 |
18 tháng 11, 2009
|
Lê Cung
[1]
Bài “Nguyễn Trường
Tộ và những điều trần của ông” của PGS. TS. Nguyễn Phan Quang
đăng trên Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 94, tháng 7& 8/2009 gợi
cho tôi nhiều ý tưởng. Bởi lẽ, từ trước tới nay Nguyễn Trường Tộ
được đánh giá như là một nhân vật có đầu óc canh tân nhằm cứu
nguy đất nước trước họa xâm lăng của thực dân Pháp. Gần đây có tác
giả còn nâng Nguyễn Trường Tộ thành một “nhà thiết kế vĩ đại của đất nước
ở thế kỷ XIX”. Điều này có nghĩa là chỗ đứng của Nguyễn Trường
Tộ trong lịch sử dường như đã được khẳng định.
Song điều làm chúng tôi
ngạc nhiên nhất là khi đọc bài: “Nguyễn Trường Tộ và những
điều trần của ông” của tác giả Nguyễn Phan Quang. Sau khi
tập trung phân tích chủ trương tạm hòa của Nguyễn Trường Tộ, ở
lời kết, tác giả viết: “Vậy thì nên chăng vấn đề Nguyễn Trường
Tộ với những điều trần của ông cần được giới nghiên cứu tiếp tục
tìm hiểu thêm – dù có phải tốn thêm nhiều thời gian và giấy mực”
[2].
Vậy tại sao “những
điều trần của ông (tức Nguyễn Trường Tộ – TG chú thích) cần
được giới nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu thêm – dù có phải tốn thêm
nhiều thời gian và giấy mực”. Lời kết này khiến chúng tôi
phải tìm đọc 58 bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đã gửi cho
triều đình Tự Đức, xem có gì mà “cần được giới nghiên cứu
tiếp tục tìm hiểu thêm – dù có phải tốn thêm nhiều thời gian và
giấy mực”. Trong giới hạn của bài viết này chúng tôi chỉ xin
nêu một số suy nghĩ của mình qua đọc bản điều trần thứ nhất của
Nguyễn Trường Tộ: “Thiên hạ đại thế luận” (Bàn về những việc
lớn trong thiên hạ) [3].
Và để những suy nghĩ của mình đảm bảo tính khách quan, trung thực
và thẳng thắn, chúng tôi dựa vào nguồn tư liệu từ công trình “Nguyễn
Trường Tộ con người và di thảo. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998”
của tác giả Trương Bá Cần.
Chúng ta đều biết, vấn đề
sôi động và bức xúc nhất ở nước ta khi Nguyễn Trường Tộ viết Thiên
hạ đại thế luận là vấn đề làm thế nào và bằng cách nào để giữ vững được
nền tự chủ của đất nước trước họa xâm lăng của thực dân Pháp. Lúc này triều
đình Huế đã ký hòa ước Nhâm Tuất (5-6-1862), ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã mất
vào tay Pháp, vua Tự Đức đang nóng lòng khôi phục chủ quyền ba tỉnh đã mất
và đã cử một phái đoàn sang Pháp xin chuộc lại vùng đất này; trong lúc đó
nhiều nhà yêu nước đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến, quyết sống chết với
quân xâm lược nhằm giành lại giang sơn đất nước, như Trương Định, Thủ khoa
Huân, Nguyễn Trung Trực, ... Sử sách dân tộc đã ghi công những bậc tiên
liệt này; ở khắp các địa phương Nam Bộ, nhân dân đã tôn vinh, bằng việc
xây dựng các tượng đài để tưởng nhớ sự nghiệp xã thân cứu nước của những
người con trung liệt.
“Góp sức” vào việc
giải quyết nỗi bức xúc lúc này của dân tộc, Nguyễn Trường Tộ viết bản điều
trần thứ nhất: Thiên hạ đại thế luận, gửi đến triều đình Tự
Đức với những đề nghị canh tân, cải cách. Trong Thiên hạ đại thế
luận, Nguyễn Trường Tộ viết: “Trộm nghĩ trong thiên hạ chỉ có chữ
‘thế’ mà thôi. Chữ ‘thế’ là nói bao gồm cả thiên thời nhân sự. Cho nên
người biết rõ ‘thế’ thì không trái trời, không mất thời, không hại người,
không hỏng việc” [4].
