Tản Mạn Về Dân Chủ Nhân Quyền

& Vụ Án Cù Huy Hà Vũ

Trần Chung Ngọc

28 tháng 4, 2011

1  2  3

(tiếp theo)

III. Thái Độ Kiêu Căng Trịch Thượng Của Vài Tổ Chức Và Cá Nhân
 Khi Xía Vào Chuyện Nội Bộ Của Việt Nam
.

Không những chính quyền mà một số cá nhân trong chính quyền Mỹ cũng như một số tổ chức, đài truyền thông ngoại quốc cũng cứ hay xía vào những chuyện nội bộ của các quốc gia khác trong khi trên bình diện quốc tế họ không có một tư cách nào để nhúng mũi vào các quốc gia khác. Không hiểu họ lấy tư cách gì để đòi Việt Nam phải thế này, phải thế kia. Dư luận thế giới về những vi phạm nhân quyền của Mỹ trong nước cũng như ở ngoài nước tràn ngập trên sách vở và Internet, nhưng có vẻ như mấy cá nhân này không cần biết đến những sự kiện lịch sử này và cứ trơ trẽn xía vào những chuyện nhỏ nhặt trong nội bộ của Việt Nam, tin rằng vì Mỹ là siêu cường về vũ khí chiến tranh, do đó miệng lưỡi của cá nhân Thượng Nghị Sĩ cũng như Dân Biểu Mỹ là gang là thép, có quyền ra lệnh cho nước khác, cho nên muốn xía vào nước nào mà họ muốn ăn hiếp thì xía.Nhưng có Thượng Nghị Sĩ hay Dân Biểu nào dám đụng đến Nga, Trung Quốc, hay Saudi Arabia, đồng minh của Mỹ, hay Pakistan mà Mỹ cần sự cộng tác để săn lùng quân khủng bố?

Tôi là một công dân Mỹ gốc Việt, cho nên tôi cũng quan tâm ít nhiều đến Việt Nam, vì tôi chưa bỏ được cái gốc Việt Nam, ngày ngày soi gương vẫn thấy mình mũi tẹt, da vàng, và “Mít” đặc. Gần đây xẩy ra vụ án Cù Huy Hà Vũ. Tôi không ở Việt Nam, không dự phiên tòa xử Cù Huy Hà Vũ nên những thông tin về vụ này đều lấy trên Internet. Trước hết là bản tin trên:

https://vnexpress.net/gl/phap-luat/2011/04/ong-cu-huy-ha-vu-hau-toa-1/

Sáng nay TAND Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử ông Cù Huy Hà Vũ về tội tuyên truyền chống nhà nước. Với khung hình phạt bị truy tố, ông Vũ có thể bị kết án 3-12 năm.

Những vi phạm của ông Vũ theo xác định của Cơ quan ANĐT

Theo Trung tướng Hoàng Kông Tư, qua các chứng cứ, tài liệu thu thập được, Cơ quan ANĐT bước đầu xác định ông Cù Huy Hà Vũ có những hành vi vi phạm sau:

Thứ nhất, làm ra nhiều tài liệu có nội dung chống Nhà nước để tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, đòi lật đổ chế độ, thực hiện đa nguyên đa đảng, đi ngược lại với quyền lợi dân tộc, kêu gọi nước ngoài can thiệp.

Thứ hai, quan hệ với các đối tượng có tư tưởng chống đối Nhà nước trong nước, các thế lực chống Việt Nam ở nước ngoài, đã thực hiện hơn 20 cuộc trả lời phỏng vấn các đối tượng, đài báo của các đối tượng phản động chống Việt Nam ở nước ngoài với nội dung chống Nhà nước và chuyển tải các tài liệu do ông Vũ làm ra để chúng sử dụng chống phá Nhà nước Việt Nam.

Thứ ba, làm ra các tài liệu, đưa thông tin thất thiệt, bịa đặt, xuyên tạc sự lãnh đạo và quản lý của Nhà nước, Chính phủ, gây hoang mang trong nhân dân, kích động, cổ suý, hô hào chống Nhà nước; vu khống, xúc phạm danh dự các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyền.

Kiểm tra chiếc máy tính xách tay của ông Cù Huy Hà Vũ, công an phát hiện trong máy lưu trữ nhiều tài liệu có nội dung chống Nhà nước Việt Nam. Vì vậy, ngày 5-11, Cơ quan ANĐT đã ra lệnh bắt và khám xét khẩn cấp nơi ở, nơi làm việc của ông Vũ về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước, thu giữ thêm nhiều tài liệu có nội dung tương tự.

Theo ông Hoàng Kông Tư, riêng trong máy tính xách tay của ông Vũ có khoảng 40 đầu tài liệu với hơn 240 trang với nội dung chống Nhà nước, và ông Vũ đã ký vào từng trang, xác nhận đó là những văn bản lưu trong máy tính cá nhân của mình.

Việc bắt, khám xét khẩn cấp ông Cù Huy Hà Vũ đã được Viện KSND Tối cao phê chuẩn. “Cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra làm rõ mức độ sai phạm của Cù Huy Hà Vũ để xử lý theo quy định pháp luật. Ngoài ra, ông Vũ còn phải chịu trách nhiệm về hành vi quan hệ dâm ô truỵ lạc tại khách sạn Mạch Lâm” - Trung tướng Hoàng Kông Tư nói.

Cù Huy Hà Vũ bị truy tố về tội “tuyên truyền chống Nhà Nước”. Có lẽ chúng ta nên đọc thêm vài chi tiết về tội danh “Tuyên Truyền Chống Nhà Nước” trong bài “Về Tội Tuyên Truyền Chống Nhà Nước” của Luật Sư Nguyễn Văn Hậu trên:

https://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200929/20090718002726.aspx

Về tội tuyên truyền chống Nhà nước

18/07/2009 0:27

Việc giữ vững hòa bình, an ninh và trật tự xã hội đất nước, chống khủng bố là lợi ích thiết yếu của mọi quốc gia. Mặc dù có không ít quan điểm cho rằng mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm và họ đã dựa vào Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (ICCPR) để bảo vệ cho luận điểm của mình.

Tuy nhiên khoản 3 Điều 19 của Công ước Quốc tế về quyền dân sự, chính trị đã quy định rất rõ việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (quy định tại khoản 2 Điều 19) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý.

Tương tự, quyền hội họp có tính cách hòa bình cũng có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do của người khác (Điều 21).

Như vậy, mặc dù quyền tự do ngôn luận và quyền hội họp có tính cách hòa bình... được thế giới thừa nhận nhưng một khi các quyền này ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng của quốc gia nào thì quốc gia đó có quyền giới hạn các quyền tự do ngôn luận và hội họp có tính cách hòa bình... nêu trên.

