉ sống trên bản thân D-Brane, vì vậy nó không bao gồm hướng xuyên tâm: nó sống ở một spacetime với kích thước nhỏ hơn khi được so sánh tới lý thuyết hấp dẫn (thật ra, nó sống trên một spacetime đồng nhất đối với biên của lý thuyết hấp dẫn cận chân trời).
Ta sẽ nói đến hai lý thuyết tương đương với nhau như thế nào:
Vật lý của lý thuyết hấp dẫn cận chân trời quan tâm chỉ trên những trạng thái của lớp vỏ (như thường lệ trong lý thuyết dây), trong khi lý thuyết trường bao gồm chức năng tương quan bên ngoài lớp vỏ nữa. Những trạng thái trên lớp vỏ trong lý thuyết hấp dẫn cận chân trời có thể được xem như việc mô tả chỉ những hạt từ bulk tiến đến vùng cận chân trời và tự tương tác với nhau ở đó. Trong lý thuyết gauge những cái này được bảo vệ trên ranh giới, vì thế những hạt tiến đến nguồn từ những chiều khác nhau sẽ được nhìn thấy trong lý thuyết gauge như những thăng giáng lượng tử xa , trong khi những hạt tiến đến nguồn cùng chiều trong không gian sẽ được nhìn thấy trong lý thuyết gauge như những thăng giáng lượng tử gần. Như vậy là góc giữa các hạt tới trong lý thuyết hấp dẫn chuyển thành thang khoảng cách giữa các thăng giáng lượng tử trong lý thuyết gauge. Góc giữa các hạt tới trong lý thuyết hấp dẫn được liên quan đến khoảng cách hướng tâm tính từ nguồn hấp dẫn nơi mà các hạt tương tác: góc lớn hơn, các hạt gần hơn phải tiến tới nguồn để tương tác lẫn nhau. Mặt khác, thang khoảng cách giữa các thăng giáng lượng tử trong lý thuyết trường lượng tử tỉ lệ (nghịch) với thang năng lượng trong lý thuyết này. Do đó bán kính nhỏ trong lý thuyết hấp dẫn chuyển thành thang năng lượng thấp trong lý thuyết gauge (thang IR của lý thuyết trường), trong khi bán kính lớn trong lý thuyết hấp dẫn chuyển thành thang năng lượng cao trong lý thuyết gauge ( thang UV của lý thuyết trường).
Một ví dụ đơn giản đối với nguyên lý này đó là, nếu trong lý thuyết hấp dẫn có một cài đặt trong đó trường dilaton (cái để xác định độ lớn của tương tác) giảm theo bán kính, thì lý thuyết trường đối ngẫu của nó sẽ có tính tiệm cận tự do, tức là tương tác của nó sẽ tăng yếu hơn ở mức năng lượng cao.
Nhánh lý thuyết dây này có thể dẫn tới những hiểu biết mới trên sắc động lực lượng tử, một lý thuyết gauge và là lý thuyết cơ bản của lực hạt nhân mạnh. Tới đây, người ta hy vọng rằng một lý thuyết hấp dẫn đối ngẫu đối với sắc động lực lượng tử sẽ được tìm thấy.
Thật vậy, một vài kết quả tính toán đã khẳng định là đã đạt được tuy vẫn chưa rõ ràng lắm, hiện thời giải pháp Lattice-QCD, đang làm được nhiều công việc tốt hơn và đã tiến hành với những bài toán trong các trường khác nhau với những kết quả tốt, tuy nhiên đó vẫn là những tính toán số nhiều hơn là các bài phân tích.
Những vấn nạn và sự bàn cãi
Dù về lịch sử, lý thuyết dây là một học thuyết rất mới của vật lý, không ai dám chắc rằng rằng lý thuyết dây cần phải (nói một cách chính xác) được phân loại như thế nào trong khoa học. Một lý thuyết khoa học để hợp lệ phải được chứng thực dựa theo kinh nghiệm, tức là thông qua thí nghiệm hay quan sát.
Vài con đường cho sự tiếp cận bằng thực nghiệm đã được đề đạt. Với việc xây dựng LHC (Large Hadron Collider) ở CERN một số nhà khoa học hy vọng tìm được các dữ liệu liên quan, măc dù một cách trực tiếp người ta đã tin tưởng một cách rộng rãi rằng bất kỳ lý thuyết nào về hấp dẫn lượng tử đều yêu cầu năng lượng phải đạt đến bậc cao hơn nhiều. Hơn nữa, lý thuyết dây như nó hiện thời được hiểu có một số lượng lớn những nghiệm khả dĩ tương đương nhau. Do đó một số nhà khoa học đã nghi ngờ rằng lý thuyết dây có thể là vô căn cứ, và có thể không có khả năng đoán trước được.
Những vết tích lý thuyết Dây có thể sẽ được xác nhận. Không có phiên bản nào của lý thuyết dây có bằng chứng thực nghiệm xác minh các dự đoán như kiểu của các lý thuyết vật lý khác. Những thang năng lượng khả dĩ để có thể nhìn thấy bản chất dây của những hạt là nhiều lần lớn hơn cái mà thực nghiệm có thể đạt đến.
Lý thuyết dây sở hữu nhiều đặc tính thú vị của toán học và một cách tự nhiên nó hợp nhất được mọi đặc tính đáng nể của Mô hình Tiêu chuẩn, như những nhóm gauge không abel và các fermion chiral.
Nhưng vì lý thuyết dây có thể không kiểm tra được trong tương lai định trước, một số nhà khoa học thậm chí đã đặt câu hỏi: “phải chăng nó xứng đáng được gọi là một lý thuyết khoa học, và trong cảm giác của số đông nó không phải là đã có căn cứ vững chắc.”
Người ta cũng đã đề nghị rằng lý thuyết dây là cách tư duy tốt hơn về framework dùng cho việc xây dựng những mô hình, theo đó lý thuyết trường lượng tử cũng là một framework.
Những ý tưởng từ lý thuyết dây đã có ảnh hưởng rất mạnh lên những giải pháp cho vật lý bên ngoài Mô hình Tiêu chuẩn. Chẳng hạn, trong khi siêu đối xứng là một thành phần sống còn của lý thuyết dây, những mô hình siêu đối xứng khác không có liên hệ hiển nhiên đến lý thuyết dây cũng đã được nghiên cứu mạnh mẽ.
Do vậy, nếu sự siêu đối xứng được phát hiện tại LHC, nó vẫn không phải được xem như một sự xác nhận trực tiếp của lý thuyết. Tuy nhiên, nếu siêu đối xứng không được nhận diện, thì ta biết sự tồn tại của những trạng thái vacuum trong lý thuyết dây, trong đó có siêu đối xứng có thể chỉ được nhìn thấy tại thang năng lượng bậc cao hơn nhiều, nên sự vắng mặt của siêu đối xứng tại LHC cũng không phủ nhận lý thuyết dây.
Thật tương phản nếu, khi quan sát những ngôi sao trong thời gian nhật thực, hấp dẫn của mặt trời đã không làm lệch nhẹ góc của tia sáng gần bằng với con số đã dự đoán, thì lý thuyết tương đối tổng quát của Einstein đã được chứng minh là sai
Trên mức độ toán học hơn, một vấn đề khác, đó là, giống như các lý thuyết trường lượng tử, phần lớn các lý thuyết dây vẫn còn được tính toán theo phương pháp nhiễu loạn (nghiệm là một chuỗi gần đúng). Mặc dù kỹ thuật không nhiễu loạn đã tiến triển đáng kể - bao gồm những định nghĩa hoàn toàn tường minh trong không-thời gian thỏa mãn các tiệm cận xác định - Một định nghĩa không nhiễu loạn đầy đủ của lý thuyết vẫn còn thiếu.
Tuy thế vấn đề trung tâm khác của lý thuyết dây là những nền tảng nhận biêt tốt nhất của lý thuyết dây nhằm duy trì tính siêu đối xứng của lý thuyết, do bởi bất biến thời gian trong các không-thời gian, hiện thời lý thuyết dây không thể giải quyết tốt với bài toán thời gian- phụ thuộc, các nền tảng vũ trụ học.
Hai vấn đề nêu trên liên quan đến một vấn đề sâu sắc hơn: lý thuyết dây có lẽ đã không đúng cơ bản trong dạng thức hiện tại của nó bởi vì nó phụ thuộc vào background. Lý thuyết dây mô tả các sự mở rộng nhiễu loạn theo các background spacetime cố định. Ta thấy độc lập background như một yêu cầu cơ bản của một lý thuyết về hấp dẫn lượng tử, đặc biệt là do thuyết tương đối tổng quát đã là độc lập background.
Để đáp lại lời phê bình này, một số lý thuyết gia về dây cho rằng vấn đề độc lập background cần phải có một nguyên tắc dẫn đường, trong khi những người khác hy vọng rằng lý thuyết M, hay một giải pháp không nhiễu loạn của lý thuyết dây (như lý thuyết trường dây) sẽ trở vể với độc lập background, đưa ra những giải pháp nhiều phiên bản khác nhau của lý thuyết dây với những background khác nhau.
Vấn đề khác là cấu trúc chân không của lý thuyết, gọi là toàn cảnh lý thuyết dây, không thuyết phục lắm. Như lý thuyết dây hiện nay, nó chứa đựng một số quá lớn các meta-stable vacuum phân biệt, có lẽ 10^500 hoặc hơn. Tất cả chúng tương ứng tới một vũ trụ khác, với một tập hợp khác của các hạt và các lực. Nguyên lý nào, nếu có, có thể được dùng để chọn trong số vacuum này là một kết quả mở. Trong khi không có những tham số liên tục được biết trong lý thuyết, có một số rất lớn discretuum (tương phản với continum) của những vũ trụ khả dĩ, cái nào có thể được xem là khác so với nhau môt cách căn bản.
Một số nhà vật lý tin tưởng đây là một lợi ích của lý thuyết, chẳng hạn như nó có thể cho phép cách giải thích bản chất vị nhân của những giá trị quan sát của những hằng số vật lý, đặc biệt là giá trị nhỏ của hằng số vũ trụ học. Tuy nhiên, những giải thích như vậy thường không được xem là khoa học theo nghĩa rốt ráo.
Lý thuyết dây dự đoán, ở mức nhiễu loạn bé nhất, đó là mức có năng lượng đủ cao đến mức tiến đến thang hấp dẫn lượng tử, bản chất giống như dây của những hạt là hiển nhiên. Chẳng hạn, đó là những bản sao nặng hơn của tất cả các hạt tương xứng với các hoà âm dây bậc cao. Tuy nhiên, người ta không rõ những năng lượng này là gì. Trong trường hợp giới hạn, những năng lượng này đã gấp một triệu tỉ (10^15) lần khả năng cao nhất có thể tạo ra được tại máy gia tốc mới nhất LHC.
Gần đây, sau sự xuất hiện của hai quyển sách cho rằng lý thuyết dây là sự lầm lạc (PeterWoit - “Not Even Wrong” và Lee Smolin - “The Trouble With Physics”), một cuộc tranh luận trên phương tiện truyền thông rất nóng đã diễn ra vào 2007. Ta thử đọc một đoạn trích:
" Đã nhiều hơn một thế hệ, những nhà vật lý săn đuổi một thứ ma trơi gọi là Lý thuyết dây. Sự bắt đầu của cuộc săn đuổi này đã đánh dấu sự kết thúc của cái đã lấy đi ba phần tư thế kỷ của sự tiến bộ. Hàng chục hội nghị lý thuyết dây đã được tiến hành, hàng trăm các tiến sĩ vật lý mới đã phải nổ lực, và hàng nghìn những bài báo đã được viết. Tuy vậy, đối với toàn bộ các hoạt động này, không một dự đoán mới nào có thể kiểm tra, được tạo ra, không một vấn đề hóc búa nào thuộc về lý thuyết được giải quyết. Thật vậy, vẫn chưa có một lý thuyết hoàn chỉnh nào cho đến lúc này, chỉ là một tập họp của những mắc mứu và những sự tính toán chỉ nhằm gợi ý rằng một lý thuyết rất hay nào đó có thể tồn tại. Ngay khi nếu làm tiếp như thế, lý thuyết này sẽ tiến tới hàng loạt các phiên bản rắc rối, và rằng nó sẽ không dành cho sự ứng dụng thực tiển: Một lý thuyết của Không có gì (Theory of Nothing) "

