 |
03 tháng 9, 2009
|
Từ năm 1948, thực dân Pháp bị quân kháng chiến Việt Nam đánh trả rất
ác liệt trên khắp các mặt trận khiến cho chúng lâm vào tình trạng lúng
túng và lo sợ. Các giáo dân hoang mang chỉ sợ Pháp thua bỏ chạy thì họ
sẽ bị bỏ lại và lâm vào tình trạng nguy hiểm vì sẽ bị “Việt Minh trả
thù” !
Vào cuối năm 1951, tình trạng Công Giáo Việt Nam thật bi đát vì “sự
hỗn loạn xao xuyến đang đè nặng trên tâm hồn giáo dân” nên các giám mục
(9 Pháp, 5 Việt) thuộc các hội Truyền Giáo tại Việt Nam, đã họp tại Hà
Nội để soạn thảo và công bố Thư Chung của các Giám Mục họp tại Hà Nội
ngày 9-11-1951 (bản chánh bằng tiếng Pháp).
Phân tích bức thư chung này, chúng ta sẽ thấy các giám mục đã đưa ra
những đón tâm lý chiến rất thâm hiểm. Họ thừa biết cuộc tái chiếm thuộc
địa của thực dân Pháp là không có chính nghĩa, nên sẽ bị mọi người Việt
Nam yêu nước, dù là Cộng Sản hay không Cộng Sản, chống trả mãnh liệt. Do
đó, họ khôn khéo lái “tình yêu Tổ Quốc” theo một hướng khác. Các giám
mục lý luận: “Ý niệm Ki Tô Giáo về Tổ Quốc không loại trừ những quốc gia
khác mà chúng ta cũng phải yêu mến bởi vì tất cả chúng ta đều là con của
cùng một Chúa. (La notion chrétienne de Patrie n’exclut pas les autres
nations que nous devons aimer aussi par ce que nous sommes tous fils du
même Dieu). Điều này có nghĩa rằng: “các giáo dân Việt Nam cũng phải yêu
nước Pháp và người Pháp vì họ và ta đều là con một Chúa !”
Đa số các giáo dân quê mùa đã nghe theo những lời nói trên của các
giám mục, vì là “những anh em con cùng một Chúa” (fils du même Dieu) .
Mỗi khi bọn lính Pháp bị tử trận, các xác chết được họ coi bọn giặc Pháp
đồng đạo đưa vào nhà thờ để cho cha xứ “làm phép xác” và làm lễ cầu hồn
cho chúng. Mấy bà già thấy bọn lính Pháp chết đã tỏ ra thương xót, có
người còn lấy tràng hạt của họ đeo vào cổ xác lính tây.
Trái lại, sau mỗi lần hành quân tại mấy làng lân cận, bọn lính tự vệ
Công giáo bắt những người lương mà chúng nghi là “Việt Minh”. Bọn chúng
trói những ngưòi đó và giải lên đồn Tây. Khi tiếp nhận những người này,
bọn lính Pháp có thói quen dùng báng súng đập thằng vào ngực vào mặt các
nạn nhân khiến cho họ vung máu tung tóe. Bọn lính tự vệ Công giáo không
hề cảm thấy thương xót đồng bào mình, trái lại dù cho chúng bắn giết họ
chăng nữa, chúng cũng không hề hối hận, vì chúng đã nghe theo bọn giám
mục coi những người kháng chiến là “Cộng Sản vô thần”, là “con cái ma
qủi” hoặc “kẻ thù của Thiên Chúa” (des enemis de Dieu). Giết “Cộng Sản
Vô Thần”, cũng như giết “con cái ma qủi” hoặc “kẻ thù của Thiên Chúa”
chẳng khác nào giết một con rắn độc, chẳng những không có tội mà còn có
công trước mặt Chúa và giáo hội nữa ! Do đó, bọn vệ sĩ Công giáo tha hồ
giết người và gây tội ác mà không phải ăn năn hối hận gì cả !
Bọn giám mục không có một lý luận chính đáng nào để có thể biện minh
cho sự có mặt của những đoàn quân viễn chinh Pháp tại Việt Nam. Bọn Pháp
trở lại Việt Nam chỉ có một mục tiêu duy nhất là tái chiếm thuộc địa
Đông Dương mà chúng đã bị mất sau 1945. Trong thư chung ngày 9-11-51,
các giám mục không hề đả động tới vấn đề xung đột Pháp-Việt mà chỉ đề
cập đến vấn đề xung đột giữa giáo hội Công giáo và Cộng Sản: giáo hoàng
Pio XII đã tuyên bố: Không một ai có thể cùng một lúc vừa là Công giáo
vừa là Cộng sản. Người Công giáo gia nhập đảng Cộng Sản là phản bội giáo
hội. Các giáo dân đều bị cấm không được theo Cộng Sản, và không được làm
bất cứ điều gì có thể giúp Cộng sản lên nắm chính quyền...