Bên cạnh đó, Điều 20 của Công ước Quốc tế về quyền dân sự, chính trị cũng nghiêm cấm mọi hình thức tuyên truyền, cổ vũ chiến tranh, cũng như mọi hình thức gieo rắc căm hờn, xúi giục kỳ thị, hiềm khích, kích thích bạo động giữa các quốc gia, các chủng tộc tôn giáo.

Như thế nào là hành vi đe dọa đến an ninh quốc gia? Như thế nào là ảnh hưởng đến trật tự công cộng? Tuyên bố của Hội nghị Nhân quyền thế giới tại Viên (Áo) năm 1993 cũng đã nêu rõ cần phải tính đến các đặc thù quốc gia và khu vực cũng như những nền tảng khác nhau về văn hóa, lịch sử và tôn giáo của mỗi quốc gia trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Do đó, một hành vi, phát ngôn ở quốc gia này có thể không bị coi là hành vi đe dọa an ninh quốc gia và vi phạm trật tự an toàn xã hội nhưng ở một quốc gia khác thì hoàn toàn có thể bị coi là đe dọa an ninh quốc gia, vi phạm trật tự công cộng. Xét riêng đến quốc gia Việt Nam, chúng ta có thể thấy rằng, nét đặc thù của Việt Nam lại càng mang tính đặc biệt khi Việt Nam phải trải qua nhiều năm tháng chiến tranh chống ngoại xâm mới giành lại được hòa bình, độc lập và tự do dân tộc; đến nay các lực lượng thù địch chưa từ bỏ tham vọng chính trị, đã và đang thành lập những tổ chức từ nước ngoài, nuôi dưỡng và cấu kết với các phần tử trong nước, tiến hành thâm nhập vào Việt Nam nhằm lật đổ Nhà nước Việt Nam

Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, bày tỏ chính kiến của công dân được pháp luật bảo đảm và được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, với những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận vi phạm pháp luật, thì việc xử lý những người vi phạm pháp luật là cần thiết và là việc làm bình thường mà các quốc gia trên thế giới thực hiện. Mặt khác, đây hoàn toàn là công việc nội bộ của Việt Nam, được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của pháp luật Việt Nam, và phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Quốc tế về quyền dân sự, chính trị.

Bây giờ chúng ta hãy điểm qua vài phản ứng về vụ xử Cù Huy Hà Vũ, phần lớn là ở hải ngoại. Điều lạ đối với tôi là, không kể những diễn đàn truyền thông hành nghề chống Cộng của những nhóm người Việt ở hải ngoại, phản ứng về vụ xử Cù Huy Hà Vũ chỉ tập trung ở những nguồn quen thuộc như các đài VOA (Voice Of America) BBC VN, RFA [Radio Free Asia], tổ chức HRW [Human Rights Watch], RFI [Radio France Internationale], Liên Hiệp Âu Châu [Cả khối EU hay chỉ là một phái đoàn nhân danh EU?], không có một tổ chức nào ở Á Châu hay trong những khối Ả Rập, Phi Châu v…v…. Những tổ chức trên chỉ quan tâm đến một người Việt bị kết án 7 năm tù vì tội “Tuyên truyền chống Nhà Nước”, nhưng hình như chẳng quan tâm gì đến việc Mỹ và Anh, Pháp, NATO xâm lăng Iraq, Afghanistan và Libya, gây nên sự chết chóc của hàng ngàn thường dân vô tội, và vẫn đang tiếp diễn, vì bom đạn của những thế lực tự nhận là bảo vệ nhân quyền. Những tổ chức trên đã nổi tiếng là không có mấy thiện cảm đối với Việt Nam, luôn luôn chỉ đưa ra những thông tin một chiều, nhiều khi sai sự thực, cho nên có bất cứ cơ hội nào, dù nhỏ nhặt đến đâu, cũng cứ trịch thượng xía vào những chuyện nội bộ của Việt Nam. Tại sao vậy? Tất cả đều bắt nguồn từ cái “Hội chứng Việt Nam” (Vietnam syndrome) sau hai cuộc chiến tranh Đông Dương, mà kết quả đã khắc sâu vào tâm khảm của hai cường quốc, Pháp rồi Mỹ, trước lịch sử chống xâm lăng của Việt Nam. Tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, dân chủ, nhân quyền v…v… chỉ là những chiêu bài diễn giải một cách hạn hẹp một chiều để phục vụ vho những mục đích chính trị của Tây phương và tỏ ra rằng Tây phương có quyền ăn nói chứ thực ra chẳng liên quan gì đến nhân quyền hay dân chủ. Đó là những món hàng được quảng cáo bề ngoài rất tốt đẹp để xuất cảng chứ thực chất bên trong chẳng liên quan gì đến mặt hàng đã được tuyên truyền, quảng cáo..

Tôi thật quả là nghi ngờ sự lương thiện trí thức của những đài như BBC VN, RFA Mỹ, và những cơ quan như Ân Xá Quốc Tế, HRW Mỹ, RFI Pháp, hay một số chính khách Tây phương, Thượng Nghị Sĩ và Dân Biểu Mỹ hầu như đã quên đi những tội ác ngập trời đối với người dân Việt Nam của Pháp và Mỹ trong hai cuộc chiến Việt Nam trước đây, vụ kiện Chất Độc Da Cam v… v…, và nay lại lên mặt dạy đời về nhân quyền, tự do, và dân chủ, trong khi họ không có quyền gì và cũng không đủ tư cách mà cứ xía vào những chuyện nội bộ của Việt Nam.. Trong khi đó thì một số người Việt lưu vong lại đi làm tay sai, cầu cạnh hay tiếp tay với ngoại bang để chống phá Việt Nam. Phải chăng vì Hội Chứng Quốc-Cộng và Hội Chứng Việt Nam vẫn còn ám ảnh đầu óc của một số người thiếu đầu óc?

Trong bài Tấn Công Libya: Màn Kịch Thô Bạo Của Phương Tây, ngày 30 tháng 3, 2011, trên Sách Hiếm, P.N. Hành viết về Pháp và Anh:

Từ tháng 2, Anh Pháp (đang sắp phá sản vì nợ) đã manh động tính nhảy vô Libya trục lợi. Anh thả 1 toán SAS xuống nhưng ... bị đuổi về! Hai thằng thực dân "mặt đầy tiền án, trán đầy tiền sự" mà đòi bảo vệ nhân quyền thì rõ là mặt dày!

Nguyễn Tâm Bảo viết trên Đàn Chim Việt:

Mỗi lần thấy Hoa Kỳ lên tiếng chê trách Việt Nam vi phạm nhân quyền thì tôi chỉ thấy thối tha. Có ai cũng thấy thối như tôi không?

