 |
03 tháng 09, 2010 |
Lý học lý thuyết, một
ngành khoa học lý thuyết rất mới nhưng theo tôi
dường như nó đã từng tồn tại trên Trái đất ít
nhất trên 6000 năm... Phải chăng "Tánh không
duyên khởi - Chân không diệu hữu" là phát biểu
chính thức của nguyên lý số 1 - nguyên lý TỒN
TẠI ?. Logic hóa nguyên lý này có lẽ chúng ta sẽ
có: TIÊN ĐỀ TỒN TẠI. Everything are from Nothing
- Lý học lý thuyết sẽ nghiên cứu tường minh về
sự thật này!
Tổng quan về Lý thuyết dây
Lý thuyết dây là một sự tiếp
tục cách tiếp cận toán học
của vật lý lý thuyết đối với
những đối tượng hình học cơ
bản nhất, đó là những đối
tượng một kích thước gọi là
những dây. Không giống hạt
điểm trong lý thuyết trường
lượng tử như trong mô hình
tiêu chuẩn của vật lý hạt,
những dây tương tác theo
cách gần như là duy nhất,
được xác định bởi sự chặt
chẻ của toán học, và qua đó
hình thành được một học
thuyết lượng tử về hấp dẫn
một cách minh bạch và tự
nhiên.
Hiện nay thuật ngữ lý thuyết
dây đã thay đổi để bao gồm
các nhóm của lý thuyết dây
riêng lẻ và cả framework mở
rộng hơn có liên quan, chẳng
hạn như M-Lý thuyết là cái
đã hợp nhất chúng. Trong đó,
có một thuộc tính được chia
sẻ của toàn bộ của các lý
thuyết dây này là nguyên lý
toàn ảnh.
Tuy vậy, những lý thuyết gia
về Dây vẫn chưa hoàn toàn mô
tả được những lý thuyết này,
và họ cũng chưa xác định một
cách chắc chắn được những lý
thuyết này liên quan đến vũ
trụ vật lý như thế nào.
Nhưng, gắn kết logic của
cách tiếp cận, và thực tế là
lý thuyết dây có thể bao hàm
tất cả các lý thuyết vật lý
cũ, nhiều nhà vật lý đã tin
tưởng rằng một kết nối như
vậy là khả dĩ. Đặc biệt, lý
thuyết dây đang được cho là
ứng cử viên hàng đầu cho lý
thuyết của mọi thứ (TOE),
một lý thuyết mô tả mọi lực
tự nhiên đã biết (hấp dẫn,
điện từ, yếu và mạnh) và vật
chất (quark và lepton) trong
một hệ thống toán học hoàn
toàn.
Tuy nhiên, thực tế là không
ít người đã phê phán lý
thuyết dây, vì nó chưa đưa
ra được những bằng chứng
thực nghiệm, cũng như những
dự đoán có thể kiểm tra
được.
Ta biết cũng như các thuyết
lượng tử khác về hấp dẫn,
việc kiểm tra lý thuyết dây
bằng thực nghiệm là một công
việc quá khó đến mức bất khả
thi, trong đó có thể yêu cầu
phải có những tiến bộ vĩ đại
về kỹ thuật nhằm thực hiện
các thí nghiệm trên một quy
mô kích cở của hệ mặt trời.
Dù lý thuyết dây, như mọi lý
thuyết khoa học khác, là có
thể hoàn toàn đúng về nguyên
tắc, nhưng những nhà phê
bình bảo thủ cho rằng nó vẫn
chứa đựng nguy cơ có thể
hoàn toàn sai trong tương
lai, vì thế họ đã nói hiện
tại chưa nên gọi nó là một
lý thuyết khoa học.
Làm việc với Lý thuyết dây
thực sự rất hấp dẫn và thú
vị do bởi nền tảng toán học
đẹp đẽ của nó, và cũng do
bởi số lượng lớn những thứ
mà những lý thuyết này có
thể nắm bắt. Lý thuyết dây
mạnh mẽ cho rằng spacetime
có 11 kích thước, nhưng lý
thuyết dây cũng có thể dễ
dàng mô tả những vũ trụ với
spacetime 4 kích thước.
Lý thuyết dây cũng bao gồm
những đối tượng nhiều chiều
hơn so với dây, được gọi là
Brane. Bằng việc nghiên cứu
các P-Branes và việc nhận
dạng chúng so với D-Branes,
điểm mút của những dây, các
loại lý thuyết dây nhất định
đã được chỉ ra là tương
đương với các kiểu lý thuyết
gauge truyền thống.
Nghiên cứu sự tương đương
này đã dẫn tới những hiểu
biết mới trên sắc động lực
lượng tử, lý thuyết cơ bản
của lực hạt nhân mạnh.
Vật chất được tạo thành từ
những nguyên tử, và… lần
lượt được tạo thành từ những
quark và những lepton. Theo
lý thuyết dây, tất cả các
hạt như vậy thật sự đều là
những vòng nhỏ xíu hay là
những đoạn dây rung động. Ý
tưởng đứng sau mọi lý thuyết
dây là mỗi “hạt cơ bản” thật
sự là một đoạn dây ở thang
rất nhỏ (có lẽ ở bậc của
chiều dài Planck) rung động
tại những tần số cộng hưởng
đặc biệt đối với loại hạt
đó. Như vậy, bất kỳ hạt sơ
cấp nào cần phải xem là một
đối tượng dao động nhỏ xíu,
hơn là như một điểm. Đối
tượng này có thể rung động
trong những mode khác nhau
(tương tự như một dây ghi-ta
có thể sinh ra các note nhạc
khác nhau), với mỗi mode
xuất hiện như một hạt (
electron, photon ...). Một
cách ước định, những dây có
thể phân chia và kết hợp,
chúng xuất hiện như những
hạt phát xạ và hấp thụ những
hạt khác, dẫn đến các tương
tác đã biết giữa các hạt.
Ngoài những dây, lý thuyết
này cũng bao gồm những đối
tượng có kích thước bậc cao
hơn, như D-Branes và
NS-Branes. Hơn nữa, các lý
thuyết dây đều dự đoán sự
tồn tại của các bậc tự do
thường được mô tả như những
chiều dư. Lý thuyết Dây cho
rằng không-thời gian bao gồm
10, 11, hay 26 kích thước
tùy vào từng lý thuyết và
đặc thù riêng.
Mối quan tâm của lý thuyết
dây được dẫn dắt chủ yếu bởi
hy vọng sẽ là một lý thuyết
minh bạch về hấp dẫn lượng
tử hay thậm chí là lý thuyết
của mọi thứ. Cũng như nó có
thể mô tả một cách tự nhiên
những tương tác tương tự như
lực điện từ và những lực
khác trong thiên nhiên.
Những lý thuyết siêu dây nói
về các fermion, những hạt
kiến tạo nên vật chất, và
siêu đối xứng, là một loại
đối xứng được phỏng đoán là
đối xứng căn bản của thiên
nhiên. Người ta chưa biết
liệu lý thuyết dây sẽ có khả
năng mô tả một vũ trụ bằng
tập hợp chính xác của những
lực và những hạt đã được
khảo sát, và cũng không rõ
sự ràng buộc nào sẽ cho phép
lý thuyết chọn lựa các tham
số chi tiết này.
Lý thuyết dây nói chung chưa
thể kiểm chứng bằng thực tế
để khẳng định sự đúng đắn
của mình. Vẫn chưa có những
dự đoán có thể tiến hành
kiểm tra bằng thí nghiệm
hoặc bằng sự quan sát thiên
nhiên để có thể xác nhận một
số khía cạnh quan trọng của
lý thuyết, như sự đối xứng
và các chiều dư.
Ngoài ra, lý thuyết dây hoàn
chỉnh vẫn chưa có. Chẳng
hạn, lý thuyết còn chưa có
một định nghĩa thoả mãn bên
ngoài của lý thuyết nhiễu
loạn. Cơ học lượng tử của
Branes vẫn chưa rõ. Đặc tính
của lý thuyết dây trong việc
thiết đặt vũ trụ học là
những background phụ thuộc
thời gian vẫn còn đang trong
giai đoạn nghiên cứu. Và lý
thuyết dây nào sẽ lựa chọn
trạng thái chân không nào
cũng là một đề tài đang được
tranh luận sôi nổi.
Lý thuyết Dây riêng lẻ được
xem là trường hợp riêng của
một lý thuyết căn bản hơn đó
là Lý thuyết M, nhưng hiện
tại Lý thuyết M chỉ mới xác
định được từng phần và cũng
chưa được xem xét thấu đáo.
Tính chất cơ bảnLý thuyết dây được công thức
hóa dưới dạng một nguyên lý
tác dụng, đó là tác dụng
Nambu- Goto hoặc tác dụng
Polyakov, có thể hiểu đó là
sự mô tả cách thức mà những
dây di chuyển trong không
gian và thời gian.
Cũng như những dây không có
ngoại lực tác động, dây sẽ
có xu hướng co lại, như là
cách để tối giản thế năng
của chúng, nhưng sự bảo toàn
năng lượng cản trở chúng
biến mất, và thay vào đó
chúng phải dao động.
Bằng việc áp dụng các ý
tưởng của cơ học lượng tử
vào những dây, điều khả dĩ
có thể suy ra được là, ứng
với những mode dao động khác
nhau của dây, mỗi trạng thái
dao động sẽ có dáng vấp của
một hạt tương ứng.
Khối lượng của hạt, và
phương thức mà nó có thể
tương tác, được xác định tùy
theo cách thức dây rung
động. Dây có thể rung động
trong nhiều mode khác nhau,
giống như một dây đàn có thể
tạo ra nhiều nốt nhạc. Mỗi
mode rung tương ứng với một
loại hạt và chúng làm thành
một “phổ” của lý thuyết.
Các dây có thể chia ra từng
phần và kết hợp lại, chúng
xuất hiện như những hạt phát
xạ và hấp thụ các hạt khác,
dẫn đến các tương tác đã
biết giữa những hạt.
Lý thuyết dây bao gồm cả
những dây mở có hai điểm mút
phân biệt lẫn những dây
đóng, nơi mà điểm mút gặp
nhau để làm một vòng.
Hai mẫu dây xử sự trong
những cách hơi khác, theo
hai hình ảnh khác. Chẳng
hạn, trong đa số những lý
thuyết dây, một trong số
những mode dây đóng là
graviton, và một trong những
mode dây mở là photon.
Vì hai kết thúc của một dây
mở có thể luôn luôn gặp và
nối, tạo nên một dây đóng,
không có những lý thuyết dây
không có những dây đóng.
Mô hình dây sớm nhất là dây
bosonic, nhưng chúng chỉ phù
hợp với các boson, mô tả
trong mức năng lượng đủ thấp
là lý thuyết hấp dẫn lượng
tử, nó cũng bao gồm (nếu
những dây mở được hợp nhất
nữa) các trường gauge như
photon, hay tổng quát hơn là
bất kỳ lý thuyết gauge nào.
Tuy nhiên, mô hình này có
những vấn đề. Quan trọng
nhất, lý thuyết này có một
sự bất ổn định cơ bản, khi
dẫn đến kết quả là sự co
rút, ít nhất là trong từng
phần của bản thân không-thời
gian. Đồng thời, như tên gọi
đã bao hàm, phổ của các hạt
chỉ chứa đựng các boson, là
những hạt chẳng hạn như
photon, luôn hành xử theo
những quy tắc riêng. Nói
chung, boson là những phần
tử của sự bức xạ, không phải
của vật chất là cái được tạo
nên từ các fermion.
Việc nghiên cứu để đưa ra
một lý thuyết dây có thể bao
gồm fermion trong phổ của nó
đã dẫn tới ý tưởng về siêu
đối xứng, thể hiện trong mối
liên hệ toán học giữa các
boson và các fermion. Những
lý thuyết dây bao gồm các
rung động fermionic bây giờ
được biết đến như các lý
thuyết siêu dây. Một vài
loại khác nhau đã được đưa
ra, nhưng tất cả bây giờ đều
chỉ là trường hợp riêng của
Lý thuyết M.
Một số thuộc tính định tính
của những dây lượng tử có
thể hiểu được theo cách khá
trực giác. Chẳng hạn, với
những dây lượng tử có sức
căng, được hình dung tương
tự như sự kết thắt từ những
dây bình thường. Sức căng
này được coi là một tham số
cơ bản của lý thuyết. Sức
căng của một dây lượng tử có
mối liên hệ gần gũi đến kích
thước của nó. Đối với một
vòng đóng của dây, sự vận
động qua không gian không
cần phải có những ngoại lực.
Sức căng của nó sẽ làm cho
nó có xu hướng tiến tới một
vòng ngày càng nhỏ. Trực
giác cho thấy rằng nó có thể
co lại tới một điểm đơn,
nhưng điều này xâm phạm
nguyên lý bất định
Heisenberg. Kích thước đặc
trưng của vòng dây sẽ là một
sự cân bằng giữa lực căng,
tác động để làm cho nó trở
nên nhỏ, và hiệu ứng bất
định, cái giữ nó trải ra.
Vậy thì, kích thước tối
thiểu của một dây liên quan
đến sự căng của dây.
WorldsheetMột hạt giống như điểm, sự
chuyển động có thể mô tả
bằng việc vẽ một đồ thị vị
trí của nó theo thời gian.
Bức tranh kết quả miêu tả
worldline của hạt, đó là
lịch sử của hạt điểm ở
spacetime.
Bằng cách làm tương tự, một
đồ thị tương tự miêu tả diễn
tiến của một dây khi thời
gian trôi qua thì dây, đối
tượng một chiều, sẽ tạo vết
là một bề mặt là một đa tạp
hai chiều, được biết đến như
worldsheet.
Những mode dây khác (đại
diện cho những hạt khác, như
photon hay graviton) là
những sóng trên mặt trên đa
tạp này.
Một dây đóng trông như một
vòng nhỏ, vì vậy worldsheet
của nó sẽ trông như một cái
ống, Hay nói tổng quát hơn
nó như một bề mặt Riemannian
(Một đa tạp có hướng hai
chiều) không có những ranh
giới ( tức là không có mép).
Một dây mở trông như một
đoạn ngắn, vì vậy worldsheet
của nó sẽ trông như một
mảnh, Hay nói chung nó như
một mặt Riemann có một ranh
giới.