Bọn giám mục nói quá nhiều về Cộng Sản làm cho giáo dân Việt Nam quên
mất hành động quân Pháp trở lại xâm lăng Việt Nam và do đó họ quên mất
nghĩa vụ của người công dân là kháng chiến chống Pháp để cứu nước !
Cuối cùng, các giám mục hô hào giáo dân hãy “kháng chiến” , nhưng
không phải là kháng chiến chống Pháp mà là “kháng chiến chống Cộng Sản”
và “trung thành với Chúa” (Alors résistez, très cher frères, soyez
fidèles à notre Dieu).
Thư chung của các giám mục viết tại Hà Nội ngày 9-11-1951 (nguyên văn
bằng tiếng Pháp) được tất cả các linh mục thuộc các giáo xứ trên toàn
quốc Việt Nam đọc tại nhà thờ và được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong
các bài giảng để phổ biến đến toàn thể giáo dân Việt Nam. Đây chỉ là một
trong nhiều bằng chứng cụ thể vể hoạt động chiến tranh tâm lý của hàng
ngũ giám mục Việt cũng như Pháp.
Cũng xin nói ở đây là “Hội Đồng Giám Mục Việt Nam” (HĐGMVN) hiện nay
đã được thành lập do sắc chỉ ngày 24-11-1960 của giáo hoàng Gioan XXIII.
Thư chung ngày 9-11-1951 nói trên đây không phải là sản phẩm của HĐGMVN
mà là của 14 giám mục (9 Pháp, 5 Việt) thuộc các Hội Truyền Giáo tại
Việt Nam. (Les ordinaires des Missions du Vietnam).
Mặc dù danh xưng có khác, nhưng bản chất đầu óc nô lệ và truyền thống
bán nước của bọn giám mục trẻ hiện nay so với bọn giám mục già xưa kia
(Nguyễn Bá Tòng, Ngô Đình Thục, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Hoàng Văn
Đoàn, Trịnh Như Khuê) chắc chắn chẳng có gì khác nhau. Muốn vô hiệu hóa
sự tác hại của đạo quân thứ năm Công giáo, tôi thiết nghĩ việc tiên
quyết là phải giải tán HĐGMVN. HĐGMVN là cơ quan chỉ huy tối cao của
giáo hội Công giáo Việt Nam (chiếm 7 – 8% dân số) . Chính quyền cần phải
chú ý theo dõi nội dung các Thư Luân Lưu hoặc Thông Cáo của HĐGM, bởi vì
các thư này thường có tác dụng rất lớn về tâm lý đối với toàn khối 7
triệu giáo dân, và do đó sẽ có tác dụng đối với vận mệnh của Tổ Quốc.
Charlie Nguyễn 5/2004
Dưới đây là nguyên bản Thư Chung bằng tiếng Pháp và bản dịch Việt ngữ
của Giuse Phạm Hữu Tạo :
Lettre Commune Des Ordinaires Réunis A Hanoi (texte original en
francais) 9 novembre 1951
Nos bien chèrs frères,
Les ordinaires des Missions du Vietnam réunis à Hanoi sous la
présidence de son Excellence Monseîgneur le Délégué apostolique, ont
jugé qu'il est de leur devoir de coordonner leurs efforts en vue de
coopérer plus efficatement à l'oeuvre de pacification des coeurs et
restauration chrétienne qui s'impose à l'heure actuelle.
Les Êvêques du Viêtnam, émus de la confusion qui règne dans les
esprits, croient de leur devoir de préciser la notion de la Patrie. Le
Patriotisme, c'est l'amour de la Patrie, et la Patrie étymologiquement,
c'est la terre des ancêtres. La Patrie, c'est donc une extension de la
famille, l'une comme l'autre se rattachent à la vertu de piété, et par
conséquent nous ne pouvons que l'encourager et le développer au même
titre que les autres vertus chrétiennes. La notion chrétienne de Patrie
n'exclut pas les autres nations que nous devons aimer aussi parce que
nous sommes tous fils du même Dieu.
Animé par le sentiment de notre grave responsabilité devant Dieu et
d'une grande affection pour vous tous, nos très chers frères, nous
estimons qu'il est de notre devoir de vous mettre en garde contre le
très grand danger du communisme athée, qui est le plus grand danger
existant de nos jours. Le communisme est la négation de Dieu, la
négation de toute religion, la négation de l'existence d'une âme
immortelle, la négation des droits de la personne humaine et de la
famille. Il y a la plus entière opposition entre l’Église Catholique et
le communisme à tel point que notre Saint Père le pape a déclaré qu'il
est absolument impossible d'être à la fois communiste et catholique et
que tout catholique qui adhère au parti communiste est par le fait même
séparé de L’Église. Non seulement, il vous est interdit d'adhérer au
Parti Communiste, mais vous ne pouvez pas coopérer avec lui ou faire
quoi que ce soit qui puisse de quelque facon amener le Parti Communiste
au pouvoir.