Còn có ai chưa biết rằng Hoa Kỳ vẫn thường gửi các nghi phạm khủng bổ (khá nhiều là người vô can) sang các nước đồng minh ở Bắc Phi để bị tra tấn, theo chương trình Rendition?

Đó chỉ là một ví dụ trong muôn vàn ví dụ về sự khốn nạn và thói đạo đức giả của Hoa Kỳ.

Nhưng vấn đề ĐÁNG BÀN, cái thối nhất ở đây là cái TÂM LÝ hèn mọn của khá nhiều người Việt vẫn còn muốn bán víu vào những lời giả tạo của Hoa Kỳ như phương tiện để dân chủ hoá đất nước.

Đó là tâm lý của những kẻ nô lệ từ trong tiềm thức, những kẻ không có khả năng và không muốn gánh vác trách nhiệm giải quyết những vấn đề của cá nhân mình, của dân tộc mình.

Đó là tâm lý của những kẻ hèn mọn, hậu duệ của những kẻ đầy tớ chỉ biết ngửa cổ cảm ơn thực dân đã khai sáng cho cha mẹ mình, ngửa cổ cảm ơn bọn khốn kiếp Mỹ đã dội bom giết bớt đồng bào mình để mình có “hai mươi năm yên ổn”, và bây giờ đang tiếp tục van nài ông chủ cũ ra ơn mà đánh đuổi kẻ thù của mình.

Hãy tỉnh giấc đi và vứt bỏ cái tâm lý hèn hạ cầu cạnh đi, để thấy rằng cái việc DÂN CHỦ HOÁ phải là việc của người dân TRONG NƯỚC, xuất phát từ nhu cầu của chính họ, do chính họ đảm nhận trọng trách, do chính họ tiến hành, chứ không cần bất cứ sự trợ lực nào từ bên ngoài.

Chúng ta còn nhớ trước đây, trong bài phỏng vấn của Thông Tấn Xã Việt Nam,Tôn Nữ Thị Ninh đã dạy cho Dân Biểu Loretta Sanchez một bài học, nhưng có vẻ chính trị của dân biểu Sanchez là ù lỳ và không biết ngượng, cũng như một vài dân biểu Mỹ khác, tưởng rằng một dân biểu Mỹ thì có quyền đòi hỏi những gì mình muốn ở một nước khác trong khi chỉ là một cá nhân, họ không có một tư cách nào để xía vào chuyện nội bộ của một nước khác:

Bà Tôn Nữ Thị Ninh

“Trong thời gian ở thăm Việt Nam, những hành vi không phù hợp của Loretta Sanchez sự can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới chiêu bài “đem dân chủ” từ bên ngoài đến Việt Nam. Những hành động này của bà không có lợi cho sự phát triển của quan hệ Hoa Kỳ-Việt Nam.

“Chúng tôi thấy khó hiểu những đại biểu dân cử như bà Loretta Sanchez lại quan tâm quá mức và tốn nhiều sức lực cho vấn đề nhân quyền ở nước ngoài, như Việt Nam. Có lẽ những nỗ lực và sự quan tâm đó sẽ mang tính xây dựng và phù hợp hơn nếu được dành cho những vấn đề “gần nhà hơn” ví dụ như vấn đề Guantanamo.”

Trở lại vụ Cù Huy Hà Vũ. Chúng ta có thể đọc một số đòi hỏi trịch thượng và một số lời ca tụng có tính cách khoa trương rất lố bịch về nhân vật Cù Huy Hà Vũ. Trước hết chúng ta cũng nên biết là những đài phát thanh như VOA, BBC, RFA, RFI chỉ là những cơ quan thông tin tuyên truyền sao cho phù hợp với đường lối chủ trương của các quốc gia liên hệ chứ chẳng phải là những tổ chức thông tin vô tư. Thí dụ về RFA.

Nếu đọc giả nào muốn biết rõ về RFA thì hãy kiếm đọc bài: “Đài RFA Tuyên Truyền Chống Việt Nam” của Trần Đình Hoàng trên chuyenluan.net (https://www.chuyenluan.net/ _oldcluan/2007/200706/0706_21.htm) ngày 12.6.2007. Đây là bài nghiên cứu đầy đủ với nhiều chi tiết về thực chất và mục đích của RFA. Sau đây là phần kết của bài:

Bài viết này muốn nhắc nhở những người nào còn lầm tưởng RFA đấu tranh cho quyền lợi của người Việt rằng: RFA là một tổ chức phục vụ cho quyền lợi của Mỹ và do một nhóm người Việt lưu vong điều hành nhằm làm suy yếu sự đoàn kết dân tộc của Việt Nam và gây bất ổn chính trị xã hội ở Việt Nam để người nước ngoài có cơ hội “thừa nước đục thả câu”. Những người ở trong nước đã và đang cộng tác với họ hoặc do bị lừa gạt hoặc tự nguyện cần ý thức được rằng RFA -- vì sứ mệnh chính trị của họ -- chưa bao giờ khách quan, chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Do đó, cộng tác với họ cũng đồng nghĩa với việc hợp tác với những người chống lại quyền lợi của Việt Nam.

Trước hết, tôi muốn nói đến sự can thiệp rất trịch thượng của Mỹ và Âu Châu vào nội bộ của Việt Nam.

Ngày 5/4, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga đã trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước tuyên bố của quyền phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ liên quan đến phiên tòa (https://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/15341/ong-cu-huy-ha-vu-nhan-7-nam-tu-giam.html ) xét xử Cù Huy Hà Vũ trước đó một ngày.

Bà Nga nói: “Đây là một tuyên bố can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Việt Nam là một Nhà nước pháp quyền. Việt Nam xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam và hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị”.

Theo tin của Thông tấn xã Việt Nam, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga ngày 9/4 vừa qua cũng đã bác bỏ những lời chỉ trích của quốc tế về vụ xử Cù Huy Hà Vũ khi tuyên bố rằng : « Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Anh, Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam và một vài tổ chức đã có những nhận xét thiếu khách quan, dựa trên những thông tin sai lệch, không phản ánh chính xác tình hình và có những ý kiến can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. »

Tôi không hiểu tại sao Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao Anh, Phái Đoàn Liên Hiệp Âu Châu lại quan tâm đến vụ xử án một công dân Việt Nam can tội có những hành động vi phạm luật pháp quốc gia, chỉ bị 7 năm tù, trong khi Mỹ, Anh và Pháp và NATO đang giết không ít người vô tội ở Iraq, Afghanistan và Libya. Chúng ta hãy đọc lời tuyên bố của Mark Toner, Quyền Phó Phát Ngôn Viên Bộ Ngoại Giao Mỹ.

BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ

Văn phòng Phát ngôn viên
Dành cho đăng tải ngay 4/42011
2011/524

TUYÊN BỐ CỦA MARK TONER, QUYỀN PHÓ PHÁT NGÔN VIÊN

Việt Nam: Việc kết án nhà hoạt động Cù Huy Hà Vũ.