Những dây có thể chia ra
từng phần và kết nối lại.
Điều này được phản ảnh bởi
dạng worldsheet của chúng
hay nói đúng hơn là do bởi
tính topo của nó. Chẳng hạn,
nếu một dây đóng được chia
ra từng phần, worldsheet của
nó sẽ trông như một cái ống
đơn chia ra 2 phần ( hay kết
nối) tới hai ống ( thường
được hình dung như 2 ống
quần dài).
Nếu một dây đóng chia ra hai
phần và hai phần được chia
ra sau đó ghép lại, thì
worldsheet của nó sẽ trông
như một cái ống đơn chia ra
từng phần tới hai và sau đó
ghép lại sẽ trông như một
đường viền tròn ở chân cột
được nối tới hai cái ống (
một ống cho dây đi vào và
ống kia là lối ra). Một dây
mở làm cùng cách sẽ cho nối
tới hai mảnh worldsheet của
nó trông như một cái vòng.
Sự tương tác trong thế giới
hạ nguyên tử: những
worldline của điểm- như
những hạt trong Mô hình Tiêu
chuẩn hay một worldsheet
được quét lên bởi những dây
đóng trong lý thuyết dây.
Lưu ý rằng quá trình của một
dây chia ra từng phần (hay
những dây nối) là một quá
trình toàn cục của
worldsheet, không phải là
cục bộ địa phương: cụ thể
thì worldsheet nhìn như nhau
ở mọi nơi và không thể xác
định một điểm đơn trên
worldsheet nơi sự phân tách
xảy ra. Bởi vậy những quá
trình này là một phần gắn
liền với lý thuyết, và được
mô tả bởi cùng bản chất động
lực học kiểm soát các mode
dây.
Trong một số lý thuyết dây
bao gồm những dây đóng trong
Loại I và một số phiên bản
của dây bosonic, những dây
có thể chia ra và ghép lại ở
phía đối diện (như trong một
mảnh Möbius hay một chai
Klein). Những lý thuyết này
được gọi là không định
hướng. Một cách hình thức,
worldsheet trong những lý
thuyết này là bề mặt không
định hướng được
Tính đối ngẫuTrước năm 1990, những lý
thuyết gia về dây tin tưởng
có năm lý thuyết dây là phân
biệt bao gồm: Loại I, Loại
IIA – Loại IIB, và hai lý
thuyết dây heterotic (
SO(32) và E8xE8). Người ta
đã từng nghĩ rằng, trong năm
lý thuyết ứng cử viên này sẽ
có duy nhất một lý thuyết sẽ
đúng là lý thuyết của mọi
thứ, và lý thuyết đó là giới
hạn năng lượng thấp của cái
mà với spacetime 10 kích
thước được compact hóa xuống
còn 4, sẽ phù hợp với đặc
trưng vật lý được quan sát
trong thế giới của chúng ta
hôm nay.
Bây giờ ta đã được biết rằng
bức tranh này không phù hợp,
năm lý thuyết dây đó được
nối tới một Lý thuyết khác,
khi đó chúng chỉ là những
trường hợp đặc biệt của lý
thuyết cơ bản hơn (chỉ Lý
thuyết M). Những lý thuyết
này được liên quan bởi những
phép biến đổi được gọi là
tính đối ngẫu. Nếu hai lý
thuyết được liên quan bởi
một phép biến đổi đối ngẫu,
có nghĩa là lý thuyết đầu
tiên có thể thay đổi được
bằng cách thức xác định nào
đó để nó kết luận trông
giống như của lý thuyết thứ
hai. Hai lý thuyết như vậy
được gọi là đối ngẫu tới một
nữa kia dưới phép biến đổi
đối ngẫu. Nói cách khác, hai
lý thuyết đối ngẫu là những
mô tả toán học khác nhau của
cùng hiện tượng.
Những đại lượng liên kết của
tính đối ngẫu này cũng được
cho là riêng biệt. Những
thang khoảng cách lớn và
nhỏ, cũng như cường độ của
tương tác mạnh và yếu, chúng
là những đại lượng có giới
hạn phân biệt luôn luôn rõ
ràng tùy vào đặc trưng của
một hệ thống vật lý trong cả
lý thuyết trường cổ điển lẫn
vật lý hạt lượng tử. Nhưng
những dây có thể làm mờ đi
sự khác nhau giữa lớn và
nhỏ, mạnh và yếu, và đây là
cách mà năm lý thuyết rất
khác nhau này thể hiện sự
liên quan.
T- Đối ngẫu liên quan đến
những thang khoảng cách lớn
và nhỏ giữa các lý thuyết
dây, Trong khi S – Đối ngẫu
liên hệ đến cường độ gắn kết
mạnh và yếu giữa những lý
thuyết dây.
U- Đối ngẫu liên kết T- Đối
ngẫu và S – Đối ngẫu
Trước cuộc cách mạng của
tính đối ngẫu, người ta đã
tin rằng có năm phiên bản
phân biệt của lý thuyết dây
cộng với lý thuyết bosonic
(không bền) và lý thuyết
gluonic.
Các lý thuyết dây:
- Loại Bosonic
: spacetime 26 chiều,
Chỉ có boson không có
ferrmion, có nghĩa là
chỉ có lực không có vật
chất, bao gồm cả dây mở
và dây đóng. khiếm
khuyết chủ yếu: cho phép
hạt có khối lượng ảo gọi
là tachyon (v > c).
- Loại I:
spacetime 10 chiều, Siêu
đối xứng giữa lực và vật
chất, bao gồm cả dây mở
và dây đóng; không có
tachyon; nhóm đối xứng
là SO(32)
- Loại IIA:
spacetime 10 chiều, Siêu
đối xứng giữa lực và vật
chất, bao gồm cả dây mở
và dây đóng vạch biên
cho D-Branes; không có
tachyon; ferrmion không
có khối lượng, có spin
theo cả 2 cách (achiral)
- Loại IIB:
spacetime 10 chiều, Siêu
đối xứng giữa lực và vật
chất, bao gồm cả dây mở
và dây đóng vạch biên
cho D-Branes; không có
tachyon; ferrmion không
có khối lượng, có spin
theo 1 cách (chiral)
- Loại HO:
spacetime 10 chiều, Siêu
đối xứng giữa lực và vật
chất, chỉ có dây đóng;
không có tachyon;
heterotic, có nghĩa là
các dây chuyển động trái
và phải là khác nhau;
nhóm đối xứng SO(32)
- Loại HE:
spacetime 10 chiều, Siêu
đối xứng giữa lực và vật
chất, chỉ có dây đóng;
không có tachyon;
heterotic, có nghĩa là
các dây chuyển động trái
và phải là khác nhau;
nhóm đối xứng E8xE8.
Chú ý rằng những lý thuyết
dây Loại IIA và Loại IIB các
dây đóng được phép di chuyển
mọi nơi xuyên suốt 10 chiều
không-thời gian (gọi là
bulk), trong khi những dây
mở có kết thúc của chúng
được trỏ tới D-Branes, là
những màng có bậc thấp hơn
(các chiều của chúng là lẻ:
1, 3, 5, 7 , 9, ở loại IIA
và 0, 2, 4, 6 hay 8 trong
loại IIB, bao gồm cả chiều
thời gian)
Về các chiều dư - Số chiềuMột đặc tính hấp dẫn của lý
thuyết dây là nó chứa đựng
luôn cả sự dự đoán về những
chiều dư. Số chiều không
được cố định bởi bất kỳ tiêu
chuẩn ràng buộc nào, nhưng
các nghiệm spacetime phẳng
sẽ tồn tại trong cái gọi là
“kích thước tới hạn”. Những
nghiệm Vũ trụ học tồn tại
trong tính đa dạng mở của
các bậc kích thước, và với
những kích thước khác nhau
này, chính xác hơn là của
những giá trị khác nhau của
các"tích hiệu dụng", việc
đếm bậc tự do sẽ làm giảm
bậc kích thước trong miền có
độ cong nhỏ, và được cho là
liên quan đến các dịch
chuyển động lực.
Không có gì trong Lý thuyết
điện từ của Maxwell hay
trong Lý thuyết tương đối
của Einstein làm nên loại dự
đoán kiểu này; trong các lý
thuyết truyền thống này các
nhà vật lý sẽ đưa vào số bậc
kích thước "bằng tay", và
con số này cố định, độc lập
với thế năng. Lý thuyết dây
cho phép có một liên hệ với
bậc kích thước tới thế năng
vô hướng. Về mặt kỹ thuật,
điều này xảy ra vì dị thường
gauge tồn tại mỗi con số
riêng biệt cho dự đoán về
bậc kích thước, và sự dị
thường gauge có thể chống
lại qua việc bao gồm thế
năng không tầm thường vào
trong những phương trình để
giải quyết bài toán chuyển
động. Hơn nữa, sự vắng mặt
của thế năng trong “kích
thước tới hạn” giải thích
tại sao nghiệm spacetime
phẳng là có thể.
Khối lượng của photon được
dự đoán bởi lý thuyết dây
phụ thuộc vào năng lượng của
mode dây đại diện cho
photon. Năng lượng này bao
gồm cả sự đóng góp từ hiệu
ứng Casimir, tức là từ những
thăng giáng lượng tử trong
dây. Mức độ của đóng góp này
phụ thuộc vào số chiều đến
từ các chiều dư, nơi có
những thăng giáng khả dĩ hơn
tại vị trí dây. Bởi vậy,
photon trong spacetime phẳng
sẽ không có khối lượng , và
một lý thuyết vững chắc chỉ
có ở một số chiều đặc biệt.
Khi sự tính toán được thực
hiện, kích thước tới hạn sẽ
không là 4 như mong đợi (ba
chiều không gian và một
chiều thời gian). Những lý
thuyết dây không gian phẳng
có 26 kích thước trong
trường hợp bosonic, trong
khi các lý thuyết siêu dây
và lý thuyết M bao gồm 10
hay 11 kích thước cho những
nghiệm phẳng. Trong những lý
thuyết dây bosonic, 26 kích
thước đến từ phương trình
Polyakov. Bắt đầu từ bất kỳ
kích thước nào lớn hơn 4,
người ta buộc xem xét cách
để làm suy giảm đến
không-thời gian bốn chiều
Các chiều compactHai cách khác đã được đề
xướng để giải quyết sự mâu
thuẫn hiển nhiên này. Đầu
tiên sẽ compact hóa những
kích thước thêm; tức là., 6
hay 7 chiều dư sẽ rất nhỏ,
nhỏ đến mức không thể nhìn
được theo kinh nghiệm của
chúng ta. Để giữ vững những
thuộc tính siêu đối xứng của
lý thuyết dây, những không
gian này phải rất đặc biệt.
Lời giải từ các mẫu 6 kích
thước đến từ những không
gian Calabi- Yau (là đa tạp
phức có tính chất compact,
Kahler và metric Ricci
phẳng). Trong 7 kích thước,
chúng được gọi đa tạp G2.
Những kích thước thêm này
được compact hóa bằng việc
làm cho chúng tự uốn thành
vòng trên chính mình.
Một sự tương tự cho điều này
là ta sẽ xem xét không gian
nhiều chiều như một ống
nước. Nếu một ống nước được
nhìn từ một khoảng cách đủ
xa, nó xuất hiện chỉ có một
kích thước là chiều dài của
nó. Thực vậy, nếu ta có một
quả bóng đủ nhỏ để có thể
chui vào ống, khi ném quả
bóng vào bên trong ống, quả
bóng sẽ di chuyển nhiều hay
ít, chỉ trong một kích
thước. Tức là, sự chuyển
động quan trọng duy nhất sẽ
chỉ một chiều, đó là dọc
theo ống. Tuy nhiên, khi
tiếp cận thật gần ống, ta sẽ
thấy nó chứa đựng một kích
thước thứ hai, là đường tròn
của nó, và khoảng không
trong ống là kích thước thứ
3. Như vậy, một con kiến bò
bên trong nó sẽ di chuyển
trong hai kích thước và một
ruồi bay trong nó di chuyển
trong ba kích thước. Một
cách tương đối, với “chiều
dư” này ta chỉ nhìn thấy rõ
chỉ trong phạm vi gần ống,
hay nếu ta ném vào trong đó
những vật thể đủ nhỏ. Tương
tự như vậy, những chiều dư
compact chỉ nhìn được ở
những khoảng cách cực nhỏ,
hay bằng việc thử nghiệm với
những hạt với bước sóng cực
nhỏ (cùng bậc với đường kính
của kích thước compact),
tương ứng trong cơ học lượng
tử là sẽ có năng lượng cực
cao.
Kịch bản Brane-world
Khả năng khác là chúng ta bị
"kẹt" trong một không gian
con 3+1 kích thước (ba kích
thước không gian cộng với 1
kích thước thời gian) của vũ
trụ đầy đủ. Không gian con
này phải là một D-Brane, do
đó điều này được biết như là
lý thuyết braneworld. Nhiều
người tin rằng sự kết hợp
nào đó từ hai ý tưởng - Sự
compact hóa và Branes - cuối
cùng sẽ sinh ra lý thuyết có
tính hiện thực nhất
Hiệu ứng của các chiều ẩn
dấuTrong mọi trường hợp, tác
động hấp dẫn trong những
kích thước ẩn ảnh hưởng đến
các lực không hấp dẫn khác
như lực điện từ. Thật vậy,
công trình của Kaluza và
Klein từ rất sớm đã chứng
minh rằng thuyết tương đối
tổng quát với bốn kích thước
lớn và một kích thước nhỏ đã
thật sự tiên đoán được sự
tồn tại của trường điện từ.
Tuy nhiên, bởi vì bản chất
của những đa tạp Calabi- Yau
, không có những lực mới
xuất hiện từ những kích
thước nhỏ, nhưng hình dạng
của chúng sẽ có một tác động
sâu sắc đến cách thức mà
những lực giữa những dây
xuất hiện trong Vũ trụ bốn
kích thước của chúng ta.