Le danger est si grave et les conséquences possibles si terribles que
nous nous sentons obligés de vous mettre en garde aussi contre les
détours et les ruses employés par les communistes pour tromper le
peuple, ruses qui ne servent que les seules fins des communistes.
En premier lieu, ils font preuve d'un grand zèle pour les réformes
sociales et mettent en avant leur doctrine comme un remède aux maux
sociaux de nos jours. Ils se cachent aussi sous le masque du patriotisme
et cherchent par leur prétendu zèle pour le bien être de leurs
compatriotes à rallier le peuple sous leur bannière. Mais ce ne sont là
que des moyens pour atteindre leurs fins inavoués et une fois au
pouvoir, ils installent une dictature impitoyable. Ce ne sont plus les
intérêts des pauvres et des ouvriers, ni les intérêts de la Patrie qui
comptent, ce sont uniquement les intérêts du communisme. Ainsi dans les
pays sous le joug communiste, règnent la suppression de tout les biens
et la persécution des milliers de nos frères catholiques, ces derniers
vivent dans la terreur, ils dépérissent en prison, payant même de leur
sang leur fidélité à la foi.
Alors résistez, très chers frères, ne vous laissez pas tromper, soyez
fidèles à notre Dieu. Veuillez, soyez vigilants, restez ferme dans la
foi.
Et vous, chers prêtres, enseignez la doctrine sociale de l'Église,
instruisez les peuples des vertus chrétiennes de charité et de justice.
Prêtres et fidèles, vivez intensément votre vie chrétienne selon les
maximes de L'Évangile. La charité des premiers chrétiens a amené la
conversion du monde: la charité, c'est à dire supporter son prochain,
lui pardonner, lui vouloir et réellement lui faire du bien. L'amour du
Christ a vaincu la haine, votre charité vaincra la haine des enemis de
Dieu. Que voire voie soit toujours un témoignage pour Dieu, le Christ et
l’Église.
Pour conclure, nous vous répétons encore avec saint Paul: “Veillez,
restez ferme dans la foi, soyez vigilants, soyez forts, tout ce que vous
faites, faites-le dans la charité” (I Cor. XVI, 13-14).
Nous demandons à nos prêtres de lire la présente lettre dans les
Églises et leurs Oratoires. A tous, prêtres et fidèles, nous donnons de
tout coeur notre bénédiction paternelle. Grace et paix vous soit données
de la part de Dieu, notre Père, et du Signeur Jésus Christ.
Hanoi, le 9 novembre 1951
- John Dooley, Délégué apostolique en Indochine. - Jean Baptiste
Chaballier, Vicaire apostolique de Phnom-Penh. - Pierre Ngô Đình Thục,
Vicaire apostolique de Vĩnh Long. - Jean Cassaigne (Sanh) - de Saigon. -
Marcel Piquet (Lợi) - de Qui Nhơn. - Jean Marie Maze (Kim) - de Hưng
Hóa. - Anselme Tadée Lê Hữu Từ - de Phát Diêm. - Jean Baptiste Urritia -
de Huế. - Pierre Marie Phạm Ngọc Chi - de Bùi Chu. - Domonique Hoàng Văn
Đoàn - de Bắc Ninh. - Joseph Maide Trịnh Như Khuê - de Hanoi. - Fr.
Félice Pérez (Hiên) - Provicaire apostolique de Haiphong. - Bernard
Illomera (Yên) - Provocaim apostoloque de Thái Bình. - Paul Renaud (Ái)
- Provicaire apostolique de Kontum.
Thư Chung Của Các Giám Mục Công Giáo La Mã Họp tại Hà Nội ngày 9
tháng 11 năm 1951 (bản dịch của Giuse Phạm Hữu Tạo)
Anh em thân mến,
Chúng tôi, những giám mục của Hội Truyền Giáo tại Việt Nam họp tại
Hanoi, dưới quyền chủ tọa của Đức Ông Khâm Mạng Tòa Thánh, đã thấy bổn
phận của chúng tôi là phải kết hợp những nỗ lực để công tác hữu hiệu
trong sự mưu tìm an bình cho lòng người và phục hoạt đạo Chúa hiện nay.