Hoa Kỳ quan ngại sâu sắc về việc kết án 7 năm tù giam ngày 4/4 đối với nhà hoạt động Cù Huy Hà Vũ về tội “tuyên truyền chống chính phủ”. Chúng tôi cũng lo ngại về việc tiến hành phiên toà rõ ràng đã thiếu trình tự chuẩn mực, và việc tiếp tục giam giữ một số cá nhân đã tìm cách quan sát phiên toà một cách ôn hoà.

Việc kết án ông Vũ đi ngược lại với Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về cam kết của Việt Nam về nền pháp trị và cải cách. Không cá nhân nào đáng bị bỏ tù vì thực hiện quyền tự do ngôn luận.

Chúng tôi thúc giục chính phủ Việt Nam thả ngay lập tức Cù Huy Hà Vũ và tất cả các tù nhân lương tâm khác.

 

Trước sự lên tiếng của một chính khách Mỹ chắc chắn là không nắm vững đầy đủ thông tin về nội vụ một vụ án mà trong thực tế không đáng để cho Bộ Ngoại Giao Mỹ quan ngại, hay lo ngại, và có vẻ như cũng không biết rõ về Tuyên Ngôn Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, chỉ vu vơ, không nói rõ việc kết án ông Vũ đi ngược lại khoản nào trong bản Tuyên Ngôn, tôi nẩy ra ý kiến thử đóng vai một “Quyền Phó Phát Ngôn Viên” Bộ Ngoại Giao Việt Nam và tuyên bố như sau, dựa trên ý của chính ngài Toner, để ngài suy ngẫm:

Văn phòng Phát ngôn viên
Dành cho đăng tải ngày Good Friday 4/22/2011
2011/666

TUYÊN BỐ CỦA [Một Công Dân Mỹ tự cho mình đóng vai]
QUYỀN PHÓ PHÁT NGÔN VIÊN

MỸ, Anh, Pháp, NATO: Sự can thiệp vào những chuyện nội bộ của Iraq, Afghanistan và Libya.

Việt Nam quan ngại sâu sắc về việc Mỹ, Anh, Pháp và NATO can thiệp quân sự vào những nước Iraq, Afghanistan và Libya để kiếm “Vũ Khí Giết Người Hàng Loạt” (Weapon of Mass Destruction), để kiếm và giết Osama Bin Laden ở Pakistan, và để ủng hộ quân phiến loạn (rebels) chống chính quyền Libya. Chúng tôi cũng lo ngại về sự bất khả biện minh cho những cuộc can thiệp quân sự của Mỹ, Anh, Pháp và NATO vào các nước trên đưa đến kết quả là nhiều người vô tội gồm cả phụ nữ và trẻ em bị chết vì bom đạn.

Sự can thiệp quân sự của Mỹ, Anh, Pháp và NATO vào các nước trên đi ngược lại với Tuyên Ngôn Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc [không tôn trọng quyền sống trong hòa bình của người dân] và đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về quan niệm nhân quyền của Mỹ và Liên Minh Châu Âu, và nhất là chính sách đối ngoại của Mỹ mà Tổng Thống Barack Obama đã khẳng định trong bài diễn văn ở Cairo trước đây: Vậy tôi xin nói rõ rằng: không một hệ thống chính phủ nào có thể, hoặc nên, áp đặt trên một quốc gia bởi một quốc gia khác. (So let me be clear: no system of government can or should be imposed upon one nation by any other.)

Chúng tôi thúc giục chính phủ Mỹ, Anh, Pháp và NATO hãy rút ngay quân đội và các hình thức quân sự khác ra khỏi các quốc gia trên và ngưng can thiệp vào những chuyện nội bộ của các quốc gia khác, đặc biệt là Việt Nam trong đó không có người vô tội nào bị giết mà chỉ có vài người chống đối chính quyền bị xét xử theo luật pháp quốc gia của Việt Nam.

 

Tôi không hiểu những lời tuyên bố của Mark Toner là lời tuyên bố trong lãnh vực ngoại giao giữa hai nước bình đẳng trên chính trường quốc tế hay là một bản án và một lệnh của Bộ Ngoại Giáo Mỹ cho nước Việt Nam. Ông Mark Toner có hiểu là mình đã tuyên bố những lời ngoài thẩm quyền của mình như thế nào không. Ông dựa vào cái gì và lấy quyền gì mà đòi hỏi Nhà Nước phải “Thả Ngay lập Tức” một phạm nhân đã bị kết án bởi Tòa Án Việt Nam, bất kể là phán quyết của Tòa án là như thế nào? Trên nước Mỹ thiếu gì trường hợp kết án nhầm, giam giữ người không có tội trong nhiều năm, và sau đó khi sự thật phơi bầy mới được thả. Ông muốn nói về bản Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, vậy thì để tôi khai sáng một chút về bản này.

Ðiều 29 trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Liên Hiệp Quốc viết như sau:

Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.

Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ. Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

[Everyone has duties to the community in which alone the free and full development of his personality is possible.

In the exercise of his rights and freedoms, everyone shall be subject only to such limitations as are determined by law solely for the purpose of securing due recognition and respect for the rights and freedoms of others and of meeting the just requirements of morality, public order and the general welfare in a democratic society.

These rights and freedoms may in no case be exercised contrary to the purposes and principles of the United Nations.]

Những thế lực muốn can thiệp vào nội bộ Việt Nam, Mỹ cũng như Âu Châu, luôn luôn dùng chiêu bài nhân quyền, tự do ngôn luận để chống đối Việt Nam, hầu như quên đi vài điều khoản trong bản Hiệp Ước Quốc tế Về Quyền Dân Sự và Quyền Chính Trị (The International Covenant on Civil and Political Rights: The CP Covenant), và Hiệp Ước Quốc Tế về Những Quyền Kinh Tế, Xã Hội, và Văn Hóa (The International Covenant on Economic, Social, and Cultural Rights: The ESC Covenant), quy định vấn đề nhân quyền trước luật pháp quốc gia, được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp thuận ngày 6 tháng 12 năm 1966, 18 năm sau khi bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ra đời.

 

Điều Khoản 19:

1. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu ý kiến..

2. Việc thực thi những quyền quy định trong mục 2 của điều khoản này đi cùng với những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Nó có thể phải chịu một số hạn chế, nhưng những hạn chế này chỉ có thể do luật pháp đặt ra.

Article 19

1. Everyone shall have the right to freedom of expression..

2. The exercice of the rights provided for in Paragraph 2 of this article carries with its special duties and responsibilities. It may therefore be subject to certain restrictions, but these shall only be such as are provided by law.