Lời ngỏ

Bản thân tôi, tôi không tán thành quan điểm xem thời gian là một chiều quá đặc biệt của lý thuyết cũng như của spacetime và tôi cũng không nhất trí với việc xử lý các chiều dư với chỉ các công cụ trên đa tạp Calabi-Yau vì tôi không cho rằng chỉ với việc compact hóa thì các chiều dư mới thành các chiều ẩn.


07-08-2009

Kỷ băng hà lần cuối

Địa mạo, địa khí hậu và sinh quyển thân thiện,... có vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình "xây dựng và phát triển khả dĩ " của các nền văn minh xuyên suốt kỷ băng hà cho đến hiện tại.







Sinh quyển thân thiện với loài người ở GLM thật quá hiếm hoi...



Châu Á ở GLM





Khí hậu thật khắc nghiệt trong suốt giai đoạn này.





Sự chìm ngập bắt đầu




Sự chìm ngập gần hoàn thành




Đông Nam Á, Việt Nam chịu ảnh hưởng quá nặng nề từ sự biến đổi thời tiết ở cuối kỹ băng hà. Diện mạo khu vực này thay đổi quá lớn...




Sinh quyển Trái đất trở nên thân thiện hơn với loài người

10-06-2009

Timewave

Ta đã biết sự sắp xếp của các trùng quái hậu thiên được đánh số từ 0 đến 63. Các trùng quái với lời 6 hào được xem là sự kết hợp của 2 bát quái lời 3 hào.

Bảng trùng quái hậu thiên

 


000

110

101

011

111

001

010

100

000

1

34

5

26

11

9

14

43

110

25

51

3

27

24

42

21

17

101

6

40

29

4

7

59

64

47

011

33

62

39

52

15

53

56

31

111

12

16

8

23

2

20

35

45

001

44

32

48

18

46

57

50

28

010

13

55

63

22

36

37

30

49

100

10

54

60

41

19

61

38

58
















Ta có 64! > 10^89 phép hoán vị tương ứng với tập Z64 = {0,1,2 ,...., 63}, đây là con số sẽ phát sinh chuổi TimeWave.

 

Ta ký hiệu W(i) tương ứng với phần tử thứ i của chu kỳ sắp xếp trùng quái hậu thiên, bắt đầu với i = 0W(i) = W(i %64) khi i> 63i <0.>

 

Hàm W sẽ làm phát sinh một chuỗi của 64 số nguyên trong phạm vi 0 tới 6 khi xét sai phân bậc nhất của W.

 

Ta ký hiệu D (W) = số hào biến khi chuyển từ W(i-1) tới W(i), ký hiệu là h(i) trong chuổi TimeWave. Ta Định nghĩa một mảng như sau:

h[65] = {
3,6,2,4,4,4,3,2, 4,2,4,6,2,2,4,2, 2,6,3,4,3,2,2,2, 3,4,2,6,2,6,3,2,
3,4,4,4,2,4,6,4, 3,2,4,2,3,4,3,2, 3,4,4,4,1,6,2,2, 3,4,3,2,1,6,3,6,
3 };

trong đó ta đặt h[64] = h[0] nhằm thuận tiện hơn cho việc lập trình.


Bảng D(W)(i)

000 000

- 6-

111 111

- 2-

101 110

- 4-

011 101

- 4-

101 000

- 4-

000 101

- 3-

111 101

- 2-

101 111

- 4-

001 000

- 2-

000 100

- 4-

111 000

- 6-

000 111

- 2-

000 010

- 2-

010 000

- 4-

111 011

- 2-

110 111

- 2-

100 110

- 6-

011 001

- 3-

111 100

- 4-

001 111

- 3-

010 110

- 2-

011 010

- 2-

011 111

- 2-

111 110

- 3-

000 110

- 4-

011 000

- 2-

011 110

- 6-

100 001

- 2-

101 101

- 6-

010 010

- 3-

100 011

- 2-

110 001

- 3-

000 011

- 4-

110 000

- 4-

010 111

- 4-

111 010

- 2-

001 010

- 4-

010 100

- 6-

101 011

- 4-

110 101

- 3-

011 100

- 2-

001 110

- 4-

100 000

- 2-

000 001

- 3-

100 111

- 4-

111 001

- 3-

100 101

- 2-

101 001

- 3-

100 010

- 4-

010 001

- 4-

110 110

- 4-

011 011

- 1-

001 011

- 6-

110 100

- 2-

110 010

- 2-

010 011

- 3-

001 001

- 4-

100 100

- 3-

001 101

- 2-

101 100

- 1-

001 100

- 6-

110 011

- 3-

101 010

- 6-

010 101

- 3-


Cho dù qui luật sắp xếp nêu trong bảng trên không thật tường minh, nó vẫn thể hiện một bản chất triết học phức tạp.

Nguyên tắc cơ bản của W là với mọi cặp trùng quái liên tiếp, trùng quái xếp sau là ảnh của trùng quái xếp trước và sự vắng mặt của số 5 trong bảng giá trị của D(W)(i).

Công thức dưới đây thỏa mãn thủ tục trên:

L(k) = abs(((-1)^((k-1) /32))* (h[k-1] - h[k-2] +h[-k] - h[1-k]) +

+ 3*((-1)^((k-3) /96))* (h[(k/3) -1] - h[(k/3) -2] + h[-(k/3] - h[1-(k/3)]) +

+ 6*((-1)^((k-6) /192))* (h[(k/6) -1] - h[(k/6) -2] + h[-(k/6)] - h[1-(k/6)])) +

+ abs(9-h[-k] - h[k-1] + 3*(9-h[-(k/3)] - h[(k/3) -1]) + 6*(9- h[-(k/6)] - h[(k/6) -1] )

Ta định nghĩa các toán tử:

R(F)(i)

=

F(-i)

D(F)(i)

=

F(i) - F(i-1)

S(F)(i)

=

F(i) + F(1-i)

T(F)(i)

=

F(i) + 3F(i/3) + 6F(i/6)

Thay i cho abs(i) , và D(W)(i) cho h[i] ta viết lại công thức trên:

L(i) = (-1)^((i-1)/32)D(S(R(D(W))))(i)+ 3((-1)^((k-3)/36))D(S(R(D(W))))(i/3))+

6((-1)^((i-6)/192))D(S(R(D(W))))(i/6) + 90 - T(S(R(D(W))))(i)

Lũy thừa của -1 trong biểu thức là một bước đặc biệt trong quá trình có dạng được gọi là “xoắn một nửa”. Bây giờ ta định nghĩa biểu thức có dạng không xoắn :

L(i) = T(D(S(R(D(W)))))(i) + 90 - T(S(R(D(W))))(i)

Để dễ nhìn hơn, ta có thể bỏ các dấu ngoặc đơn và biểu diễn cho 64x6 = 384 điểm sẽ là:

L(i) = TDSRDW(i) + 90 - TSRDW(i)

Tập thứ ba của 384 điểm được biết đến như Sheliak được phát sinh bởi:

L(x) = F(x) + 3F(1 + (x-1)/3) + 6F(1 + (x-1)/6)

Ở đây F(x) là phép nội suy tuyến tính của F(i) = 9 - D(W)(-1-i) - D(W)(i).