Do đó theo nguyên tắc, có
thể dẫn ra bản chất của
những chiều dư đó bằng việc
yêu cầu về tính chặt chẻ của
mô hình tiêu chuẩn, nhưng
điều này đến nay vẫn chưa là
một khả năng hiện thực. Cũng
có thể rút ra những thông
tin đáng quan tâm liên quan
tới những kích thước ẩn bởi
việc kiểm tra tính chính xác
của sự hấp dẫn, nhưng cho
đến lúc này những điều này
chỉ đặt ra những hạn chế
trên kích thước của những
chiều ẩn.
D-BranesĐặc tính mấu chốt khác của
lý thuyết dây là sự tồn tại
của D- Branes. Đây là những
màng có bậc khác nhau (màng
0-kích thước - thật ra là
một điểm - và bậc cao hơn,
bao gồm màng 2-kích thước,
khối 3-kích thước, v.v…).
D-Branes được định nghĩa bởi
thực tế biên của worldsheet
gắn liền đối với chúng. Như
vậy D-Branes có thể phát xạ
và hấp thụ những dây đóng.
Do đó chúng có khối lượng
(từ việc phát ra graviton)
và - trong các lý thuyết
siêu dây – là các tích khác
cũng được (từ đó chúng phát
ra những dây đóng là các
boson gauge).
Từ quan điểm của những dây
mở, D-Branes là những đối
tượng để những điểm mút của
những dây mở gắn kết vào.
Những dây mở gắn liền đối
với một D-Brane được gọi là
"sống" trên nó, và chúng làm
phát sinh những lý thuyết
gauge "sống" trên nó (do một
trong số những mode dây mở
là boson gauge như photon).
Trong trường hợp của một
D-Brane sẽ tồn tại một loại
boson gauge và tương ứng ta
sẽ có lý thuyết gauge Abel
(với boson gauge là photon).
Nếu có nhiều D- Brane song
song, tương ứng sẽ là nhiều
loại boson gauge, chúng làm
phát sinh lý thuyết gauge
không Abel.
Vậy với D-Branes là những
nguồn hấp dẫn, lý thuyết
gauge nào “sống” trên nó. Lý
thuyết gauge này được ghép
với hấp dẫn (được gọi là để
tồn tại trong bulk), do đó
bình thường thì mỗi cái
trong hai quan điểm khác
nhau này là không đầy đủ.
Tính đối ngẫu Hấp dẫn/GaugeTính đối ngẫu hấp dẫn/gauge
là một tính đối ngẫu được
phỏng đoán giữa lý thuyết
lượng tử về hấp dẫn trong
những trường hợp nhất định
và lý thuyết gauge trong số
chiều thấp hơn. Điều này có
nghĩa là từng hiện tượng và
đại lượng được dự đoán trong
một lý thuyết này có một sự
tương tự trong lý thuyết
khác, như là một “từ điển”
phiên dịch từ một lý thuyết
này tới lý thuyết khác
Mô tả tính đối ngẫuTrong những trường hợp nhất
định lý thuyết gauge trên
D-Branes là không tương tác
với hấp dẫn đang sống trong
bulk, như vậy những dây mở
gắn liền đối với D-Branes
không phải đang tương tác
với những dây đóng. Một hoàn
cảnh như vậy được gọi một
giới hạn decoupling.
Trong những trường hợp đó,
D-Branes có hai sự mô tả
thay thế độc lập. Như bàn
luận ở trên, từ quan điểm
của những dây đóng, D-Branes
là những nguồn hấp dẫn, và
như vậy chúng ta có lý
thuyết hấp dẫn trên
spacetime với một số trường
nền. Từ quan điểm của những
dây mở, vật lý của D-Branes
được mô tả bởi lý thuyết
gauge thích hợp. Bởi vậy
trong những trường hợp như
vậy nó thường được phỏng
đoán rằng lý thuyết hấp dẫn
trên spacetime với những
trường nền thích hợp là đối
ngẫu ( tức là về mặt vật lý
là tương đương) tới lý
thuyết gauge trên biên của
spacetime này (do không gian
con được choán bởi D-Branes
là biên của spacetime này).
Cho đến lúc này, tính đối
ngẫu này vẫn chưa từng được
kiểm chứng trong bất kỳ
trường hợp nào, vì vậy có sự
bất đồng trong số những lý
thuyết gia về dây có sự quan
tâm sâu sắc đến tính đối
ngẫu khi ứng dụng vào những
mô hình khác.
Những ví dụ và trực giác
Ví dụ nổi tiếng nhất và đầu
tiên được nghiên cứu đó là
tính đối ngẫu giữa siêu hấp
dẫn Loại IIB trên AdS5xS5
(một không gian tích của
không gian Anti de Sitter 5
chiều và một hình cầu 5
chiều), và lý thuyết
Yang-Mills siêu đối xứng N=4
trên biên 4- kích thước của
không gian Anti de Sitter
(là spacetime bốn chiều
phẳng R3,1 hoặc là hình cầu
3 chiều + thời gian S3xR).
Điều này được biết và gọi là
Tương đương AdS/ CFT (CFT:
lý thuyết trường conformal),
một cái tên thường được sử
dụng để chỉ tính đối ngẫu
Gauge/ Hấp dẫn nói chung.
Tính đối ngẫu này có thể
được hiểu như sau: Giả sử có
một spacetime với một nguồn
hấp dẫn, chẳng hạn một lỗ
đen. Khi những hạt rời xa
nguồn này, chúng được mô tả
bởi những dây đóng ( tức là
lý thuyết hấp dẫn, hay bình
thường là siêu hấp dẫn). Khi
những hạt tiếp cận nguồn hấp
dẫn, chúng có thể vẫn còn
được mô tả bởi những dây
đóng. Nói cách khác, chúng
có thể được mô tả bởi những
đối tượng tương tự như các
dây QCD, chúng được làm từ
các boson gauge (các gluon)
và bậc tự do của lý thuyết
gauge khác. Vì thế nếu một
có khả năng (trong giới hạn
decoupling) để mô tả hệ
thống hấp dẫn như hai vùng
phân biệt - một (bulk) rời
xa nguồn, và một khác tiến
gần đến nguồn – Sau đó vùng
mới cũng có thể được mô tả
bởi một lý thuyết gauge trên
D- Branes. Vùng mới rồi này
(gần nguồn) được gọi giới
hạn cận chân trời, do thông
thường có một chân trời sự
kiện xung quanh ( hay tại)
nguồn hấp dẫn.
Trong lý thuyết hấp dẫn, một
trong những chiều trong
spacetime là hướng xuyên
tâm, đi từ nguồn hấp dẫn và
ra khỏi (về phía bulk). Lý
thuyết gauge chỉ sống trên
bản thân D-Brane, vì vậy nó
không bao gồm hướng xuyên
tâm: nó sống ở một spacetime
với kích thước nhỏ hơn khi
được so sánh tới lý thuyết
hấp dẫn (thật ra, nó sống
trên một spacetime đồng nhất
đối với biên của lý thuyết
hấp dẫn cận chân trời).
Ta sẽ nói đến hai lý thuyết
tương đương với nhau như thế
nào:
Vật lý của lý thuyết hấp dẫn
cận chân trời quan tâm chỉ
trên những trạng thái của
lớp vỏ (như thường lệ trong
lý thuyết dây), trong khi lý
thuyết trường bao gồm chức
năng tương quan bên ngoài
lớp vỏ nữa. Những trạng thái
trên lớp vỏ trong lý thuyết
hấp dẫn cận chân trời có thể
được xem như việc mô tả chỉ
những hạt từ bulk tiến đến
vùng cận chân trời và tự
tương tác với nhau ở đó.
Trong lý thuyết gauge những
cái này được bảo vệ trên
ranh giới, vì thế những hạt
tiến đến nguồn từ những
chiều khác nhau sẽ được nhìn
thấy trong lý thuyết gauge
như những thăng giáng lượng
tử xa , trong khi những hạt
tiến đến nguồn cùng chiều
trong không gian sẽ được
nhìn thấy trong lý thuyết
gauge như những thăng giáng
lượng tử gần. Như vậy là góc
giữa các hạt tới trong lý
thuyết hấp dẫn chuyển thành
thang khoảng cách giữa các
thăng giáng lượng tử trong
lý thuyết gauge. Góc giữa
các hạt tới trong lý thuyết
hấp dẫn được liên quan đến
khoảng cách hướng tâm tính
từ nguồn hấp dẫn nơi mà các
hạt tương tác: góc lớn hơn,
các hạt gần hơn phải tiến
tới nguồn để tương tác lẫn
nhau. Mặt khác, thang khoảng
cách giữa các thăng giáng
lượng tử trong lý thuyết
trường lượng tử tỉ lệ
(nghịch) với thang năng
lượng trong lý thuyết này.
Do đó bán kính nhỏ trong lý
thuyết hấp dẫn chuyển thành
thang năng lượng thấp trong
lý thuyết gauge (thang IR
của lý thuyết trường), trong
khi bán kính lớn trong lý
thuyết hấp dẫn chuyển thành
thang năng lượng cao trong
lý thuyết gauge ( thang UV
của lý thuyết trường).
Một ví dụ đơn giản đối với
nguyên lý này đó là, nếu
trong lý thuyết hấp dẫn có
một cài đặt trong đó trường
dilaton (cái để xác định độ
lớn của tương tác) giảm theo
bán kính, thì lý thuyết
trường đối ngẫu của nó sẽ có
tính tiệm cận tự do, tức là
tương tác của nó sẽ tăng yếu
hơn ở mức năng lượng cao.
Nhánh lý thuyết dây này có
thể dẫn tới những hiểu biết
mới trên sắc động lực lượng
tử, một lý thuyết gauge và
là lý thuyết cơ bản của lực
hạt nhân mạnh. Tới đây,
người ta hy vọng rằng một lý
thuyết hấp dẫn đối ngẫu đối
với sắc động lực lượng tử sẽ
được tìm thấy.
Thật vậy, một vài kết quả
tính toán đã khẳng định là
đã đạt được tuy vẫn chưa rõ
ràng lắm, hiện thời giải
pháp Lattice-QCD, đang làm
được nhiều công việc tốt hơn
và đã tiến hành với những
bài toán trong các trường
khác nhau với những kết quả
tốt, tuy nhiên đó vẫn là
những tính toán số nhiều hơn
là các bài phân tích.
Những vấn nạn và sự bàn cãiDù về lịch sử, lý thuyết dây
là một học thuyết rất mới
của vật lý, không ai dám
chắc rằng rằng lý thuyết dây
cần phải (nói một cách chính
xác) được phân loại như thế
nào trong khoa học. Một lý
thuyết khoa học để hợp lệ
phải được chứng thực dựa
theo kinh nghiệm, tức là
thông qua thí nghiệm hay
quan sát.
Vài con đường cho sự tiếp
cận bằng thực nghiệm đã được
đề đạt. Với việc xây dựng
LHC (Large Hadron Collider)
ở CERN một số nhà khoa học
hy vọng tìm được các dữ liệu
liên quan, măc dù một cách
trực tiếp người ta đã tin
tưởng một cách rộng rãi rằng
bất kỳ lý thuyết nào về hấp
dẫn lượng tử đều yêu cầu
năng lượng phải đạt đến bậc
cao hơn nhiều. Hơn nữa, lý
thuyết dây như nó hiện thời
được hiểu có một số lượng
lớn những nghiệm khả dĩ
tương đương nhau. Do đó một
số nhà khoa học đã nghi ngờ
rằng lý thuyết dây có thể là
vô căn cứ, và có thể không
có khả năng đoán trước được.
Những vết tích lý thuyết Dây
có thể sẽ được xác nhận.
Không có phiên bản nào của
lý thuyết dây có bằng chứng
thực nghiệm xác minh các dự
đoán như kiểu của các lý
thuyết vật lý khác. Những
thang năng lượng khả dĩ để
có thể nhìn thấy bản chất
dây của những hạt là nhiều
lần lớn hơn cái mà thực
nghiệm có thể đạt đến.
Lý thuyết dây sở hữu nhiều
đặc tính thú vị của toán học
và một cách tự nhiên nó hợp
nhất được mọi đặc tính đáng
nể của Mô hình Tiêu chuẩn,
như những nhóm gauge không
abel và các fermion chiral.
Nhưng vì lý thuyết dây có
thể không kiểm tra được
trong tương lai định trước,
một số nhà khoa học thậm chí
đã đặt câu hỏi: “phải chăng
nó xứng đáng được gọi là một
lý thuyết khoa học, và trong
cảm giác của số đông nó
không phải là đã có căn cứ
vững chắc.”
Người ta cũng đã đề nghị
rằng lý thuyết dây là cách
tư duy tốt hơn về framework
dùng cho việc xây dựng những
mô hình, theo đó lý thuyết
trường lượng tử cũng là một
framework.
Những ý tưởng từ lý thuyết
dây đã có ảnh hưởng rất mạnh
lên những giải pháp cho vật
lý bên ngoài Mô hình Tiêu
chuẩn. Chẳng hạn, trong khi
siêu đối xứng là một thành
phần sống còn của lý thuyết
dây, những mô hình siêu đối
xứng khác không có liên hệ
hiển nhiên đến lý thuyết dây
cũng đã được nghiên cứu mạnh
mẽ.
Do vậy, nếu sự siêu đối xứng
được phát hiện tại LHC, nó
vẫn không phải được xem như
một sự xác nhận trực tiếp
của lý thuyết. Tuy nhiên,
nếu siêu đối xứng không được
nhận diện, thì ta biết sự
tồn tại của những trạng thái
vacuum trong lý thuyết dây,
trong đó có siêu đối xứng có
thể chỉ được nhìn thấy tại
thang năng lượng bậc cao hơn
nhiều, nên sự vắng mặt của
siêu đối xứng tại LHC cũng
không phủ nhận lý thuyết
dây.
Thật tương phản nếu, khi
quan sát những ngôi sao
trong thời gian nhật thực,
hấp dẫn của mặt trời đã
không làm lệch nhẹ góc của
tia sáng gần bằng với con số
đã dự đoán, thì lý thuyết
tương đối tổng quát của
Einstein đã được chứng minh
là sai
Trên mức độ toán học hơn,
một vấn đề khác, đó là,
giống như các lý thuyết
trường lượng tử, phần lớn
các lý thuyết dây vẫn còn
được tính toán theo phương
pháp nhiễu loạn (nghiệm là
một chuỗi gần đúng). Mặc dù
kỹ thuật không nhiễu loạn đã
tiến triển đáng kể - bao gồm
những định nghĩa hoàn toàn
tường minh trong không-thời
gian thỏa mãn các tiệm cận
xác định - Một định nghĩa
không nhiễu loạn đầy đủ của
lý thuyết vẫn còn thiếu.
