|
Sau gần 20 năm xa cách, trong chuyến về lại quê hương
lần đầu tiên vào năm 1995 để xây mộ phần cho thân phụ, gia đình chúng tôi
quyết định bay về Hà Nội trước, rồi thuê xe đi đường bộ ra Huế, và sau đó đi
tiếp về Sài Gòn để thực hiện một chuyến xuyên Việt tạm coi là đầy đủ.
Dạo đó, Hà Nội còn chưa phát triển lắm, ba mươi sáu phố
phường còn phảng phất nhiều dư ảnh của “vang bóng một thời”. Phố Hàng Đào
duyên dáng đổ ra Hồ Gươm đang bắt đầu gương lược ngại ngùng làm dáng, và
hàng cây đường Cổ Ngư thì vẫn rì rào e thẹn bên hồ Trúc Bạch.
Sinh ra ở miền Trung và lớn lên ở miền Nam, và vì vốn
học ban “C” (ban Văn Chương, trước 1975) ở trường nữ trung học Gia Long nên
tôi chỉ biết Hà Nội qua những tác phẩm của các nhà văn tiền chiến trong Tự
Lực Văn đoàn, và những bài hát, những câu thơ nghe thật chan chứa nhớ nhung
của các văn nghệ sĩ di cư vào Nam năm 1954. Cho nên trong mấy ngày gấp rút
và ngỡ ngàng ở Hà Nội, chúng tôi vội vàng đi thăm các thắng cảnh không thể
không thăm được: Văn Miếu, hồ Hoàn Kiếm, chùa Một Cột, đền Quan Thánh, cầu
Thê Húc, đê Yên Phụ, gò Đống Đa, viện bảo tàng Lịch Sử … Riêng bọn con gái
chúng tôi thì mặc sức mà thưởng thức không biết bao nhiêu miếng ngon Hà Nội
của các ông Vũ Bằng và Nguyễn Tuân. Món chả cá Thăng Long ở đường Lã Vọng
óng ánh lớp mỡ vàng ríu rít reo vui, tô bún riêu trên vỉa hè phố Tô Lịch đậm
đà hương vị đồng nội Bắc bộ …
Lần thứ nhì về Việt Nam, năm 2000, trong khuôn khổ của
một tổ chức từ thiện Mỹ để yểm trợ cho lớp huấn nghệ của Ni cô Như Minh ở
chùa Tây Linh tại Huế, tôi lại cũng ghé về Hà Nội trước. Vào dịp hè được
nghỉ nên đây là một chuyến đi dài ngày mà chồng con cho … phép. Trong hành
trang lần nầy, ngoài gần ba ngàn Mỹ kim của bạn bè tại Mỹ và Canada cúng
dường, trong đầu còn có những thông tin nóng bỏng về tình trạng “đàn áp tôn
giáo” mà tôi đã đọc được trên một số trang web Phật giáo hải ngoại và trên
các trang báo giấy tại miền nam tiểu bang California, nơi tôi cư ngụ và làm
nghề gõ đầu trẻ.
Chỉ 5 năm mà Hà Nội đã thay đổi rất nhiều. Mùi hương
của hoa sữa thơm ngạt ngào trên đường Nguyễn Du vẫn còn đó, nhưng những cái
mũ cối xanh và chiếc xe đạp nội hóa của năm 1995 thì đang từ từ biến mất. Hà
Nội xôn xao trở mình hội nhập như cô gái đoan trang bắt đầu tô môi hồng của
những năm đầu thế kỷ thứ 20. Quen sơ nhau lần trước và biết tôi là Phật tử ở
Mỹ về, chị Th. L. ở Nhạc viện Hà Nội tình nguyện làm “tài xế’ chở tôi trên
chiếc xe (gắn) máy cũ để chập chùng đi thăm các chùa cổ ở ngoại thành. Chùa
Dâu, chùa Đậu, chùa Tây Phương, chùa Thầy, chùa Bút Tháp, … cổ kính và u
trầm. Lãng đãng 2000 năm lịch sử của Phật giáo Việt Nam vương vấn trong
chánh điện u tịch và trên mái ngói rêu phong. Chùa vắng, người thưa. Không
giảng kinh, không lễ Phật. Cảm giác chung là buồn vì không thấy lời dặn
duy Tuệ thị Nghiệp của đấng Từ phụ được thể hiện trên thủ đô ngàn năm
văn vật, nhưng cũng còn một chút vui an ủi vì di tích văn hóa của các Thầy
Tổ chưa bị nhuốm màu thị trường chói chan của ngọn sóng Toàn cầu hóa.