Sau khi đã xác định L trên Z384, ta mở rộng L cho tất cả các số nguyên bởi L (i) = L (i %384) và từ đó sẽ liên hệ đến hiện thực bởi phép nội suy tuyến tính. Hàm Novelty N(x) tương quan với các sự kiện lịch sử, được xác định bởi:

N(x) = SUM 2^(6i)L(2^(-6i)x)

N(x) đóng do L (x) không âm, bị chặn trên và bằng không trong đoạn [0,1]

Tham số “ngày zero” được lựa chọn ( Eg. cực điểm của lịch Maya) là điểm không cuối cùng của NN sau đó lướt trên các sự kiện lịch sử qua thời gian.

[ Tuy nhiên McKenne đề nghị phải " phát hiện lại " ngày zero này bằng cách "lắp" các timewave để ghi lại lịch sử]

07-06-2009

Bàn về Ngũ Hành

1. Nguồn gốc văn học

Không mấy phạm trù bị xuyên tạc và hiểu lầm bằng phạm trù Ngũ Hành. Nó bị ngộ nhận kể ngay từ những người đầy thiện chí và giàu cảm tình với Triết học Đông phương. Hơn thế có thể nói nó đã bị chôn vùi ngay từ đời Hán. Và từ đó chỉ còn giơ lên mặt đất một vài ngón tay nên rất khó có được một nhận thức trung thực về triết lý Ngũ Hành.

Thế mà Ngũ Hành lại là cái khung căn bản cho triết lý Đông Phương, có hiểu được thì toàn bộ mới ăn chịu nhau hòa hợp "Ngũ Vị tương đắc nhi các hữu hợp" (H.T.). Ngũ Hành là nền tảng cho thể chế Minh Đường và Nguyệt Lệnh, cả hai đều là nơi thai nghén ra Hồng Phạm và Hồng Phạm là mô hình bản cốt của Triết lý Việt Nho. Nhận thức được điều đó tức cũng là nhận thức được tầm quan trọng sự hiểu được cách đích thực ý nghĩa uyên nguyên của thuyết Ngũ Hành.

Muốn được thế việc làm đầu tiên là tìm về nguồn gốc văn học nghĩa là tìm ra bản văn lâu đời nhất, khả dĩ được coi như trực tiếp xuất phát tự truyền thống chưa bị pha tạp. Vì cho tới nay sở dĩ ý nghĩa đó không mấy được nhìn nhận ra là do học giả đã chú trọng rất ít tới bản văn đầu tiên; nhưng đã coi ngang nhau cả những bản văn về sau từ đời Châu Diễn, Hoài Nam Tử hay Đổng Trọng Thư, tức là những bản văn xuất hiện về sau vào lối thế kỷ thứ 5 đến 2 trước Công nguyên với những hình thái đã biến thể, nên không nhận ra lối sắp đặt uyên nguyên.

Cần phải đi lên nữa và chúng ta nhận ra bản văn cổ đại nhất nằm trong Kinh Thư ở thiên Nghiêu Điển và Thiên Hồng Phạm nơi nói đến Ngũ Hành lần đầu tiên. Kinh Thư có thể san định vào đời Khổng Tử nhưng hai thiên Nghiêu Điển và Hồng Phạm đã tồn tại trước đó rất lâu ít ra về căn bản.

Đã một dạo các học giả cho rằng thuyết Ngũ Hành do Châu Diễn sáng lập. Nhưng ngày này thuyết đó không còn thể đứng vững vì họ lẫn lộn thuyết Ngũ Đế Đức và Ngũ Hành, tức là lẫn lộn cái tuỳ với cái gốc. Ngũ Đế Đức thì do Châu Diễn nếu không thủ sáng thì ít ra cũng là người truyền bá mạnh. Đến sau Đổng Trọng Thư chịu ảnh hưởng này nhiều.

Còn thuyết Ngũ Hành là căn bổn cho Ngũ Đế Đức thì có lâu đời trước như đã để ấn tích lại trong Nghiêu Điển. Ngày nay được kiểm chứng bằng phương vi tinh đẩu (*)

(*) (Précession des équinoxes: là sự "tiến động của trục Trái đất", làm cho những sao đổi vị trí đổi với vòng chí thiên tính ra 72 năm thì đổi 1 độ, chu kỳ tuế sai 25920 năm. Vì thế hạ chí ở cổ thời trúng vào sao Hư, đến hai đời Hạ Thương là sao Nữ đời Chu sao Ngưu, đời Hán sao đẩu và nay đang tiến vào sao Cơ. Vì thế mà mùa có một vị trí thay đổi trên vòm trời. Vì Nghiêu điển chia vòm trời làm 4 mùa, nên có thể căn cứ vào đó mà tính niên kỷ của bản văn. S. 568)

... là những sự kiện khách quan có thể kiểm chứng bằng khoa học chính xác. Điều đó chứng tỏ không thể nào có chuyện giả mạo về phần căn cơ. Ấy là chưa kể đến những minh chứng về sử liệu chẳng hạn việc nhà Thương dùng sắc trắng, và tên các vua có chữ của Thập Can như Bàn Canh, Thái Giáp, Ốc Đinh, Ung Kỷ… là những việc giả thiết đã phải có thuyết Ngũ Hành trước rồi, vì màu sắc cũng như Thiên Can (Giáp Ất) là do Ngũ Hành.

Điều đó cũng thật về thiên Nghiêu Điển nói đến 4 cung của 4 sao và Trung Cung Bắc Đẩu tức là khung Ngũ Hành. Như vậy là chúng ta có thừa lý chứng về sự chính truyền và lâu đời của hai bản văn liên hệ tới Ngũ Hành, tức là bản văn ghi lại một quan niệm triết lý được xuất phát nếu không ở thế kỷ 27 thời Phục Hi thì ít ra ở thế kỷ 24 đời Nghiêu Thuấn. Một sự giả mạo không thể nào có được vì nó đòi phải biết đến phương vị tinh đẩu là điều lúc đó chưa đâu biết. Còn nếu giả sử người lập ra biết được luật đó do trực thị thì đã chẳng thèm giả mạo mà đương nhiên đã là một vị thủy tổ rồi.

Bởi vậy ta có thể biết chắc tâm về giá trị chính truyền của tài liệu Ngũ Hành trong hai thiên sách đó và ta khởi đầu nghiên cứu cái triết lý ẩn bên trong.


2. Nội dung bản văn

Bản văn chia ra ba triệt. Triệt nhứt nói về thứ tự các Hành, triệt hai nói về tính chất của mỗi Hành, triệt ba nói về ngũ vị: mặn, đắng, chua, cay, ngọt (hàm, khổ, toan, tân, cam).

Triệt tam này thuộc Dụng tùy phụ vào Thể ở triệt hai. Vậy chúng ta chỉ cần tìm hiểu triệt hai nói về tính chất mỗi Hành.

Thiên Hồng Phạm nói:

"Nước thấm xuống. Lửa bốc lên. Mộc uốn khúc để chính trực. Kim vâng theo để biến cải. Thổ ở chỗ gieo gặt"

"Thủy viết nhuận hạ. Hỏa viết viêm thượng. Mộc viết khúc trực. Kim viết tòng cách. Thổ viên giá sắc."

Yếu tính của nước là thấm xuống. Ông Granet phản đối Chavannes dịch chữ viết là "est appelé" vì như thế tách rời động tác ra khỏi nước, y như nước là nước, còn động tác chảy xuống là ngoại tại không cấu tạo nên nước. Hiểu lối đó là hiểu theo lối tố chất (élément) đã cụ thể đông đặc mất rồi.

Ngược lại ở đây yếu tính của nó chính là tác động, chính là Hành, nên Hành không bao giờ được hiểu là danh từ nhưng phải hiểu là động từ: Hành là đi, là biến dịch, là diễn tiến, một "vận hành", vì đây đang ở vòng sinh chưa đến vòng thành. Có thể nói là còn ở trong đợt vi thể nơi không thể tưởng tượng ra sự vật mà một trật không có tác động của sự vật đó (N.E.S).