Điều khoản 21

1. Công nhận quyền hội họp trong hòa bình

2. Không hạn chế nào được đặt trên sự thực thi quyền trên ngoài những hạn chế được áp đặt để tuân theo luật pháp.

Article 21.

1. The right of peaceful assembly shall be recognized.

2. No restriction may be placed on the exercice of this right other than those imposed in conformity of the law.

Chúng ta thấy ngay rằng, mọi quyền của con người, theo tinh thần của những bản văn trên, đều phải nằm trong vòng luật pháp của mỗi nước. Nếu luật pháp của mỗi quốc gia mỗi khác thì quyền thực thi những quyền dân sự về chính trị, tôn giáo trong mỗi quốc gia cũng mỗi khác. Không có lý do gì để Mỹ hay bất cứ tổ chức nào khác lấy nền luật pháp của Mỹ hay của bất cứ nước nào để dựa vào đó mà đo vấn đề nhân quyền trên toàn thể thế giới.

Ngoài ra, điều khoản 20 trong bản Giao ước viết: đòi hỏi chính quyền phải ra luật ngăn cấm mọi tuyên truyền cho chiến tranh và mọi ủng hộ cho sự căm thù quốc gia, thù hận chủng tộc hay tôn giáo có tác dụng tạo nên sự khích động cho những vấn đề kỳ thị, thù nghịch hay bạo lực(Article 20 of the CP covenant “requires States parties to prohibit by law any propaganda for war and any advocacy of national, racial or religious hatred that constitutes incitement to discrimination, hostility or violence..).

Người ngoại quốc hay những người Việt chống Cộng ở hải ngoại có thể không đồng ý hay không chấp nhận nền luật pháp của Việt Nam, nhưng người dân Việt Nam, sống trong đất nước Việt Nam, thì bắt buộc phải tuân theo luật pháp Việt Nam. Không một công dân nào có quyền nói, tôi không đồng ý với luật của Nhà Nước nên không có bổn phận phải theo luật đó. Thay đổi điều luật nào là do cơ quan lập pháp quyết định và sửa đổi, chứ không phải là do cá nhân tự quyết định. Một du khách vào Việt Nam mà vi phạm luật Việt Nam thì cũng sẽ bị xét xử theo luật Việt Nam, bất kể là luật đó có theo đúng luật của Mỹ hay của Pháp không. Đây là vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia.

Vài sự kiện có thể cho chúng ta thấy rõ điều này. Chúng ta còn nhớ: Chính quyền Clinton cũng phải rút lui trong việc can thiệp cho một công dân Mỹ khỏi bị đánh đòn ở Singapore, và về trường hợp Nguyễn Tường Vân, một công dân Úc gốc Việt, một tín đồ Công giáo, can tội buôn ma túy bị bắt quả tang ở Singapore và bị kết án tử hình treo cổ, và dù được các viên chức trong chính quyền Úc cùng những viên chức trong Giáo hội Công giáo như Tổng Giám Mục Phillip Aspinall của Anh Giáo Úc Ðại Lợi, hay Hồng Y George Pell, Tổng Giám Mục địa phận Sydney, người đã viết thư để xin sự trợ giúp của Giáo Hoàng John Paul II. Trước khi qua đời Giáo Hoàng John Paul II đã gởi lời xin tha mạng tới Chính Phủ Singapore, nhưng tất cả đều vô hiệu trước nền pháp luật của Singapore, án lệnh vẫn được thi hành, và Nguyễn Tường Vân vẫn bị hành quyết. Việt Nam cũng đã xử tử người từ nước ngoài mang ma túy vào trong nước.

Những hình phạt như “đánh đòn” hay “treo cổ” là những biện pháp quy định trong luật pháp quốc gia của Singapore, tất cả đều trái với quan niệm về nhân quyền của Mỹ. Ngoài ra, Nhật Bản cho rằng khi bắt được quả tang một người phạm tội thì người đó không cần phải có luật sư, chỉ việc mang ra tòa xét xử và định tội. Điều này cũng trái với quan niệm về nhân quyền của Mỹ, mọi tội phạm đều có quyền gọi một cú điện thoại cho luật sư của mình. Điều khoản 20 trong bản Giao ước lại đòi hỏi chính quyền phải ra luật ngăn cấm mọi tuyên truyền cho chiến tranh và mọi ủng hộ cho sự căm thù quốc gia, sắc dân hay tôn giáo có tác dụng tạo nên sự khích động cho những vấn đề kỳ thị, thù nghịch hay bạo lực(Article 20 of the CP covenant “requires States parties to prohibit by law any propaganda for war and any advocacy of national, racial or religious hatred that constitutes incitement to discrimination, hostility or violence..). Điều khoản này là một món quà vô giá để cho nhiều quốc gia biện minh cho những hành động bảo vệ chủ quyền và nền an ninh quốc gia mà Tây phương cho là phi dân chủ, phi tự do.

Đi vào chi tiết, có vài điều rất căn bản mà chúng ta cần biết về Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền:

● Thứ nhất, khi Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ra đời năm 1948 thì Mỹ và đồng minh vừa đánh bại Đức Quốc Xã, Nhật Bản, và ảnh hưởng của Nga Sô đang bành trướng trên nửa hoàn cầu. Khi đó Mỹ ở thế mạnh nhất về chính trị, kinh tế, và quân sự. Anh và Pháp đang lo củng cố hoặc tái lập quyền cai trị ở các thuộc địa.

● Thứ nhì, bản Tuyên Ngôn không có giá trị công pháp quốc tế (not legally binding), vì không có một định nghĩa rõ ràng thế nào là nhân quyền, chỉ đưa ra một số điều khoản mơ hồ mà Liên Hiệp Quốc, hình thành theo sự vận động và quan niệm của Mỹ, dưới sự chi phối của Mỹ, cho đó là nhân quyền, do đó, theo nguyên tắc, không nước nào, cơ quan nào có thể dựa vào Bản Tuyên Ngôn để ép buộc bất cứ quốc gia nào phải thi hành những điều khoản trong bản Tuyên Ngôn. (Mary E. Williams, Human Rights, p. 16: declarations are not legally binding; Robert W. Lee, The United Nations Conspiracy, p.101: the UN later adopted its vague, non-binding Declaration of Human Rights), nghĩa là các quốc gia không có bổn phận phải thi hành những điều khoản trong Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền.