Là những giám mục tại Việt Nam, xao xuyến trước sự hỗn loạn đang đè
nặng trên tâm hồn giáo dân, nghĩ rằng bổn phận của chúng tôi là phải xác
định rõ ràng ý niệm Tổ Quốc! Ái quốc là tình yêu dành cho Tổ quốc, tổ
quốc theo ngữ học là mảnh đất của tổ tiên. Vì vậy, tổ quốc chính là sự
nối tiếp của gia đình, cả hai ràng buộc với nhau trong sự sùng kính, nên
chúng tôi phải khuyến khích sự phát triển ngang nhau với những lẽ đạo
khác. Ý niệm của đạo về Tổ Quốc không hề bỏ ra ngoài các quốc gia khác
mà chúng ta phải yêu mến vì thất cả chúng ta đều là con cái Chúa!
Tác động bởi trách nhiệm nặng nề của chúng tôi trước Chúa và với một
tình yêu lớn dành cho anh em, chúng tôi thấy cần phải nhắc nhở các anh
em hãy cảnh giác trước hiểm họa Cộng sản vô thần là một hiểm họa lớn
nhất trong thời đại chúng ta, Cộng sản chối bỏ Chúa, chối bỏ tín ngưỡng,
chối bỏ linh hồn bất diệt, chối bỏ nhân quyền và gia đình. Lại còn có sự
chống đối toàn diện ác liệt giữa Cộng sản và giáo hội, đến nỗi đức thánh
Cha đã phải tuyên bố quyết liệt rằng không thể nào có thể vừa là Công
giáo vừa là Cộng sản. Và người Công giáo khi gia nhập đảng Cộng sản,
bằng hành vi ấy đã xa lìa giáo hội. Không những anh em bị cấm không được
gia nhập đảng Cộng sản, mà anh em còn không được cộng tác để làm bất cứ
điều gì để có thể đưa đảng ấy lên cầm quyền. Hiểm họa quá lớn và những
hậu qủa rất ghê sợ, nên chúng tôi cũng buộc lòng phải cảnh giác anh em
trước những lèo lái hay xảo thuật Cộng sản đã dùng để lừa bịp dân chúng
chỉ nhằm chiếm đoạt được mục tiêu của họ.
Trước hết, họ đã chứng tỏ có nhiều nhiệt tình để cải cách xã hội và
đề ra lý thuyết như là phương thuốc chữa trị những tệ đoan xã hội. Họ
không che dấu mặt nạ yêu nước và cũng tìm cách đặt ra sự nhiệt tình làm
như lo cho hạnh phúc đồng bào để quy tụ dân chúng dưới mầu cờ của họ.
Nhưng đó chỉ là những phương tiện nhắm đạt tới những mục tiêu không
tưởng của họ và khi cầm quyền rồi, họ áp đặt một nền độc tài tàn nhẫn.
Không còn nữa những phúc lợi của người nghèo hay của giới công nhân lao
động, cũng chẳng còn quyền lợi gì của tổ quốc nữa, mà chỉ còn quyền lợi
của Cộng sản thôi. Bởi vậy, ngự trị trong các nước Cộng sản là sự tước
bỏ mọi phúc lợi và sự đàn áp hàng ngàn anh em Công giáo, những người này
phải sống trong sợ hãi, chết rũ trong tù ngục, phải đổ máu ra để bảo vệ
đức tin.
Vậy xin anh em hãy chống cự, đừng bị mắc lừa, hãy trung thành với
Chúa! Xin hãy thức tỉnh và sống mạnh bằng đức tin. Và qúy vị, những linh
mục, hãy giảng dậy học thuyết xã hội Công giáo, dậy cho giáo dân những
đức tính Công giáo về bác ái và công bình. Linh mục và giáo dân hãy sống
đạo theo đúng với những lời dậy trong Thánh kinh. Đức bác ái của những
người Công giáo đầu tiên là hoán cải thế giới. Đức bác ái là giúp đỡ
đồng loại, tha thứ cho họ và thực sự làm những điều tốt cho họ. Tình yêu
của đấng Ki-tô đã thắng hận thù, tình yêu của anh em cũng sẽ thắng kẻ
thù của Chúa. Ước gì con đường anh em đi là sự làm chứng cho Chúa, đấng
Cứu Thế và Giáo hội.
Để kết thúc, chúng tôi xin nhắc lại với anh em lời nói của thánh
Phao-lồ:”Xin hãy vững mạnh trong đức tin, hãy thức tỉnh và hãy mạnh dạn
trong mọi việc của anh em làm trong tình bác ái!”
Chúng tôi xin các linh mục đọc thư này trong các nhà thờ và nhắc nhở
trong bài giảng. Với các linh mục và các anh em, chúng tôi ban phép lành
thần phụ của chúng tôi. Xin Chúa Trời là Cha của chúng ta, và đấng KiTô
ban ơn sủng và sự bình an cho các anh em.
Hanoi, ngày 9-11-1951
ký tên : 14 giám mục (9 gốc Pháp, 5 gốc Việt)
Việt gian Phạm Ngọc Chi và các Bà sơ báo cáo tin tức cho Pháp