Ở vòng thành có thể tạm hiểu là "élément", là vật thể như quen hiểu trong việc xếp loại. Chứ như đây là đợt sinh thì hoàn toàn chỉ động tác. "Thuỷ viết nhuận hạ. Hỏa viết viêm thượng …" ở đợt sinh cốt cán Thủy không là nước (đó sẽ là đợt thành) không là chất lỏng, nhưng là động tác tẩm xuống.

Lửa cũng thế là động tác đi lên, bốc lên. Lên xuống đều có hướng rõ rệt, là lên xuống để giao nhau. Do đó Ngũ Hành mà dịch là 5 éléments hay 5 substances đều chỉ tạm đúng có vòng ngoài.

Dịch bằng chữ "principle undergoing" = "nguyên lý đi ngầm dưới" là gần nhất với chữ Hành vì nói lên được động tác là đi. Tuy nhiên đó cũng mới là gần mà chưa đúng hẳn vì chưa biểu lộ hết cỡ cái đường "vận hành" là đường nằm ẩn trong.

Bây giờ xét đến triệt nhất về thứ tự tiên thiên: nhất viết Thủy, nhị viết Hỏa, tam viết Mộc, tứ viết Kim, ngũ viết Thổ. Sở dĩ thứ tự này hay lẫn lộn vì không phân biệt với thứ tự hậu thiên, vậy ta cần diễn giải thêm.

Đứng về phương diện tiên thiên thì những số nầy có một sự quan trọng từ căn cơ chứ không phải là thứ tự sắp xếp có thể thay ngôi đổi vị, nhưng là thứ tự cấu tạo nói lên yếu tính, cho nên nó dính liền với nhau: hễ thay đổi là đánh mất yếu tính tức là sự đối đãi của Âm Dương. Nên hễ đã nói: 1 là Nước, thì 2 là Hỏa; 3 Mộc thì 4 phải là Kim, còn 5 thì vẫn là Thổ, chứ không được lộn thứ tự để nói 1 là Mộc thí dụ.

Vì đây là đường diễn biến của Âm Dương nên là cái gì nội tại mà Kinh Dịch đã nói: "nhất âm nhất dương chi vị Đạo, kế chi giả thiện dã thành chi giả tính dã" (H.T.5).

Đã nói là Đạo thì "bất khả tu du ly dã" không thể lìa dù chỉ một giây, nên lại nói là Tính tức là bản cốt yếu tính. Vậy hễ làm sai thứ tự thì không còn là tính là vật đó nữa. Yếu tính đó là Âm Dương đối lập nằm trong vòng Đạo Trung Hòa. Giữa hai đối lập thể có một trung gian hòa giải. Nếu kép lên thì cũng theo luật đó, tức phải có trung cung hòa giải và sinh dưỡng nên gọi là "nhịp năm" tức là 1.5.2 chỉ hàng dọc và 3.5.4 chỉ hàng ngang hay là Vũ Trụ hoặc Thời Không đúc một. Tức là nét đặc trưng của triết lý Nhân sinh. Chúng ta sẽ dễ nhận ra điều đó trong khi đặt những số thứ tự kia thành đồ biểu như sau:

Đó là đồ biểu thứ tự theo Hồng Phạm: ta thấy số 5 chiếm một địa vị đặc biệt ở Trung Cung.

Muốn hiểu được nghĩa Trung Cung cần tìm hiểu chữ Ngũ trong danh từ Ngũ Hành. Vì chữ Ngũ cũng quan trọng như chữ Hành.

Chữ Ngũ thường chỉ hiểu là số 5 hoặc là thứ Năm, nhưng đó mới là lối hiểu thông thường. Còn một nghĩa nữa sâu hơn chỉ Thiên Địa. Lúc đó 5 là số thành của 3+2 tức là "tham thiên lưỡng địa" 3 Trời, 2 Đất. Hiểu như thế mới đúng với Đạo Âm Dương một lẻ một chẵn, một Đất một Trời, có ra mà cũng có vô. Do đó 5 được dùng làm số trung tâm bao hàm ý Tiềm Thể Tâm Linh vậy.

Đấy là lối hiểu bắt buộc khi xét riêng một chữ Ngũ. Vì lúc đó nó biểu thị lò cấu tạo Uyên Nguyên (tạo hóa lư). Sự cấu tạo đó phải theo đúng luật Âm Dương, nói khác là luật Vũ Trụ, hễ có Vũ phải có Trụ, hễ có tung phải có hoành mới vẽ nên hệ tọa độ. Nên hễ đã 1, 2 là Thuỷ Hỏa làm tung, thì phải có 3 Mộc 4 Kim làm hoành. Đặt sai thứ tự là đánh mất "tung hoành", làm mất "vũ trụ". Và như thế là "tâm bất tại" mà thiếu Tâm thì còn chi là "ngô tâm tiện thị vũ trụ".

Bây giờ xét tới điểm thứ hai là Hành. Hành là đi, đi là ra nên phải có hướng có nơi tìm về (phản phục). Đi ra phải hướng về trung tâm. Trung tâm là Tròn là Trụ, còn đi ra là Vuông là Vũ; hiểu như thế mới đúng lược đồ căn cơ hai chữ vũ trụ của quan niệm thời gian uyên nguyên, tức là ý thức tầm quan trọng của Thổ. Có hiểu được tầm quan trọng của Thổ mới nắm được then chốt; nếu không sẽ gây lộn xộn, đánh mất yếu tố căn cơ như thường thấy.

Bởi vì ngay lời nói: Thuỷ, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ đã khơi mào cho sự lẫn lộn đó; phương chi thứ tự đối kháng kiểu Hoài Nam Tử: Thủy Hỏa Kim Mộc Thổ càng xa hơn. Vì cả hai không đặt Thổ làm trung tâm nên không có trung gian hòa giải giữa hai đối lập thể tức là lẫn lộn hai bình diện vậy. Đem Thổ ở bình diện trên (hay là nội cũng thế) đặt xuống bình diện dưới (hay là ngoại) thì làm sao vẽ lên được thập tự nhai, mà thiếu thập tự nhai thì còn chi là vòng trong, còn chi là tinh tuý tinh thần, cái còn lại chỉ là khung ngoài trống rỗng.
Do đó chúng tôi thử đề ra một lối biểu thị mới gọi là đồ biểu hoa thị để nói lên sự quan trọng của Hành Thổ như sau:


Để vẽ đồ biểu hoa thị nét bút phải qua Trung Cung 4 lần tức là một mình Hành Thổ đã phải có 4 lần bằng 4 Hành kia cộng lại. Do đó nâng cao sự quan trọng của hành Thổ.
Thực ra thì con số không thể diễn tả, vì Hành Thổ thuộc phẩm ở một bình diện khác hẳn. Tuy nhiên tránh được sự cho Hành Thổ một số lượng y như con số bất kỳ nào kế tiếp theo sau những số đi trước. Đồ biểu hoa thị còn diễn tả được phần nào yếu tố thời gian gọi là Tứ Quý(cung Thổ nằm trong Sửu, Thìn, Mùi, Tuất) tức là 4 lần trở vào Trung Cung ở cuối 4 mùa trong năm để trai tâm. Nhờ sự trai tâm đó nó sẽ làm nhẹ bớt nguy cơ đặt Hành Thổ ngang hàng với 4 Hành kia: trong thực tế sẽ là để vật chất chồng lên tinh thần.

Hồng Phạm có nhấn mạnh Hành Thổ bằng cách thay chữ "viết" bằng chữ "viên":

- Thủy viết nhuận hạ
- Hỏa viết viêm thượng
- Thổ viết giá sắc

- Tính chất nước là nhuần xuống
- Tính chất lửa là bốc cháy lên
- Thổ ở trong giá sắc (gieo gặt)

Thổ không có việc thẳng mà chỉ ở trong hai việc của người (gieo gặt) như thế là Thổ không có làm, cũng y như là Thổ không có mùa riêng. Có Xuân, Hạ, Thu, Đông cho 4 Hành kia mà không có mùa thứ Năm cho Thổ, cũng như Thổ không có phương hướng thứ Năm.

Do đó một số học giả đã cho Thổ là phụ thuộc vì không có việc, không có mùa, không có phương (xem Legge s.29+230), nhưng với triết Đông đó lại là chỗ đặc biệt của Hành Thổ. Chính vì Thổ không có phương nên mới là Thần diệu. Vì Thần vô phương nghĩa là vượt không thời gian nên mới được tôn lên bậc "Hậu Thổ" đại diện cho Hoàng Thiên ở chung một cung: đó là danh dự không hề bao giờ dành cho các Hành kia. Chính vì Thổ là Hành hữu vô địa; không phương riêng, không mùa riêng nên Thổ mới có thể chở che mọi Hành và vượt lên mọi Hành để ở vào một bình diện khác hẳn tức là siêu việt, vô hình "Hành vô Hành".

Đấy là một điều tế vi rất dễ khuất mắt nên dễ mất ý thức về nền triết lý trung hòa này. Một nền triết lý mà nếu diễn tả bằng tiêu biểu thì bao giờ giữa hai đối lập thể cũng có cái độn, cái lót, có một miền phi quân sự nhằm mục đích giảm nhẹ mãi từ đợt căn cơ sự đối kháng hoặc óc triệt tam. Sở dĩ Thổ chơi nổi vai trò hòa giải đó vì nó không là trái độn thường nhưng là trái độn siêu việt, nghĩa là ở trên bình diện khác hẳn với hai đối lập thể mà nó muốn hòa giải; không để cho bên nào diệt bên kia nhưng cả hai "tịnh dục" (symbiose) cùng sống trong những giới hạn mà lý trí không thể phân định nổi được và ta gọi là bổ túc.