Lúc đến chùa Quán Sứ để thỉnh kinh, tôi tình cờ được
dịp đàm đạo với Thầy B.N. vừa tốt nghiệp Tiến sĩ ở Ấn Độ về và, tuy còn trẻ,
hiện đang được làm giáo thọ tại một trường Trung cấp Phật học tại Hà Nội.
Sau khi trao đổi với Thầy về một số đặc điểm của hệ thống đại học Mỹ mà tôi
kinh nghiệm được chút ít trong khi tác nghiệp, tôi “vô tư” chuyển đề tài và
hỏi thẳng Thầy về tình trạng “tự do tôn giáo” của Phật giáo trong nước. Thầy
chỉ cười và hỏi tôi có trì và hành Thập chủng Đại nguyện trong “Sám
Phổ Hiền” không ? Và Thầy nhờ tôi sau khi đi hết ba miền Bắc Trung Nam, nhìn
và hỏi xem Phật tử có được thoải mái hành sự mười đại nguyện đó không ? Rồi
khi về Mỹ cứ thẳng thắn viết thư cho Thầy biết:
Nhứt giả lễ kính chư Phật
Nhị giả xưng tán Như Lai
Tam giả quảng tu cúng
dường
Tứ giả sám hối nghiệp
chướng
Ngũ giả tùy hỉ công đức
Lục giả thỉnh chuyển pháp
luân
Thất giả thỉnh Phật trụ
thế
Bát giả thường tùy Phật
học
Cữu giả hằng thuận chúng
sanh
Thập giả phổ giai hồi
hướng
Thầy không nói gì đến một giáo hội trước 1975 bây giờ
bị cấm hoạt động và đang được một số ông Tây bà Mỹ của các định chế chính
trị quốc tế ủng hộ, Thầy cũng không nói gì đến một vài vị Thầy ở trong Thành
phố (HCM) thách thức đòi lật đổ chế độ nên bị quản chế tại chùa không được
ra đường đi đâu cả. Thầy chỉ nói đến số đông, đến đại chúng, nhấn mạnh đến
nhu cầu tu học, mà nhất là “quyền tự do” được tu và hành 10 điều đại nguyện
trong Sám Phổ Hiền của hơn mười mấy triệu Phật tử đồng đạo của Thầy. Thầy từ
tốn nói đến viễn tượng tương lai, có hoa sen vươn lên từ bùn lầy có thật,
của Phật giáo Việt Nam. Còn Dân chủ, Nhân quyền, Đa nguyên, xin trân trọng
để ngoài cổng chùa. Đừng bắt Đức Phật phải mang màu cờ sắc áo. Bất kỳ màu cờ
gì, bất kỳ sắc áo nào. Phàm ngã hữu tướng giai thị hư vọng !
Mang thêm câu hỏi của Thầy B.N. trong hành lý, tôi giã
từ Hà Nội rồng bay để xuôi Nam. Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh (của
99 ngọn Hồng Lĩnh cuồn cuộn sử thiêng). Rồi Huế, Đà Nẳng, Quy Nhơn, Nha
Trang (của 14 vua triều Nguyễn khai hoang bờ cõi) . Và Sài Gòn, Vĩnh Long,
Mỹ Tho, Cần Thơ (của ai về Gia Định Đồng Nai thì về)… Giang sơn gấm vóc xinh
đẹp lạ lùng, đồng bào ruột thịt nhân hậu lạ lùng.
Trong số hơn 100 Phật tử mà tôi gặp trên “con đường cái
quan” xuyên Việt năm đó, người thì hàng ngày ráng thực hiện được ba, người
thì đến chùa mong thực hành được bảy đại nguyện của Sám Phổ Hiền. Nhưng dù
là ba hay bảy thì từ người quen trong gia tộc rất thuần thành của tôi đến
người lạ gặp rất nhanh trong một sân chùa, tất cả đều thoải mái, tất cả đều
tự do, không ai cấm cản. Hầu như ai cũng cười xòa trả lời chỉ có tam độc
Tham Sân Si cấm cản thôi chứ bây giờ ai mà cấm nổi mình đến chùa tụng
kinh, niệm Phật, trì chú, và dạy con làm công quả tạo phước đức. Thế là
đã quá đủ rồi chị ơi.
