|
Gia tộc Trần Văn Đôn là đại điền chủ ở Nam
Bộ. Cha của ông ta sang Pháp học y khoa và Trần Văn Đôn đã được
sinh ra tại Cauderan, Bordeaux ngày 19/8/1917.
Trong gia tộc mang quốc tịch và thấm nhuần sâu
sắc tư tưởng thờ Pháp này, Trần Văn Đôn là người con út. Lớn lên,
ông ta được gia đình cho sang Pháp để du học.
Năm 1939, Trần Văn Đôn tốt nghiệp Trường Thương
mại cao cấp Hautes Etudes Commerciales (HEC) ở Paris. Tiếp đó, ông
ta gia nhập quân đội Pháp khi chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu
và theo học Trường Quân sự đặc biệt Saint Cyr (École spéciale
militaire de Saint-Cyr). Rồi Trần Văn Đôn trở lại Việt Nam, cầm súng
cho Pháp chống lại cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân
ta. Ông ta từng là sĩ quan tình báo.
Tới năm 1955, Trần Văn Đôn đã đeo quân hàm đại
tá. Cùng với Dương Văn Minh (lúc đó cũng mới là đại tá), Trần Văn
Đôn đã phò tá Ngô Đình Diệm trong những nỗ lực thâu tóm quyền lực ở
miền Nam với sự hậu thuẫn của Mỹ. Sau khi góp tay dẹp những lực
lượng chống đối Ngô Đình Diệm, cả Trần Văn Đôn và Dương Văn Minh đã
được đeo quân hàm tướng của chế độ Sài Gòn.
Năm 1956, tướng Trần Văn Đôn còn được giao cho
chức Tổng Tham mưu trưởng của quân đội Sài Gòn. Để có thể ngồi trên
vị trí cũng vào loại chóp bu này, Trần Văn Đôn đã công khai bày trò
đốt quốc tịch Pháp của mình, không ngại mang tiếng ăn cháo đái bát.
Tổng thống Ngô Đình Diệm đã rất hài lòng với sự
trở cờ đó của Trần Văn Đôn. Tuy nhiên, cho tới cuối đời, Trần Văn
Đôn vẫn bị dư luận Sài Gòn coi là một anh Tây con, ăn chơi đàng
điếm. "Dấu ấn của quỷ" gắn lên trán ông ta từ thời trẻ đã không bao
giờ mờ phai.
Người đã một lần phản chủ thì rất có thể sẽ
phản chủ thêm nhiều lần khác nữa. Trần Văn Đôn chính là một
người như thế. Ông ta cùng với Dương Văn Minh và Tôn Thất Đính chính
là những nhân vật trụ cột trong âm mưu đảo chính năm 1963 hạ bệ Ngô
Đình Diệm với sự hậu thuẫn của các điệp viên CIA.
Cùng chung tay vào cuộc chính biến khá đẫm máu
này còn có những viên tướng Sài Gòn như Mai Hữu Xuân, Lê Kim Xuân
(người anh em đồng hao với Trần Văn Đôn) và cả Đỗ Mậu…
Tuy nhiên, khác với nhiều đồng sự từng cùng
dính líu với vụ đảo chính năm 1963 (họ thường là bị đẩy ra ngoài
cuộc rất nhanh chóng và phải tìm nơi dung thân ở hải ngoại), tướng
Trần Văn Đôn đã đổi màu như kỳ nhông rất kịp thời và không bao giờ
bị mất phần béo bở. Và ông ta đã trụ được trong bộ máy chính quyền
Sài Gòn cho tới khi chế độ này sụp đổ tháng 4/1975, khi ông ta buộc
phải vội vã bỏ tổ quốc cứu mạng sống cá nhân trên một chiếc trực
thăng của Mỹ. Trong nội các cuối cùng của chế độ Sài Gòn, Trần Văn
Đôn từng được giữ ghế Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng.