Chính tinh thần bổ túc này mới là tinh thần của triết lý Việt Nho. Vậy nếu không nhận thức được để cố gắng khôi phục lại địa vị cho Thổ, thì Triết Việt cũng trở nên triết học về bản chất hoàn toàn chạy vòng ngoài (bàng hành) y cứ trọn vẹn trên nguyên lý mâu thuẫn, triệt tam; hết chất bổ túc của Âm Dương Hòa, như phần nào đã xuất hiện dưới hai bản sinh khắc sau đây là hai bảng dễ gây lộn xộn do sự không hiểu được tiên thiên và hậu thiên. Nên cần chúng ta bàn luận thêm.


3. Tương sinh tương khắc

Bản tương sinh gặp trong Nguyệt Lệnh được Đổng Trọng Thư khai triển trong sách "Xuân thu phồn lộ". Bản Tương Khắc được Hoài Nam Tử và các âm dương gia thuật sĩ chú ý. Trước hết đây là bảng Nguyệt Lệnh Tương Sinh: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Thổ sinh Kim. Kim sinh Thủy:

Theo thứ tự bốn mùa và số Nguyệt Lệnh Xuân 8, Hạ 7, Thu 9, Đông 6.
Thứ tự đối kháng: Thủy khắc Hỏa. Hỏa khắc Kim. Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, theo thứ tự (*)Thuỷ, Hỏa, Kim, Mộc, Thổ như hình sau:

(*) (Chú ý vua ngồi quay hướng Nam: tay trái là Đông, tay mặt là Tây, trước mặt là Nam, đó là đặc điểm chung của Viễn Đông không nên đổi lại kẻo có nhiều thành ngữ đã nói theo: như cỗ "xe hư tả" đón người hiền, hiểu là ở phía Đông nếu đổi chiều Nam Bắc thì sẽ ra phía Tây. Vậy cần để nguyên thứ tự và cần chú ý, nếu không sẽ lầm lộn đến yếu tinh của hai Hành Thuỷ Hỏa. S.555.)


Bảng đối kháng theo thứ tự số Lạc Thư. Lạc thư khác Hà Đồ ở chỗ 2, 4 đổi cho nhau, để làm nên một hệ thống tiêu biểu mới, nhưng vì người sau không hiểu nên đã để cho gây nên biết bao lộn xộn che lấp mất cái ý nghĩa siêu hình của Ngũ Hành, muốn thấy lý do đó cần nhận ra 4 điểm sau:

1) Số Sinh: 1, 2, 3, 4, 5. Số Thành: 6, 7, 8, 9. Gọi số Thành vì nó thành với số 5: 5+1=6, 5+2=7 v.v…

2) Số Đất là số chẵn 2, 4, 6, 8. Số Trời là các số lẻ 1, 3, 5, 7, 9

3) Vòng trong và vòng ngoài. Vòng trong do số Sinh. Vòng ngoài do số Thành.

4) Hai tinh thần của hai loại Triết học.

Môn phái triết học kể ra có tới hàng trăm nhưng nếu lấy tiêu chuẩn vòng trong vòng ngoài gốc từ Ngũ Hành mà phân loại thì ta có hai tinh thần triết lý: một là triết lý vòng ngoài xây trên nguyên lý mâu thuẫn, thiếu đất (Hành Thổ) làm chỗ hội thông, nên dẫn tới triệt tam trong triết lý, và bất tương dung trên đường xử thế. Loại thứ hai là triết lý ngoại nội Dung hợp nhờ Hành Thổ làm trung gian nên có bao Dung và lấy Trung làm bản gốc, lấy Hòa làm chỗ đạt Đạo. Nắm vững các then thốt trên làm căn cứ chúng ta khảo lại hai bản sinh và khắc trên cương vị triết lý.

Về bản Sinh, nếu xét nguyên lược đồ thì đúng với thứ tự Ngũ Hành nên không gì là sai: nó là thứ tự 4 mùa. Nhưng xét đến tên gọi và cách hiểu thì sai, khi gán cho nó chữ sinh mà thực ra chỉ có giá trị kế tiếp (cùng một giá trị với xếp loại thuộc bình diện dụng). Thế mà số kế tiếp không là số sinh (cấu tạo) nhưng chỉ là ước định nhân vi, nó bắt nguồn từ ngày: sáng, trưa, chiều, đêm và mở rộng ra là Xuân, Hạ, Thu, Đông đi với Đông, Nam, Tây, Bắc. Đó là nhân vi ngoại tại vì mặt Trời từ Đông mọc lên đỉnh đầu, lặn về phía Tây chứ không có xuống phía Nam rồi lên Bắc.

Thứ tự đó người ta gượng đặt ra để nói lên sự hòa hợp giữa 4 hướng. Nó chỉ nhằm diễn đạt có sự đúc Vũ vào Trụ, thế thôi. Mỗi biểu tượng chỉ nói lên được có điều nó muốn biểu thị, ít khi đi ra ngoài mà không trật ý nghĩa: những con thú dùng biểu thị đức tính như quy là thọ nếu hiểu là con vật đắm dưới bùn là sai. Thứ tự Nguyệt Lệnh là thứ tự xếp đặt, gán cho nó chữ sinh là sai, vì lúc ấy nó sẽ làm mất khía cạnh gián cách đối chọi của Xuân Thu, Đông Hạ như trong Hồng Phạm, tức là đánh mất thập tự nhai của Âm Dương giao hợp. Và vấp phải nhiều vấn nạn chẳng hạn nói là sinh nhưng ở đâu?

Nguyệt Lệnh cho số thành tức 6, 7, 8, 9 chứ có cho số sinh 1, 2, 3, 4 đâu mà bảo sinh? Lấy lý do nào mà bảo 8 sinh 7 và 7 sinh 5, v.v… nếu lấy số sinh thì cũng phải theo luật Âm Dương, có Âm Dương mới sinh, đây chỉ có duy Dương (tức số 3) hay duy Âm (2) trơ trọi thế làm sao mà sinh? "Cô dương bất sinh độc âm bất thành"!

Xét đến mặt bản chất hỏi căn cứ vào đâu mà bảo Mộc sinh Hỏa? Mộc có dưỡng Hỏa còn nghe được, chớ đâu có sinh Hỏa. Hỏa phải có rồi nó đến đốt Mộc. Nói rằng bã cặn của các giống bị đốt sinh ra Thổ đã gượng lắm rồi. Đến như bảng Tương Khắc cũng mắc một chứng như bảng Tương Sinh và hai bên nương nhau mà xuất hiện.

Vì thế hai bảng này chỉ nên dùng để sắp loại, chứ không xài được trong phạm vi triết. Tuy nhiên trong thực tế nhiều người lạm dụng hai bảng này.

Ngoài các thuật sĩ pháp môn khoái bảng này thì còn có các ông thích làm đảo chính dựa vào đó để biện minh cho hành động của họ. Họ có thể làm phải: nhà Châu có thể có lý do chính đáng diệt nhà Thương, cũng như nhà Tần diệt nhà Chu. Và tức nhiên người đắc thắng thiếu gì lý do biện hộ. Thế nhưng các ông muốn có một lý do y cứ trên nền siêu hình cho thêm giá trị!

Tần Hoàng diệt Châu tức là theo Đạo Trời Thuỷ diệt Hỏa vì Hỏa là đức nhà Châu, nhà Châu đức là Hỏa diệt nhà Thương đức Kim… Đâu có phải chúng tôi tham quyền, chẳng qua vì cái đức (hiểu là ngũ đế đức của Ngũ Hành) của triều đại trước đã cạn nên đến lượt Hành mới lên thay đặng canh tân nguồn sống. Thiên Cơ là thế, thấy chưa? Đấy là truyện rất thông thường ở thời Thượng cổ là thời ưa thần quyền giàu sách Thần khải, một phương thức thích hợp cho tâm trạng con người thuở xưa.

Thuyết Ngũ Hành xuất hiện từ xa xưa làm sao thoát khỏi truyện lạm dụng. Do đó mà hai bảng Sinh Khắc như trên được lạm dụng làm nền tảng cho thuyết Ngũ Đế Đức vậy.

Cái khuyết điểm chung là đặt Thổ ngang hàng với 4 Hành kia ở chỗ đi một vòng trở lại Thổ I lần rồi ra ngoài 4 lần liền. Như thế còn đâu là thập tự nhai? Đã vậy còn cho phép các Hành kia "sinh" và "khắc" Thổ, quên mất vai trò Hậu Thổ ở Trung Cung cùng với Hoàng Thiên và cùng với Trời sinh ra và che chở cho cả 4 Hành: "Thiên phú địa tải" không biết ơn lại còn vô ý thức đến nỗi nói Mộc khắc Thổ. Mộc làm sao khắc được Thổ? Nhái bén kiện Ông Trời (*) hoặc bảo Hỏa sinh Thổ, chơi trèo đến thế là hết cỡ.

(*): có lẽ được ám chỉ trong Thần Thoại "khoa phụ" là tổ phụ các tay nói khoác, đòi tranh đua với mặt trời nên bị chết khát (xem Danses 362).)