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền không có giá trị công pháp quốc tế, như chúng ta đã biết. Bởi vậy cho nên khi đó, 1948, Pháp đang công khai mở cuộc tái xâm lược Đông Dương với 80% quân phí do Mỹ đài thọ, hòng tái lập thuộc địa ở Việt, Cambod, Lào, một hành động vi phạm trắng trợn mọi nhân quyền của người dân Việt Nam, những quyền ghi trong Bản Tuyên Ngôn, mà không có sự phản đối của Liên Hiệp Quốc. Và, việc Mỹ đơn phương tạo nên cuộc chiến Quốc Cộng ở Việt Nam, đơn phương xóa bỏ hiệp định Geneva, nuốt lời tuyên bố của chính phủ Mỹ (tuy không ký vào bản Hiệp Định Geneva nhưng sẽ không can thiệp vào quyền tự quyết (self-determination) của các dân tộc, đổ quân và vũ khí vào miền Nam, ném bom tàn phá ruộng nương, nhà thờ, trường học, nhà thương, chùa chiền v..v.. trên toàn đất nước Việt Nam, trải thuốc khai quang Agent Orange v..v.., để lại nhiều di hại cho người dân Việt Nam cho tới tận ngày nay, không đếm xỉa gì tới nhân quyền và lòng khao khát hòa bình của người dân Việt, muốn sống tự do và bình đẳng theo lý trí và lương tri của mình trong cộng đồng quốc tế, cũng không có sự chống đối nào của Liên Hiệp Quốc. Vậy thì, giá trị của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là ở đâu, và tại sao ngày nay những kẻ mù mờ vẫn bám vào cái vô dụng để can thiệp vào chuyện nội bộ của các nước khác?

● Và thứ ba, điều rõ ràng là những điều khoản trong bản tuyên ngôn phản ánh những chế độ, văn hóa và xã hội Tây phương vì năm 1948, Liên Hiệp Quốc nằm trong sự thao túng của các cường quốc Âu Mỹ. Bởi vậy, một số lãnh tụ Á Châu, như Thủ Tướng Mã Lai Mahathir Mohamad, đã cho rằng Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là sản phẩm của những quốc gia Tây phương, không hiểu gì về các xã hội Đông phương, có tính cách xâm lược văn hóa của chính sách đế quốc Tây phương (Some Asian leaders, like Malaysian Prime Minister Mahathir Mohamad, denounce it (the Declaration) as Western cultural imperialism), và đề nghị phải duyệt lại bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền này. Phải chăng vì vậy mà cho tới ngày nay, đường đi tới sự thực hiện bản Tuyên Ngôn trên bình diện quốc tế vẫn còn xa lắc, xa lơ? (Doug Cassel: "The Universal Declaration still is a long way from universal reality"). Doug Cassel là Giám Đốc Trung Tâm Nhân Quyền Quốc Tế tại đại học Northwestern, Illinois.

Bởi vậy, khi Charles Malik, một cựu chủ tịch đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, phát biểu là:

Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, là kết quả của sự tổ hợp và xét đến quan điểm của mọi hệ thống pháp lý, mọi tôn giáo, mọi nền văn hóa, và mọi quan điểm về đời sống con người. (Charles Malik, Man in the Struggle for Peace, p. 89)

Thì Robert W. Lee đã phê bình câu trên như sau:

“Hãy suy nghĩ về điều trên một lát. Có cái gì có thể lố bịch và vô nghĩa hơn là toan tính đổ “quan điểm của mọi hệ thống [Cộng Sản và Tư Bản], mọi tôn giáo [Ki Tô Giáo và Hồi Giáo], mọi nền văn hóa [Tây phương và Nam Phi], và mọi quan điểm về đời sống [luân thường và phi luân] vào một cái bình nấu cho chảy, hòa lẫn với nhau để thành một cái gì giống như một chính sách về nhân quyền thích đáng? Một tiền lệ chúng ta có thể nghĩ tới là toan tính nổi tiếng của Frankenstein khi lắp các phần riêng biệt lại với nhau. Ông ta đã sáng tạo ra một con quỷ.”

(Robert W. Lee, The United Nations Conspiracy, p. 101: Think about that for a moment. Could anything be more ridiculous and futile than attempting to pour the “views of all systems (Communist and Capitalist), all religions ( Christian and Moslem), all cultures (Western and Hottentot), and all outlooks (moral and immoral)” into a melting pot and come up with anything resembling a decent human rights policy? The only meaningful precedent we can think of is Dr. Frankenstein’s renowned attemp to piece things together. He, too, created a monster.)

Những sự kiện trên chứng tỏ rằng Nhân Quyền chỉ là một chiêu bài hữu danh vô thực của một số cường quốc Âu Mỹ, với nhằm mục đích ép những tiểu nhược quốc nào có thể ép được phải theo quan niệm lưỡng chuẩn (double standard) về nhân quyền, dân chủ, đường lối chính trị, quyền lợi kinh tế của Tây phương, với Mỹ đương nhiên đứng đầu, trong khi trên bình diện quốc tế, Mỹ và Anh, Pháp, NATO ở Tây phương lại vi phạm nhân quyền vào bậc nhất.. Tuy nhiên, trong thế kỷ 20, tình hình thế giới đã thay đổi nhiều. Trước đây, quyền lực của Tây phương đối với các thuộc địa, và quyền bá chủ của Mỹ trong thế kỷ 20, sau đệ nhị thế chiến, đã có tác dụng bành trướng nền văn hóa Tây phương trên khắp thế giới. Nhưng tình hình thế giới đã thay đổi, cán cân quyền lực không còn ngả về Tây phương. Sự vươn lên của Á Châu, chiến tranh Việt Nam đã đưa đến sự cáo chung của chế độ thực dân trên thế giới, cho nên Tây phương không còn khả năng để ép các quốc gia khác phải theo ý mình. Trong khi đó thì những nền văn hóa khác Tây phương đang phục hồi mạnh mẽ. Hai cuộc Thế Chiến đều xảy ra ở Tây phương, các cuộc chiến tranh tôn giáo cũng đều xảy ra ở Tây phương, vật chất đè bẹp đạo đức, tội ác lan tràn, đạo đức của giới chăn chiên suy sụp v..v... Những sự kiện này cho người Á Đông thấy rõ sự băng hoại và thất bại của những chủ lực tinh thần ở Tây phương, và những giá trị Tây phương không còn hấp dẫn.

Tưởng chúng ta cũng nên biết, trong Hội Nghị Vienna, những quốc gia Á Châu đã họp ở Bangkok và chấp thuận một bản tuyên ngôn nhấn mạnh rằng nhân quyền phải được xét đến trong bối cảnh của những đặc tính quốc gia và địa phương, và những nền tảng lịch sử văn hóa tôn giáo khác nhau (human rights must be considered in the context of national and regional particularities and various historical religious and cultural backgrounds), và rằng theo dõi vấn đề nhân quyền là vi phạm chủ quyền quốc gia(that human rights monitoring violated state sovereignty) và sau cùng viện trợ kinh tế với điều kiện, dựa trên tiêu chuẩn nhân quyền là đối ngược với quyền phát triển (and that conditioning economic assistance on human rights performance was contrary to the right of development).