Vào Sài Gòn, đến nhà sách Fahasa trên đường Nguyễn Huệ
lại thấy gần 200 đầu sách về Phật học được bày bán mà hoa cả mắt. Lên Hóc
Môn, đến chùa Hoằng Pháp lại được mặc áo tràng niệm Phật chung với một thính
chúng gần 500 người đầy đạo vị. Khắp nơi sao có vẽ “tự do” thế, nhưng còn
mấy chùa “thống nhất” thì sao ? Thế còn những Thầy “thống nhất” bị Công an
đàn hạch mà báo chí chống Cọng ở hải ngoại ồn ào đề cập thì sao ? Tôi ấm ức
không có dịp gặp, tôi thất vọng vì ngay cả các anh chị cư sĩ ở Sài Gòn rất
năng động cũng chẳng biết đến tên tuổi quý ngài ! Cho nên về lại Mỹ, từ đó,
tôi nợ Thầy B.N. của chùa Quán Sứ một câu trả lời còn … chênh vênh.
Thế rồi chuyến đi thứ ba vào năm 2003 với chồng, chuyến
đi thứ tư vào năm 2005 với chồng và con trai út sắp vào đại học. Mỗi lần về
là mỗi lần gánh từ thiện nặng thêm, hạnh bố thí sâu thêm. Và cũng mỗi lần đi
về, tôi lại như sống trong hai thế giới khác nhau. Cùng là Việt Nam một
cỏi đi về, cùng là Phật sự trên chính đất nước Việt Nam thân thương đó,
mà bên nầy xa xôi thì những tiếng nói khi thì sôi nổi khi thì hằn học của
các Phật tử hải ngoại tố cáo Nhà nước “đàn áp Phật giáo”, còn bên kia gần
gũi thì các Thầy Cô trong nước khi thì thong dong khi thì nhọc nhằn ngày đêm
chăm lo cho tứ chúng tu học. Có cái gì không ổn khi cùng một thực tại mà lại
có hai nhận thức và hai mô tả khác nhau, do đó, hai hành xử khác nhau. Phướn
lay gió lay, vạn vật do tâm tạo…Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu
khũng bố, viễn ly điên đão mộng tưởng !
Sau bốn chuyến đi nầy, tôi bắt đầu dè dặt hơn về những
thông tin và lý luận của “nước” Việt Nam hải ngoại phất phới lá cờ vàng ba
sọc đỏ. Chồng tôi nối kết lên Lap Top cho tôi một số webpages của Phật giáo
trong nước và tôi cũng bắt đầu nhận thêm một số email từ các forum ở hải
ngoại. Tôi đọc được bài của Thầy Trí Quảng cũng như của Thầy Quảng Độ, truy
cập được “queme” và “vietcatholic” cũng như “phattuvietnam” và
“giaodiemonline”, và dù không quan tâm lắm nhưng không biết sao mà vẫn nhận
được cả những thông tin và bình luận “xúi nguyên dục bị” cho Phật giáo “đánh
nhau” từ các nguồn truyền thông Công giáo lẫn Tin Lành và các tổ chức chính
trị “chống Cọng” ở hải ngoại.
Và tôi bổng khám phá ra một chuyện tuy bên lề nhưng ai
cũng biết vô cùng quan trọng để cảnh giác chính mình: Đó là làm sao xử lý
được thông tin một cách chính xác và lương thiện trong thời đại bùng nổ
thông tin nầy. Điều nầy rất khó, đặc biệt cho người Việt Nam, vì ai cũng
tưởng là … dễ ợt ! Điều nầy cũng rất khó, đặc biệt cho người Mỹ, vì người Mỹ
nào cũng biết là … khó lắm lắm ! Cho nên, về khả năng và trình độ tiêu hóa
dữ kiện thông tin, Mỹ và Mỹ gốc Việt thật không giống nhau chút nào:
Một trời một vực!