Do đó hai bảng mang theo nhiều chất sấm vĩ tai dị, mở đầu cho những lời huyền ảo phù pháp… Tất cả những luận bàn tùm lum đó các đời sau không ai dám đá động chi tới thành ra che lấp suốt hơn 40 thế kỷ nền triết lý Việt Nho đến khi trộn vào với Kinh Dịch thì làm ra một thứ huyền hoặc tai dị, như ông Wilhem phàn nàn trong I-ching I. P. 382 mà ông gọi là "hocus, pocus".

Muốn dùng hai bảng đó cho trúng ý nghĩa triết lý thì nên coi như toàn khối với hai chiều đi trái ngược nhau: một sinh xoay lối phải, một khắc xoay lối trái kiểu như Hà Đồ Lạc thư hay là hai chữ Vạn Vãn: tức cùng là lối Âm Dương đối đáp nhưng đã được mở rộng ra để dễ áp dụng vào đời sống. Giữ nguyên lối nhìn toàn diện đó thì thoát lộn xộn mà thêm được một biểu thị rất đẹp cho sự triển khai Minh Triết. Ngoại giả chỉ nên coi đó như những bảng dùng để xếp loại, chẳng hạn trong y học giúp cho dễ nhớ những kinh nghiệm đã tích lũy.


4. Nguồn suối hữu thực

Đầu bài đã nói về nguồn gốc văn học, ở đây cần bàn về nguồn gốc hữu thực tức là căn cơ Triết học.
Rất nhiều học giả định tính văn minh Viễn Đông là một nền văn minh biểu tượng. Nói như thế tuy có đúng nhưng chưa đủ, vì thực ra nền văn minh nào cũng có thể gọi là biểu tượng, bởi chưng ít hay nhiều đều có dùng biểu tượng lấy ở tinh đẩu hoặc các hiện tượng. Sở dĩ Việt Nho đặc trưng là ở trong chỗ biết vượt qua biểu tượng để đi vào Trung Cung, nên đặc trưng nằm trong chỗ Siêu Việt chứ không trong chỗ biểu tượng. Vì thế cần phải xác định một số điểm sau đây.

Đứng trước cảnh tượng uy nghi của trăng sao vận chuyển, con người có thể có 3 thái độ: một là tỏ ra khiếp nhược kinh sợ, rồi từ đấy tin là đã được nghe những mệnh lệnh truyền khiến điều này điều nọ, đó là thái độ của Vu Nghiễn ma thuật. Cũng có thể xem thấy ở tinh tú những ảnh hưởng huyền bí chỉ huy đời sống và số kiếp con người và đó là thái độ của chiêm tinh thuật số.

Cũng có thể xem tinh đẩu biểu lộ đường vận hành của Vũ Trụ tức là đường đi của Thời Không và con người nương theo đó rút ra tự lòng mình những quy tắc hướng dẫn đời sống. Chỉ có lối nhìn thứ ba này mới là của văn minh Việt Nho; nó là thái độ của những con người có tâm thức tiến đến độ cao mà ta quen gọi là hiền triết. Đó là thái độ của Khổng Tử khi ông nói "dư dục vô ngôn: tứ thời hành yên, bá vật sinh yên, Thiên hà ngôn tai". (L.XVII,18)

Phải, Trời không nói nhưng Trời có giúp cho ít dấu hiệu: "Tự Thiên hựu chi" (H.T.12) nên con người vẫn phải làm lấy: một đàng "ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ dát ư Địa lý" (H.T. 4) nhưng đàng khác vẫn phải "quan kỳ hội thông… nghĩ nghị dĩ thành kỳ biến hòa"(H.T. 8). Xem trời ngắm đất rồi trở lại lòng tìm ra nơi hội thông cũng gọi là "Thiên địa chi tâm" vượt tầm tai mắt để mà nghĩ ngợi, để mà định đoạt con đường thực hiện sự tiến hóa của mình, nghĩa là một đường lối có ngoại: ngắm thiên văn địa lý mà cũng có nội, tức là tâm tư; cho nên có thể gọi là con đường thực nghiệm và quân bình vượt xa hẳn những lối ma thuật hay mơ mộng khác thiếu nền móng vững chãi, hầu hết thiên lệch hướng ngoại.

Theo lối thực nghiệm đó thì luật thiên nhiên không phải được khải thị một lần, nhưng từng giờ từng khắc, không phải bằng lời nói nhưng bằng sự vận hành của thời, của khắc, của trăng sao tinh đẩu: người là giống linh tính, xem đấy mà tìm hiểu. "Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức" (Dịch, quẻ Càn), vì nó cũng vận hành theo một quy luật tổng quát của vạn vật. Đó chính là tinh thần Kinh Dịch, nền móng của văn minh biểu tượng, nên 64 quẻ là 64 biểu tượng, và sau mỗi tượng có 1 câu quân tử dĩ, nghĩa là người quân tử coi theo đó mà rút ra luật tắc đặng xử kỷ tiếp vật. Thí dụ quẻ Vô vọng (25) lời Kinh nói rằng Tượng viết: "Thiên hạ lôi hành: vật dữ vô vọng. Tiên Vương dĩ Mậu đối thời dục vạn vật." (chữ Mậu cũng như chữ Mậu Kỷ ngày xưa viết có thảo đầu, chỉ làm tốt tươi, rất có thể do ảnh hưởng văn hóa nông nghiệp Việt Nho): nghĩa là "dưới Trời sấm chạy là tượng quẻ vô vọng: vạn vật đạt tình trạng thiên nhiên không lỗi (đúng: không sai thù với tính trời phú cho) Tiên Vương xem đó mà làm tốt đức của mình đặng hợp với thời Trời mà nuôi dưỡng vạn vật".

Đại để đó là lối hiểu chính truyền và nhờ đó mà văn hóa Việt Nho không bị mắc kẹt ở biểu tượng lý trí, nhưng vượt lên qua linh tượng để đạt nguồn suối của Linh Đức như đã bàn trong quyển Loa Thành đồ thuyết trong đó có nói đến những khó khăn rất nhiều mà tâm thức phải vượt qua để đạt độ "Kinh Đức bỉnh triết". Vì thế không lạ khi thấy bên Viễn Đông các đời sau nhiều khi không giữ đúng, hoặc nhuốm màu ma thuật như lối tôn giáo Vu Nghiễn đời Thương, hoặc quá nhân vi, văn học, thuật số như đời nhà Châu, hay là chi ly sấm vĩ như một Châu Diễn hoặc một Đổng Trọng Thư…

Tuy nhiên không lúc nào yếu tố biểu tượng khoa học bị vùi lấp hẳn nên vẫn duy trì được nền thống nhất tương đối khá hơn các nơi.
Để có một ý niệm khác trung thực hơn ta hãy thử mường tượng ra mình đang đứng trong đêm tối, tay cầm một que, đầu có than hồng và đưa mau que để vẽ lên hình hoa thị. Hoa thị chỉ tồn tại bao lâu chiếc que hồng chạy mau đủ để vệt sáng kịp nối tiếp nhau đều đều và giả thiết rằng que lửa cũng chỉ hồng cháy mỗi khi trở lại tim hoa để "sạc-dê" lại sinh khí đã tiêu ra ngoài, hầu trở ra vẽ cánh hoa thứ hai, và cứ một xuất một nhập như thế để vẽ cánh ba rồi cánh bốn… Thí dụ đó nói lên phần nào quan niệm sự vật biến dịch theo đường Ngũ Hành.

Quan niệm như trên khác hẳn với quan niệm bất động của triết học lý niệm, vì ở đây là quan niệm theo Dịch lý trên một quá trình luôn luôn hoạt động, luôn luôn đi tới, nhưng không đi tứ tung Ngũ Hành hay là tứ tung ngũ Thổ hay là ngũ quy Tâm, tức là đi về nội giới để duy trì lưỡng nhất tính là "hợp ngoại nội chi Đạo": một bước ra lại một bước vô.

Nếu chỉ có vòng ngoài thì giống như Thần Cộng Công vì sầu hận húc đầu vào núi Bất Chu: "Cộng Công nộ nhi xúc bất chu chi sơn". Chu sơn chỉ Chu tri, còn bất chu sơn chỉ cái biết không tròn đầy (xem Liệt tử C. V. A. Couvreur tr. 130). Chính cái biết không tròn đầy này làm cho trời long đất lở, khổ luỵ chín châu. Phải nhờ bà Nữ Oa vá Trời và cắt 4 chân con rùa đội Đất cho khỏi nghiêng lật. Đó là chỉ nền Minh triết Việt Nho chú trọng số 5 thay số 4, 6, 8 của Hoa tộc. Nói cắt 4 chân có ý chỉ không được bám sát vào 4 góc, 4 Hành ngoài, vì như thế không còn nơi Thông hội với Trời ở Hành năm. Và lúc ấy không còn là Đạo Hành mà chỉ còn là lộng hành (activisme) vì thiếu sức lưu nhuận của sinh hoạt đạo thể, thiếu tiếp xúc thường xuyên và trở nên khô cạn yếu ớt như bóng ma trơi.