Các cường quốc Âu Mỹ có thể phần nào, phần nào thôi, tôn trọng nhân quyền trong các nước của họ và theo quan niệm về nhân quyền của họ, nhưng có bao giờ tôn trọng nhân quyền trong các nước nhỏ yếu, đang phát triển đâu. Lịch sử thế giới đã chứng tỏ như vậy. Quan niệm nhân quyền của Á Đông đặt căn bản trên sự kiện là con người không phải là một thực thể riêng biệt, mà có liên hệ tới toàn thể cộng đồng. Do đó, Á Đông đặt quyền lợi của cộng đồng trên quyền của cá nhân, và những quyền cá nhân được coi là thứ yếu so với những yêu cầu của quốc gia [Protection of the rights of individual was frankly acknowledged to be secondary as compared to the needs of the state]. Các xã hội Tây phương đặt nặng chủ nghĩa cá nhân và quyền tự do cá nhân (Western societies emphasize individualism and personal freedom), trong khi các nền văn hóa Á Đông đặt giá trị của sự tự kiểm và trật tự xã hội cao hơn quyền của cá nhân. (Asian cultures place a higher value on self-discipline and order.) Trong những xã hội ổn định Tây phương, tự do ngôn luận có thể coi là một quyền công dân căn bản, trong khi ở những xã hội chưa được ổn định như ở Việt Nam, hậu quả của một cuộc chiến tranh làm lòng người chia rẽ, phân hóa, và trước sự tiếp tục đánh phá hay phá ngầm của ngoại lai và tay sai hải ngoại hay bản địa, chính quyền có thể xét đến ảnh hưởng của sự tự do này, trong một số trường hợp đặc biệt trong bối cảnh xã hội, và coi đó là gây sự hỗn loạn trong xã hội, do đó có phương hại đến sự ổn định xã hội, ngăn cản sự phát triển kinh tế v..v..

Sau đây tôi muốn nói đến lời phát biểu của Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách Châu Á của Tổ chức Theo Dõi Nhân quyền [HRW = Human Rights Watch] mà nội dung là sự can thiệp trắng trợn vào nội bộ Việt Nam. Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu ít nhiều về bộ mặt thực của HRW. Đọc giả chỉ cần đánh ba chữ trên vào chỗ “search” là có thể biết tất cả về HRW. Sau đây là vài thông tin về HRW từ:
https://www.ngo-monitor.org/article/human_rights_watch_hrw_:

  • Trong khi HRW tự nhận là “vô tư và chính xác trong những phúc trình, bảo đảm tiêu chuẩn và hãnh diện của HRW”, điều này không được thấy trong nghị trình của HRW về Do Thái và cuộc xung đột Ả Rập – Do Thái.
  • While HRW claims that "The hallmark and pride of Human Rights Watch is the even-handedness and accuracy of our reporting", this is not reflected in its agenda regarding Israel and the Arab-Israeli conflict.
  • Nhiều viên chức HRW, gồm cả những người đứng đầu các phân bộ ở Trung Đông và Bắc Phi, có một lịch sử về sự thiên lệch về lý tưởng không phù hợp với điều đòi hỏi phải khách quan và gồm tất cả trong phúc trình về nhân quyền [nghĩa là không thiên lệch]
  • Many HRW officials, including the heads of the Middle East and North Africa Division, have a history of ideological bias that is inconsistent with the requirements for objectivity and universality in human rights reporting.

Nhưng đầy đủ chi tiết về HRW hơn cả là trong trang nhà sau đây, chúng ta có thể đọc vài đoạn trong đó: https://web.inter.nl.net/users/Paul.Treanor/HRW.html :

Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW) được thành lập trên niềm tin về sự đứng trên hết của những giá trị của Mỹ. Tổ chức này liên hệ chặt chẽ với chính sách ngoại giao của giới cầm quyền ưu tú Mỹ, và những vận động ngoài hành lang về chủ thuyết can thiệp và bành trướng.

Không một công dân Mỹ nào, và không một tổ chức nào của Mỹ, có bất cứ quyền nào để áp đặt những giá trị của Mỹ lên Âu Châu [và Á Châu]. Nhưng HRW tự cho là hiển nhiên Mỹ có quyền hợp pháp để sửa lại cơ cấu của bất cứ xã hội nào, nơi đó Mỹ thấy có một nghĩa địa của tập thể. Đó là niềm tin nguy hiểm của một siêu cường: chủ nghĩa thuộc địa của Âu Châu chứng tỏ là “nhiệm vụ văn minh hóa” đã tạo ra những sự tàn bạo của chính mình… Và các lính Mỹ sẽ tiếp tục giết, tra tấn và hiếp dâm, để ngăn chận những sự giết chóc, tra tấn và hiếp dâm.

Trong những năm gần đây, những thái độ này cứng rắn hơn: chủ nghĩa can thiệp nhân danh nhân quyền trở thành sự nhất trí của giới ưu tú trong chính sách ngoại giao Mỹ ngay cả trước ngày 9-11. HRW là một phần của giới đó, gồm có những phòng sở trong chính phủ, những tổ chức, những tổ chức không phải của chính phủ (NGO = Non-government organizations) và giới khoa bảng. HRW chắc chắn không phải là một tổ chức tư của những người công dân quan ngại. Những người trong ban chỉ đạo gồm những viên chức chính phủ trong quá khứ và hiện tại…

Nhân Quyền không chỉ là lý tưởng can thiệp. “Nhiệm vụ văn minh hóa”, biện minh cho chính sách thuộc địa ở thế kỷ 19, là một thí dụ khác. Điểm chính là nhân quyền có thể phục vụ cho mục đích chính trị tùy vùng địa dư, không liên quan gì đến nội dung đạo đức… Và chính trị tùy vùng địa dư là tất cả những gì là HRW – không phải về đạo đức. HRW hầu như toàn thể là tổ chức của Mỹ. Quan điểm của HRW về nhân quyền là theo truyền thống Anh-Mỹ. Đó là độc quyền về đạo đức – không công nhận bất cứ giá trị đạo đức hợp pháp nào khác ngoài giá trị của chính mình.

HRW có một số hoạt động bỏ sót kỳ thị, để duy trì đặc tính Mỹ, và giảm thiểu những phê phán nội tại với quan điểm giới hạn. Tuy HRW phát hành những ấn phẩm bằng những tiếng ngoại quốc để quảng cáo cho những quan điểm của mình, tổ chức chỉ là Anh-Mỹ mà thôi.