Trong cơn hỗn mang chữ nghĩa đó, thôi thì đành đọc bằng
kiến thức và thực chứng của chính mình vậy. Và vì là một Phật tử nên tôi
ráng tự mình thắp đuốc lên mà … đọc, nghĩa là truy tìm cho bằng được cái
tâm địa của chính người viết đàng sau những giòng chữ múa may trên giấy
trắng mực đen, để thông qua đó, biết được giá trị của chúng. Tôi dùng một
tiêu chuẩn: Mảnh tâm địa đó đang được vun xới hoa thơm hay đang gieo trồng
cỏ độc cho Dân tộc và Phật giáo Việt Nam ? Thử đọc một Trưởng tử Như Lai là
Thầy Kh. T. trong nước, hay một Cư sĩ hộ pháp là bác Ngô Tr. A. ngoài nước,
đọc những câu chữ chất ngất hận thù và vi phạm nặng nề giới thứ tư trong ngũ
giới của hai vị nầy, nhiều lần, rất nhiều lần, tôi rùng mình choáng
váng phải rời khỏi bàn viết, tự hỏi sao đạo Phật cao cả tuyệt vời của tôi
lại có thể sản sinh ra những “phó sản” phù thủy phi Pháp độc hại như thế ?
Như vậy, sau bao năm vào chùa như Thầy Kh. T. hay đọc thiên kinh vạn quyển
như bác cư sĩ Ngô Tr. A., liệu tôi có nguy cơ trở thành kẻ nô lệ hung hăng
của Tham Sân Si giống như hai vị nầy không ?
Thấy tôi lơ là chuyện Phật sự để “đùa” với lửa thế sự
nên chới với mất định hướng (và vì vậy bỏ bê chuyện … cơm nước !), nhà tôi
đề nghị một cái shock therapy theo kiểu Thiền sư Lâm Tế bên Nhật: Đại
lễ Vesak Liên Hiệp quốc năm 2008 này, ta lại về Hà Nội “xem” sao ? Nhà tôi
là người làm việc trong lãnh vực khoa học tự nhiên nên méo mó nghề nghiệp,
nhìn gì cũng trong một khung hệ thống thống nhất với những vận động có tính
quy luật, làm gì cũng theo một quy trình khoa học hợp lý, và chuyện gì cũng
chỉ chắc chắn đến 66.67% thôi để từ từ chờ phản biện. Anh thường mang cái
công thức Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc ra để “dọa” các
đồng nghiệp Mỹ trong công việc. Nhất là để “cãi nhau” với tôi ! Nhưng vì
biết anh thuộc loại sợ vợ thương con, nên khi nhà tôi đề nghị, tôi đồng ý
ngay. Vả lại, gần 10 năm rồi, tôi chỉ về Huế và Sài Gòn mà chưa trở lại Hà
Nội. Từ thuở mang gươm đi giữ nước, nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long
…
Trước đó, hộp thơ điện tử của tôi đã tràn ngập các
thông tin về ngày Đại lễ Phật đản Vesak 2008 nầy. Bên chống bên binh nghe
vui như pháo Tết, nhưng lại buồn da diết vì qua đó mà biết bây giờ Phật giáo
Việt Nam ở hải ngoại nát như tương, nát không hàn gắn được nữa, sau vụ cái
Giáo Chỉ số 9 gì đó. Giữa “thống nhất” với nhau mà không …thống nhất được
thì nói còn ai nghe nữa mà cứ bám chấp vào cái danh xưng rất vô duyên đó làm
gì ? Giữa Phật tử với nhau mà tranh dành xem ai “chống Cọng” nhất thì được
làm lãnh tụ, như vậy thì còn xưng Phật tử làm gì ? Chưa bao giờ tôi thấy
“Phật tử thống nhất” hận thù “Phật tử thống nhất” đến thế, cũng chưa bao giờ
tôi thấy công ty sản xuất mủ Vô Minh bán được nhiều … nón cối để chụp lên
những cái đầu không tóc đến thế !
Ngay trước ngày lên đường, tôi còn nhận được Thông điệp
Phật đản 2552 của Thầy Huyền Quang, trong đó có hai câu mà theo tôi, mô
Phật, rất … phi Pháp: Thứ nhất, “Chánh pháp không thể nở hoa nơi giang
sơn nô lệ, chúng sinh không thể an lạc nơi áp bức, đói nghèo”. Xin khấu
đầu thưa với Thầy là hình như nơi nào Chánh pháp cũng có khả năng nở hoa
được, nơi nào chúng sinh cũng có khả năng an lạc được. Nô lệ hay giải phóng,
đói nghèo hay giàu no không phải là điều kiện tiên quyết và duy nhất. Hơn
nữa, hình như ngược lại, càng trong bùn “áp bức, nô lệ, nghèo đói” thì hoa
sen Phật giáo càng ngạt ngào thêm. Đạo Phật là đạo cứu khổ mà, hoa sen chẳng
nở rộ trong biển lữa sao. Vậy thì xin thầy đừng đặt điều kiện “chính trị”
cho chánh pháp và cho chúng sinh !