Dấu tích ô danh
Nguyễn Văn Ngân, phụ tá tin cẩn một thời của
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khi được yêu cầu nói lên sự đánh giá
của mình đối với các tướng lĩnh của chế độ Sài Gòn, đã chua chát và
gay gắt nói: "Hầu hết các tướng lĩnh đều thoát thai từ một môi
trường xấu, nguyên phục vụ trong những đội quân phụ thuộc của quân
đội viễn chinh Pháp, là những đội quân thiếu truyền thống. Họ không
có lý tưởng chính trị và cũng không có lương tâm trách nhiệm của một
người lính chuyên nghiệp.
Vì không thể tiến thân bằng con đường học vấn nên họ đã phải
vào quân đội để kiếm sống. Do sự bành trướng của quân đội nên họ
được thăng cấp rất nhanh nhưng thiếu kinh nghiệm chiến trường, không
biết hoặc không cần biết tới nghệ thuật lãnh đạo, chỉ huy. Đa số đều
tham nhũng, nuôi dưỡng tình trạng lính ma, lính kiểng, đã làm băng
hoại cả một quân đội...".
Trần Văn Đôn cũng là một trong những viên tướng như thế. Ông ta
từng chịu nhiều ân huệ của chế độ Ngô Đình Diệm. Khi tướng Lê Văn Tỵ
bị ung thư phổi phải sang Mỹ chữa trị, Trần Văn Đôn, lúc đó là Tư
lệnh Lục quân, đã được Ngô Đình Diệm cho giữ chức Quyền Tổng Tham
mưu trưởng thay ông này từ ngày 27/7/1963.
Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau đó, khi gió đã đổi chiều, ông ta
không ngại tham gia những hoạt động chống lại anh em Ngô Đình Diệm -
Ngô Đình Nhu, mặc dù trong thâm tâm, ông ta có thể chưa chắc đã muốn
cho hai người này phải chết bất đắc kỳ tử như đã xảy ra.
Vụ đảo chính bắt đầu từ ngày 1/11/1963. Vào lúc 13h30' ngày hôm
đó, một số sĩ quan cao cấp của chế độ Sài Gòn được mời tới tham dự
một cuộc họp tại một sở chỉ huy ở gần sân bay Tân Sơn Nhất. Tại đây,
tướng Trần Văn Đôn đã thông báo về việc cái gọi là Hội đồng cách
mạng quân sự đã lên nắm quyền.
Mọi thành viên tham gia cuộc họp đều tỏ ra phấn khởi, duy chỉ có
viên Đại tá Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng đặc biệt, người rất
thân cận và trung thành với gia tộc Ngô Đình và vì thế, đã bị đại sứ
Mỹ ở Sài Gòn lúc đó là Henry Cabot Lodge ra lệnh cho những viên
tướng lãnh đạo đảo chính cho tên vào danh sách cần bị thủ tiêu, đã
không đứng dậy vỗ tay hoan hô thông báo này. Lập tức đại tá Tung bị
bắt giữ và bị Nguyễn Văn Nhung (khi đó là đại úy) đưa sang một căn
phòng khác ở trong sở chỉ huy này,
Mặc dầu thất thế nhưng Tung vẫn hét to được một câu: "Hãy nhớ ai
đã gắn sao cho tụi bay!". Đêm hôm đó, Nguyễn Văn Nhung chở đại tá
Tung và người em của ông ta là Thiếu tá Lê Quang Triệu đến một nơi
bên ngoài doanh trại và bắn chết cả hai.
Sáng hôm sau, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu chạy thoát khỏi Dinh
Độc Lập qua một đường hầm bí mật và trốn ở một ngôi nhà tại Chợ Lớn.
Trần Văn Đôn bằng các mối quan hệ riêng đã liên lạc được với anh em
Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu, hứa sẽ bảo toàn mạng sống cho họ và để
họ đi ra nước ngoài một cách an toàn nếu họ thuận tình trao quyền
một cách yên ả cho những viên tướng làm đảo chính.