Thật là thú vị biết bao khi đọc những dòng này của Nguyễn Trường
Tộ, bởi người đọc đang mong chờ Nguyễn Trường Tộ đưa ra những kế sách
hữu hiệu nhằm giúp triều đình Tự Đức tạo được ‘thế’, để Việt Nam vươn
lên xoay chuyển tình thế, nhằm lật ngược thế cờ, lấy lại ba tỉnh miền
Đông Nam Kỳ đã mất hoặc ít nhất trước mắt Việt Nam không mất tiếp những
phần đất còn lại.
Nhưng người đọc đã nhanh
chóng bị thất vọng, khi Nguyễn Trường Tộ sử dụng một cách máy móc “học
thuyết ngũ hành” để đi đến kết luận việc Việt Nam mất nước như là một
điều hợp qui luật. Nguyễn Trường Tộ viết: “Hãy nói về
thiên đạo trước. Khí đất là từ Bắc đến Nam, vận trời từ Tây sang Đông, theo
Hà đồ thì thủy ở về phương Bắc, hỏa ở về phương Nam, kim ở về phương Tây,
mộc ở về phương Đông. Thủy thì diệt hỏa, kim diệt
mộc, ấy là lẽ tự nhiên của trời đất luôn luôn như vậy”
[5]. Không cần bàn luận thêm ở
đây, chúng ta cũng thừa hiểu Nguyễn Trường Tộ muốn nói đến ai diệt ai rồi.
Như để khẳng định cho lập
luận của mình, tiếp theo, Nguyễn Trường Tộ nêu một loạt các quốc gia, các
khu vực trên thế giới bị thực dân phương Tây xâm chiếm rồi đi đến kết
luận: “Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con
người đi qua, mặt trời mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu
đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào
trái với họ thì họa; ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực
giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ. Như thế, nếu đó
không phải là ý trời định, địa thế xoay vần,
thì sao không lấy số đông của bốn đại châu mà kháng cự lại người phường Tây?
Huống hồ người Việt ta là một nước nhỏ, tại sao lại
muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được”
[6].
Rõ ràng, theo Nguyễn
Trường Tộ, Việt Nam mất nước là trời định,
lấy lại nước, khôi phục độc lập cho dân tộc là
trái đạo trời. Nhiều tác giả viết bài ca
ngợi Nguyễn Trường Tộ là người thông làu Đông Tây kim cổ và ngay cả Nguyễn
Trường Tộ cũng cho mình như thế. Vậy tại sao Nguyễn Trường Tộ không hay
biết đến việc Nho giáo đề cập về thiên mệnh (mệnh trời). Thiên mệnh của Nho
giáo được luận giải một cách uyển chuyển đối với đời sống chính trị - xã
hội, bởi “tận nhân lực mới tri thiên mệnh”.
Nguyễn Trường Tộ trước lúc viết Thiên hạ đại thế luận đã
từng chu du châu Âu, sao lại không biết ở Thế kỷ Ánh sáng (thế kỷ
XVIII), Montesquieu đã khẳng định: “Xã hội loài người phát triển có quy
luật khách quan, không phải tùy theo ý muốn của Thượng đế”. Đây là một
trong những luận điểm mang tính cách mạng sâu sắc, góp phần hết sức quan
trọng trong việc xé bỏ “hào quang thần thánh” của giáo hội, cởi trói
nhân dân về mặt trí tuệ, làm tiền đề cho cuộc Cách mạng tư sản Pháp 1789 đi
đến thắng lợi triệt để.
Với lịch sử nước ta,
chắc hẳn Nguyễn Trường Tộ không thể nào không biết đến lời thơ vang lên
từ đền Trương tướng quân thời dân tộc ta kháng chiến chống Tống
thế kỷ XI:
“Nam quốc
sơn hà Nam đế cư.