Và thứ nhì là Phật tử bồi đắp tâm linh bao nhiêu cho
tiến trình giải thoát giác ngộ, thì càng bảo vệ lãnh thổ bấy nhiêu cho chủ
quyền của nòi giống tự do thoát ly nô lệ. Thầy nối hai chuyện “giác ngộ”
và “chủ quyền” để đá nhẹ nhà nước Việt Nam một phát làm gì Thầy ? Đây là
thông điệp Phật đản hay diễn văn chính trị xin Thầy đừng xảo ngôn nhập nhằng
với Phật tử. Và xin Thầy chỉ cho biết ở đâu trong rừng Tam tạng Kinh điển
của Phật giáo nói rằng “tiến trình giác ngộ” và “bảo vệ chủ quyền” có liên
hệ nhân quả đối đãi với nhau như thế?!
Là một nữ Phật tử mà tôi dám nặng lời với Thầy như vậy
vì tôi đoán 66.67% không phải Thầy viết thông điệp đó, nên tôi sẽ không
phạm một trong ngũ nghịch. Chắc con nội trùng nào đó ngồi bên Tây nóng ruột
chuyện Vesak Liên Hiệp quốc ở Hà Nội nên viết sảng một cách phi pháp và phi
logic như vậy rồi mạo danh ký đại tên Thầy thôi ! Thầy Huyền Quang mà ngày
xưa ba tôi quen biết và kính trọng đâu có … ẹ như vậy, đâu có vừa ấu trĩ văn
hóa vừa phỉ báng chánh pháp như thế.
Cho nên mặc những lời qua tiếng lại, nước cũ của tôi
thì tôi về, ngày sinh của Phật thì tôi vui. Bây giờ tôi đã là công dân Mỹ,
làm tròn hai trong ba nhiệm vụ cao cả nhất của một công dân là đóng thuế và
đi bầu cho nước nầy. Còn tương lai của gia đình chúng tôi thì chắc chắn là
tại Mỹ rồi. Nhưng Hà Nội trái tim của tổ quốc Việt Nam ơi, tôi lại về đây vì
về Việt Nam là về lại với cội nguồn. Mà trong cuộc hành trình về lại côi
nguồn đó có thêm niềm hoan ca đấng Từ phụ đản sinh thì còn gì thiêng liêng
và hạnh phúc bằng …cho nên hải ngoại lao xao ơi, kệ mi, ta lên đường đây.
Chiếc phi cơ A320 của chuyến bay Cathay Pacific CX791
chao nghiêng lần cuối, hạ dần cao độ, rồi đáp xuống đường băng 29L của phi
trường Nội Bài lúc 4 giờ chiều ngày thứ Hai, 12 tháng 5 năm 2008. Phi cảng
mới xây khá hiện đại, có 26 hãng hàng không đang hoạt động và trang bị để đủ
sức xử lý 10 triệu lượt hành khách mỗi năm. Lần nầy, có hai điều làm cho tôi
thoải mái: Nhân viên di trú và hải quan có vẽ chuyên nghiệp hơn, và phòng
lấy hành lý thì hoàn toàn không còn khói thuốc lá nữa. Một bất ngờ thú vị
khác sau chuyến bay dài: Ban tổ chức Đại lễ Vesak có hẳn một tiểu ban Tiếp
tân tại phi trường để đón tiếp và giúp đỡ khách về tham dự đại lễ . Các em
nữ nói tiếng Anh giọng khá chuẩn, vài em còn biết chắp tay A Di Đà Phật để
đáp lễ chúng tôi. Dễ thương nhất là khi các em cũng dùng bốn từ “A Di Đà
Phật” âm Việt đó để cung nghinh các … sư Mỹ rồi cùng phá lên cười với nhau
!.