Đấy là tình trạng bi đát của con người hiện tại cắm đầu chạy vòng ngoài mà thiếu hẳn căn cơ của vòng trong. Cái được mệnh danh là vòng trong đã bị hạ xuống cùng đợt với vòng ngoài: tức là đã để mất tính chất tâm linh của thổ, và cuộc chạy trở thành cuộc diễn hành của đèn kéo quân chỉ còn bóng với hình thiếu mất tâm linh tự nội phải nhờ khói đẩy vòng quanh. Đạo giáo được thiết lập ra là cốt cho Đạo "tương hành" cho sinh khí Đạo lưu nhuận mọi hành vi cử chỉ, nhưng thiếu nội khởi của Thổ Thần, nên hầu không giúp chi được vào việc thiết lập mối tình huynh đệ phổ biến là cái đích điểm rõ rệt nhất của mọi nền đạo lý chân thực. Những mục tiêu khác như tri thiên, tri địa còn xa xôi và dầu sao khó kiểm soát, chí như "ái nhân" là hậu quả thiết yếu và ở trong tầm kiểm soát được. Vậy mà để có thể ái nhân thì cần an thổ. Có "An thổ đôn hồ nhân" mới "cố năng ái". (H.T. IV)

Có "an thổ" mới đủ khả năng yêu thương nghĩa là phải có nơi an trụ cho tâm hồn, mới gặp nền tảng cho tình yêu dung thông khắp cõi: dẫu đến tứ hải cũng đều là huynh đệ. Vì có đạt trung điểm mới bao gồm được 360 độ, còn khi ở một trong 4 cục bộ thì chỉ bao được 90° hay I phần tư, tức là có nhất hải được coi là huynh đệ, còn tam hải gảy ra ngoài, theo những kỳ thị màu sắc, tôn giáo, dòng tộc hoặc đẳng cấp. Chỉ chấp nhận có bần cố nông, có lao động thí dụ, và lúc ấy không thể cố năng ái, mà chỉ cố năng gây căm thù, gây hiềm oán… Và nhiều khi nhất hay nhị hải mà đã "giai sài lang" rồi (thay vì giai huynh đệ).

Môn phái Triết học Ionien ở Hi Lạp chủ trương tứ hành là nước, lửa, đất, khí. Nhưng có lẽ vì thiếu Hành Thổ, nên Thales chủ trương vạn vật do Nước, Héraclite bảo do Lửa. Phải chăng đó là nguồn suối các sự thiên lệch, các thứ duy vật sau này: duy vật, duy tâm, duy kiện?…

Triết lý Ngũ Hành chủ trương ngược lại là nhận ra Nước Lửa một trật. Sở dĩ dám nhận cả hai Hành trái ngược đó tiêu diệt nhau, nhưng lại điều hòa nổi là nhờ có Hành Thổ Trung Cung cũng gọi là Địa linh, Địa mẫu, nên thay vì tương khắc thì "Thủy Hỏa tương đãi" (Thuyết quái VI) "Nước Lửa bổ túc cho nhau": Water and fire complement each and other." (W. 292). "Nhiên hậu năng biến hóa": nhờ đó có thể tiến hóa. Nhờ đó mới có thể: "Tri chu hồ vạn vật, nhi đạo tế thiên hạ cố bất quá. Bàng hành nhi bất lưu. Lạc thiên tri mệnh cố bất ưu. An thổ đôn hồ nhân cố năng ái." (H. T. IV)
"Biết trọn được (chu vi) khắp vạn vật nên gây được an hòa cho khắp cõi. Vì vậy không đi quá. Hoạt động ở vòng ngoài mà không bị trôi theo lưu tục. Thấu hiểu mệnh trời, nên không ưu sầu. Yên nghỉ lại nơi Thổ tâm linh và đôn hậu tình người nên có thể yêu thương bằng tấm lòng chân thực."


5. Triết lý ngũ hành

Triết lý Ngũ Hành cũng chính là triết lý Tam Tài, nhưng được quảng diễn rõ hơn bằng cách rút nhỏ biểu tượng lại cho vừa tầm sức con người hầu dễ triển khai các khả năng tàng ẩn.
Biểu tượng ở Tam Tài là Thiên Địa, ở Ngũ Hành là Thủy, Hỏa, Kim, Mộc. Thiên Địa thì bao quát nhưng mênh mông, nên cần hạ xuống một độ nữa, đó là Thuỷ Hỏa Kim Mộc, là những cái gần gũi thiết yếu cho đời sống. Từ Thủy Hỏa sẽ dễ dàng bước vào đến tận Nhân Tính, tức là phần sâu thẳm nhất. Vì Tính kép bởi hai chữ Tâm và Sinh. Thế mà Sinh có liên hệ uyên nguyên với Thủy. Vì được coi là nguồn sống sơ nguyên như câu nói của Triết Nho: "Thủy vi vạn vật chi nguyên". Nước là nguyên thủy của vạn vật. Còn Tâm liên hệ với Hỏa, chỉ cái gì sáng soi đốt nóng. Nếu Tâm chỉ siêu thức hướng dẫn tâm hồn thì Hỏa cũng là cái gì soi sáng hướng dẫn, cai trị, ra mẫu mực như trong ý tưởng của Héraclite qua lối trình bày của Heidegger. "Khi Héraclite nói về Lửa thì ông nghĩ hơn hết đến cái sức sáng soi hướng dẫn và bao trùm lên mọi hoạt lực".

Thánh Kinh mở đầu bằng câu: "Thần Linh Chúa bay phủ trên mặt Nước" thì ở đây Thần Linh chỉ ánh quang linh, chỉ ý tưởng tạo dựng, còn Nước chỉ nguồn sống sơ nguyên vậy.

Trong Ngũ Hành yếu tố Hỏa chỉ phần tâm tưởng, phần sáng soi vào cái sống âm u vô định để hướng dẫn, để tìm ra các ý tưởng là phần soi dọi cho đời sống tâm tình. Hai yếu tố Tâm và Sinh đó hòa hợp giao tham làm nên Tính của người cũng như vạn vật.

Sau hai yếu tố Thủy Hỏa thì đến hai yếu tố Kim Mộc, nó cũng là một cặp Âm Dương, nhưng biểu thị cách cụ thể định hình nhiều hơn và do đó có thể coi như một thứ mức thang phân loại vạn vật từ sống và mềm như Mộc, dẫn tới loại cứng và "vô tri vô giác" như Kim thạch. Vậy với hai yếu tố Thủy Hỏa ta có nét dọc định tính tiên thiên; với Mộc Kim ta có thêm hai yếu tố định hình để phân tính ra nhiều loại, nhưng vẫn còn là tiên thiên, nên nói "vô hồ xứ giả" = chưa có ở nơi nào, mặc dầu đã có thực. Nó sẽ hiện hình cụ thể ra cá vật ở các đợt sau như sẽ bàn ở chương về cá biệt hóa.

Trở lên chỉ là những phân biệt trong lý trí giúp ta dọi một vài tia sáng nhỏ vào cõi Tâm Linh, vì trong thực tế hai yếu tố đó giao hợp khắng khít không thể chi hẳn ra đâu là Thủy Hỏa, đâu là Kim Mộc. Tuy nhiên cần đem vào không những để có vài ba ý niệm sơ sài về tính vật, nhưng cũng còn nói lên một chân lý nữa chưa được đề cập ở Tam Tài, đó là biến dịch.

Ở Tam Tài mới nói đến hoạt lực (tài) cách chung, đến đây mới đặt nổi ý tưởng về chiều hướng của Tam Tài: đó là Hành. Vì thế dùng Thủy Hỏa tiện cho việc biểu thị biến dịch hơn: vì Thủy luôn luôn chảy xuống, Hỏa luôn luôn bốc lên. Cả hai đều biểu lộ ý tưởng biến dịch và khi đặt vào liên hệ đối đãi thì nói lên ý tứ biến dịch theo chiều hướng hòa hợp trong tư thái quân thiên.

Ý niệm biến dịch này liên hệ chặt với biểu tượng biến dịch trong Kinh Dịch là Nhật Nguyệt. Trong đó Nhật liên hệ với Hỏa. Nguyệt liên hệ với Thuỷ (hiện tượng nước thuỷ triều gắn liền với nguyệt), vì thế mà chúng ta có phương trình như sau:

ThiênNhậtHỏaTâm = ĐịaNguyệtThủySinh

Phương trình trên nói lên mối nhất quán của Việt Nho được chỉ bằng nhiều biểu tượng khác nhau. Nhưng khác nhau đến đâu bao giờ cũng đi đôi mà lại ngược chiều. Có đi đôi mới có biến dịch. Nhưng để cho sự đi đôi không chỉ là đối kháng bên ngoài có thể đi đến tiêu diệt nhau, thì phải có vòng trong để đối kháng trở thành đối đãi, bổ túc, tương thấu, tương nhập. Do đó mà cần có sự quân bình giữa hai yếu tố nghịch hành như Thiên với Địa, Thuỷ với Hỏa, Tâm với Sinh mà gốc tâm lý là Tính con người, hễ nghiêng về một bên là ứ trệ là hết cuộc hành trình, hết quá trình biến thông.