Tuy thế vấn đề trung tâm
khác của lý thuyết dây là
những nền tảng nhận biêt tốt
nhất của lý thuyết dây nhằm
duy trì tính siêu đối xứng
của lý thuyết, do bởi bất
biến thời gian trong các
không-thời gian, hiện thời
lý thuyết dây không thể giải
quyết tốt với bài toán thời
gian- phụ thuộc, các nền
tảng vũ trụ học.
Hai vấn đề nêu trên liên
quan đến một vấn đề sâu sắc
hơn: lý thuyết dây có lẽ đã
không đúng cơ bản trong dạng
thức hiện tại của nó bởi vì
nó phụ thuộc vào background.
Lý thuyết dây mô tả các sự
mở rộng nhiễu loạn theo các
background spacetime cố
định. Ta thấy độc lập
background như một yêu cầu
cơ bản của một lý thuyết về
hấp dẫn lượng tử, đặc biệt
là do thuyết tương đối tổng
quát đã là độc lập
background.
Để đáp lại lời phê bình này,
một số lý thuyết gia về dây
cho rằng vấn đề độc lập
background cần phải có một
nguyên tắc dẫn đường, trong
khi những người khác hy vọng
rằng lý thuyết M, hay một
giải pháp không nhiễu loạn
của lý thuyết dây (như lý
thuyết trường dây) sẽ trở vể
với độc lập background, đưa
ra những giải pháp nhiều
phiên bản khác nhau của lý
thuyết dây với những
background khác nhau.
Vấn đề khác là cấu trúc chân
không của lý thuyết, gọi là
toàn cảnh lý thuyết dây,
không thuyết phục lắm. Như
lý thuyết dây hiện nay, nó
chứa đựng một số quá lớn các
meta-stable vacuum phân
biệt, có lẽ 10^500 hoặc hơn.
Tất cả chúng tương ứng tới
một vũ trụ khác, với một tập
hợp khác của các hạt và các
lực. Nguyên lý nào, nếu có,
có thể được dùng để chọn
trong số vacuum này là một
kết quả mở. Trong khi không
có những tham số liên tục
được biết trong lý thuyết,
có một số rất lớn discretuum
(tương phản với continum)
của những vũ trụ khả dĩ, cái
nào có thể được xem là khác
so với nhau môt cách căn
bản.
Một số nhà vật lý tin tưởng
đây là một lợi ích của lý
thuyết, chẳng hạn như nó có
thể cho phép cách giải thích
bản chất vị nhân của những
giá trị quan sát của những
hằng số vật lý, đặc biệt là
giá trị nhỏ của hằng số vũ
trụ học. Tuy nhiên, những
giải thích như vậy thường
không được xem là khoa học
theo nghĩa rốt ráo.
Lý thuyết dây dự đoán, ở mức
nhiễu loạn bé nhất, đó là
mức có năng lượng đủ cao đến
mức tiến đến thang hấp dẫn
lượng tử, bản chất giống như
dây của những hạt là hiển
nhiên. Chẳng hạn, đó là
những bản sao nặng hơn của
tất cả các hạt tương xứng
với các hoà âm dây bậc cao.
Tuy nhiên, người ta không rõ
những năng lượng này là gì.
Trong trường hợp giới hạn,
những năng lượng này đã gấp
một triệu tỉ (10^15) lần khả
năng cao nhất có thể tạo ra
được tại máy gia tốc mới
nhất LHC.
Gần đây, sau sự xuất hiện
của hai quyển sách cho rằng
lý thuyết dây là sự lầm lạc
(
PeterWoit - “Not Even
Wrong” và
Lee Smolin - “The Trouble
With Physics”),
một cuộc tranh luận trên
phương tiện truyền thông rất
nóng đã diễn ra vào 2007. Ta
thử đọc một đoạn trích:
" Đã nhiều hơn một thế hệ,
những nhà vật lý săn đuổi
một thứ ma trơi gọi là Lý
thuyết dây. Sự bắt đầu của
cuộc săn đuổi này đã đánh
dấu sự kết thúc của cái đã
lấy đi ba phần tư thế kỷ của
sự tiến bộ. Hàng chục hội
nghị lý thuyết dây đã được
tiến hành, hàng trăm các
tiến sĩ vật lý mới đã phải
nổ lực, và hàng nghìn những
bài báo đã được viết. Tuy
vậy, đối với toàn bộ các
hoạt động này, không một dự
đoán mới nào có thể kiểm
tra, được tạo ra, không một
vấn đề hóc búa nào thuộc về
lý thuyết được giải quyết.
Thật vậy, vẫn chưa có một lý
thuyết hoàn chỉnh nào cho
đến lúc này, chỉ là một tập
họp của những mắc mứu và
những sự tính toán chỉ nhằm
gợi ý rằng một lý thuyết rất
hay nào đó có thể tồn tại.
Ngay khi nếu làm tiếp như
thế, lý thuyết này sẽ tiến
tới hàng loạt các phiên bản
rắc rối, và rằng nó sẽ không
dành cho sự ứng dụng thực
tiển: Một lý thuyết của
Không có gì (Theory of
Nothing) "
Lời ngỏBản thân tôi, tôi không tán
thành quan điểm xem thời
gian là một chiều quá đặc
biệt của lý thuyết cũng như
của spacetime và tôi cũng
không nhất trí với việc xử
lý các chiều dư với chỉ các
công cụ trên đa tạp
Calabi-Yau vì tôi không cho
rằng chỉ với việc compact
hóa thì các chiều dư mới
thành các chiều ẩn.
Kỷ băng hà lần cuối
Địa mạo, địa khí hậu và
sinh quyển thân thiện,... có
vai trò hết sức quan trọng
trong tiến trình "xây dựng
và phát triển khả dĩ " của
các nền văn minh xuyên suốt
kỷ băng hà cho đến hiện tại.
Sinh quyển thân thiện với
loài người ở GLM thật quá
hiếm hoi...
Châu Á ở GLM
Khí hậu thật khắc nghiệt
trong suốt giai đoạn này.
Sự chìm ngập bắt đầu
Sự chìm ngập gần hoàn
thành
Đông Nam Á, Việt Nam chịu
ảnh hưởng quá nặng nề từ sự
biến đổi thời tiết ở cuối kỹ
băng hà. Diện mạo khu vực
này thay đổi quá lớn...
Sinh quyển Trái đất trở
nên thân thiện hơn với loài
người
Timewave
Ta đã biết sự sắp xếp của
các trùng quái hậu thiên
được đánh số từ 0 đến 63.
Các trùng quái với lời 6 hào
được xem là sự kết hợp của 2
bát quái lời 3 hào.
|
Bảng trùng quái
hậu thiên |
|
|
000 |
110 |
101 |
011 |
111 |
001 |
010 |
100 |
|
000 |
1 |
34 |
5 |
26 |
11 |
9 |
14 |
43 |
|
110 |
25 |
51 |
3 |
27 |
24 |
42 |
21 |
17 |
|
101 |
6 |
40 |
29 |
4 |
7 |
59 |
64 |
47 |
|
011 |
33 |
62 |
39 |
52 |
15 |
53 |
56 |
31 |
|
111 |
12 |
16 |
8 |
23 |
2 |
20 |
35 |
45 |
|
001 |
44 |
32 |
48 |
18 |
46 |
57 |
50 |
28 |
|
010 |
13 |
55 |
63 |
22 |
36 |
37 |
30 |
49 |
|
100 |
10 |
54 |
60 |
41 |
19 |
61 |
38 |
58 |
Ta có
64! > 10^89
phép hoán vị tương ứng với
tập
Z64 = {0,1,2 ,....,
63}, đây là con số sẽ
phát sinh chuổi TimeWave.
Ta ký
hiệu W(i) tương ứng
với phần tử thứ i của
chu kỳ sắp xếp trùng quái
hậu thiên, bắt đầu với i
= 0 và W(i) = W(i
%64) khi i> 63 và
i <0.>
Hàm W sẽ làm phát sinh một
chuỗi của 64 số nguyên trong
phạm vi 0 tới 6 khi xét sai
phân bậc nhất của W.
Ta ký
hiệu D (W) = số
hào biến khi chuyển từ
W(i-1) tới W(i),
ký hiệu là h(i) trong
chuổi TimeWave. Ta Định
nghĩa một mảng như sau:
h[65] = {
3,6,2,4,4,4,3,2,
4,2,4,6,2,2,4,2,
2,6,3,4,3,2,2,2,
3,4,2,6,2,6,3,2,
3,4,4,4,2,4,6,4,
3,2,4,2,3,4,3,2,
3,4,4,4,1,6,2,2,
3,4,3,2,1,6,3,6,
3 };
trong đó ta đặt h[64]
= h[0] nhằm thuận tiện
hơn cho việc lập trình.
|
Bảng D(W)(i) |
|
000 000 |
- 6- |
111 111 |
-
2- |
101 110 |
-
4- |
011 101 |
-
4- |
101 000 |
-
4- |
000 101 |
-
3- |
111 101 |
-
2- |
101 111 |
-
4- |
|
001 000 |
-
2- |
000 100 |
-
4- |
111 000 |
-
6- |
000 111 |
-
2- |
000 010 |
-
2- |
010 000 |
-
4- |
111 011 |
-
2- |
110 111 |
-
2- |
|
100 110 |
-
6- |
011 001 |
-
3- |
111 100 |
-
4- |
001 111 |
-
3- |
010 110 |
-
2- |
011 010 |
-
2- |
011 111 |
-
2- |
111 110 |
-
3- |
|
000 110 |
-
4- |
011 000 |
-
2- |
011 110 |
- 6- |
100 001 |
-
2- |
101 101 |
- 6- |
010 010 |
-
3- |
100 011 |
-
2- |
110 001 |
-
3- |
|
000 011 |
-
4- |
110 000 |
-
4- |
010 111 |
-
4- |
111 010 |
-
2- |
001 010 |
-
4- |
010 100 |
-
6- |
101 011 |
-
4- |
110 101 |
-
3- |
|
011 100 |
-
2- |
001 110 |
-
4- |
100 000 |
-
2- |
000 001 |
-
3- |
100 111 |
-
4- |
111 001 |
-
3- |
100 101 |
-
2- |
101 001 |
-
3- |
|
100 010 |
-
4- |
010 001 |
-
4- |
110 110 |
-
4- |
011 011 |
-
1- |
001 011 |
-
6- |
110 100 |
-
2- |
110 010 |
-
2- |
010 011 |
-
3- |
|
001 001 |
-
4- |
100 100 |
-
3- |
001 101 |
-
2- |
101 100 |
-
1- |
001 100 |
- 6- |
110 011 |
-
3- |
101 010 |
-
6- |
010 101 |
-
3- |
Cho dù qui luật sắp xếp
nêu trong bảng trên không
thật tường minh, nó vẫn thể
hiện một bản chất triết học
phức tạp.
Nguyên tắc cơ bản của W là với mọi cặp trùng
quái liên tiếp, trùng quái
xếp sau là ảnh của trùng
quái xếp trước và sự vắng
mặt của số 5 trong bảng giá
trị của D(W)(i).
Công thức dưới đây thỏa
mãn thủ tục trên:
L(k) = abs(((-1)^((k-1)
/32))* (h[k-1] - h[k-2]
+h[-k] - h[1-k]) +
+ 3*((-1)^((k-3) /96))*
(h[(k/3) -1] - h[(k/3) -2] +
h[-(k/3] - h[1-(k/3)]) +
+ 6*((-1)^((k-6) /192))*
(h[(k/6) -1] - h[(k/6) -2] +
h[-(k/6)] - h[1-(k/6)])) +
+
abs(9-h[-k] - h[k-1]
+ 3*(9-h[-(k/3)] - h[(k/3)
-1]) + 6*(9- h[-(k/6)] -
h[(k/6) -1] )
Ta định nghĩa các toán
tử:
|
R(F)(i) |
= |
F(-i) |
|
D(F)(i) |
= |
F(i)
- F(i-1) |
|
S(F)(i) |
= |
F(i)
+ F(1-i) |
|
T(F)(i) |
= |
F(i)
+ 3F(i/3)
+ 6F(i/6) |
Thay i cho abs(i)
, và D(W)(i)
cho h[i]
ta viết lại công thức trên:
L(i) = (-1)^((i-1)/32)D(S(R(D(W))))(i)+
3((-1)^((k-3)/36))D(S(R(D(W))))(i/3))+
6((-1)^((i-6)/192))D(S(R(D(W))))(i/6)
+ 90 - T(S(R(D(W))))(i)
Lũy thừa của -1
trong biểu thức là một bước
đặc biệt trong quá trình có
dạng được gọi là “xoắn một
nửa”. Bây giờ ta định nghĩa
biểu thức có dạng không xoắn
:
L(i) = T(D(S(R(D(W)))))(i)
+ 90 - T(S(R(D(W))))(i)
Để dễ nhìn hơn, ta có thể
bỏ các dấu ngoặc đơn và biểu
diễn cho 64x6 = 384
điểm sẽ là:
L(i)
= TDSRDW(i)
+ 90 - TSRDW(i)
Tập thứ ba của 384
điểm được biết đến như
Sheliak được phát sinh bởi:
L(x) =
F(x) + 3F(1
+ (x-1)/3) + 6F(1
+ (x-1)/6)
Ở đây F(x)
là phép nội suy tuyến tính
của F(i)
= 9 - D(W)(-1-i)
- D(W)(i).
Sau khi đã xác định L
trên Z384, ta mở rộng
L cho tất cả các số
nguyên bởi L (i) = L (i
%384) và từ đó sẽ liên
hệ đến hiện thực bởi phép
nội suy tuyến tính. Hàm
Novelty N(x) tương
quan với các sự kiện lịch
sử, được xác định bởi:
N(x)
=
SUM 2^(6i)L(2^(-6i)x)
N(x) đóng do L
(x) không âm, bị chặn
trên và bằng không trong
đoạn [0,1]
Tham số “ngày zero” được
lựa chọn ( Eg. cực điểm của
lịch Maya) là điểm không
cuối cùng của N và N sau đó lướt trên các
sự kiện lịch sử qua thời
gian.