Hà Nội mùa nầy đã bắt đầu nóng. Xe vượt sông Hồng, len
lỏi qua các phố sầm uất của làng giấy Thụy Khuê để vào nội thành là bắt đầu
đi vào một bức tranh với hai hình khối và sắc màu rõ rệt: Màu truyền thống
và màu hiện đại. Quyện vào nhau, có khi hài hòa thanh lịch, có khi đối chọi
nhếch nhác …Xe quá nhiều, đủ loại (kể cả SUV của Lexus). Phố quá chật, xây
đủ kiểu (kể cả kiến trúc chóp nhọn miền núi của Thụy sĩ), và tiếng ồn thì
khủng khiếp. May mà khách sạn nơi chúng tôi cư ngụ với các phái đoàn Phật tử
Mỹ có hai hàng cây xanh, lại khuất trong một con ngõ nên yên tỉnh.
Chỉ thoáng qua ngày đầu, tôi đã thấy Hà Nội thay đổi
hoàn toàn so với 10 năm trước đây. Quá trình hội nhập của xã hội và luật vô
thường của thiên nhiên cứ lừng lửng trôi … Chỉ tiếc cho một số bạn bè của
tôi ở hải ngoại vốn từng khắc khoải mơ về một Hà Nội trong sương khói của
thơ nhạc thời tiền chiến, thì sẽ không bao giờ còn được thấm đậm vào không
gian đó nữa, dù sau rặng liểu đong đưa vẫn còn Tháp Rùa soi bóng nước Hồ
Gươm.
Thủ tục và tiến trình đăng ký để lấy thẻ tham dự đại lễ
hơi luộm thuộm nhưng đến ngày cuối thì đâu cũng vào đó. Quản lý một hoạt
động phức tạp và ở tầm cỡ quốc tế như Đại lễ Vesak mà đầu não điều hành lại
là một “tam đầu chế” khác bản chất và chức năng (I.O.C Liên Hiệp quốc, Giáo
hội Phật giáo và Nhà nước Việt Nam) thì những bất cập và khiếm khuyết là
không thể tránh được. Mỹ gọi là quản lý hệ thống đa tầng và xuyên ngành
(multilayer & interdisciplinary system management) phải rất có bản lĩnh mới
thành công nên các nhà quản lý ai cũng … ngán. Cho nên thật tội nghiệp cho
Phật giáo Việt Nam của tôi: 2000 năm qua, kể cả dưới hai thời Lý Trần trọng
đạo, có bao giờ được đón tiếp và giao lưu với gần 1000 vị khách (vừa tăng
vừa tục) đến từ 75 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới cọng với gần 4000
pháp lữ đến từ gần 60 tỉnh thành trong nước đâu. Có bao giờ phải sắp đặt cho
6 vạn đồng bào vào tham quan 100 gian hàng văn hóa Phật giáo đâu. Có bao giờ
chỉ trong vòng hai tuần lễ phải dịch 92 bài tham luận viết bằng 5 thứ tiếng
cho 7 chủ đề đâu. Thật lạ, chỉ dưới chế độ Cọng sản “vô thần” mới xảy ra
những biến cố trọng đại to lớn nầy cho Phật giáo. Nhiều điều quá mới, quá
lạ, quá khó với Phật giáo Việt Nam … thế mà có lẽ nhờ Phật độ nên bốn ngày
đại lễ rồi cũng hoàn tất tốt đẹp. Tốt đẹp trên cả ba phương diện: Nội dung,
trình hiện và tác động đúng hướng và bền vững.
Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình với thiết kế mang
chủ đề “Lượn sóng Biển Đông” không lớn như tôi tưởng nhưng mang nét thanh
nhã và quy hoạch bên trong thì khá hợp lý. Dưới trần nhà cao rộng của phòng
hội chính là một tập hợp của nhiều kiểu dáng và màu sắc của nhiều loại tăng
bào khác nhau rất ấn tượng. Ba màu nâu, lam và vàng quen thuộc của quý Thầy
Cô ở Nhật, Hàn quốc, Trung quốc, Việt Nam làm nền cho nhiều mảng tăng bào ba
vạt màu huyết dụ hoặc nâu đỏ của quý Thầy ở Bhutan, Tây Tạng, Mông Cổ, Tích
Lan, Bangladesh tạo thành một điệu luân vũ sống động và hiện đại. Cũng nhờ
dịp nầy, trong cái rừng người xao động của 4 ngày đại lễ, tôi gặp lại được
một số bạn củ ở Việt Nam bây giờ có đứa tóc đã muối tiêu nhưng có vẽ như ai
cũng an lạc trong chiếc áo lam dung dị hiền lành. Trong hương vị tinh khiết
của mấy bửa cơm chay Âu Lạc thơm ngon, chúng tôi hồi tưởng lại thưở áo trắng
trường nữ Gia Long ngày xưa …có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.