Tuy nhiên, mọi sự lại không diễn ra theo hướng này. Viên đại uý
Nguyễn Văn Nhung đã dẫn một toán sỹ quan cùng lính tráng đến nơi trú
ẩn của anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu tại Nhà thờ St. Francis
được xây thời Pháp và bắt giữ họ. Một đoàn xe gồm một xe bọc thép
M-113 và 4 chiếc xe Jeep cùng nhiều binh lính do tướng Mai Hữu Xuân
cầm đầu đã tức tốc tới nơi anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu đang
bị bắt giữ.
Đại uý Nguyễn Văn Nhung và Thiếu tá Dương Hữu Nghĩa ngồi chung
với anh em Ngô Đình Diệm trong chiếc xe bọc thép quay lại Sài Gòn.
Khi đoàn xe dừng lại tại một điểm giao cắt với đường sắt thì thấy,
anh em họ Ngô đã bị giết chết trước đó. Theo hồi ký của Trần Văn
Đôn, thì một cuộc điều tra do ông ta ra lệnh tiến hành đã xác định
rằng chính Dương Hữu Nghĩa đã bắn anh em họ Ngô bằng một phát đạn
súng bán tự động, còn Nguyễn Văn Nhung đã bắn hàng loạt đạn khắp
thân thể hai anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu. Nguyễn Văn Nhung
cũng là người đã đâm nhiều nhát dao vào thân thể hai anh em họ Ngô
(sau "chiến tích" này, Nguyễn Văn Nhung được thăng lên cấp thiếu tá
nhưng rồi y cũng bị thủ tiêu bởi một phát súng bắn vào sau gáy).
Theo lời Trần Văn Đôn kể lại sau này, ông ta cùng nhiều sỹ quan
khác đã kinh ngạc khi thấy xác hai anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình
Nhu tại sở chỉ huy của lực lượng đảo chính. Trần Văn Đôn tức tốc gặp
Dương Văn Minh trong văn phòng của ông này và to tiếng về cái chết
của hai anh em họ Ngô. Trong lúc họ đang cãi nhau, Mai Hữu Xuân đi
vào phòng, đứng nghiêm trước Dương Văn Minh và báo cáo: "Mission
accomplie" (nhiệm vụ đã hoàn thành)!
Tướng Trần Văn Đôn về sau đã tốn khá nhiều công sức để thanh minh
về trách nhiệm của ông ta đối với cái chết thê thảm của anh em họ
Ngô. Trần Văn Đôn cũng tiết lộ rằng CIA đã chi cho các viên tướng
chủ trì đảo chính 42 nghìn USD để họ hạ sát anh em Ngô Đình Diệm -
Ngô Đình Nhu.
Còn theo thông tin của ông Nguyễn Văn Ngân, trong cuộc đảo chính
tháng 11/1963, CIA cũng đã sử dụng Trần Văn Đôn, mặc dù không tin
con người tráo trở này chỉ vì lý do đơn giản là lúc đó, Trần Văn Đôn
đang giữ chức vụ quyền Tổng tham mưu trưởng thay tướng Lê Văn Tỵ
đang đi Mỹ trị ung thư (không có được sự đồng ý của nhân vật này khó
có thể điều hành được các đơn vị quân đội một cách suôn sẻ).
Và các quan thầy Mỹ cũng đã loại Trần Văn Đôn khỏi vị trí quan
trọng trên trong vụ chỉnh lý ngày 30/1/1964. Tuy nhiên, với sự khéo
léo của một kẻ hoạt đầu, sau đó Trần Văn Đôn đã lấy lòng được Nguyễn
Văn Thiệu và được viên Tổng thống này trọng dụng cho tới khi chính
ông ta cũng phải ê chề bỏ nước ra đi vì thất thế.
Sau này ở hải ngoại, trong các bài trả lời phỏng vấn với báo chí
và trong các tập hồi ký của mình, Trần Văn Đôn đã không tiếc lời phê
phán Nguyễn Văn Thiệu cũng như các chiến hữu cũ, đổ cho họ phần lớn
trách nhiệm về những chuyện xấu xa và đổ vỡ của chế độ Sài Gòn
|