[ Tuy nhiên McKenne đề
nghị phải " phát hiện lại "
ngày zero này bằng cách
"lắp" các timewave để ghi
lại lịch sử]
Bàn về Ngũ Hành
1. Nguồn gốc văn họcKhông mấy phạm trù bị xuyên
tạc và hiểu lầm bằng phạm
trù Ngũ Hành. Nó bị ngộ nhận
kể ngay từ những người đầy
thiện chí và giàu cảm tình
với Triết học Đông phương.
Hơn thế có thể nói nó đã bị
chôn vùi ngay từ đời Hán. Và
từ đó chỉ còn giơ lên mặt
đất một vài ngón tay nên rất
khó có được một nhận thức
trung thực về triết lý Ngũ
Hành.
Thế mà Ngũ Hành lại là cái
khung căn bản cho triết lý
Đông Phương, có hiểu được
thì toàn bộ mới ăn chịu nhau
hòa hợp "Ngũ Vị tương đắc
nhi các hữu hợp" (H.T.). Ngũ
Hành là nền tảng cho thể chế
Minh Đường và Nguyệt Lệnh,
cả hai đều là nơi thai nghén
ra Hồng Phạm và Hồng Phạm là
mô hình bản cốt của Triết lý
Việt Nho. Nhận thức được
điều đó tức cũng là nhận
thức được tầm quan trọng sự
hiểu được cách đích thực ý
nghĩa uyên nguyên của thuyết
Ngũ Hành.
Muốn được thế việc làm đầu
tiên là tìm về nguồn gốc văn
học nghĩa là tìm ra bản văn
lâu đời nhất, khả dĩ được
coi như trực tiếp xuất phát
tự truyền thống chưa bị pha
tạp. Vì cho tới nay sở dĩ ý
nghĩa đó không mấy được nhìn
nhận ra là do học giả đã chú
trọng rất ít tới bản văn đầu
tiên; nhưng đã coi ngang
nhau cả những bản văn về sau
từ đời Châu Diễn, Hoài Nam
Tử hay Đổng Trọng Thư, tức
là những bản văn xuất hiện
về sau vào lối thế kỷ thứ 5
đến 2 trước Công nguyên với
những hình thái đã biến thể,
nên không nhận ra lối sắp
đặt uyên nguyên.
Cần phải đi lên nữa và chúng
ta nhận ra bản văn cổ đại
nhất nằm trong Kinh Thư ở
thiên Nghiêu Điển và Thiên
Hồng Phạm nơi nói đến Ngũ
Hành lần đầu tiên. Kinh Thư
có thể san định vào đời
Khổng Tử nhưng hai thiên
Nghiêu Điển và Hồng Phạm đã
tồn tại trước đó rất lâu ít
ra về căn bản.
Đã một dạo các học giả cho
rằng thuyết Ngũ Hành do Châu
Diễn sáng lập. Nhưng ngày
này thuyết đó không còn thể
đứng vững vì họ lẫn lộn
thuyết Ngũ Đế Đức và Ngũ
Hành, tức là lẫn lộn cái tuỳ
với cái gốc. Ngũ Đế Đức thì
do Châu Diễn nếu không thủ
sáng thì ít ra cũng là người
truyền bá mạnh. Đến sau Đổng
Trọng Thư chịu ảnh hưởng này
nhiều.
Còn thuyết Ngũ Hành là căn
bổn cho Ngũ Đế Đức thì có
lâu đời trước như đã để ấn
tích lại trong Nghiêu Điển.
Ngày nay được kiểm chứng
bằng phương vi tinh đẩu (*)
(*) (Précession des
équinoxes: là sự "tiến động
của trục Trái đất", làm cho
những sao đổi vị trí đổi với
vòng chí thiên tính ra 72
năm thì đổi 1 độ, chu kỳ tuế
sai 25920 năm. Vì thế hạ chí
ở cổ thời trúng vào sao Hư,
đến hai đời Hạ Thương là sao
Nữ đời Chu sao Ngưu, đời Hán
sao đẩu và nay đang tiến vào
sao Cơ. Vì thế mà mùa có một
vị trí thay đổi trên vòm
trời. Vì Nghiêu điển chia
vòm trời làm 4 mùa, nên có
thể căn cứ vào đó mà tính
niên kỷ của bản văn. S. 568)
... là những sự kiện khách
quan có thể kiểm chứng bằng
khoa học chính xác. Điều đó
chứng tỏ không thể nào có
chuyện giả mạo về phần căn
cơ. Ấy là chưa kể đến những
minh chứng về sử liệu chẳng
hạn việc nhà Thương dùng sắc
trắng, và tên các vua có chữ
của Thập Can như Bàn Canh,
Thái Giáp, Ốc Đinh, Ung Kỷ…
là những việc giả thiết đã
phải có thuyết Ngũ Hành
trước rồi, vì màu sắc cũng
như Thiên Can (Giáp Ất) là
do Ngũ Hành.
Điều đó cũng thật về thiên
Nghiêu Điển nói đến 4 cung
của 4 sao và Trung Cung Bắc
Đẩu tức là khung Ngũ Hành.
Như vậy là chúng ta có thừa
lý chứng về sự chính truyền
và lâu đời của hai bản văn
liên hệ tới Ngũ Hành, tức là
bản văn ghi lại một quan
niệm triết lý được xuất phát
nếu không ở thế kỷ 27 thời
Phục Hi thì ít ra ở thế kỷ
24 đời Nghiêu Thuấn. Một sự
giả mạo không thể nào có
được vì nó đòi phải biết đến
phương vị tinh đẩu là điều
lúc đó chưa đâu biết. Còn
nếu giả sử người lập ra biết
được luật đó do trực thị thì
đã chẳng thèm giả mạo mà
đương nhiên đã là một vị
thủy tổ rồi.
Bởi vậy ta có thể biết chắc
tâm về giá trị chính truyền
của tài liệu Ngũ Hành trong
hai thiên sách đó và ta khởi
đầu nghiên cứu cái triết lý
ẩn bên trong.
2. Nội dung bản vănBản văn chia ra ba triệt.
Triệt nhứt nói về thứ tự các
Hành, triệt hai nói về tính
chất của mỗi Hành, triệt ba
nói về ngũ vị: mặn, đắng,
chua, cay, ngọt (hàm, khổ,
toan, tân, cam).
Triệt tam này thuộc Dụng tùy
phụ vào Thể ở triệt hai. Vậy
chúng ta chỉ cần tìm hiểu
triệt hai nói về tính chất
mỗi Hành.
Thiên Hồng Phạm nói:
"Nước thấm xuống. Lửa bốc
lên. Mộc uốn khúc để chính
trực. Kim vâng theo để biến
cải. Thổ ở chỗ gieo gặt"
"Thủy viết nhuận hạ. Hỏa
viết viêm thượng. Mộc viết
khúc trực. Kim viết tòng
cách. Thổ viên giá sắc."
Yếu tính của nước là thấm
xuống. Ông Granet phản đối
Chavannes dịch chữ viết là
"est appelé" vì như thế tách
rời động tác ra khỏi nước, y
như nước là nước, còn động
tác chảy xuống là ngoại tại
không cấu tạo nên nước. Hiểu
lối đó là hiểu theo lối tố
chất (élément) đã cụ thể
đông đặc mất rồi.
Ngược lại ở đây yếu tính của
nó chính là tác động, chính
là Hành, nên Hành không bao
giờ được hiểu là danh từ
nhưng phải hiểu là động từ:
Hành là đi, là biến dịch, là
diễn tiến, một "vận hành",
vì đây đang ở vòng sinh chưa
đến vòng thành. Có thể nói
là còn ở trong đợt vi thể
nơi không thể tưởng tượng ra
sự vật mà một trật không có
tác động của sự vật đó
(N.E.S).
Ở vòng thành có thể tạm hiểu
là "élément", là vật thể như
quen hiểu trong việc xếp
loại. Chứ như đây là đợt
sinh thì hoàn toàn chỉ động
tác. "Thuỷ viết nhuận hạ.
Hỏa viết viêm thượng …" ở
đợt sinh cốt cán Thủy không
là nước (đó sẽ là đợt thành)
không là chất lỏng, nhưng là
động tác tẩm xuống.
Lửa cũng thế là động tác đi
lên, bốc lên. Lên xuống đều
có hướng rõ rệt, là lên
xuống để giao nhau. Do đó
Ngũ Hành mà dịch là 5
éléments hay 5 substances
đều chỉ tạm đúng có vòng
ngoài.
Dịch bằng chữ "principle
undergoing" = "nguyên lý đi
ngầm dưới" là gần nhất với
chữ Hành vì nói lên được
động tác là đi. Tuy nhiên đó
cũng mới là gần mà chưa đúng
hẳn vì chưa biểu lộ hết cỡ
cái đường "vận hành" là
đường nằm ẩn trong.
Bây giờ xét đến triệt nhất
về thứ tự tiên thiên: nhất
viết Thủy, nhị viết Hỏa, tam
viết Mộc, tứ viết Kim, ngũ
viết Thổ. Sở dĩ thứ tự này
hay lẫn lộn vì không phân
biệt với thứ tự hậu thiên,
vậy ta cần diễn giải thêm.
Đứng về phương diện tiên
thiên thì những số nầy có
một sự quan trọng từ căn cơ
chứ không phải là thứ tự sắp
xếp có thể thay ngôi đổi vị,
nhưng là thứ tự cấu tạo nói
lên yếu tính, cho nên nó
dính liền với nhau: hễ thay
đổi là đánh mất yếu tính tức
là sự đối đãi của Âm Dương.
Nên hễ đã nói: 1 là Nước,
thì 2 là Hỏa; 3 Mộc thì 4
phải là Kim, còn 5 thì vẫn
là Thổ, chứ không được lộn
thứ tự để nói 1 là Mộc thí
dụ.
Vì đây là đường diễn biến
của Âm Dương nên là cái gì
nội tại mà Kinh Dịch đã nói:
"nhất âm nhất dương chi vị
Đạo, kế chi giả thiện dã
thành chi giả tính dã"
(H.T.5).
Đã nói là Đạo thì "bất khả
tu du ly dã" không thể lìa
dù chỉ một giây, nên lại nói
là Tính tức là bản cốt yếu
tính. Vậy hễ làm sai thứ tự
thì không còn là tính là vật
đó nữa. Yếu tính đó là Âm
Dương đối lập nằm trong vòng
Đạo Trung Hòa. Giữa hai đối
lập thể có một trung gian
hòa giải. Nếu kép lên thì
cũng theo luật đó, tức phải
có trung cung hòa giải và
sinh dưỡng nên gọi là "nhịp
năm" tức là 1.5.2 chỉ hàng
dọc và 3.5.4 chỉ hàng ngang
hay là Vũ Trụ hoặc Thời
Không đúc một. Tức là nét
đặc trưng của triết lý Nhân
sinh. Chúng ta sẽ dễ nhận ra
điều đó trong khi đặt những
số thứ tự kia thành đồ biểu
như sau:
Đó là đồ biểu thứ tự theo
Hồng Phạm: ta thấy số 5
chiếm một địa vị đặc biệt ở
Trung Cung.
Muốn hiểu được nghĩa Trung
Cung cần tìm hiểu chữ Ngũ
trong danh từ Ngũ Hành. Vì
chữ Ngũ cũng quan trọng như
chữ Hành.
Chữ Ngũ thường chỉ hiểu là
số 5 hoặc là thứ Năm, nhưng
đó mới là lối hiểu thông
thường. Còn một nghĩa nữa
sâu hơn chỉ Thiên Địa. Lúc
đó 5 là số thành của 3+2 tức
là "tham thiên lưỡng địa" 3
Trời, 2 Đất. Hiểu như thế
mới đúng với Đạo Âm Dương
một lẻ một chẵn, một Đất một
Trời, có ra mà cũng có vô.
Do đó 5 được dùng làm số
trung tâm bao hàm ý Tiềm Thể
Tâm Linh vậy.
Đấy là lối hiểu bắt buộc khi
xét riêng một chữ Ngũ. Vì
lúc đó nó biểu thị lò cấu
tạo Uyên Nguyên (tạo hóa
lư). Sự cấu tạo đó phải theo
đúng luật Âm Dương, nói khác
là luật Vũ Trụ, hễ có Vũ
phải có Trụ, hễ có tung phải
có hoành mới vẽ nên hệ tọa
độ. Nên hễ đã 1, 2 là Thuỷ
Hỏa làm tung, thì phải có 3
Mộc 4 Kim làm hoành. Đặt sai
thứ tự là đánh mất "tung
hoành", làm mất "vũ trụ". Và
như thế là "tâm bất tại" mà
thiếu Tâm thì còn chi là
"ngô tâm tiện thị vũ trụ".
Bây giờ xét tới điểm thứ hai
là Hành. Hành là đi, đi là
ra nên phải có hướng có nơi
tìm về (phản phục). Đi ra
phải hướng về trung tâm.
Trung tâm là Tròn là Trụ,
còn đi ra là Vuông là Vũ;
hiểu như thế mới đúng lược
đồ căn cơ hai chữ vũ trụ của
quan niệm thời gian uyên
nguyên, tức là ý thức tầm
quan trọng của Thổ. Có hiểu
được tầm quan trọng của Thổ
mới nắm được then chốt; nếu
không sẽ gây lộn xộn, đánh
mất yếu tố căn cơ như thường
thấy.
Bởi vì ngay lời nói: Thuỷ,
Hỏa, Mộc, Kim, Thổ đã khơi
mào cho sự lẫn lộn đó;
phương chi thứ tự đối kháng
kiểu Hoài Nam Tử: Thủy Hỏa
Kim Mộc Thổ càng xa hơn. Vì
cả hai không đặt Thổ làm
trung tâm nên không có trung
gian hòa giải giữa hai đối
lập thể tức là lẫn lộn hai
bình diện vậy. Đem Thổ ở
bình diện trên (hay là nội
cũng thế) đặt xuống bình
diện dưới (hay là ngoại) thì
làm sao vẽ lên được thập tự
nhai, mà thiếu thập tự nhai
thì còn chi là vòng trong,
còn chi là tinh tuý tinh
thần, cái còn lại chỉ là
khung ngoài trống rỗng.