Trong suốt 4 ngày của đại lễ, ngoài việc đi thu gom tài
liệu và bỏ “mặc xác chồng” để loanh quanh tìm kiếm người quen, tôi đặc biệt
theo dõi hai buổi lễ khai mạc và bế mạc. Ai dàn dựng các tiết mục và phần
trang hoàng mà thật ý nghĩa: vừa mang chiều kích quốc tế nhưng vẫn giữ được
nét bản sắc riêng của Việt Nam, vừa có nội dung thế sự ta bà mà vẫn mang dấu
ấn tâm linh Phật giáo. Bên nhà, báo chí dùng tĩnh từ “hoành tráng”
(mà tôi không hiểu là gì nên không biết dịch thành tiếng Mỹ ra sao.
Splendid ?) xem có vẽ rất đúng về mặt tượng thanh và tượng hình để chỉ
hai buổi lễ quan trọng nầy.
Mỗi tối về khách sạn, nhiều khi về rất khuya vì còn
“bận” ngồi cà phê ở Bờ Hồ hàn huyên với bạn bè, chúng tôi lại để ra mươi
phút đọc email và truy cập vào hai trang nhà
https://www.phattuvietnam.net/ và
https://www.thuvienhoasen.org/ để biết
gần đầy đủ tin tức và hình ảnh sinh hoạt chào mừng Đại lễ Phật đản LHQ 2008
trên cả nước, kể cả sinh hoạt ở các tỉnh xa như Bình Dương, Đà Lạt, Đà Nẵng,
Hạ Long, Hà Tỉnh, Hải Phòng, Huế , KonTum, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Nha Trang,
Ninh Bình, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Rạch Giá , Sài Gòn,
Tây Ninh, Vũng Tàu, … nên xin các bạn đọc vào đấy cho biết, tôi khỏi phải
thêm vào đây làm chi cho dài. Còn ai muốn biết thông tin một cách chính
thống hơn thì xin vào webpage của Ủy ban Tổ chức Quốc tế IOC,
https://www.vesakday2008.com/index.html , tài liệu vừa bằng tiếng Anh vừa
bằng tiếng Việt rất đầy đủ.
Bốn ngày Đại lễ chứa đầy sinh hoạt tâm linh và văn hóa.
Đi đâu cũng gặp Phật, nhìn đâu cũng thấy Phật. Phật trẻ, Phật già. Phật nói
tiếng Tây, Phật nói tiếng Ta … thật là đại sự nhân duyên. Thế mà tôi sắp rời
Hà Nội, rời Việt Nam, rời tất cả để trở về chốn ta bà lắm bụi hồng. Lần nầy
đi ngắn ngày vì mùa thi ở Mỹ sắp đến, khuôn viên đại học sẽ lao xao tiếng
khóc giọng cười …
Đêm cuối, trong ánh sáng lung linh của 2 vạn ngọn nến
sắp thành hình chử Vạn, tôi tình cờ gặp lại Thầy B.N. của chuyến về Hà Nội
năm 2000. Bây giờ, Thầy đã chuyển về dạy ở Học viện Phật giáo Hà Nội tại Sóc
Sơn, cách Hà Nội hơn 30 cây số. Trông Thầy có già đi nhưng mối quan tâm của
Thầy thì không thay đổi: Tứ chúng có tinh tấn tu hành hay không ? Thân khẩu
ý có thanh tịnh trong chánh pháp hay không ?
Giã từ Thầy trên bậc thềm của Hội trường Mỹ Đình, tôi
không nhắc lại câu hỏi tôi nợ Thầy năm xưa về 10 đại nguyện trong Sám Phổ
Hiền và tình trạng “đàn áp Phật giáo” tại Việt Nam. Nhưng về đến Mỹ, khi
những xúc động của những ngày lễ hội tuyệt vời đã lắng xuống, tôi chia sẻ
với nhà tôi vài ý nghĩ về hiệu ứng của cái shock therapy:
Tôi không nghĩ rằng tại Việt Nam có tình trạng Phật
giáo bị khống chế, Phật tử bị đàn áp, dù thực tế là ở vài địa phương, có một
số cán bộ chính quyền đã tìm cách can thiệp, nhiều khi thô bạo, vào sinh
hoạt Phật sự. Tuy nhiên, đó là những can thiệp vì tham nhũng, vì bè phái, vì
tư lợi, vì ngu dốt và có thể vì hàng chục lý do khác nữa như vẫn xảy ra ở
những quốc gia khác, nhưng dứt khoát không phải vì muốn cấm đoán quyền tự do
tín ngưỡng của Phật giáo đồ. Vả lại, và theo tôi đây mới là điều quan trọng,
tình trạng đó chỉ là biệt lệ, và càng lúc càng ít xảy ra theo đà lớn
mạnh của Giáo hội PGVN và những tiến bộ trong quá trình cải cách hành chánh
của bộ máy chính quyền. Đó là xu thế không cưỡng chống được, đó là thực tế ở
Việt Nam.