Tiệt
nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng
hành khan thủ bại hư”.
“Định phận tại thiên thư”
là phải giữ được nước, chứ không như cách luận giải như Nguyễn
Trường Tộ rằng: “Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy
gộc, không thạo súng ống,phục binh cài bẫy, nhưng trận đồ như vậy
chỉ hợp cho những tình thế không cấp bách, chỉ đánh được gần chứ
không đánh được xa... Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn tới, thì
quân ta chưa giáp trận mà gươm dáo đã tan tành. Khi họ đến gần thì
dùng lưởi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên
như nước chảy xiết. Lúc dừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng
qua như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi ... Nay biết họ có thể tất
thắng, ta có cơ dễ thua, lại không biết phép ra quân của họ biến
hóa như thế nào mà đem quân nhút nhát của mình ra đánh lại quân vô
địch của họ thật chẳng khác nào như bắt muỗi đội núi, đem dê đấu
hổ ... Quân Pháp đánh thành không cần dùng những phương pháp bắc
thang, đường hầm, xe kiếm, bao đất, mà đại pháo bắn ra thì núi
lở, gò sập ..., trèo thành như lên đệm gối, sở dĩ lâu nay họ chưa
dùng đến là vì cắt cổ gà cần gì phải dùng dao mổ trâu ... ”
[7].
Trước Nguyễn Trường Tộ
không lâu, Nguyễn Du cũng đã khẳng định:
“Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.
Không lẽ một người với cái sở học Thông làu Đông Tây kim cổ như
Nguyễn Trường Tộ há lại không biết đến! Và cũng xin nói thêm là nếu lập
luận như Nguyễn Trường Tộ: “Huống hồ người Việt
ta là một nước nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên
hạ khó làm được” thì Việt Nam đã
bị xóa tên trên bản đồ thế giới ở thế kỷ XIII rồi
[8].
Để cho lập luận của
mình thuyết phục được triều đình Tự Đức, cũng trong “Thiên hạ
đại thế luận”, Nguyễn Trường Tộ viết tiếp: “Hoặc giả có người nói
đất đai tổ tiên để lại không được đưa gang tấc nào cho kẻ khác. Như vậy là
quá câu chấp mà để hỏng việc nước. Sao không xem xưa nay có ai chủ giang sơn
mãi đâu. Nhà Tấn bị Hồ gây loạn, Tống mất vào tay Nguyên, Minh mất vào tay
Thanh, họ này thay thế họ kia chẳng phải là do số trời sắp đặt đó sao?
Vả lại đất Quảng Nam xưa là đất cũ của Chiêm Thành,
Gia Định xưa là cố đô của Chân Lạp, đâu phải là đất cũ của bản triều? Ta
chiếm đoạt của người, thì cớ sao người lại không chiếm đoạt của ta?”
[9].
Người đọc không hiểu tại
sao Nguyễn Trường Tộ lại lờ đi truyền thống trân quý giang sơn, lãnh
thổ mà ông cha đã truyền lại cho muôn thế hệ, rằng: “Tấc đất, tấc vàng”.
Cuộc mở nước về phía Nam của dân tộc ta khởi đi từ thế kỷ XI với việc
sáp nhập ba châu Địa Lý, Bố Chính và Ma Linh; rồi Ô, Lý, đến Thăng, Hoa, Tư,
Nghĩa, sau hết là vùng đất Nam Bộ trù phú. Ông cha chúng ta đã đổ biết bao
nhiêu mồ hôi, nước mắt, có khi cả máu xương, đổi cả phận liễu yếu, đào tơ để
có được một giang sơn hình chữ S diệu kỳ. Vậy mà Nguyễn Trường Tộ lại cổ
xúy cho lập luận “Ta chiếm đoạt của người, thì
cớ sao người lại không chiếm đoạt của ta?”.