Để đặt nổi ý tưởng quân bình này thì quen dùng các số Trời là: 1, 3, 5, 7, 9. Trong 5 số Trời thì số 5 lại còn ở giữa nữa vì thế mà tiên nho nói: "trung hòa cực thịnh hồ Ngũ"

Trung và Hòa thịnh hơn hết là ở số Ngũ. Như trên đã nói số Ngũ chỉ sự Hòa hợp Trời Đất trong thế pha độ bình quân nhất là: Trời ba Đất hai (đất 4 trời 1 thì quá lấn). Vì thế nói Ngũ Hành cũng có nghĩa như hành động theo Trời. Nếu làm được như thế thì rất Thánh ngang hàng với Trời như: Tề Thiên Đại Thánh là Thánh to ngang với Trời.

Đó là tên mà thuyết thường đặt cho Thạch Hầu và đi theo Đường Tăng sang Thiên Trúc thỉnh kinh nên cũng gọi là Hành Giả, có khi là Tôn Hành Giả. Chữ tôn này liên hệ với chữ Chí tôn mà triết lý Ấn Độ thường dùng để chỉ Đấng tối cao. Đi thỉnh kinh tức là đi tìm đến chỗ chí tôn chí cực. Muốn thế thì phải trung thành. Điều đó được biểu thị bằng việc mỗi khi hành giả đánh nhau bị tử thương mà khi tiếp cận được với Đất thì phục sinh lấy lại được sức vóc nguyên tuyền. Đấy là ý nghĩa sâu xa của triết lý ngũ hành mà chúng ta còn thấy biểu thị ra trong nhiều ẩn dụ rất cần nhắc nhở lại cho con người hiện đại đang bị quật ngã bởi nền văn minh máy móc.


6. Trở lại đất tổ

Antée là nhân vật thần thoại có sức mạnh phi thường vật nhau được với thần Hercule là hiện thân của sức mạnh có thể địch muôn người. Nhưng đến sau Antée bị thua vì Hercule nhận ra mỗi lần Antée tiếp xúc với Đất thì liền lấy lại được sức mạnh đã mất cho nên tìm cách nâng bổng Antée lên khỏi mặt Đất, nhờ đó mà Hercule thắng được Antée.

Antée chính là hình ảnh con người hiện đại đang bị thần Herculre mới là nền văn minh cơ khí vô hồn và duy vật tóm cổ xoay như chong chóng trong cơn lốc ở ngoài biên cương đầy xáo động không sao trở lại được với "Địa Linh, Địa Mẫu" để có thể bồi dưỡng sinh lực tinh thần đã kiệt quệ. Đành lê khắp 4 nẻo mà không tìm thấy cửa trở lại địa đàng đã mất hút từ ngày Evà bị tống cổ ra. Đứng ở quan điểm triết lý Ngũ Hành mà luận thì bà Evà có hai điểm thất sách.

Trước hết nếu thèm chua thì nói với Adong thu xếp cho, vì nam ngoại nữ nội. Nội thánh ngoại vương. Sao bà nội tướng lại bỏ ông ở nhà rồi tự ý một mình ra ngoài, ra khỏi trung tâm?

Điều thứ hai mới quan trọng: thì ăn no đi rồi về tay không, chứ đây đưa trái biết lành biết dữ vào nhà. Hỏng ở chỗ ấy, ở chỗ biến trong ra ngoài tức cái trong làm toàn bằng chất ở ngoài. Đó là điều hỏng ngay ở đợt vật lý: không thể dùng kiến thức đại vật lý cho vi thể. Như Bachelard dặn đừng có đưa kiến thức hiện tượng luận vào thế giới vi thể. Nói khác đem phạm trù logic của kiến văn vào cõi Đạo u linh thì từ đấy xoay chiều nào cũng là phiến diện. Vì Đạo phải thuộc phạm vi tâm linh u uẩn huyền vi. Chỉ có thể lấy tâm tính luyện mà cảm chứ không thể lấy óc đếm đo mà biện lý lẽ được.

Người ta nói triết cổ điển đánh mất đàn bà tính là thế. Tức là đánh mất cái cái phần linh tính và tâm linh, chỉ còn toàn lý với lẽ thì có khác chi bà Evà ra hái quả cấm đưa về nhà vậy. Triết lý mất đàn bà là mất Ngũ Hành, chỉ có "4 éléments" mà thiếu thiếu thể thứ năm, cũng gọi là Ngũ Cốc, (cốc chính nghĩa là nuôi), tức là cái Ngũ có tính chất nuôi dưỡng tinh thần và như vậy là triết lý hết tiếp xúc với Đất Mẹ Quê Tổ mà trong sách Liệt Tử kêu là "Tức Thổ" với lời chú thích: "tức thổ bất háo, diệt quật chi ích đa". "Tức Thổ loại đất không hề hao hủy được, càng đào lại thêm lên" (Danses 485).

Đó là "thánh địa" gặp thấy trong mọi ngành Truyền Thống. Đó cũng là Đất làm ra "tạo-hóa-lư" mà bà Nữ Oa dùng luyện đá Ngũ Hành đặng vá lại Trời Đất đã bị thần Cộng Công làm siêu vẹo nghiêng lệch khiến cho "thiên bất túc tây bắc, địa bất mãn đông nam". (Diễn bằng số thì tây bắc là 4–1, Trời 1 mà Đất 4 nên nói Thiên bất túc tây bắc. Còn đông nam là 3–2, 2 Đất ít hơn là 4 phía tây nên là bất mãn).

Trời hụt phía tây bắc (thiếu tinh thần). Đất không đủ phía đông nam (đói nghèo). Liệt Tử ghi

"Ngũ sắc thạch luyện, dĩ hòa âm dương" = Luyện Ngũ Hành

là phương pháp làm cho Âm Dương hòa hợp cân bằng. Sở dĩ Nho triết cân bằng hơn là nhờ bà Nữ Oa không có lẻn ra ngoài hái trái cấm nhưng luôn luôn ở lại nhà để "đội đá vá Trời" vì thế mà bà cũng có tiếng là đã thiết lập ra phép hôn phối, đuôi lúc nào cũng cuộn lấy đuôi Phục Hi (xem hình trong quyển Nhân Bản). Phục Hi xuất hiện bên ngoài nên trắng (bạch), Nữ Oa tàng ẩn bên trong nên đen (hắc), Lão Tử viết: "Tri kỳ bạch, thủ kỷ hắc, Vi thiên hạ thức" (DK 28): "Biết được trắng mà vẫn giữ được đen đó là khuôn thước cho thiên hạ" (trắng là rõ ràng cho ý thức, còn đen thuộc tâm linh không rõ cho lý trí).

Khuôn thước ở đời như là hoa sen trắng ở giữa bùn đen. Mỗi vật có một vai trò, mỗi người có sứ mạng là đem ra thực hiện một hình thái nào đó trong cái kho tiềm thể phong phú vô biên của càn khôn tạo hóa. Những khả năng đó được cụ thể hoá trong cõi hiện tượng bằng thước vuông trong tay Phục Hi tức là những sự khúc khuỷu, tư riêng hạn hẹp của một hình thái và hoàn cảnh nhất định mà mỗi người được sai vào đó để làm sao trong những hoàn cảnh khó khăn như thế mà vẫn chu toàn được sứ mạng, vẫn "thủ kỳ hắc", vẫn luôn luôn giữ được Đạo thường là "hỏa viêm thượng, thuỷ nhuận hạ".

Vì thế mà ở hàng ngang trong thực tế có khi khúc, khi trực, có lúc tòng mà cũng có lúc phải cách. Cũng có khi khúc để rồi mà trực, cũng có khi tòng để rồi cách. Họa hiếm mới có người gặp hoàn cảnh như ý, còn hầu hết đều gặp những khu vực sinh lý xã hội rất hạn hẹp, nhưng phải chấp nhận để rồi sửa đổi, và làm đà tiến đến chỗ hiện thực Đạo tâm. Có khó khăn như thế mới có dịp để mài dũa óc linh hoạt, luyện tập óc tinh anh. Vì tài ba không là chi khác hơn là biết chấp những thách đố của hoàn cảnh. Quân tử là phải ở đâu cũng có thể an nhiên: "Quân tử vô nhập nhi bất tự đắc yên" (T.D. 14). Nếu như hoàn cảnh thuận lợi hoàn toàn thì chẳng cần phải quân tử cũng có thể an nhiên tự tại được. Nhưng nếu hoàn cảnh đầy trắc trở thì muốn an nhiên tự tại phải là quân tử, nghĩa là người hiểu biết và hiện thực nổi triết lý Ngũ Hành.

Tóm lại thì triết lý Ngũ Hành chính là Đạo như tiên nho nói

"Hành diệc Đạo chi thông xưng" = chữ Hành

cũng thường dùng để chỉ chữ Đạo, Đạo là đi, nhưng đi theo một hướng là Trời, Đất, Thiên, Địa, tuy nhiên không là Trời Đất cứng nhắc nhưng là uyển chuyển như Nước với Lửa. Kim Mộc là hàng ngang vừa chỉ mực độ cao thấp phân biệt các thứ loại vừa chỉ những hoàn cảnh khác biệt, do đó cần phải uyển chuyển khi lên khi xuống tuỳ thời, vì nếu Đạo là đi, là Hành trình thì bắt buộc phải linh động uyển chuyển như thế. Theo đường đi uyển chuyển mà không lìa xa Đạo thế gọi là Hành.

Lương Kim Định

Giới thiệu bản thân

Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

 

 

 

Trang Tôn Giáo