Do đó chúng tôi thử đề ra
một lối biểu thị mới gọi là
đồ biểu hoa thị để nói lên
sự quan trọng của Hành Thổ
như sau:
Để vẽ đồ biểu hoa thị nét
bút phải qua Trung Cung 4
lần tức là một mình Hành Thổ
đã phải có 4 lần bằng 4 Hành
kia cộng lại. Do đó nâng cao
sự quan trọng của hành Thổ.
Thực ra thì con số không thể
diễn tả, vì Hành Thổ thuộc
phẩm ở một bình diện khác
hẳn. Tuy nhiên tránh được sự
cho Hành Thổ một số lượng y
như con số bất kỳ nào kế
tiếp theo sau những số đi
trước. Đồ biểu hoa thị còn
diễn tả được phần nào yếu tố
thời gian gọi là Tứ Quý(cung
Thổ nằm trong Sửu, Thìn,
Mùi, Tuất) tức là 4 lần trở
vào Trung Cung ở cuối 4 mùa
trong năm để trai tâm. Nhờ
sự trai tâm đó nó sẽ làm nhẹ
bớt nguy cơ đặt Hành Thổ
ngang hàng với 4 Hành kia:
trong thực tế sẽ là để vật
chất chồng lên tinh thần.
Hồng Phạm có nhấn mạnh Hành
Thổ bằng cách thay chữ
"viết" bằng chữ "viên":
- Thủy viết nhuận hạ
- Hỏa viết viêm thượng
- Thổ viết giá sắc
- Tính chất nước là nhuần
xuống
- Tính chất lửa là bốc cháy
lên
- Thổ ở trong giá sắc (gieo
gặt)
Thổ không có việc thẳng mà
chỉ ở trong hai việc của
người (gieo gặt) như thế là
Thổ không có làm, cũng y như
là Thổ không có mùa riêng.
Có Xuân, Hạ, Thu, Đông cho 4
Hành kia mà không có mùa thứ
Năm cho Thổ, cũng như Thổ
không có phương hướng thứ
Năm.
Do đó một số học giả đã cho
Thổ là phụ thuộc vì không có
việc, không có mùa, không có
phương (xem Legge s.29+230),
nhưng với triết Đông đó lại
là chỗ đặc biệt của Hành
Thổ. Chính vì Thổ không có
phương nên mới là Thần diệu.
Vì Thần vô phương nghĩa là
vượt không thời gian nên mới
được tôn lên bậc "Hậu Thổ"
đại diện cho Hoàng Thiên ở
chung một cung: đó là danh
dự không hề bao giờ dành cho
các Hành kia. Chính vì Thổ
là Hành hữu vô địa; không
phương riêng, không mùa
riêng nên Thổ mới có thể chở
che mọi Hành và vượt lên mọi
Hành để ở vào một bình diện
khác hẳn tức là siêu việt,
vô hình "Hành vô Hành".
Đấy là một điều tế vi rất dễ
khuất mắt nên dễ mất ý thức
về nền triết lý trung hòa
này. Một nền triết lý mà nếu
diễn tả bằng tiêu biểu thì
bao giờ giữa hai đối lập thể
cũng có cái độn, cái lót, có
một miền phi quân sự nhằm
mục đích giảm nhẹ mãi từ đợt
căn cơ sự đối kháng hoặc óc
triệt tam. Sở dĩ Thổ chơi
nổi vai trò hòa giải đó vì
nó không là trái độn thường
nhưng là trái độn siêu việt,
nghĩa là ở trên bình diện
khác hẳn với hai đối lập thể
mà nó muốn hòa giải; không
để cho bên nào diệt bên kia
nhưng cả hai "tịnh dục"
(symbiose) cùng sống trong
những giới hạn mà lý trí
không thể phân định nổi được
và ta gọi là bổ túc.
Chính tinh thần bổ túc này
mới là tinh thần của triết
lý Việt Nho. Vậy nếu không
nhận thức được để cố gắng
khôi phục lại địa vị cho
Thổ, thì Triết Việt cũng trở
nên triết học về bản chất
hoàn toàn chạy vòng ngoài
(bàng hành) y cứ trọn vẹn
trên nguyên lý mâu thuẫn,
triệt tam; hết chất bổ túc
của Âm Dương Hòa, như phần
nào đã xuất hiện dưới hai
bản sinh khắc sau đây là hai
bảng dễ gây lộn xộn do sự
không hiểu được tiên thiên
và hậu thiên. Nên cần chúng
ta bàn luận thêm.
3. Tương sinh tương
khắcBản tương sinh gặp trong
Nguyệt Lệnh được Đổng Trọng
Thư khai triển trong sách
"Xuân thu phồn lộ". Bản
Tương Khắc được Hoài Nam Tử
và các âm dương gia thuật sĩ
chú ý. Trước hết đây là bảng
Nguyệt Lệnh Tương Sinh: Mộc
sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ. Thổ
sinh Kim. Kim sinh Thủy:
Theo thứ tự bốn mùa và số
Nguyệt Lệnh Xuân 8, Hạ 7,
Thu 9, Đông 6.
Thứ tự đối kháng: Thủy khắc
Hỏa. Hỏa khắc Kim. Kim khắc
Mộc, Mộc khắc Thổ, theo thứ
tự (*)Thuỷ, Hỏa, Kim, Mộc,
Thổ như hình sau:
(*) (Chú ý vua ngồi quay
hướng Nam: tay trái là Đông,
tay mặt là Tây, trước mặt là
Nam, đó là đặc điểm chung
của Viễn Đông không nên đổi
lại kẻo có nhiều thành ngữ
đã nói theo: như cỗ "xe hư
tả" đón người hiền, hiểu là
ở phía Đông nếu đổi chiều
Nam Bắc thì sẽ ra phía Tây.
Vậy cần để nguyên thứ tự và
cần chú ý, nếu không sẽ lầm
lộn đến yếu tinh của hai
Hành Thuỷ Hỏa. S.555.)
Bảng đối kháng theo thứ tự
số Lạc Thư. Lạc thư khác Hà
Đồ ở chỗ 2, 4 đổi cho nhau,
để làm nên một hệ thống tiêu
biểu mới, nhưng vì người sau
không hiểu nên đã để cho gây
nên biết bao lộn xộn che lấp
mất cái ý nghĩa siêu hình
của Ngũ Hành, muốn thấy lý
do đó cần nhận ra 4 điểm
sau:
1) Số Sinh: 1, 2, 3, 4, 5.
Số Thành: 6, 7, 8, 9. Gọi số
Thành vì nó thành với số 5:
5+1=6, 5+2=7 v.v…
2) Số Đất là số chẵn 2, 4,
6, 8. Số Trời là các số lẻ
1, 3, 5, 7, 9
3) Vòng trong và vòng ngoài.
Vòng trong do số Sinh. Vòng
ngoài do số Thành.
4) Hai tinh thần của hai
loại Triết học.
Môn phái triết học kể ra có
tới hàng trăm nhưng nếu lấy
tiêu chuẩn vòng trong vòng
ngoài gốc từ Ngũ Hành mà
phân loại thì ta có hai tinh
thần triết lý: một là triết
lý vòng ngoài xây trên
nguyên lý mâu thuẫn, thiếu
đất (Hành Thổ) làm chỗ hội
thông, nên dẫn tới triệt tam
trong triết lý, và bất tương
dung trên đường xử thế. Loại
thứ hai là triết lý ngoại
nội Dung hợp nhờ Hành Thổ
làm trung gian nên có bao
Dung và lấy Trung làm bản
gốc, lấy Hòa làm chỗ đạt
Đạo. Nắm vững các then thốt
trên làm căn cứ chúng ta
khảo lại hai bản sinh và
khắc trên cương vị triết lý.
Về bản Sinh, nếu xét nguyên
lược đồ thì đúng với thứ tự
Ngũ Hành nên không gì là
sai: nó là thứ tự 4 mùa.
Nhưng xét đến tên gọi và
cách hiểu thì sai, khi gán
cho nó chữ sinh mà thực ra
chỉ có giá trị kế tiếp (cùng
một giá trị với xếp loại
thuộc bình diện dụng). Thế
mà số kế tiếp không là số
sinh (cấu tạo) nhưng chỉ là
ước định nhân vi, nó bắt
nguồn từ ngày: sáng, trưa,
chiều, đêm và mở rộng ra là
Xuân, Hạ, Thu, Đông đi với
Đông, Nam, Tây, Bắc. Đó là
nhân vi ngoại tại vì mặt
Trời từ Đông mọc lên đỉnh
đầu, lặn về phía Tây chứ
không có xuống phía Nam rồi
lên Bắc.
Thứ tự đó người ta gượng đặt
ra để nói lên sự hòa hợp
giữa 4 hướng. Nó chỉ nhằm
diễn đạt có sự đúc Vũ vào
Trụ, thế thôi. Mỗi biểu
tượng chỉ nói lên được có
điều nó muốn biểu thị, ít
khi đi ra ngoài mà không
trật ý nghĩa: những con thú
dùng biểu thị đức tính như
quy là thọ nếu hiểu là con
vật đắm dưới bùn là sai. Thứ
tự Nguyệt Lệnh là thứ tự xếp
đặt, gán cho nó chữ sinh là
sai, vì lúc ấy nó sẽ làm mất
khía cạnh gián cách đối chọi
của Xuân Thu, Đông Hạ như
trong Hồng Phạm, tức là đánh
mất thập tự nhai của Âm
Dương giao hợp. Và vấp phải
nhiều vấn nạn chẳng hạn nói
là sinh nhưng ở đâu?
Nguyệt Lệnh cho số thành tức
6, 7, 8, 9 chứ có cho số
sinh 1, 2, 3, 4 đâu mà bảo
sinh? Lấy lý do nào mà bảo 8
sinh 7 và 7 sinh 5, v.v… nếu
lấy số sinh thì cũng phải
theo luật Âm Dương, có Âm
Dương mới sinh, đây chỉ có
duy Dương (tức số 3) hay duy
Âm (2) trơ trọi thế làm sao
mà sinh? "Cô dương bất sinh
độc âm bất thành"!
Xét đến mặt bản chất hỏi căn
cứ vào đâu mà bảo Mộc sinh
Hỏa? Mộc có dưỡng Hỏa còn
nghe được, chớ đâu có sinh
Hỏa. Hỏa phải có rồi nó đến
đốt Mộc. Nói rằng bã cặn của
các giống bị đốt sinh ra Thổ
đã gượng lắm rồi. Đến như
bảng Tương Khắc cũng mắc một
chứng như bảng Tương Sinh và
hai bên nương nhau mà xuất
hiện.
Vì thế hai bảng này chỉ nên
dùng để sắp loại, chứ không
xài được trong phạm vi
triết. Tuy nhiên trong thực
tế nhiều người lạm dụng hai
bảng này.
Ngoài các thuật sĩ pháp môn
khoái bảng này thì còn có
các ông thích làm đảo chính
dựa vào đó để biện minh cho
hành động của họ. Họ có thể
làm phải: nhà Châu có thể có
lý do chính đáng diệt nhà
Thương, cũng như nhà Tần
diệt nhà Chu. Và tức nhiên
người đắc thắng thiếu gì lý
do biện hộ. Thế nhưng các
ông muốn có một lý do y cứ
trên nền siêu hình cho thêm
giá trị!
Tần Hoàng diệt Châu tức là
theo Đạo Trời Thuỷ diệt Hỏa
vì Hỏa là đức nhà Châu, nhà
Châu đức là Hỏa diệt nhà
Thương đức Kim… Đâu có phải
chúng tôi tham quyền, chẳng
qua vì cái đức (hiểu là ngũ
đế đức của Ngũ Hành) của
triều đại trước đã cạn nên
đến lượt Hành mới lên thay
đặng canh tân nguồn sống.
Thiên Cơ là thế, thấy chưa?
Đấy là truyện rất thông
thường ở thời Thượng cổ là
thời ưa thần quyền giàu sách
Thần khải, một phương thức
thích hợp cho tâm trạng con
người thuở xưa.
Thuyết Ngũ Hành xuất hiện từ
xa xưa làm sao thoát khỏi
truyện lạm dụng. Do đó mà
hai bảng Sinh Khắc như trên
được lạm dụng làm nền tảng
cho thuyết Ngũ Đế Đức vậy.
Cái khuyết điểm chung là đặt
Thổ ngang hàng với 4 Hành
kia ở chỗ đi một vòng trở
lại Thổ I lần rồi ra ngoài 4
lần liền. Như thế còn đâu là
thập tự nhai? Đã vậy còn cho
phép các Hành kia "sinh" và
"khắc" Thổ, quên mất vai trò
Hậu Thổ ở Trung Cung cùng
với Hoàng Thiên và cùng với
Trời sinh ra và che chở cho
cả 4 Hành: "Thiên phú địa
tải" không biết ơn lại còn
vô ý thức đến nỗi nói Mộc
khắc Thổ. Mộc làm sao khắc
được Thổ? Nhái bén kiện Ông
Trời (*) hoặc bảo Hỏa sinh
Thổ, chơi trèo đến thế là
hết cỡ.
(*): có lẽ được ám chỉ trong
Thần Thoại "khoa phụ" là tổ
phụ các tay nói khoác, đòi
tranh đua với mặt trời nên
bị chết khát (xem Danses
362).)
Do đó hai bảng mang theo
nhiều chất sấm vĩ tai dị, mở
đầu cho những lời huyền ảo
phù pháp… Tất cả những luận
bàn tùm lum đó các đời sau
không ai dám đá động chi tới
thành ra che lấp suốt hơn 40
thế kỷ nền triết lý Việt Nho
đến khi trộn vào với Kinh
Dịch thì làm ra một thứ
huyền hoặc tai dị, như ông
Wilhem phàn nàn trong
I-ching I. P. 382 mà ông gọi
là "hocus, pocus".