Vài bạn bè của tôi có lẽ sẽ không đồng ý với nhận định
nầy và nêu trường hợp của giáo hội “thống nhất” bị kiểm soát và bị truy bức.
Làm sao ở hải ngoại mà tôi lại không biết đến giáo hội ồn ào nầy nhưng tôi
đã cố tình không lý đến vì hai lý do: Thứ nhất, với khoảng 20 chùa và 80 tu
sĩ (trên 15,000 tự viện và 50,000 Thầy Cô toàn quốc) giáo hội “thống nhất”
nầy không đại diện, không tác động, không tham dự đáng kể vào đời sống tu
học của hơn 10 triệu tín đồ của Phật giáo Việt Nam trong nước, cho nên họ
không nằm trong boundaries nhận định của tôi. Thứ nhì, giáo hội
“thống nhất” nầy không phải là một tổ chức thuần túy Phật giáo, trụ sở đầu
não của họ nằm ở Paris dù lưỡng viện gì đó của họ nằm ở trong nước, họ nhập
nhằng giữa tôn giáo và chính trị với những chủ trương, mục tiêu, hoạt động
chính trị rất công khai và cụ thể (nhất là ở nước ngoài), cho nên với một số
người, cho một số chuyện, họ có thể đáng kể về mặt chính trị nhưng, với tôi,
tuyệt nhiên không đáng kể về mặt tôn giáo, do đó không nằm trong
boundaries nhận định của tôi.
Ngoài ra, khi nhìn lại nguồn gốc hành chánh của giáo
hội “thống nhất” nầy, tôi chợt nhớ cách đây 45 năm, khi chính quyền Ngô Đình
Diệm đàn áp Phật giáo thì ai trên thế giới là người đầu tiên rồi sau đó bền
bỉ lên tiếng tố cáo chính quyền Diệm để bảo vệ cho Phật giáo Việt Nam ? [và
trong khung cảnh đó khai sinh ra giáo hội “thống nhất” vào năm 1964] Câu trả
lời là Phật tử, Tăng già và chính quyền của các quốc gia Phật giáo
như Cambốt, Lào, Thái Lan, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn quốc, Tích Lan, Ấn Độ …
Sau đó mới đến các quốc gia Tây phương và Liên Hiệp quốc. Còn bây giờ, cũng
chính Phật tử, Tăng già và chính quyền của các quốc gia Phật giáo đó lại
đông đảo và nhiệt tình đến tham dự Đại lễ Vesak 2008 do Liên Hiệp quốc ủy
thác cho Việt Nam tổ chức. Như vậy thì làm sao bảo chính quyền Việt Nam đàn
áp Phật giáo được ? Trừ ra 500 phái đoàn của 75 quốc gia và vùng lãnh thổ, 4
tổ chức Phật giáo quốc tế đều bị mù hết, đều bị Cọng sản lừa hết, chỉ có mấy
ông bà dân biểu Mỹ đi kiếm phiếu của dân Mỹ gốc Việt và Phật tử ngồi ở
“Bolsa xóm đạo” là sáng mà thôi !
Nhờ chuyến đi Hà Nội nầy mà khi về đến Mỹ, tôi đã có
thể trả lời cho Thầy B.N. được rồi: Trên ba miền đất nước ta, ai là Phật tử
thì cũng có quyền trì chú Mười Đại nguyện của Sám Phổ Hiền cả. Ở nhà,
trong chùa. Hôm nay, ngày mai.
Câu trả lời đó, riêng đối với tôi, là một khẳng định
cho tôi tin vào sức mạnh và tương lai của Phật giáo Việt Nam, của dân tộc
Việt Nam.
Nguyễn thị K.H.
5/21/2008
|