Vấn đề đã rõ như ban
ngày, như hai với hai là bốn,
không phải cần đến trí tuệ ở chốn cửu trùng, mà ngay trí tuệ ở chốn
thôn dã cũng nắm bắt được đúng sai ở đâu về cách lập luận của
Nguyễn Trường Tộ như đã nêu, nhưng thật vô cùng ngạc nhiên, khi
chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu công sức và giấy mực để nghiên cứu,
luận bàn về những điều trần của Nguyễn Trường Tộ, nhưng cách lập
luận trên đây của ông chưa thấy một ai bình phẩm, đánh giá.
Để kết thúc cho đoản
văn này, chúng tôi xin dẫn một đoạn trong bài viết:“Lịch sử, sự
thật và sử học” của GS. Hà Văn Tấn để chúng ta cùng suy ngẫm:
“Từ khi chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử mácxít
ra đời, khám phá ra cơ chế của sự phát triển xã hội, các nhà
sử học được cung cấp một mô hình giải thích lịch sử có tính
chất thể-năng động, kết hợp cả hai mặt cấu trúc và biến đổi. Sử
học vươn tới phát hiện qui luật và, nhờ đó, sử học không những
nhận thức được quá khứ mà còn chuẩn bị cho những khả năng dự
báo. Nhưng sử học muốn thực hiện những chức năng đó, khảo sát con
đường đã qua và góp phần nhận thức con đường sắp tới, một điều
kiện cơ bản là phải biết sự thật và nói lên sự thật.
Nhưng biết sự thật
không dễ, và nói lên sự thật nhiều khi càng khó hơn. Với ý của
Yết Hề Tư [10] mà Lê
Quý Đôn đã dẫn, nhưng nói theo ngôn ngữ hiện đại thì như thế này:
Muốn viết sử, phải biết phương pháp sử học, và trước hết, phải
là người trung thực chứ không phải tên cơ hội ”
[11].
[1] PGS.TS. Sử học, Trường Đại học Sư
phạm Huế.
[2]. Nguyễn Phan Quang. Nguyễn
Trường Tộ và những điều trần của ông. Tạp chí Huế Xưa và Nayy,
số 94, tháng 7& 8/2009, tr. 21.
[3]. Nguyễn Trường Tộ viết “Thiên
hạ đại thế luận” vào tháng 2-3, Tự Đức năm thứ 16, tức tháng 3-4 năm
1863.
[4]. Trương Bá Cần. Nguyễn Trường Tộ
con người và di thảo. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 107.
[5]. Như chú thích 1.
[6]. Trương Bá Cần, Sđd., tr. 107.
[7].
Trương Bá Cần. Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo. Nxb TP. Hồ
Chí Minh, 1998, tr. 109.
[8]. Ở thế kỷ XIII, đế chế Mông –
Nguyên đã thôn tính hoặc đánh bại nhiều nước ở hai lục địa Âu - Á, kể cả
những nước lớn như Trung Quốc, Nga, ... ;nhưng ba lần đế chế này xâm lăng
Đại Việt, thì cả ba lần chúng đã đều bị đại bại trước tinh thần kháng chiến
mãnh liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của các vị vua Trần anh minh.
[9]. Trương Bá Cần, Sđd., tr. 111.
[10]. Khi đề cập đến tư cách của
người viết sử, Yết Hề Tư đời Nguyên viết:
“Việc soạn sử phải lấy việc
dùng người làm gốc. Người có văn học mà không biết cách chép sử
thì không thể cho vào sử quán. Người có văn học lại kiêm biết
soạn sử, nhưng bụng dạ bất chính cũng không được dự”
(Hà Văn Tấn.
Lịch sử, sự thật và sử học. Tạp chí Xưa & Nay, số 332,
Tháng 5, 2009, tr. 17)
[11]. Hà Văn Tấn. Lịch sử, sự
thật và sử học. Tạp chí Xưa & Nay, số 332, Tháng 5, 2009, tr. 17.
Lê Cung
[Source: Kiến Thức Ngày
Nay - 11/2009]