Muốn dùng hai bảng đó cho
trúng ý nghĩa triết lý thì
nên coi như toàn khối với
hai chiều đi trái ngược
nhau: một sinh xoay lối
phải, một khắc xoay lối trái
kiểu như Hà Đồ Lạc thư hay
là hai chữ Vạn Vãn: tức cùng
là lối Âm Dương đối đáp
nhưng đã được mở rộng ra để
dễ áp dụng vào đời sống. Giữ
nguyên lối nhìn toàn diện đó
thì thoát lộn xộn mà thêm
được một biểu thị rất đẹp
cho sự triển khai Minh
Triết. Ngoại giả chỉ nên coi
đó như những bảng dùng để
xếp loại, chẳng hạn trong y
học giúp cho dễ nhớ những
kinh nghiệm đã tích lũy.
4. Nguồn suối hữu
thựcĐầu bài đã nói về nguồn gốc
văn học, ở đây cần bàn về
nguồn gốc hữu thực tức là
căn cơ Triết học.
Rất nhiều học giả định tính
văn minh Viễn Đông là một
nền văn minh biểu tượng. Nói
như thế tuy có đúng nhưng
chưa đủ, vì thực ra nền văn
minh nào cũng có thể gọi là
biểu tượng, bởi chưng ít hay
nhiều đều có dùng biểu tượng
lấy ở tinh đẩu hoặc các hiện
tượng. Sở dĩ Việt Nho đặc
trưng là ở trong chỗ biết
vượt qua biểu tượng để đi
vào Trung Cung, nên đặc
trưng nằm trong chỗ Siêu
Việt chứ không trong chỗ
biểu tượng. Vì thế cần phải
xác định một số điểm sau
đây.
Đứng trước cảnh tượng uy
nghi của trăng sao vận
chuyển, con người có thể có
3 thái độ: một là tỏ ra
khiếp nhược kinh sợ, rồi từ
đấy tin là đã được nghe
những mệnh lệnh truyền khiến
điều này điều nọ, đó là thái
độ của Vu Nghiễn ma thuật.
Cũng có thể xem thấy ở tinh
tú những ảnh hưởng huyền bí
chỉ huy đời sống và số kiếp
con người và đó là thái độ
của chiêm tinh thuật số.
Cũng có thể xem tinh đẩu
biểu lộ đường vận hành của
Vũ Trụ tức là đường đi của
Thời Không và con người
nương theo đó rút ra tự lòng
mình những quy tắc hướng dẫn
đời sống. Chỉ có lối nhìn
thứ ba này mới là của văn
minh Việt Nho; nó là thái độ
của những con người có tâm
thức tiến đến độ cao mà ta
quen gọi là hiền triết. Đó
là thái độ của Khổng Tử khi
ông nói "dư dục vô ngôn: tứ
thời hành yên, bá vật sinh
yên, Thiên hà ngôn tai".
(L.XVII,18)
Phải, Trời không nói nhưng
Trời có giúp cho ít dấu
hiệu: "Tự Thiên hựu chi"
(H.T.12) nên con người vẫn
phải làm lấy: một đàng
"ngưỡng dĩ quan ư thiên văn,
phủ dĩ dát ư Địa lý" (H.T.
4) nhưng đàng khác vẫn phải
"quan kỳ hội thông… nghĩ
nghị dĩ thành kỳ biến
hòa"(H.T. 8). Xem trời ngắm
đất rồi trở lại lòng tìm ra
nơi hội thông cũng gọi là
"Thiên địa chi tâm" vượt tầm
tai mắt để mà nghĩ ngợi, để
mà định đoạt con đường thực
hiện sự tiến hóa của mình,
nghĩa là một đường lối có
ngoại: ngắm thiên văn địa lý
mà cũng có nội, tức là tâm
tư; cho nên có thể gọi là
con đường thực nghiệm và
quân bình vượt xa hẳn những
lối ma thuật hay mơ mộng
khác thiếu nền móng vững
chãi, hầu hết thiên lệch
hướng ngoại.
Theo lối thực nghiệm đó thì
luật thiên nhiên không phải
được khải thị một lần, nhưng
từng giờ từng khắc, không
phải bằng lời nói nhưng bằng
sự vận hành của thời, của
khắc, của trăng sao tinh
đẩu: người là giống linh
tính, xem đấy mà tìm hiểu.
"Thiên hành kiện, quân tử dĩ
tự cường bất tức" (Dịch, quẻ
Càn), vì nó cũng vận hành
theo một quy luật tổng quát
của vạn vật. Đó chính là
tinh thần Kinh Dịch, nền
móng của văn minh biểu
tượng, nên 64 quẻ là 64 biểu
tượng, và sau mỗi tượng có 1
câu quân tử dĩ, nghĩa là
người quân tử coi theo đó mà
rút ra luật tắc đặng xử kỷ
tiếp vật. Thí dụ quẻ Vô vọng
(25) lời Kinh nói rằng Tượng
viết: "Thiên hạ lôi hành:
vật dữ vô vọng. Tiên Vương
dĩ Mậu đối thời dục vạn
vật." (chữ Mậu cũng như chữ
Mậu Kỷ ngày xưa viết có thảo
đầu, chỉ làm tốt tươi, rất
có thể do ảnh hưởng văn hóa
nông nghiệp Việt Nho): nghĩa
là "dưới Trời sấm chạy là
tượng quẻ vô vọng: vạn vật
đạt tình trạng thiên nhiên
không lỗi (đúng: không sai
thù với tính trời phú cho)
Tiên Vương xem đó mà làm tốt
đức của mình đặng hợp với
thời Trời mà nuôi dưỡng vạn
vật".
Đại để đó là lối hiểu chính
truyền và nhờ đó mà văn hóa
Việt Nho không bị mắc kẹt ở
biểu tượng lý trí, nhưng
vượt lên qua linh tượng để
đạt nguồn suối của Linh Đức
như đã bàn trong quyển Loa
Thành đồ thuyết trong đó có
nói đến những khó khăn rất
nhiều mà tâm thức phải vượt
qua để đạt độ "Kinh Đức bỉnh
triết". Vì thế không lạ khi
thấy bên Viễn Đông các đời
sau nhiều khi không giữ
đúng, hoặc nhuốm màu ma
thuật như lối tôn giáo Vu
Nghiễn đời Thương, hoặc quá
nhân vi, văn học, thuật số
như đời nhà Châu, hay là chi
ly sấm vĩ như một Châu Diễn
hoặc một Đổng Trọng Thư…
Tuy nhiên không lúc nào yếu
tố biểu tượng khoa học bị
vùi lấp hẳn nên vẫn duy trì
được nền thống nhất tương
đối khá hơn các nơi.
Để có một ý niệm khác trung
thực hơn ta hãy thử mường
tượng ra mình đang đứng
trong đêm tối, tay cầm một
que, đầu có than hồng và đưa
mau que để vẽ lên hình hoa
thị. Hoa thị chỉ tồn tại bao
lâu chiếc que hồng chạy mau
đủ để vệt sáng kịp nối tiếp
nhau đều đều và giả thiết
rằng que lửa cũng chỉ hồng
cháy mỗi khi trở lại tim hoa
để "sạc-dê" lại sinh khí đã
tiêu ra ngoài, hầu trở ra vẽ
cánh hoa thứ hai, và cứ một
xuất một nhập như thế để vẽ
cánh ba rồi cánh bốn… Thí dụ
đó nói lên phần nào quan
niệm sự vật biến dịch theo
đường Ngũ Hành.
Quan niệm như trên khác hẳn
với quan niệm bất động của
triết học lý niệm, vì ở đây
là quan niệm theo Dịch lý
trên một quá trình luôn luôn
hoạt động, luôn luôn đi tới,
nhưng không đi tứ tung Ngũ
Hành hay là tứ tung ngũ Thổ
hay là ngũ quy Tâm, tức là
đi về nội giới để duy trì
lưỡng nhất tính là "hợp
ngoại nội chi Đạo": một bước
ra lại một bước vô.
Nếu chỉ có vòng ngoài thì
giống như Thần Cộng Công vì
sầu hận húc đầu vào núi Bất
Chu: "Cộng Công nộ nhi xúc
bất chu chi sơn". Chu sơn
chỉ Chu tri, còn bất chu sơn
chỉ cái biết không tròn đầy
(xem Liệt tử C. V. A.
Couvreur tr. 130). Chính cái
biết không tròn đầy này làm
cho trời long đất lở, khổ
luỵ chín châu. Phải nhờ bà
Nữ Oa vá Trời và cắt 4 chân
con rùa đội Đất cho khỏi
nghiêng lật. Đó là chỉ nền
Minh triết Việt Nho chú
trọng số 5 thay số 4, 6, 8
của Hoa tộc. Nói cắt 4 chân
có ý chỉ không được bám sát
vào 4 góc, 4 Hành ngoài, vì
như thế không còn nơi Thông
hội với Trời ở Hành năm. Và
lúc ấy không còn là Đạo Hành
mà chỉ còn là lộng hành
(activisme) vì thiếu sức lưu
nhuận của sinh hoạt đạo thể,
thiếu tiếp xúc thường xuyên
và trở nên khô cạn yếu ớt
như bóng ma trơi.
Đấy là tình trạng bi đát của
con người hiện tại cắm đầu
chạy vòng ngoài mà thiếu hẳn
căn cơ của vòng trong. Cái
được mệnh danh là vòng trong
đã bị hạ xuống cùng đợt với
vòng ngoài: tức là đã để mất
tính chất tâm linh của thổ,
và cuộc chạy trở thành cuộc
diễn hành của đèn kéo quân
chỉ còn bóng với hình thiếu
mất tâm linh tự nội phải nhờ
khói đẩy vòng quanh. Đạo
giáo được thiết lập ra là
cốt cho Đạo "tương hành" cho
sinh khí Đạo lưu nhuận mọi
hành vi cử chỉ, nhưng thiếu
nội khởi của Thổ Thần, nên
hầu không giúp chi được vào
việc thiết lập mối tình
huynh đệ phổ biến là cái
đích điểm rõ rệt nhất của
mọi nền đạo lý chân thực.
Những mục tiêu khác như tri
thiên, tri địa còn xa xôi và
dầu sao khó kiểm soát, chí
như "ái nhân" là hậu quả
thiết yếu và ở trong tầm
kiểm soát được. Vậy mà để có
thể ái nhân thì cần an thổ.
Có "An thổ đôn hồ nhân" mới
"cố năng ái". (H.T. IV)
Có "an thổ" mới đủ khả năng
yêu thương nghĩa là phải có
nơi an trụ cho tâm hồn, mới
gặp nền tảng cho tình yêu
dung thông khắp cõi: dẫu đến
tứ hải cũng đều là huynh đệ.
Vì có đạt trung điểm mới bao
gồm được 360 độ, còn khi ở
một trong 4 cục bộ thì chỉ
bao được 90° hay I phần tư,
tức là có nhất hải được coi
là huynh đệ, còn tam hải gảy
ra ngoài, theo những kỳ thị
màu sắc, tôn giáo, dòng tộc
hoặc đẳng cấp. Chỉ chấp nhận
có bần cố nông, có lao động
thí dụ, và lúc ấy không thể
cố năng ái, mà chỉ cố năng
gây căm thù, gây hiềm oán…
Và nhiều khi nhất hay nhị
hải mà đã "giai sài lang"
rồi (thay vì giai huynh đệ).
Môn phái Triết học Ionien ở
Hi Lạp chủ trương tứ hành là
nước, lửa, đất, khí. Nhưng
có lẽ vì thiếu Hành Thổ, nên
Thales chủ trương vạn vật do
Nước, Héraclite bảo do Lửa.
Phải chăng đó là nguồn suối
các sự thiên lệch, các thứ
duy vật sau này: duy vật,
duy tâm, duy kiện?…
Triết lý Ngũ Hành chủ trương
ngược lại là nhận ra Nước
Lửa một trật. Sở dĩ dám nhận
cả hai Hành trái ngược đó
tiêu diệt nhau, nhưng lại
điều hòa nổi là nhờ có Hành
Thổ Trung Cung cũng gọi là
Địa linh, Địa mẫu, nên thay
vì tương khắc thì "Thủy Hỏa
tương đãi" (Thuyết quái VI)
"Nước Lửa bổ túc cho nhau":
Water and fire complement
each and other." (W. 292).
"Nhiên hậu năng biến hóa":
nhờ đó có thể tiến hóa. Nhờ
đó mới có thể: "Tri chu hồ
vạn vật, nhi đạo tế thiên hạ
cố bất quá. Bàng hành nhi
bất lưu. Lạc thiên tri mệnh
cố bất ưu. An thổ đôn hồ
nhân cố năng ái." (H. T. IV)
"Biết trọn được (chu vi)
khắp vạn vật nên gây được an
hòa cho khắp cõi. Vì vậy
không đi quá. Hoạt động ở
vòng ngoài mà không bị trôi
theo lưu tục. Thấu hiểu mệnh
trời, nên không ưu sầu. Yên
nghỉ lại nơi Thổ tâm linh và
đôn hậu tình người nên có
thể yêu thương bằng tấm lòng
chân thực."
5. Triết lý ngũ hànhTriết lý Ngũ Hành cũng chính
là triết lý Tam Tài, nhưng
được quảng diễn rõ hơn bằng
cách rút nhỏ biểu tượng lại
cho vừa tầm sức con người
hầu dễ triển khai các khả
năng tàng ẩn.
Biểu tượng ở Tam Tài là
Thiên Địa, ở Ngũ Hành là
Thủy, Hỏa, Kim, Mộc. Thiên
Địa thì bao quát nhưng mênh
mông, nên cần hạ xuống một
độ nữa, đó là Thuỷ Hỏa Kim
Mộc, là những cái gần gũi
thiết yếu cho đời sống. Từ
Thủy Hỏa sẽ dễ dàng bước vào
đến tận Nhân Tính, tức là
phần sâu thẳm nhất. Vì Tính
kép bởi hai chữ Tâm và Sinh.
Thế mà Sinh có liên hệ uyên
nguyên với Thủy. Vì được coi
là nguồn sống sơ nguyên như
câu nói của Triết Nho: "Thủy
vi vạn vật chi nguyên". Nước
là nguyên thủy của vạn vật.
Còn Tâm liên hệ với Hỏa, chỉ
cái gì sáng soi đốt nóng.