Do đó, HRW không thể tự cho là mình có bất cứ vị thế cao cả nào về đạo đức. HRW đã dính líu vào nhiều thực hành mà HRW lên án ở những nơi khác. HRW cũng tự cho là trung lập. Đối với những người cai quản HRW, thế giới không phải là Tây phương là một danh sách những sự tàn bạo, và qua phương tiện truyền thông, HRW truyền đạt thái độ này cho quần chúng Mỹ. Nó chỉ có thể hạ thấp con người Phi Châu, Á Châu, Ả Rập và Đông Âu. Hợp lại với nhau theo chiều hướng phần còn lại của thế giới là kẻ thù, điều này góp phần vào những lạm dụng mới và tiếp tục gây nên sự chết chóc của người dân, trong những cuộc thánh chiến của Mỹ.

[Human Rights Watch is founded on belief in the superiority of American values. It has close links to the US foreign policy elite, and to other interventionist and expansionist lobbies.

No US citizen, and no US organisation, has any right to impose US values on Europe. But Human Rights Watch finds it self-evident, that the United States may legitimately restructure any society, where a mass grave is found. That is a dangerous belief for a superpower: European colonialism shows how easily a 'civilising mission' produces its own atrocities… And American soldiers will continue to kill, torture and rape, in order to prevent killings, torture and rape.

In recent years attitudes hardened: human-rights interventionism became a consensus among the 'foreign policy elite' even before September 11. Human Rights Watch itself is part of that elite, which includes government departments, foundations, NGO's and academics. It is certainly not an association of 'concerned private citizens'. HRW board members include present and past government employees…

Human rights are not the only ideology of intervention. The 'civilising mission', which justified 19-th century colonisation, is another example. The point is that human rights can serve a geopolitical purpose, which is unrelated to their moral content... And geopolitics is what Human Rights Watch is about - not about ethics. HRW itself is an almost exclusively US-American organisation. Its version of human rights is the Anglo-American tradition. It is 'mono-ethical' - recognising no legitimate ethical values outside its own.

Human Rights Watch operates a number of discriminatory exclusions, to maintain its American character, and that in turn reduces internal criticism of its limited perspective. Although it publishes material in foreign languages to promote its views, the organisation itself is English-only…

Human Rights Watch can therefore claim no ethical superiority. It is itself involved in practices it condemns elsewhere, such as discrimination in employment, and exclusion from social structures. It can also claim no neutrality. To the people who run HRW, the non-western world consists of a list of atrocities, and via the media they communicate that attitude to the American public. It can only dehumanise African, Asians, Arabs and eastern Europeans. Combined with a tendency to see the rest of the world as an enemy, that will contribute to new abuses and continuing civilian deaths, during America's crusades.

Với bộ mặt thực của HRW như trên thì thử hỏi tiếng nói của ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách Châu Á của Tổ chức HRW có bao nhiêu giá trị? Chúng ta hãy đọc một đoạn trong lời phát biểu của ông Phil Robertson để xem tư cách và thái độ của ông ta ở mức nào. Đối với tôi, ông Phil Robertson, nhân danh chỉ là một phó giám đốc của một tổ chức trên danh nghĩa là của tư nhân ở nước ngoài, rất có ít uy tín trong giới trí thức vì những mục đích thiên lệch chính trị như đã trình bày ở trên, đã phát biểu một cách đầy thiên kiến, thiếu hiểu biết, và hỗn xược đối với một quốc gia, chứng tỏ một tâm cảnh trịch thượng, đạo đức chính trị thấp kém.

Ông Phil Robertson phát biểu từ Bangkok:

Việt Nam cần thả ngay lập tức nhà bảo vệ nhân quyền và môi trường Cù Huy Hà Vũ.”

(Bangkok) – Vietnam should immediately release the human rights and environmental defender Cu Huy Ha Vu, Human Rights Watch said today.

Ông Robertson là ai, HRW là cái gì, lấy quyền gì, mà dám lên tiếng đòi chính quyền Việt Nam phải cần thả ngay lập tức một phạm nhân của Việt Nam đã bị kết án? Nhiều nhất là HRW, với tư cách là một hội tư, nếu có cảm tình với Cù Huy Hà Vũ vì một lý do riêng tư nào đó, và cho rằng Cù Huy Hà Vũ vô tội, chỉ có thể xin Nhà Nước Việt Nam hãy xử lại hay giảm án cho Cù Huy Hà Vũ, hay giúp Cù Huy Hà Vũ kháng án, chứ không có tư cách gì nhúng mũi vào chuyện nội bộ của Việt Nam để mà tuyên bố nọ kia ở ngoại quốc, đòi Nhà Nước Việt Nam phải “thả ngay tức khắc” Cù Huy Hà Vũ. Hành động trịch thượng, tự tung tự tác xía vào chuyện nội bộ Việt Nam, đối với người dân Việt Nam thường cũng không thể chấp nhận đừng nói đến chính quyền Việt Nam. Mấy người ngoại quốc không biết ngượng, tự cho mình là văn minh tiến bộ, cứ trơ trẽn xen vào chuyện nội bộ của Việt Nam, trong khi mình không có bất cứ một thẩm quyền nào hay có tư cách nào để có những hành động vô lối, coi thường chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Việt Nam nên coi những lời đó chỉ là rác rưởi, không đáng quan tâm.

Ông Phil Robertson còn lên tiếng hỗn xược đòi Việt Nam nên sửa đổi hoặc hủy bỏ những điều luật chung chung về an ninh quốc gia:

“Việt Nam cần sửa đổi hoặc hủy bỏ những điều luật không rõ ràng về an ninh quốc gia, thay vì sử dụng những điều luật đó để bịt miệng những người phê phán chính phủ một cách ôn hòa. Làm sao mà Việt Nam có thể trở thành một quốc gia có nền pháp trị khi chính phủ tiếp tục trừng phạt các nhà chủ trương hợp phápt?”

“Vietnam should amend or repeal its broad national security laws instead of using them to silence peaceful government critics. How can Vietnam become a country governed by the rule of law if the government continues to punish legal advocates?”

Tôi miễn phê bình những lời trịch thượng ngu đần và vô thẩm quyền này. Vì ông Robertson không tự biết con người của mình và tổ chức HRW của ông, và không có ý thức đúng về chính trị quốc tế. Hơn nữa, ông không đọc những lời thuộc loại chợ búa của Cù Huy Hà Vũ mà ông ta cho là “phê phán ôn hòa”. Tôi chỉ muốn nói một câu: tự do ngôn luận không phải là tự do nói láo, hay tự do nhúng mũi vào những chuyện nội bộ của một quốc gia, nhất là đối với một viên chức cao cấp của HRW, và HRW không có một quyền gì đối với Việt Nam, vậy đừng có sử dụng nhân quyền trên đầu môi chót lưỡi để xía vào những chuyện nội bộ của Việt Nam.

 

1  2  3

..(xem tiếp: Cù Huy Hà Vũ Là Người Như Thế Nào?)...

 

Trang Thời Sự