Nếu Tâm chỉ siêu thức hướng
dẫn tâm hồn thì Hỏa cũng là
cái gì soi sáng hướng dẫn,
cai trị, ra mẫu mực như
trong ý tưởng của Héraclite
qua lối trình bày của
Heidegger. "Khi Héraclite
nói về Lửa thì ông nghĩ hơn
hết đến cái sức sáng soi
hướng dẫn và bao trùm lên
mọi hoạt lực".
Thánh Kinh mở đầu bằng câu:
"Thần Linh Chúa bay phủ trên
mặt Nước" thì ở đây Thần
Linh chỉ ánh quang linh, chỉ
ý tưởng tạo dựng, còn Nước
chỉ nguồn sống sơ nguyên
vậy.
Trong Ngũ Hành yếu tố Hỏa
chỉ phần tâm tưởng, phần
sáng soi vào cái sống âm u
vô định để hướng dẫn, để tìm
ra các ý tưởng là phần soi
dọi cho đời sống tâm tình.
Hai yếu tố Tâm và Sinh đó
hòa hợp giao tham làm nên
Tính của người cũng như vạn
vật.
Sau hai yếu tố Thủy Hỏa thì
đến hai yếu tố Kim Mộc, nó
cũng là một cặp Âm Dương,
nhưng biểu thị cách cụ thể
định hình nhiều hơn và do đó
có thể coi như một thứ mức
thang phân loại vạn vật từ
sống và mềm như Mộc, dẫn tới
loại cứng và "vô tri vô
giác" như Kim thạch. Vậy với
hai yếu tố Thủy Hỏa ta có
nét dọc định tính tiên
thiên; với Mộc Kim ta có
thêm hai yếu tố định hình để
phân tính ra nhiều loại,
nhưng vẫn còn là tiên thiên,
nên nói "vô hồ xứ giả" =
chưa có ở nơi nào, mặc dầu
đã có thực. Nó sẽ hiện hình
cụ thể ra cá vật ở các đợt
sau như sẽ bàn ở chương về
cá biệt hóa.
Trở lên chỉ là những phân
biệt trong lý trí giúp ta
dọi một vài tia sáng nhỏ vào
cõi Tâm Linh, vì trong thực
tế hai yếu tố đó giao hợp
khắng khít không thể chi hẳn
ra đâu là Thủy Hỏa, đâu là
Kim Mộc. Tuy nhiên cần đem
vào không những để có vài ba
ý niệm sơ sài về tính vật,
nhưng cũng còn nói lên một
chân lý nữa chưa được đề cập
ở Tam Tài, đó là biến dịch.
Ở Tam Tài mới nói đến hoạt
lực (tài) cách chung, đến
đây mới đặt nổi ý tưởng về
chiều hướng của Tam Tài: đó
là Hành. Vì thế dùng Thủy
Hỏa tiện cho việc biểu thị
biến dịch hơn: vì Thủy luôn
luôn chảy xuống, Hỏa luôn
luôn bốc lên. Cả hai đều
biểu lộ ý tưởng biến dịch và
khi đặt vào liên hệ đối đãi
thì nói lên ý tứ biến dịch
theo chiều hướng hòa hợp
trong tư thái quân thiên.
Ý niệm biến dịch này liên hệ
chặt với biểu tượng biến
dịch trong Kinh Dịch là Nhật
Nguyệt. Trong đó Nhật liên
hệ với Hỏa. Nguyệt liên hệ
với Thuỷ (hiện tượng nước
thuỷ triều gắn liền với
nguyệt), vì thế mà chúng ta
có phương trình như sau:
ThiênNhậtHỏaTâm =
ĐịaNguyệtThủySinh
Phương trình trên nói lên
mối nhất quán của Việt Nho
được chỉ bằng nhiều biểu
tượng khác nhau. Nhưng khác
nhau đến đâu bao giờ cũng đi
đôi mà lại ngược chiều. Có
đi đôi mới có biến dịch.
Nhưng để cho sự đi đôi không
chỉ là đối kháng bên ngoài
có thể đi đến tiêu diệt
nhau, thì phải có vòng trong
để đối kháng trở thành đối
đãi, bổ túc, tương thấu,
tương nhập. Do đó mà cần có
sự quân bình giữa hai yếu tố
nghịch hành như Thiên với
Địa, Thuỷ với Hỏa, Tâm với
Sinh mà gốc tâm lý là Tính
con người, hễ nghiêng về một
bên là ứ trệ là hết cuộc
hành trình, hết quá trình
biến thông.
Để đặt nổi ý tưởng quân bình
này thì quen dùng các số
Trời là: 1, 3, 5, 7, 9.
Trong 5 số Trời thì số 5 lại
còn ở giữa nữa vì thế mà
tiên nho nói: "trung hòa cực
thịnh hồ Ngũ"
Trung và Hòa thịnh hơn hết
là ở số Ngũ. Như trên đã nói
số Ngũ chỉ sự Hòa hợp Trời
Đất trong thế pha độ bình
quân nhất là: Trời ba Đất
hai (đất 4 trời 1 thì quá
lấn). Vì thế nói Ngũ Hành
cũng có nghĩa như hành động
theo Trời. Nếu làm được như
thế thì rất Thánh ngang hàng
với Trời như: Tề Thiên Đại
Thánh là Thánh to ngang với
Trời.
Đó là tên mà thuyết thường
đặt cho Thạch Hầu và đi theo
Đường Tăng sang Thiên Trúc
thỉnh kinh nên cũng gọi là
Hành Giả, có khi là Tôn Hành
Giả. Chữ tôn này liên hệ với
chữ Chí tôn mà triết lý Ấn
Độ thường dùng để chỉ Đấng
tối cao. Đi thỉnh kinh tức
là đi tìm đến chỗ chí tôn
chí cực. Muốn thế thì phải
trung thành. Điều đó được
biểu thị bằng việc mỗi khi
hành giả đánh nhau bị tử
thương mà khi tiếp cận được
với Đất thì phục sinh lấy
lại được sức vóc nguyên
tuyền. Đấy là ý nghĩa sâu xa
của triết lý ngũ hành mà
chúng ta còn thấy biểu thị
ra trong nhiều ẩn dụ rất cần
nhắc nhở lại cho con người
hiện đại đang bị quật ngã
bởi nền văn minh máy móc.
6. Trở lại đất tổAntée là nhân vật thần thoại
có sức mạnh phi thường vật
nhau được với thần Hercule
là hiện thân của sức mạnh có
thể địch muôn người. Nhưng
đến sau Antée bị thua vì
Hercule nhận ra mỗi lần
Antée tiếp xúc với Đất thì
liền lấy lại được sức mạnh
đã mất cho nên tìm cách nâng
bổng Antée lên khỏi mặt Đất,
nhờ đó mà Hercule thắng được
Antée.
Antée chính là hình ảnh con
người hiện đại đang bị thần
Herculre mới là nền văn minh
cơ khí vô hồn và duy vật tóm
cổ xoay như chong chóng
trong cơn lốc ở ngoài biên
cương đầy xáo động không sao
trở lại được với "Địa Linh,
Địa Mẫu" để có thể bồi dưỡng
sinh lực tinh thần đã kiệt
quệ. Đành lê khắp 4 nẻo mà
không tìm thấy cửa trở lại
địa đàng đã mất hút từ ngày
Evà bị tống cổ ra. Đứng ở
quan điểm triết lý Ngũ Hành
mà luận thì bà Evà có hai
điểm thất sách.
Trước hết nếu thèm chua thì
nói với Adong thu xếp cho,
vì nam ngoại nữ nội. Nội
thánh ngoại vương. Sao bà
nội tướng lại bỏ ông ở nhà
rồi tự ý một mình ra ngoài,
ra khỏi trung tâm?
Điều thứ hai mới quan trọng:
thì ăn no đi rồi về tay
không, chứ đây đưa trái biết
lành biết dữ vào nhà. Hỏng ở
chỗ ấy, ở chỗ biến trong ra
ngoài tức cái trong làm toàn
bằng chất ở ngoài. Đó là
điều hỏng ngay ở đợt vật lý:
không thể dùng kiến thức đại
vật lý cho vi thể. Như
Bachelard dặn đừng có đưa
kiến thức hiện tượng luận
vào thế giới vi thể. Nói
khác đem phạm trù logic của
kiến văn vào cõi Đạo u linh
thì từ đấy xoay chiều nào
cũng là phiến diện. Vì Đạo
phải thuộc phạm vi tâm linh
u uẩn huyền vi. Chỉ có thể
lấy tâm tính luyện mà cảm
chứ không thể lấy óc đếm đo
mà biện lý lẽ được.
Người ta nói triết cổ điển
đánh mất đàn bà tính là thế.
Tức là đánh mất cái cái phần
linh tính và tâm linh, chỉ
còn toàn lý với lẽ thì có
khác chi bà Evà ra hái quả
cấm đưa về nhà vậy. Triết lý
mất đàn bà là mất Ngũ Hành,
chỉ có "4 éléments" mà thiếu
thiếu thể thứ năm, cũng gọi
là Ngũ Cốc, (cốc chính nghĩa
là nuôi), tức là cái Ngũ có
tính chất nuôi dưỡng tinh
thần và như vậy là triết lý
hết tiếp xúc với Đất Mẹ Quê
Tổ mà trong sách Liệt Tử kêu
là "Tức Thổ" với lời chú
thích: "tức thổ bất háo,
diệt quật chi ích đa". "Tức
Thổ loại đất không hề hao
hủy được, càng đào lại thêm
lên" (Danses 485).
Đó là "thánh địa" gặp thấy
trong mọi ngành Truyền
Thống. Đó cũng là Đất làm ra
"tạo-hóa-lư" mà bà Nữ Oa
dùng luyện đá Ngũ Hành đặng
vá lại Trời Đất đã bị thần
Cộng Công làm siêu vẹo
nghiêng lệch khiến cho
"thiên bất túc tây bắc, địa
bất mãn đông nam". (Diễn
bằng số thì tây bắc là 4–1,
Trời 1 mà Đất 4 nên nói
Thiên bất túc tây bắc. Còn
đông nam là 3–2, 2 Đất ít
hơn là 4 phía tây nên là bất
mãn).
Trời hụt phía tây bắc (thiếu
tinh thần). Đất không đủ
phía đông nam (đói nghèo).
Liệt Tử ghi
"Ngũ sắc thạch luyện, dĩ hòa
âm dương" = Luyện Ngũ Hành
là phương pháp làm cho Âm
Dương hòa hợp cân bằng. Sở
dĩ Nho triết cân bằng hơn là
nhờ bà Nữ Oa không có lẻn ra
ngoài hái trái cấm nhưng
luôn luôn ở lại nhà để "đội
đá vá Trời" vì thế mà bà
cũng có tiếng là đã thiết
lập ra phép hôn phối, đuôi
lúc nào cũng cuộn lấy đuôi
Phục Hi (xem hình trong
quyển Nhân Bản). Phục Hi
xuất hiện bên ngoài nên
trắng (bạch), Nữ Oa tàng ẩn
bên trong nên đen (hắc), Lão
Tử viết: "Tri kỳ bạch, thủ
kỷ hắc, Vi thiên hạ thức"
(DK 28): "Biết được trắng mà
vẫn giữ được đen đó là khuôn
thước cho thiên hạ" (trắng
là rõ ràng cho ý thức, còn
đen thuộc tâm linh không rõ
cho lý trí).
Khuôn thước ở đời như là hoa
sen trắng ở giữa bùn đen.
Mỗi vật có một vai trò, mỗi
người có sứ mạng là đem ra
thực hiện một hình thái nào
đó trong cái kho tiềm thể
phong phú vô biên của càn
khôn tạo hóa. Những khả năng
đó được cụ thể hoá trong cõi
hiện tượng bằng thước vuông
trong tay Phục Hi tức là
những sự khúc khuỷu, tư
riêng hạn hẹp của một hình
thái và hoàn cảnh nhất định
mà mỗi người được sai vào đó
để làm sao trong những hoàn
cảnh khó khăn như thế mà vẫn
chu toàn được sứ mạng, vẫn
"thủ kỳ hắc", vẫn luôn luôn
giữ được Đạo thường là "hỏa
viêm thượng, thuỷ nhuận hạ".
Vì thế mà ở hàng ngang trong
thực tế có khi khúc, khi
trực, có lúc tòng mà cũng có
lúc phải cách. Cũng có khi
khúc để rồi mà trực, cũng có
khi tòng để rồi cách. Họa
hiếm mới có người gặp hoàn
cảnh như ý, còn hầu hết đều
gặp những khu vực sinh lý xã
hội rất hạn hẹp, nhưng phải
chấp nhận để rồi sửa đổi, và
làm đà tiến đến chỗ hiện
thực Đạo tâm. Có khó khăn
như thế mới có dịp để mài
dũa óc linh hoạt, luyện tập
óc tinh anh. Vì tài ba không
là chi khác hơn là biết chấp
những thách đố của hoàn
cảnh. Quân tử là phải ở đâu
cũng có thể an nhiên: "Quân
tử vô nhập nhi bất tự đắc
yên" (T.D. 14). Nếu như hoàn
cảnh thuận lợi hoàn toàn thì
chẳng cần phải quân tử cũng
có thể an nhiên tự tại được.
Nhưng nếu hoàn cảnh đầy trắc
trở thì muốn an nhiên tự tại
phải là quân tử, nghĩa là
người hiểu biết và hiện thực
nổi triết lý Ngũ Hành.
Tóm lại thì triết lý Ngũ
Hành chính là Đạo như tiên
nho nói
"Hành diệc Đạo chi thông
xưng" = chữ Hành
cũng thường dùng để chỉ chữ
Đạo, Đạo là đi, nhưng đi
theo một hướng là Trời, Đất,
Thiên, Địa, tuy nhiên không
là Trời Đất cứng nhắc nhưng
là uyển chuyển như Nước với
Lửa. Kim Mộc là hàng ngang
vừa chỉ mực độ cao thấp phân
biệt các thứ loại vừa chỉ
những hoàn cảnh khác biệt,
do đó cần phải uyển chuyển
khi lên khi xuống tuỳ thời,
vì nếu Đạo là đi, là Hành
trình thì bắt buộc phải linh
động uyển chuyển như thế.
Theo đường đi uyển chuyển mà
không lìa xa Đạo thế gọi là
Hành.
Lương Kim Định
Giới thiệu bản thân
Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi