Về Bốn Giám Mục Tiên Khởi

Của Ca-Tô Rô-Ma Giáo Ở Việt Nam

(Nhân Đọc Bài Của Nguyễn Văn Lục)

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN108.php

09 tháng 2, 2011

Gần đây tôi có ghé vào trang nhà Đàn Chim Việt đọc thấy hai bài của Nguyễn Văn Lục: bài “Linh mục, vai trò tôn giáo và chính trị” và bài “Một số vấn đề của người Thiên Chúa giáo trước và sau khi di cư vào miền Nam.” Ông Nguyễn Văn Lục kể ra cũng chịu khó viết, chỉ phiền có một điều là ông ta viết đâu sai đó, càng viết càng sai, và khi ông ta viết về tôn giáo của ông ta, Ca-tô Rô-ma Giáo, từ chuyện nội bộ cho đến lịch sử, có vẻ như ông ta đã để quên đâu đó sự lương thiện trí thức.

Tư cách trí thức của Nguyễn Văn Lục thể hiện rõ trong bài “Linh mục, vai trò tôn giáo và chính trị”, mục I: “Vai trò tôn giáo và chính trị của các giám mục tiên khởi Việt Nam”, trong đó những ý tưởng chính và tài liệu hoàn toàn của Charles Keith [Annam Uplifted: The First Vietnamese Catholic Bishops and the Birth of a National Church, 1919-1945] mà Phạm Minh Ngọc đã dịch sang tiếng Việt và đăng trên Talawas trước đây. Ông Lục đã lấy những tài liệu và ý kiến của Charles Keith làm của mình, thêm mắm thêm muối, thay đổi chút ít theo ý mình, thỉnh thoảng cũng trích một đoạn ngắn của Charles Keith, và làm như đó là sáng tác độc đáo của mình về sử. Nhưng ông Lục, vì cái vòng kim cô Ca-tô xiết chặt trên đầu, cho nên thấy Charles Keith viết rất phù hợp với tâm cảnh của ông ta và không nhận ra được là Charles Keith viết rất nhiều điều sai lầm trong đó mà tôi sẽ chứng minh trong một phần sau. Ông Lục viết:

Bài viết này dựa trên những biến cố chính trị lớn trong thế kỷ 20, người viết [nghĩa là chính Nguyễn Văn Lục] nhìn lại giáo hội Việt Nam thông qua các vị lãnh đạo là các giám mục Việt Nam, đặc biệt 4 giám mục tiên khởi, các giám mục Nguyễn Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn, Ngô Đình Thục và Lê Hữu Từ.

Nhưng đây chính là nội dung bài của Charles Keith mà Phạm Minh Ngọc đã dịch và đăng trên Talawas. Độc giả có thể kiểm chứng điều này trên Talawas 2009, hoặc click vào kết nối sau đây: http://www.tapchitalawas.org/pdf/talawas_tapchi_muathu09_Keith.pdf

Mặt khác, trong bài, ông Nguyễn Văn Lục đưa ra một đống tài liệu về Ngô Đình Thục để chứng tỏ lòng “yêu nước, yêu dân tộc” [sic] của ông Giám mục này, biện hộ cho bức thư của Giám mục Thục gửi Toàn Quyền Decoux mà nội dung là thú nhận mình thuộc dòng họ “Tam Đại Việt Gian” Ngô Đình ở Quảng Bình, với lý luận trẻ con của ông Lục là vì tình cảm gia đình, muốn cứu hai em đang bị Pháp bắt giữ vì xu hướng theo Nhật, và vì bị Pháp cho là chống Pháp nên Giám mục Thục mới phải “hi sinh tiếng tăm của mình” [sic] để viết một bức thư như vậy, rồi đưa ra lời chú thích như sau:

Chú thích: Tất cả các lá thư vừa trích dẫn ở trên là tài liệu riêng của gia đình của người viết. Đó là những tài liệu duy nhất có được và mọi trích dẫn nếu cần, xin nêu rõ xuất xứ.

Ai muốn tin vào lời Chú Thích này thì cứ việc tin, nhưng lời Chú Thích không có tính cách chuyên nghiệp (unprofessional) và không nằm trong lãnh vực học thuật đối với tôi thì chẳng có một giá trị nào.

Vì vậy tôi sẽ không phê bình bài viết của ông Nguyễn Văn Lục về 4 Giám mục tiên khởi của Việt nam mà nội dung chỉ là cóp nhặt của Charles Keith và đi thẳng vào việc phê bình vài đoạn trong bài gốc, bài của Charles Keith. Còn bài “Một số vấn đề của người Thiên Chúa giáo trước và sau khi di cư vào miền Nam” của ông Nguyễn Văn Lục tôi sẽ xét đến sau.

►●◄

Đọc Charles Keith chúng ta thấy rõ là nội dung bài này không ngoài việc ca tụng chủ trương bản địa hóa các giáo hội Ca-tô địa phương của Vatican, làm nhẹ sự liên hệ gắn bó giữa Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam và thực dân Pháp cũng như sự lệ thuộc của Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam vào các thừa sai ngoại quốc và Vatican, đưa ra những thông tin một chiều, phần lớn là của các tín đồ Ca-tô Rô-ma Giáo, và nói lên một hoang tưởng là có một giáo hội dân tộc và độc lập của Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam. Ngay cái đầu đề bài của Charles Keith: “An Nam vùng lên: Những vị giám mục đầu tiên của Việt Nam và sự hình thành giáo hội dân tộc, giai đoạn 1919-1945.” cũng đã chứng tỏ tác giả không biết nhiều về lịch sử Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam qua một số tài liệu chọn lọc và diễn giải theo chiều hướng của mình. Tác giả viết:

Các vị giám mục mới được tấn phong [từ 1933 đến 1945] là những nhân vật quan trọng, được coi gần như những nhà tiên tri - họ là những đại diện đầy quyền lực của một cộng đồng tôn giáo có mối liên hệ đang ngày càng mở rộng trên toàn cõi Việt Nam, đại diện cho phần đang gia tăng của thế giới Thiên chúa giáo, đại diện cho tinh thần độc lập [tách] khỏi quá khứ truyền giáo trước kia.

Tác giả cho rằng, vì có 4 Giám mục Việt Nam được tấn phong cho nên giáo hội Công giáo Việt Nam đã trở thành một giáo hội dân tộc, không còn lệ thuộc các thừa sai ngoại quốc. Nhưng làm sao có thể tách khỏi quá khứ truyền giáo trước kia? Vì quá khứ truyền giáo trước kia đã để lại một di sản cho Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam: nền “đạo lý Thiên-La Đắc Lộ”, cụm từ Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang dùng để chỉ những ảnh hưởng tai hại của Thiên Chúa Giáo La Mã (Thiên-La) mà giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc-Lộ) đã mang đến đầu độc đầu óc lớp người dân thấp kém nhất trong xã hội Việt Nam [Xin đọc Chương 15 trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư (1954-1963) của Giáo sư Quang]. Đọc cuốn Hành Trình Truyền Giáo của Alexandre de Rhodes chúng ta thấy rõ điều này. Độc giả muốn biết về thủ đoạn truyền giáo lừa bịp của Rhodes, xin đọc:
http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN50.php [Di Hại Của “Nền Đạo Lý Thiên-La Đắc-Lộ” Nhân Đọc Cuốn “Hành Trình Và Truyền Giáo” Của Alexandre de Rhodes]

Hơn nữa tác giả không hề biết là trước năm 1960, Việt Nam chỉ có Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam, gồm những ốc đảo giáo dân riêng biệt trong đó có những viên chức lẻ tẻ của Vatican, thay mặt Vatican cai quản các giáo phận theo đường lối và sự chỉ đạo của Vatican, chứ chẳng làm gì có cái gọi là “giáo hội”. Điều này chúng ta có thể thấy rõ trong vài đoạn trích dẫn từ một văn kiện của Vatican, thiết lập hàng Giáo Phẩm Ca-tô năm 1960:

http://www.simonhoadalat.com/DIAPHAN/KimKhanh2010/01SacLenhVenerabilium.htm:

Tông sắc Venerabilium Nostrorum: Tông sắc VENERABILIUM NOSTRORUM ngày 24.11.1960, được công bố tại Việt Nam ngày 08.12.1960 và đăng trong Acta Apostolicae Sedis năm 1961, số 7 ra ngày 1.7.1961 trang 346-350, của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII về việc thiết lập phẩm trật Giáo Hội tại Việt Nam:

Ta lấy quyền Tông Tòa [tức tòa thánh Vatican] mà quyết định và truyền thi hành như sau : Tại Việt Nam sẽ thành lập ba Giáo Tỉnh, tức là :

GIÁO TỈNH HÀ NỘI gồm Tổng Giám mục Hà Nội, tới nay chỉ là Đại diện Tông Tòa, với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Thánh Giuse, và thêm những Giám tòa thuộc hạt từ nay cũng hết là Đại diện Tông Tòa, để trở nên Địa phận Chính tòa, tức là : Lạng Sơn, Hải Phòng và Bắc Ninh, Hưng Hóa, Thái Bình, Bùi Chu, Phát Diệm, Thanh Hóa, Vinh

GIÁO TỈNH HUẾ gồm Tổng Giám mục Huế, trước đây chỉ là Đại diện Tông Tòa, với nhà thờ Chính tòa Danh hiệu Trái Tim Cực Sạch Đức Mẹ, và thêm các Giám tòa thuộc hạt đã được trở thành Địa phận Chính tòa: Qui Nhơn, Nha Trang, KonTum.

Sau cùng, GIÁO TỈNH SAIGON gồm Tổng Giám mục Sài gòn, trước đây chỉ là Đại diện Tông Tòa, với nhà thờ Chính tòa danh hiệu Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội, và thêm các Địa phận thuộc hạt trước kia chỉ là Đại diện Tông Tòa, tức là: Vĩnh Long, Cần Thơ, Và các Địa phận mới được thành lập : Đà Lạt, Mỹ Tho, Long Xuyên…

Ta cũng lệnh cho các Địa phận Lạng Sơn, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Thái Bình, Huế, đến nay vẫn do Hội Thừa Sai Ba lê và Dòng Đa Minh điều khiển, và các Địa phận mới Đà Lạt, Mỹ Tho, Long Xuyên, tất cả các Địa phận kể trên từ nay sẽ trao cho Giáo sĩ Triều Việt Nam quản nhậm. Ta cũng ban cho các Địa phận vừa nói và các Địa phận khác đã kể trên, cho các nhà thờ Chính tòa cũng như các Giám mục lãnh đạo được mọi quyền lợi, danh dự, đặc ân thích xứng. Đối với các Giám mục lãnh đạo, Ta còn đặt thêm trọng trách và nhiệm vụ. Tất cả các Địa phận trên đây sẽ tiếp tục trực thuộc Thánh Bộ Truyền Giáo[có tổng hành dinh ở Vatican]

Sắc chỉ của Ta đây sẽ được niêm ấn chì và Ta truyền cho Vị Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương Ta đã nói trên, phải đích thân hay ủy nhiệm người khác thi hành, miễn là người ấy có chức vị trong Giáo Hội… Ý Ta là Sắc Chỉ này có hiệu lực tức khắc và mãi về sau, cho nên tất cả những gì được ấn định trong Sắc này phải được những người liên hệ tôn trọng thi hành và như thế là có hiệu lực.

Không một luật lệ nào nghịch lại có thể ngăn cản hiệu lực của Sắc Chỉ nầy : chính Sắc Chỉ này hủy bỏ các luật lệ ấy. Vì thế bất kỳ ai, ở chức vị nào, hữu ý hay vô tình nghịch lại những sự Ta vừa nói trên, thì Ta luận phi và kể là vô giá trị.

Nếu ai dám khinh dể hay khước từ cách nào toàn Sắc Chỉ này thì hãy biết rằng sẽ bị những hình phạt Giáo luật đã ra cho những người không tuân lệnh các Đức Giáo Hoàng.

Đây là một sắc lệnh của vua truyền xuống cho các thuộc hạ thi hành chứ không phải là thể theo tinh thần bình đẳng của mọi người trước Chúa, như giáo hội Ca-tô vẫn dạy tín đồ. Điều rõ ràng là Sắc Chỉ này nhằm mục đích bản địa hóa Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam thành một giáo hội tự trị (autonomous church, từ chính xác mà Peter Hansen dùng trong luận án “The Virgin Heads South: Northern Catholic Refugees in South Vietnam, 1954-1964), nghĩa là dùng người Việt cai quản người Việt nhưng vẫn dưới quyền chỉ đạo tuyệt đối của Vatican, chứ không phải là một giáo hội dân tộc (national church), đồng nghĩa với “Quốc giáo”, một giáo hội mà ý nghĩa của nó không thể tách rời tinh thần độc lập, không phụ thuộc bất cứ thế lực ngoại quốc nào. Bởi vậy nên Charlie Nguyễn, một trí thức Ca-tô đạo gốc nhiều đời từ Ninh Cường, người biết rõ đạo mình hơn ai hết, đã đưa ra những nhận định rất chính xác và sâu sắc sau đây:

Trong thư chung năm 1980, HĐGMVN kêu gọi : “Chúng ta phải là Hội Thánh của Đức Giêsu Kitô trong lòng dân tộc Việt Nam”, nghĩa là phải sống gắn bó với quê hương, hòa mình vào cuộc sống của đất nước và diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc. Thực sự đây chỉ là một thủ đoạn dùng chiêu bài “trở về với Dân tộc”. HĐGMVN do Vatican thành lập do sắc chỉ ngày 24/11/1960 của GH Gioan XXIII. Các giám mục đều do Vatican tuyển lựa kỹ càng, căn cứ vào lòng trung thành tuyệt đối đối với Tòa Thánh. Vatican xử dụng HĐGMVN như một ban tham mưu tối cao bản địa cho đạo quân thứ năm của họ tại Việt Nam. Các thành phần trong HĐGMVN đều là những kẻ “bán linh hồn cho quỉ” vì họ luôn tâm niệm “thà mất nước chứ không thà mất Vatican!”.

Muốn thực sự đưa 7 triệu đồng bào Công giáo trở về với dân tộc chỉ có một con đường duy nhất là: giải tán HĐGMVN do Vatican lập nên và sau đó là thiết lập một giáo hội Công giáo VN tự trị (hoàn toàn tách biệt khỏi sự kiềm tỏa của Vatican).

“Giáo hội Công giáo Rôma là một tổ chức tôn giáo đế quốc và toàn cầu hóa, có một chính quyền trung ương tập quyền và độc tài quân phiệt theo mô hình của các hoàng đế Casear mà Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam chỉ là một chư hầu, một giáo phái ngoại nhập, đặt dưới quyền chỉ huy trói buộc nghiêm nhặt của giáo hoàng tại Rome.

Vậy, HĐGMVN hiện nay chỉ là một công cụ của Vatican - một đế quốc xảo quyệt nhất thế giới - để nô lệ hóa một thành phần dân tộc VN gồm 7 triệu tín đồ Công giáo. Thực chất HĐGMVN là một tập hợp Việt gian phản quốc núp dưới danh nghĩa tôn giáo để công khai nằm vùng trong lòng dân tộc.

[Xin đọc: http://home.earthlink.net/~charlienguyen/phan_dinh_diem.htm]

Charles Keith viết:

Phong trào bản địa hoá hàng giáo phẩm trong Nhà thờ bên ngoài châu Âu bắt đầu phát triển từ Tông thư Maximum Illud (Về việc truyền bá đức tin trên toàn thế giới) của giáo hoàng Benedict XV và Tông thư Rerum Ecclesiae (Về sứ mệnh của Thiên chúa giáo). Những lời tuyên bố này đánh dấu sự thay đổi quyết định trong quan hệ giữa Rome với các tổ chức truyền giáo và chính quyền thuộc địa của các nước châu Âu.

Có vẻ như tác giả không đọc kỹ hay cố tình diễn giải Tông thư Maximum Illud theo chiều hướng chủ đích của mình. Bản địa hóa hàng giáo phẩm trong Nhà Thờ bên ngoài châu Âu không có nghĩa là để tạo cơ sở cho những giáo hội dân tộc, độc lập v…v… mà tác giả cố tình nhấn mạnh trong việc tấn phong 4 giám mục tiên khởi của Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam.

Nội dung Tông thư Maximum Illud của Giáo hoàng Benedict XV ban hành năm 1919, ngay sau cuộc Đệ Nhất Thế Chiến, mà ảnh hưởng của cuộc chiến đã làm suy giảm mọi nỗ lực truyền đạo của giáo hội Ca-tô ở Âu Châu, chỉ là một kế hoạch gia tăng truyền đạo trên thế giới chứ chẳng nói gì đến giáo hội dân tộc hay tinh thần dân tộc của các giáo hội địa phương, điều mà Vatican không bao giờ chấp nhận. Đó cũng không phải là một phong trào trong nội bộ Ca-tô Rô-ma Giáo mà chỉ là một mớ chỉ thị của Giáo hoàng về kế hoạch truyền đạo của Vatican đưa ra tùy theo thời thế và nhu cầu của Giáo hội hoàn vũ.

Maximum Illud: On the Propagation of the Faith Throughout the World, Apostolic Letter of Benedict XV, November 30, 1919.

Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong cái tông thư này. Tông thư mở đầu với câu, dựa vào một niềm tin nay đã không còn giá trị:

Trước khi trở về trời với Cha, Chúa Giê-su Ki Tô của chúng ta nói với các đệ tử những lời sau: “Hãy đi khắp thế giới và rao giảng phúc âm cho mọi người” (Mark 16:15). Với những lời trên, Ông ta đã trao cho họ một bổn phận, một trách nhiệm thánh to lớn không thể lơi là với cái chết của các tông đồ mà buộc vào những người kế vị, người này tới người khác, cho đến ngày tận cùng của thế giới – nghĩa là, chừng nào mà trên thế giới còn có những người mà chân lý phúc âm có thể giải thoát họ. Từ thuở đó về sau, trải qua nhiều thế kỷ, giáo hội chưa bao giờ quên lệnh trên của Gót ban cho giáo hội, và chưa bao giờ ngừng phái tới mọi nơi trên thế giới những người mang giáo lý của giáo hội mà Gót đã trao phó cho giáo hội, và những linh mục của giáo hội, sự cứu rỗi vĩnh hằng của đấng Ki-tô cho loài người. (1)

Chúng ta không thể trách Giáo hoàng Benedict XV là tin vào những điều không có cơ sở thuyết phục trong Thánh Kinh, vì đó là những điều mà giáo hội dựng lên để huyễn hoặc tín đồ và bành trướng đạo trên thế giới. Hơn nữa, trong thời đó thì từ Giáo hoàng cho đến tín đồ, chẳng có ai đọc những tác phẩm nghiên cứu về Tân Ước đã được xuất bản, và có thể giới chăn chiên thường chỉ lấy những câu ngoài ngữ cảnh (out of context) ở trong Thánh Kinh để khuyến dụ tín đồ duy trì đức tin Ca-tô. Nhưng với sự hiểu biết của thế giới ngày nay thì câu trên của Giáo hoàng Benedict XV chỉ phản ánh một đức tin thời Trung Cổ. Linh mục James Kavanaugh đã coi sự cứu rỗi vĩnh hằng của đấng Ki Tô chỉ là một huyền thoại (The salvation Myth). Trong cuốn “Theo Đúng Như Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Năng Trong Thánh Kinh” (Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority, Hampton Roads Pub. Co., VA, 1996), Mục sư Ernie Bringas viết, trg. 41, 141:

Những tín đồ Ki Tô Giáo đã luôn luôn phải đối diện với mối nguy thứ nhất: tin vào Chân lý Thánh Kinh; họ cũng đã luôn luôn phải đối diện với mối nguy thứ hai: không nhận biết mối nguy thứ nhất (Christians have always been confronted by a first danger – the assumption of biblical truth; thay have always been confronted by a second danger – the failure to recognize the first danger).

Thảm thay, ảnh hưởng của họ [những nhà truyền giáo] lại rất là rộng rãi – rộng rãi chỉ vì sự rao giảng những niềm tin cũ kỹ [thuộc thế kỷ 17] về tôn giáo của họ phục vụ cho trạng thái tâm lý cũng cũ kỹ (không có kiến thức mới) của quần chúng. Thực tế là, người mù dẫn giắt người mù. [Tragically, their influence is extensive – extensive only because their astrolabe preaching caters to the astrolabe mentality of the masses. In effect, the blind is leading the blind.]

Thật vậy, ngày nay, những nghiên cứu sâu rộng về Thánh Kinh của các học giả Tây phương trong vòng 200 năm gần đây đã chứng tỏ là Chúa Giê-su thành lập giáo hội tông truyền, nhiệm vụ truyền đạo, rao giảng Phúc âm (sic) trên thế giới, không có căn bản trong Tân Ước. Bởi vì Giê-su không bao giờ có ý định thành lập một giáo hội mà Ca-tô Rô-ma Giáo tự nhận là “Tông truyền”, và nhất là Giê-su không có ý định truyền đạo của ông ta cho bất cứ sắc dân nào ngoài dân Do Thái. Điều này thật rất rõ ràng trong Tân Ước.

Trước hết, chúng ta nên biết rằng câu trong Tân Ước ở trên không phải là câu Giê-su nói khi còn sống mà là khi đã chết rồi, và theo luận điệu của nền Thần học Ca-Tô, đã sống lại sau ba ngày ba đêm (nhưng thực ra chỉ có hơn một ngày và 2 đêm: từ 3 giờ chiều thứ Sáu đến sáng sớm Chủ Nhật), hiện ra trước các tông đồ, và sau 40 ngày, trước khi [đeo hỏa tiễn] bay lên trời, ra lệnh cho họ đi khắp thế giới truyền đạo, nếu chúng ta có thể tin được chuyện “sống lại” và “bay lên trời” đầy tính cách hoang đường này. Ngày nay, ngoài đám tín đồ thấp kém, không còn ai, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, tin vào chuyện “sống lại” của một xác chết. Các nhà Thần học đã tìm cách giải thích khác đi sự “sống lại” (resurrection) của Giê-su và gọi đó là sự sống lại của tâm linh (spiritual resurrection).

Thứ đến, tất cả các chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh ngày nay đã cho rằng câu mà giáo hội đặt vào miệng Giê-su sau khi ông ta đã nằm yên dưới mồ là do chính giáo hội thêm thắt vào Tân Ước sau này để thực hiện âm mưu bành trướng đạo với mục đích chính yếu là tạo quyền lực trên đám dân thấp kém, cả tin, để vơ vét của cải thế gian. Chúng ta chỉ cần nhìn vào tâm cảnh nô lệ Vatican của các tín đồ bản xứ từ trên xuống dưới và tài sản của giáo hội trên khắp thế giới là thấy ngay nhận định như trên của các học giả không phải là vô căn cứ. Mặt khác lời dạy ở trên khi Giê-su đã chết hoàn toàn mâu thuẫn với những lời ông dạy tông đồ đi truyền đạo khi ông ta còn sống.

Ngoài ra, trong phần phân tích bằng chứng ngụy tạo ra chuyện Giê-su thành lập giáo hội và trao quyền lại cho Phê-rô ở trên, chúng ta đã thấy rõ, Tân Ước viết rằng Giê-su tin rằng ngày tận thế sắp tới, sẽ xảy ra ngay trong thời đại của ông, vậy bảo các tông đồ đi truyền đạo trên thế giới để làm gì? Như trên đã nói, trong Tân Ước có nhiều điều trái ngược hẳn với tinh thần của câu giáo hội ngụy tạo, đặt vào miệng Giê-su khi ông ta đã chết. Chứng minh?

Thứ nhất, tín đồ Ki Tô Giáo nói chung tin rằng Thánh Kinh là những lời mạc khải không thể sai lầm của Chúa, Chúa Cha cũng như Chúa Con. Thánh Kinh viết rằng trái đất phẳng và dẹt, đứng yên một chỗ, ở trên có một vòm trời bằng đồng thau v..v.. Vậy, ngay cả Chúa Cha cũng không biết là quả đất tròn và cho đến thế kỷ thứ 4, Thánh Augustine, bậc Thánh của Ca-Tô Giáo được coi là ông tổ của nền Thần học Đức Tin Ca-Tô, có trí tuệ siêu việt v..v.. cũng còn không quan niệm nổi một trái đất có hình cầu qua lời phát biểu: “Không thể nào có chuyện có người ở phía bên kia của trái đất, vì Thánh Kinh không ghi lại bất cứ một giống người nào như vậy trong các hậu duệ của Adam” (It is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam). Vậy, trước đó gần 400 năm, Chúa Con (Giê-su) bảo các tông đồ đi đến “mọi quốc gia” thì đó là những quốc gia nào? Hiển nhiên đó không phải là những quốc gia ở phía bên kia của một trái đất hình cầu, mà chỉ là những quốc gia giới hạn trong tầm nhìn của Giê-su, nghĩa là không ra ngoài những quốc gia trong miền Trung Đông. Nhưng ngay cả với tầm nhìn giới hạn của Giê-su về thế giới Trung Đông, Giê-su còn giới hạn hơn nữa về những nơi mà Giê-su muốn truyền bá đạo của mình. Điều này thật là rõ ràng khi chúng ta đọc nhận định sau đây của nữ giáo sư thần học Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ đầu tiên trên thế giới chiếm được ngôi vị “Giáo sư thần học Ca-tô” [The first woman in the world to hold a chair in Catholic theology (1970)]:

Giê-su không hề có ý định thành lập một “giáo hội”, nhất lại là một “giáo hội phổ quát” trên khắp thế giới. Về một thí dụ chân thực về quan điểm của Giê-su, chúng ta hãy xét đoạn văn trong Thánh Kinh, Matthew 10: 5-6, nội dung đối ngược hẳn với nhiệm vụ truyền giáo trên thế giới: Mười hai tông đồ Giê-su phái đi để truyền đạo với lời dặn dò:“Không được đi đến nơi nào có dân Gentiles, và không được vào thành phố nào của dân Samaritan, mà chỉ đi đến những con dân Do Thái bị lạc(nghĩa là chỉ đi rao truyền đạo Chúa trong dân Do Thái mà thôi. Và câu tiếp theo trong Thánh Kinh, Matthew 10:7“Trong khi đi hãy rao truyền tin Nước Trời đã gần đến rồi”). Hai đoạn khác là trong Matthew 15:24: “Ta được phái xuống trần chỉ để cứu đàn chiên Do Thái bị lạc mà thôi”, Matthew 10: 23: “Ta bảo đảm với các ngươi, các ngươi chưa đi hết các thành phố của Do Thái thì Con của Người (nghĩa là Ta: Giê-su) đã đến rồi”.

Chính Giê-su – và ngày nay mọi nhà thần học đều biết vậy – tin rằng Nước Chúa sắp tới. Điều này đối ngược với nhiệm vụ truyền bá đạo một cách đại qui mô trên thế giới (2).

Và lời tự nhận Giáo hội Ca-tô là Giáo hội “Tông truyền” nay cũng đã bị mọi học giả bác bỏ, điển hình là nhận định của Linh mục Joseph McCabe trong cuốn Sự Thật Về Giáo Hội Ca Tô Rô-ma (The Truth About The Catholic Church, Girard, KS; Haldeman Julius, 1942).

“Trong tất cả những chuyện giả tưởng vẫn còn được ẩn núp dưới cái dù dột nát “Chân lý Ca Tô Giáo”, truyền thuyết về chế độ giáo hoàng được thành lập bởi Chúa và hệ thống giáo hoàng thật đúng là lì lợm và có tính cách lãng mạn nhất. Chẳng có quyền lực thần thánh nào, mà chỉ là một chuỗi những ngụy tạo và cưỡng bách, những lừa đảo tôn giáo và tham vọng ngỗ ngược, phạm phải trong một thời đại cực kỳ ngu si, đã dựng lên quyền lực của giáo hoàng, hệ thống giáo sĩ và tín ngưỡng.

Từ “Giáo hội” chẳng có nghĩa gì trong thời của Giê-su và Phê-rô. Không có từ đó trong tiếng Aramic. Giê-su đã phải nói là “Giáo đường” [nơi tụ tập cầu nguyện của người Do Thái], và ông ta ghét những Giáo đường.” (3)

Chúng ta cũng đã biết, trong Tân Ước, cả 4 Phúc Âm: Matthew 16: 27-28, 24:34; Mark 9:1, 13:30; Luke 21:27, 32; và John 14:3, đều viết rõ là Giê-su tin rằng Ngày Tận Thế đã sắp tới, và ông ta sẽ trở lại ngay khi một số tông đồ của ông còn sống, vậy ông ta không có lý do gì để mà sau khi chết lại nhỏm dậy truyền cho các tông đồ phải đi truyền đạo của ông ta trên khắp thế giới, tới nay đã 2000 năm rồi. Cho nên, sự bành trướng trên thế giới của đạo Giê-su chẳng qua chỉ là sự bành trướng của những tổ chức tôn giáo thế tục, buôn thần bán thánh, lấy nhân vật Giê-su mà họ ngụy tạo thành Chúa cứu thế làm bung xung để huyễn hoặc đầu óc con người, tạo thế lực và của cải vật chất như lịch sử đã chứng tỏ. Giáo hội lừa dối tín đồ, dạy họ phải đi truyền đạo, một nhiệm vụ cao quý để loan báo Tin Mừng của Chúa, hứa hẹn với họ một cái bánh vẽ trên trời, và tín đồ, vì không đọc Thánh Kinh, và vì một niềm tin không cần biết không cần hiểu, nên nhắm mắt đi truyền đạo với tất cả những thủ đoạn bất lương mà lịch sử đã ghi rõ, mà không hề biết rằng đó chỉ là sách lược bành trướng của giáo hội trên thế giới, trái ngược hẳn với những gì Giê-su nói trong Thánh Kinh. Cho nên ngày nay người nào mà còn rao giảng Giáo hội Ca-tô Rô-ma là giáo hội tông truyền, do Chúa Giê-su thành lập và tín đồ Ca-tô phải theo lời Chúa đi truyền bá đạo trên khắp thế giới thì thực chất chỉ là “người mù dẫn giắt người mù”.

Sau đây chúng ta hãy đọc thêm một vài nét trong Thông tư Maximum Illud:

Người được trao phó cho nhiệm vụ của Ca-tô giáo phải đặc biệt quan tâm đến việc huấn luyện các linh mục bản xứ cho đoàn thể thánh thiêng. Trong chính sách này là niềm hi vọng lớn để có những giáo hội mới. Tuy nhiên, nếu đoàn thể linh mục bản xứ có đạt được những kết quả mà chúng ta mong muốn, điều tuyệt đối cần thiết là họ phải được huấn luyện và chuẩn bị cho tốt. Học vấn của họ phải trọn vẹn và đầy đủ, tuyệt hảo trong mọi giai đoạn, cùng một nền học vấn mà đoàn thể linh mục Tây phương có được. (4)

Thật là rõ ràng, việc đào tạo các linh mục bản xứ là hi vọng có thể kiếm thêm tín đồ, có thêm những giáo hội mới, chứ không phải để thiết lập những giáo hội dân tộc, độc lập, thoát ra khỏi thần quyền và thế quyền của Vatican. Giáo hoàng muốn các linh mục bản xứ phải có cùng một nền giáo dục như các linh mục Tây phương, vì trong một đoạn khác, Thông tư viết: “Một sự kiện đáng phàn nàn là, vẫn còn những nơi trên thế giới không được nghe rao giảng đức tin trong nhiều thế kỷ, và vẫn còn có một đoàn thể linh mục bản xứ phẩm chất thấp kém[And yet it is a deplorable fact that, there still remain sections of the world that have heard the Faith preached for several centuries, and still have a local clergy that is of inferior quality] Giáo hoàng ban Thông tư năm 1919. Vậy trong thời đó và ngay cả đến giữa thế kỷ 20, các linh mục Tây phương đã được đào tạo như thế nào? Chúng ta có ba tài liệu về sự đào tạo linh mục Tây phương của ba linh mục viết lại:

Linh Mục Joseph McCabe mô tả về sự đào tạo linh mục vào khoảng giữa thế kỷ 20 trong cuốn Sự Thực về Giáo Hội Ca Tô [The Truth About The Catholic Church] như sau:

Các linh mục được tuyển mộ khi còn rất trẻ tuổi, và thường được tuyển trong giới ít học. Trong mọi quốc gia, hiện nay giáo hội gặp khó khăn trong việc tuyển mộ những người xứng đáng, và do đó phải hạ thấp nhiều tiêu chuẩn về khả năng. Như là một quy luật, được chọn vào làm nghề linh mục là những thanh niên trẻ, đối với họ việc tấn phong linh mục có nghĩa là được thăng lên một địa vị và uy tín mà với những khả năng của họ, họ không thể đạt được ở ngoài đời.

Điều này đặt cái gánh nặng đào tạo họ hầu như hoàn toàn vào trong tay giáo hội, và sở học của họ thường rất nghèo nàn. Rất ít linh mục đọc được những tác phẩm của những tác giả viết bằng tiếng La Tinh (trừ Ceasar), hay là hiểu Horace, Tacitus, hay Juvenal. Về tiếng Hi Lạp, như là một quy luật, họ chỉ có một kiến thức sơ đẳng mà họ thường quên ngay. Về khoa học, lịch sử, và triết lý, theo cái nghĩa hiện đại, như là một quy luật, họ không có một kiến thức nào.

Khoa học được dạy trong một số rất ít các trường huấn luyện Linh mục và cũng chỉ ở trình độ sơ đẳng và trong một thời gian ngắn. Sử học được trình bày trong vài bài về lịch sử Ca- Tô, do các tác giả Ca-Tô viết.

Về khoa học và sử học, tôi không được học một bài nào trong suốt thời gian đào tạo, và, như tôi đã nói, cái "triết học" mà tôi học được chỉ liên hệ đến triết học hiện đại một cách ít ỏi như là sự liên hệ của khoa chiêm tinh học với thiên văn học.

Cái nền giáo dục mà giáo hội ban cho tôi đã được chứng tỏ rõ ràng khi tôi "trở lại đời". Tôi không thể kiếm được một chân dạy học với đồng lương 10 đô la một tuần. Ông Forbes, bạn tôi, sau khi khảo sát kiến thức của tôi, rất tiếc mà bảo tôi rằng, sở học của tôi thật là vô dụng. 3 Linh mục đồng nghiệp của tôi lặng lẽ bỏ giáo hội ra kiếm sống ở ngoài đời. Cả 3 đều thất bại và phải quay trở lại giáo hội. Giáo hội chắc chắn là có nhiều linh mục như vậy." (5)

Linh Mục James Kavanaugh, trong cuốn Một Linh Mục Hiện Đại Nhận Xét về Giáo Hội Lỗi Thời Của Ông [A Modern Priest Looks At His Outdated Church, Pocket Book, New York, 1968] có kể về sự đào tạo các linh mục như sau, trang 20-21:

Sau Trung học tôi theo học 4 năm cho đến khi tôi được nhận là có đủ khả năng làm Linh mục. Trong học trình của tôi, rất hiếm khi bàn đến những nghi vấn hay quan niệm mà thường là hoặc trắng hoặc đen.

Thí dụ như, trong môn triết học, chúng tôi học qua Berkeley, Hume, và Kant chỉ trong vòng 1 tuần lễ..Chúng tôi phải học thuộc lòng từng mỗi đề luận và định nghĩa và chứng minh rằng "lý trí" chỉ có thể dẫn một người lương thiện đến niềm tin. Chúng tôi là những người chân thật duy nhất vì chúng tôi đã bênh vực bằng "lý trí" tất cả những giáo lý về đạo đức của giáo hội. Giáo hội Ca-Tô chống ly dị và kiểm soát sinh đẻ, chống tự do ngôn luận và tự do tư tưởng, chống sự giải thoát con người khỏi những cơn đau đớn, chống ngoại tình, tất cả đều là những kết luận hiển nhiên của một "lý trí" không bị che mờ bởi ham muốn và lòng kiêu hãnh. Sự hiện hữu của hàng triệu người "không có lý trí" có vẻ như là không quan trọng đối với giáo hội... Đó là một nền giáo dục không có sự đồng tình, một sự huấn luyện không có sự giúp đỡ. Tôi nghe những gì họ muốn tôi nghe, và nói những gì ban giám đốc mong muốn tôi nói như vậy. Người nào chống đối thì bị gạt ra ngoài. Chỉ có những người phục tùng luật lệ, hay những kẻ ngây thơ, tiêu cực mới tồn tại. Sáng kiến không được khuyến khích trừ phi đi theo đường lối đã được chấp nhận. "Tà đạo" là danh từ để chấm dứt mọi luận cứ, và "Giáo hội dạy rằng" là nghị trình nhỏ hẹp của mọi tranh luận. Tôi không được giáo dục mà được nặn thành. Tôi không được khuyến khích suy nghĩ mà chỉ được huấn luyện để bênh vực giáo hội. Người ta không muốn tôi suy tư mà chỉ muốn tôi học thuộc lòng.

Chúa ơi! Tôi đã trở thành cái gì? Người đòi hỏi tôi dẫn dắt con chiên với sự yếu kém của xác thịt tôi, phục vụ những người đang vật lộn với tội lỗi, và tôi đã trở nên một người cứng rắn và thoải mái trong sự phục vụ chính mình. Tôi không phải là "một đấng Ki Tô khác", (Giáo lý Ca-Tô nhét vào đầu những tín đồ có đầu mà không có óc cái giáo lý giáo hội bịa ra để ngự trị trên đám tín đồ là: "Cha cũng như Chúa" hay là “Chúa thứ hai”. Chẳng thế mà gần đây ở trong nước, trước những lời than phiền của giáo dân về sự bê bối của các Cha thì có ông Giám mục răn rằng: "Các con đừng có nói hành các Cha mà mắc tội với Chúa." (xin đọc bức thư ngỏ của LM Nguyễn Hữu Trọng gửi Giáo Hoàng và Hồng Y Phan Đình Tụng, đăng trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa, Tập 2; TCN)) và tôi cũng không hẳn là một con người. Tôi chỉ là một tù nhân, một mẫu mực được tổng hợp, một kẻ bênh vực cho một quá khứ mệt mỏi.

Chúa ơi! Nếu tôi sẽ trở thành một linh mục thì trước hết hãy để cho tôi làm một con người đã. Đừng bắt tôi phải trốn đằng sau cái cổ áo thày tu, chức tước, cái bề ngoài giả dối của tôi. Đừng bắt tôi phải đưa ra những câu trả lời mà chính tôi không còn tin, hoặc bắt tôi phải đúc nặn giáo dân thành những người không có nhân tính và những người đần độn chỉ biết tuân phục. Hãy để cho họ biết đến những nghi vấn do chính miệng tôi nói ra, và hãy để cho họ nói ra những nghi vấn của họ một cách thật thà. Đừng để cho tôi trói buộc họ vào giáo luật và địa ngục, hoặc làm họ sợ hãi với những câu chuyện về cái chết bất ngờ..." (6).

Chúng ta hãy nghe Linh Mục Emmett McLoughlin mô tả thực chất giáo dục Ca Tô trong việc đào tạo Linh mục như sau, ngay trong thế kỷ 20, trong cuốn Văn Hóa Mỹ và các Trường Học Ca Tô (American Culture and Catholic Schools, Lyle Stuart, New York, 1960, trg. 36 -37):

“Tôi không được học để suy nghĩ. Từ những năm của thời thơ ấu qua thời kỳ thiếu niên bối rối (trong nhà Dòng) cho đến khi thành người lớn, đầu óc tôi bị đúc trong một mô thức trí thức cũng như là được đúc trong bê tông.

Sự tiếp cận khoa học của tôi trong 21 năm là một "cua" về vật lý sơ đẳng. Trong 12 năm, tôi chẳng học được gì về văn học nổi tiếng của hoàn cầu. Những ánh sáng trí thức này được giam chặt trong Danh Sách Những Cuốn Sách Cấm Đọc của Giáo hội.

Nói ngắn gọn - tôi không được giáo dục - tôi chỉ bị tẩy não. Tôi đã đạt đến trình độ khô cứng của sự hiểu biết trí thức xoàng xĩnh.

Tôi đã trở nên một người máy, một linh mục với những lễ nghi thiêng liêng không rõ ràng, vô nghĩa ở sự hiệu quả của chúng cũng như là những bài ca của các thầy Pháp Haiti.

Tôi là một kỹ thuật viên của giáo hội được huấn luyện để đúc nặn những bộ óc trẻ, dễ uốn nắn..”(7).

Với thực chất đào tạo linh mục Tây phương như vậy thì các linh mục Việt Nam, qua tay đào tạo của các linh mục Tây phương như trên, sẽ được đào tạo như thế nào. Và các tín đồ của họ sẽ là như thế nào. Linh mục Kavanaugh đã nói rõ thế nào là một con người Ca-tô trong đoạn sau:

Người Catô giáo nhìn thế giới qua một hệ thống ngăn cấm họ là chính họ. Hắn có thể đi ngoài đường phố và coi mọi khuôn mặt, mọi trường hợp như là rơi vào đúng loại của nó. Hắn chưa từng bao giờ thực sự biết đến sự thích thú của tìm tòi, sự kỳ lạ của khám phá, sự lý thú của sự tự do trong những quyết định cá nhân. Thế giới là một kẻ lạ đối với hắn vì hắn xét đoán những công dân của thế giới trước khi biết họ hay hiểu họ. Hắn được dạy phải đọc những gì, suy tư làm sao, và coi ai là bạn.

Tôi quan sát người Catô giáo đến xem lễ và thương hại cho cách đào tạo đã vặn vẹo đầu óc của hắn và làm méo mó ý thức về tôn giáo của hắn. Hắn tới vì hắn được các bậc lãnh đạo tôn giáo bảo tới, những người cũng ngoan ngoãn và vô danh như hắn. Hắn đọc những lời kinh cầu nguyện gói ghém trong những câu giả tạo và làm những cử chỉ (quỳ gối làm dấu thánh giá. TCN) hoàn toàn xa lạ với lối sống hiện đại của hắn. Hắn sống trong thời đại của máy bay phản lực và bom nguyên tử, và cầu nguyện trong thế giới ma thuật của thời Trung Cổ. Hắn cảm thấy buồn chán trong sự hiện diện của Thiên Chúa của hắn (trong nhà thờ. TCN). Tuy nhiên hắn vẫn tới, vì hắn đã được dạy từ khi còn nhỏ là "Hỏa ngục là nơi đầy những kẻ không đi xem lễ". Hắn quá sợ hãi để thú nhận rằng hắn thật là buồn chán.

Trong hoạt động thường ngày, mắt của hắn hòa điệu với sự hữu hiệu và tiến bộ. Hắn tìm những cách có hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, đường lối mới để đến với đại chúng, dịch vụ mới để hấp dẫn đồng bào. Hắn có những quan điểm về hòa bình của thế giới, về cải tiến ngân sách, những suy tư về ngăn ngừa phạm pháp, về sự lành mạnh tâm thần, và về vấn đề giao thông trong những vùng có thị trấn lớn. Nhưng về tôn giáo hắn là một người máy chỉ biết đọc lại những câu trả lời mà người ta đã dạy hắn. Hắn chấp nhận mọi quyết định của giới linh mục mà không phản đối, có vẻ phân vân khi nghe đến một sự xào xáo, hâm lại những chân lý mà hắn đã học trong những trường đạo, và ủng hộ cái giáo hội đã tước đoạt đi đầu óc của hắn.

Người Ca-tô, nam hay nữ, đã mất đi sự tiếp cận với đời sống. Hắn sợ phải đọc những sách mà người khác đọc, sợ coi những phim truyện phản ánh đời sống hiện đại...

Giáo hội, giống như là những bậc cha mẹ sợ hãi và giận dữ, vơ vào phần mình mọi công trạng trong việc giúp đỡ mà giáo hội có thể cống hiến cho con người. Kết quả là những người Catô bị đối xử như những đứa trẻ và chúng tiếp tục cư xử như những đứa trẻ...

Người Catô chống thuyết tiến hóa và hắn đã sai lầm. Hắn tiếp tục ủng hộ chế độ quân chủ lâu sau khi chế độ dân chủ đã khiến cho con người được tự do. Hắn đẩy mạnh thành kiến chủng tộc cho đến khi những người "ngoại giáo" chứng tỏ là hắn đã lầm. Hắn chống lấy người ngoại giáo và tiếp tục chống cho đến ngày nay tuy rằng hắn đang được hưởng những sự tự do mà chế độ đa tôn giáo đã thắng. Hắn đòi hỏi phải được tự do ý thức nhưng hắn lại muốn những người Tin Lành phải nuôi con cái trong đức tin của hắn..

Hắn không có quyền hành động theo lương tâm của chính mình, hay có quyền chọn lựa những nguyên lý sống có thể giúp hắn. Hắn là một tín đồ Ca-tô, một đứa trẻ đòi người khác chọn lựa thay cho hắn..

Do đó, người Ca-tô không thể biết ý nghĩa thực của sự đối thoại, chỉ biết đưa ra những luận cứ để chống đỡ cái lập trường mà hắn đã thừa hưởng từ khi còn nhỏ...

Người Ca-tô là một dịch vụ trả lời có tổ chức mà nhiệm vụ đầu tiên của hắn là bảo vệ giáo hội của hắn... (8)

Linh mục James Kavanaugh còn viết rất nhiều về thế nào là một người Ca-tô nhưng tôi cho vài trích dẫn điển hình trên cũng có thể gọi là tạm đủ. Chúng ta cần phải hiểu Linh mục Kavanaugh không có ý định vơ đũa cả nắm, ông ta chỉ mô tả những đặc tính của tuyệt đại đa số tín đồ Ca-tô thấp kém ở Tây phương chứ không phải mọi tín đồ Ca-tô. Về trình độ và mê tín, các tín đồ Ca-tô Việt Nam còn kém hơn các tín đồ Ca-tô Tây phương nhiều. Chẳng vậy mà ngày nay, trong khi các tín đồ Ca-tô Tây phương đã thức tỉnh, không còn tin vào những giáo lý đã lỗi thời, không còn tha thiết với việc đi lễ nhà thờ, thì các tín đồ Ca-tô Việt Nam vẫn nườm nượp đi lễ nhà thờ, có khi một ngày mấy dạo.

Nhưng thế nào là thấp kém? Sự thấp kém thể hiện qua những điều họ còn tin và qua sự hiểu biết về chính tôn giáo của họ. Cho nên thấp kém ở đây không hẳn chỉ có nghĩa là ít học hay vô học, hay là không đủ trí thông minh, mà còn có nghĩa không dứt bỏ được những tín lý đã lỗi thời, không còn giá trị, không biết đến những diễn biến ngay chính trong nội bộ giáo hội, và không theo kịp sự tiến bộ trí thức của nhân loại về vấn đề tôn giáo. Mô tả về người Ca-tô như trên của linh mục James Kavanaugh quả là chính xác vì chúng ta cũng thấy rõ những điều đó trong đa số trí thức Ca-tô Việt Nam. Họ có thể thành công trong bất cứ bộ môn nào khác, nhưng về chính tôn giáo của họ thì trình độ hiểu biết của họ rất thấp kém, còn đượm nhiều màu sắc mê tín vào những chuyện không thể tin được.

Trong thông tư Maximun Illud có một câu mà đọc xong câu đó tôi muốn đưa ra một đề nghị. Câu đó như sau:

Như Chúa của chúng ta đã nói “về bất cứ điều gì mà chúng xin, lời cầu nguyện của chúng sẽ được Cha Ta ở trên trời ban cho (Matthew 18:19).” [As Our Lord said, ".. regarding anything they ask for, their prayer shall be granted by My Father in heaven" (Matthew 18:19).]

Chúng ta đã biết kết quả thắp nến cầu nguyện với búa, kìm, và xà beng ở Tòa Khâm Sứ ra sao. Có thể ngôi sao vàng có uy thế hơn ngôi sao ở Bethlehem.. Nhưng có một lời cầu nguyện dễ hơn nhiều mà không có ngôi sao nào có thể ngăn cản được mà tôi đề nghị là như sau:

«Lạy Chúa, Chúa dạy chúng con cầu nguyện bất cứ điều gì thì Chúa cũng cho. Chúng con biết rằng lời cầu nguyện đó phải không thuộc tư lợi hay vô đạo đức. Chúng con xin cầu nguyện là Chúa Cha ở trên trời hãy cho phép Chúa Con hiện ra cho chúng con và những người ngoại đạo thấy một lần để chắc chắn họ sẽ đổ xô đi rửa tội và chúng con an tâm chờ ngày Chúa trở lại trần để cứu rỗi phần hồn của chúng con nếu chúng con chưa chết. Amen».

Chúng ta thấy, trong Tông thư Maximum Illud không có chỗ nào nói đến ý định tạo cơ sở cho các giáo hội địa phương thành giáo hội dân tộc với tinh thần dân tộc. Vậy thì Charles Keith muốn nói đến giáo hội dân tộc Việt Nam là giáo hội nào, và tinh thần độc lập theo nghĩa nào? Giáo hội dân tộc nào lại có thể dẹp bàn thờ tổ tiên trong mấy trăm năm, phải chờ lệnh của Vatican trong công đồng Vatican II vào thập niên 1960 tháo khoán mới dám lác đác cúng giỗ lại, và tới cuối thế kỷ 20, một linh mục vẫn gọi đó là “làm chay cúng ruồi”. Giáo hội dân tộc Việt Nam nào mà sau 400 năm, từ 1533 đến 1933, mới có một vị Giám mục được tấn phong (Nguyễn Bá Tòng), và trong đại lễ gắn huy chương ở Phát Diệm, vị Giám mục này đã đọc diễn văn tỏ lòng trung thành của con dân Việt-Nam [sic] đối với Mẫu Quốc. Giáo hội dân tộc Việt Nam nào mà tới năm 2008, sau khi làm loạn ở tòa khâm sứ mấy chục ngày bất kể sự khuyên can của chính quyền, cuối cùng phải líu ríu cuốn gói cờ quạt, thập giá theo lệnh của hồng y Bertone ở Vatican. Giáo hội dân tộc nào mà một Tổng Giám Mục cảm thấy nhục nhã khi mang hộ chiếu Việt Nam? Cho nên, Charlie Nguyễn đã nhận định rất đúng: “Các giám mục đều do Vatican tuyển lựa kỹ càng, căn cứ vào lòng trung thành tuyệt đối đối với Tòa Thánh.”

Chúng ta hãy đọc một đoạn khác của Charles Keith:

Sự xuất hiện của những vị giám mục Việt Nam đầu tiên là thí dụ rõ ràng về việc làm thế nào mà trong những năm 1920 và 1930, chính sách của Vatican nhằm phát triển các Nhà thờ dân tộc đã được giải thoát khỏi những nhà truyền giáo Âu châu đã tạo cơ sở cho những tình cảm dân tộc trong cộng đồng Thiên chúa giáo Việt Nam, đấy chính là cơ sở nhận thức vai trò của Nhà thờ trong nền chính trị và xã hội Việt Nam sau khi giành được độc lập.

Và tác giả đề cao “tình cảm dân tộc” trong cộng đồng Thiên Chúa Giáo bằng đoạn văn sau đây:

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, trong không khí hỗn loạn sau khi Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập, bốn vị giám mục Thiên chúa giáo đã kí một bức thư ngỏ gửi Giáo hoàng Pius XII. “Nhân dân Việt Nam thân yêu của chúng con”, họ viết, “cầu xin Người chúc phúc cho nền độc lập của chúng con, một nền độc lập mà nhân dân chúng con đã giành được và sẵn sàng bảo vệ bằng bất kỳ giá nào…[Chúng con], các giám mục Việt Nam cầu xin Đức giáo hoàng, Toà thánh Rome, các Đức Hồng y, các vị Tổng giám mục, các vị linh mục và nhà thờ Thiên chúa giáo toàn thế giới, đặc biệt là nước Pháp, ủng hộ quyết định của dân tộc thân yêu của chúng con”.

Như trên đã nói, chính sách của Vatican là mở mang nước Chúa chứ không phải là nhằm phát triển các “Nhà thờ dân tộc”. Tác giả ca tụng “tình cảm dân tộc” trong đoạn trên nhưng bỏ sót những sự kiện lịch sử về Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam tiếp theo sau bức thư chứng tỏ tình cảm dân tộc trên, nhưng chúng ta có vài tài liệu rõ ràng hơn về tình cảm dân tộc này.

Theo Linh Mục Trần Tam Tĩnh trong cuốn Dieu et César thì:

"Cuối năm 1945, Việt Nam giành lại được độc lập từ tay người Pháp, lòng yêu nước của người Ca-tô VN bùng lóe lên với những cuộc biểu tình của hàng chục ngàn giáo dân mang biểu ngữ và hô khẩu hiệu "Giáo Hoàng Muôn Năm", "Giáo Hội Việt Nam của Người Việt Nam", "Việt Nam Độc Lập Muôn Năm" (Vive le Pape, L'Église Vietnamienne aux Vietnamiens, Vive le Vietnam Indépendant.)

Nhưng rồi Linh mục Tĩnh viết:

"Vậy, với các giám mục và linh mục dẫn đầu, tín đồ Ca Tô muốn phá bỏ hình ảnh của một giáo hội đã cộng tác với quân xâm lăng, một giáo hội phục vụ nước Pháp, một giáo hội đã sống ngoài lề sự tranh đấu cho chủ quyền và tự do của dân tộc. Một trang sử đã lật qua nhưng khốn thay chẳng được bao lâu" (Ainsi, avec les évêques et les prêtres en tête, les catholiques voulaient détruire l'image d'une église collaboratrice avec les agresseurs, d'une église au service de la France, d'une église qui avait vécu en marge d'un peuple en lutte pour sa souvenaineté et sa liberté. Une page est tournée. Mais, malheureusement pas pour longtemps).

Cùng một nhận xét, dựa trên những sự kiện lịch sử, Cao Huy Thuần viết trong cuốn Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam, trg. 547-548:

"Sau ngày Việt Nam tuyên bố độc lập vào tháng 8-1945, những tín đồ Thiên Chúa, trong một tình yêu nước nồng nhiệt mới mẻ hoàn toàn, đã xác định rõ rệt và long trọng lòng tha thiết với độc lập và quyền lợi dân tộc.

"Các con chiên Việt Nam, tờ Kỷ Yếu các phái bộ viết, biết rằng tương lai của tôn giáo họ được nêu lên. Nếu họ chứng tỏ được lòng yêu nước ra dưới mắt của cả nước, chắc chắn họ sẽ lấp được cái hố còn ngăn cách họ với đồng bào phi-Thiên Chúa của họ. Nếu họ khước từ, họ làm cho cái hố đó không vượt qua được. Vì thế không còn gì phải nghi ngờ về bổn phận nữa, chỉ còn phải theo đó mà hành động. Đa số con chiên đã lựa chọn. Được các giám mục của giống nòi họ soi sáng và ủng hộ, họ không còn muốn phạm lỗi lầm của những người trước trong thế kỷ vừa qua. Họ cương quyết không chịu làm lại tín ngưỡng mình bằng cách dính líu với chính quốc. Họ muốn bảo vệ sự độc lập của đạo Thiên Chúa bằng cách cùng làm việc với đồng bào phi-Thiên Chúa của họ cho xứng nghĩa của nền độc lập của tổ quốc." (Giibal, Les Catholiques en Vietnam. Buổi diễn thuyết tại Trung Tâm Nghiên Cứu Á-Phi, Paris, 1953.) Và vì thế bốn Giám mục Việt Nam lập tức lựa chọn lấy mấy lập trường vào ngày 23-9-1945, họ đã viết thư cho Giáo hoàng Piô XII nhân danh "dân tộc Việt Nam" để yêu cầu "sự ban phước lành, lòng đại lượng cùng các lời cầu nguyện để ủng hộ nền độc lập mà nó vừa mới thu hồi được và bảo vệ bằng mọi giá." (Ibid.)

Đó là lần đầu tiên mà đạo Thiên Chúa Việt Nam chịu hòa mình trong cộng đồng dân tộc và gắn liền quyền lợi của họ vào quyền lợi đất nước. Nhưng than ôi! Tia lửa yêu nước vụt tắt ngay mấy tháng sau, Pháp đổ quân vào Việt Nam, chiến tranh Đông Dương bùng nổ và tín đồ Thiên Chúa lại hợp tác với ngoại bang."

Chúng ta đã biết, lịch sử ghi rõ, trong cuộc kháng chiến chống Pháp trở lại Việt nam với mưu toan tái lập nền đô hộ Việt Nam, thì theo một sắc lệnh của Giáo Hoàng Pius XII ban hành ngày 1 tháng 7 năm 1949, tuyên bố "tuyệt thông" bất cứ người nào cộng tác với Cộng sản, tuyên truyền cho CS, đọc sách báo CS v...v.. nên Ca Tô Giáo Việt Nam lại hợp tác với quân đội Pháp, được Pháp trang bị vũ khí để lập những chiến khu "tự trị" như Bùi Chu, Phát Diệm..., lại đứng ngoài lề công cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập mới thu hồi của dân tộc Việt Nam, hơn nữa còn tiếp tay Pháp săn lùng Việt Minh kháng chiến để tiêu diệt. Nhưng chẳng phải chờ đến năm 1949 mà ngay sau khi Cụ Hồ tuyên bố Việt Nam Độc lập, Giám mục Lê Hữu Từ ở Bùi Chu Phát Diệm đã ngấm ngầm mua vũ khí để “chống Cộng” như chính hồi ký của ông ta thú nhận. Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam tuyệt đối nghe theo lệnh của Giáo hoàng Pius XII mà về sau, năm 1954, ông ta là một trong những nhân vật có kế hoạch thả xuống Điện Biên Phủ từ 1 đến 6 quả bom nguyên tử cỡ 31 kiloton. [During the Eisenhower Administration, when the Dulles brothers, Spellman and thus Pius XII helped formulate U.S. policies, the U.S. military considered dropping from one to six 31-kiloton bombs on the Vietnamese forces. The weapons were three times as powerful as the Hiroshima bomb. This scheme to use nuclear weapons against Vietnam was disclosed in declassified material in the first volume of a 17-volume official history of the Vietnam War published in 1984 by the Army's historical office.]

Đến đây chúng ta đã thấy rõ, tác giả đã có chủ đích nào khi viết về những điều không tưởng để đề cao giáo hội Ca-tô Rô-ma ở Việt Nam, nào là “giáo hội dân tộc, độc lập”, nào là “tình cảm dân tộc” v.v… Nhìn vào những tài liệu tác giả dùng chúng ta thấy phần lớn là của những người Ca-tô, chẳng có ai là người có tiếng tăm được người dân Việt Nam biết đến, trong khi những tài liệu hàn lâm về sự liên hệ giữa Ca-tô Giáo Việt Nam và thực dân Pháp, thí dụ như của Cao Huy Thuần [Les Missionaires et la Politique Coloniale Francaise au Vietnam (1857-1914), Yale Southeast Asia Studies, 1990. (Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam, Hương Quê, Cali., 1988)]; Forest, Alain & Tsuboi, Yoshiharu, Catholicism et Sociétés Asiatiques, L'Harmattan, Tokyo, 1988; McLeod, Mark W., The Vietnamese Response to French Intervention: 1862-1874, Praeger, New York, 1991 [tác giả chỉ trích dẫn một chi tiết nhỏ ngoài chủ đề: người Pháp đã coi những vụ đàn áp [của triều Nguyễn] là cái cớ để họ hiện diện nhiều hơn ở Việt Nam]; Nguyễn Xuân Thọ, Histoire de la Pénétration Francaise au Viet Nam (1858-1897), Trung Tâm Văn Hóa Linh Sơn, HI., 1993; Trần Tam Tĩnh, Dieu et César: Les Catholiques dans L'Histoire du Vietnam, Sudestasie, Paris, France, 1978 (Bản tiếng Việt: Thập Giá và Lưỡi Gươm, nxb Trẻ); Tuck, Patrick J.N., French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914: A Documentary Survey, Liverpool University Press, G.B., 1987; Đỗ Quang Hưng, Một Số Vấn Đề Lịch Sử Thiên Chúa Giáo ở Việt Nam, Đại Học Tổng Hợp Hà-Nội, 1991 [tác giả chỉ trích dẫn một chi tiết nhỏ ngoài chủ đề: đặt vấn đề về giả định cho rằng mối quan hệ gắn bó giữa một số người Thiên chúa giáo Việt Nam với người Pháp trong giai đoạn củng cố chế độ thuộc địa địa tiếp tục tồn tại trong suốt thời kỳ thuộc địa]; Catholic Imperialism Against The Asiatic Continent của Avro Manhattan; Annam-Tonkin 1885-1896 của Charles Fourniaux v..v..thì tác giả lại không biết đến, hoặc không dùng những tài liệu quan trọng sát với chủ đề như ở trong các tác phẩm của McLeod và Đỗ Quang Hưng.

Trước khi viết về sự tấn phong 4 giám mục tiên khởi của Việt Nam mà tác giả cho là chính sách của Vatican nhằm phát triển các Nhà thờ dân tộc đã được giải thoát khỏi những nhà truyền giáo Âu châu, tác giả viết về linh mục Trần Lục:

Nhà thờ Kim Sơn, trụ sở giáo phận (Phát Diệm), được xây dựng theo lối nửa Gothic, nửa chùa chiền, đã kích thích những suy nghĩ về tính chất lai tạp của Thiên chúa giáo ở Việt Nam... Tính chất lai tạp của nhà thờ thể hiện chính đời sống của người xây dựng nó: đấy là linh mục Trần Lục (người Pháp gọi là Cha Sáu, người Việt gọi là Cụ Sáu hay Cố Sáu), được mọi người yêu quí đến mức theo người ta nói là có tới bốn mươi ngàn người tham dự đám tang của ông… Quan hệ của ông với những nhà truyền giáo người Pháp làm cho ông trở thành đồng minh vô giá của người Pháp trong cuộc xâm lăng Bắc Kỳ.. Tác phẩm viết về tiểu sử của Trần Lục dài nhất bằng tiếng Pháp là của Đức cha Olichon, người đứng đầu Liên hiệp những nhà truyền giáo của giới tăng lữ Pháp, xuất bản năm 1930. Giống như nhiều nhà truyền giáo khác, Olichon tin rằng Trần Lục “Yêu nước Pháp một cách chân thành và phục vụ nước Pháp theo cách riêng” và “ông yêu Chúa trước hết, sau Chúa mới đến tổ quốc”… Nếu đúng là đối với tất cả các dân tộc văn minh, chính trị trong tương lai sẽ là chính trị của sự liên kết, thì vấn đề là làm sao lôi kéo và sử dụng được những người cộng tác đầy giá trị của vị linh mục ở Phát Diệm?

Linh mục Trần Lục

Đọc đoạn trên chúng ta có thấy tinh thần dân tộc của Linh mục Trần Lục ở đâu không? Cùng một tâm cảnh như linh mục Hoàng Quỳnh: “Thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa”. Nhưng cộng tác đầy giá trị của linh mục Trần Lục với thực dân Pháp là như thế nào? Chúng ta hãy đọc nhận định của Nguyễn Ngọc Quỳ trên giaodiem.com trước đây:

Một người đã hướng dẫn và cung cấp cho quân xâm lược 150 tay súng Công giáo để đánh chiếm thành lũy Ninh Bình của nước ta, một người đã huy động 5.000 giáo dân Việt Nam giúp Tây tiêu diệt chiến khu Ba Đình của anh hùng Đinh Công Tráng, một người đã từng bị lãnh tụ chống xâm lăng Phan Đình Phùng đè ra hỏi tội và đánh đòn công khai [vì tội cậy quyền hà hiếp dân chúng], một người đã từng được quân xâm lăng Pháp tưởng thưởng công lao bằng hai Bắc Đẩu Bội Tinh, một người như thế mà lại được cộng đồng chức sắc và trí thức Công giáo hải ngoại, cho đến giờ nầy, vẫn còn ồn ào "nâng" lên thành anh tài của Việt Nam và vĩ nhân của thế giới, thì làm sao lý giải được hiện tượng chua xót và … quái đản nầy ?

Thật là khôi hài, Charles Keith trích dẫn một tài liệu của P. Quỳnh (Père Quỳnh = Hoàng Quỳnh?) cho rằng:

«Còn P. Quỳnh thì viết trong tạp chí Sacerdos Indosinenis rằng việc Trần Lục liên kết với Pháp chỉ chứng tỏ rằng ông đã bảo vệ cộng đồng tôn giáo của ông trong giai đoạn bị bức hại và đã lợi dụng ngoại giao để bảo vệ dân tộc ông khi vũ lực đã không còn là lựa chọn nữa: tuy nhiên, Trần Lục là “một người yêu nước … người thể hiện rằng quan hệ giữa nguyên tắc của Nhà thờ Thiên chúa giáo và dân tộc là rõ ràng».

Linh mục Trần Lục làm mưa làm gió ở vùng Phát Diệm, hà hiếp dân chúng nên bị Cụ Phan Đình Phùng nọc ra đánh đòn. Ở đó, trong thời đó, ai bức hại cộng đồng tôn giáo của ông ta? Lịch sử cho biết, chuyện bức hại Ca-tô Giáo đã chấm dứt ở trong Nam từ năm 1860 và trên toàn quốc từ năm 1880. Và ông mang 5000 giáo dân đi giúp Pháp để hạ chiến khu kháng chiến của Đinh Công Tráng vì cho rằng kháng chiến bằng vũ lực không còn là lựa chọn nữa. Luận điệu bào chữa ngớ ngẩn của P. Quỳnh đã chứng tỏ đầu óc vô tổ quốc và phi dân tộc của người Ca-tô Việt Nam là như thế nào.

Giám mục Nguyễn Bá Tòng

► Về sự tấn phong Giám mục Nguyễn Bá Tòng, Charles Keith viết dưới đầu đề: “Nguyễn Bá Tòng và “tinh thần quốc gia” Thiên chúa giáo của người Việt như sau, phần lớn là những lời mê sảng, hoang tưởng:

Giáo hoàng Pius XI tấn phong Nguyễn Bá Tòng cùng với một giám mục Ấn Độ và hai giám mục Trung Quốc tại Nhà thờ Thánh Peter Basilica vào ngày 11 tháng 6 năm 1933.

Việc tấn phong Nguyễn Bá Tòng là sự kiện quan trọng nhất trong Giáo hội Thiên chúa giáo Việt Nam kể từ khi có những chiến dịch bài Thiên chúa giáo vào thế kỉ XIX, và dĩ nhiên là sự kiện vui mừng đối với người Thiên chúa giáo Việt Nam.

Một kí giả còn viết rằng ngày vị giám mục rời Sài Gòn lên đường đi Rome “người mộ đạo ba miền, từ Nam chí Bắc, đều ngày đêm nóng lòng chờ ngài, họ chờ đợi những tin tốt lành, làm cho ngay cả những người không có đạo cũng phấn khởi”. Đức cha Marcou còn nhận xét về ấn tượng mà chuyến đi đã tạo ra cho những người ngoại đạo như sau: “Những người ngoại đạo cũng tỏ thái độ tôn kính và chân thành trong những buổi chào mừng Đức cha Tòng, cho phép chúng tôi dự đoán số người cải đạo sẽ gia tăng đáng kể trong tất cả các giáo phận Việt Nam.…»

Hồ Ngọc Cẩn, giám mục người Việt thứ hai, nói rằng ngày tấn phong Nguyễn Bá Tòng là ngày mà Chúa Cứu thế của Việt Nam đã tới, đấy là “ngày mà Chúa thân yêu của chúng ta nhận được cây thánh giá từ tay Đức Giám mục và đến để cùng chịu nạn với chúng ta và thay cho chúng ta”.

Nguyễn Bá Tòng tin rằng Nhà thờ độc lập của người Việt có liên kết toàn diện với hệ thống Nhà thờ thế giới, nhưng ông không muốn coi việc tấn phong là sự kiện có ý nghĩa cách mạng. Nguyễn Bá Tòng là giám mục người Việt gần gũi nhất với quan điểm của Maximum Illud và Rerum Ecclasiae, người chỉ trích nhà nước thực dân vào cuối những năm 1940 cũng như phê phán cách thức mà các nước thuộc địa kêu gọi và chiến đấu để giành độc lập.

Nguyễn Bá Tòng phê phán các tôn giáo khác là giáo điều và không có khả năng thích ứng với những thách thức của đời sống hiện đại; ông kịch liệt phê phán đạo Phật, đạo Khổng và tục thờ cúng tổ tiên. [Có phải là chịu ảnh hưởng của Alexandre de Rhodes trong cuốn “Phép Giảng 8 Ngày” không?]

Nguyễn Bá Tòng bác bỏ tư tưởng cho rằng đạo Thiên chúa giáo là tôn giáo của châu Âu, tức là đồng nghĩa với chế độ thuộc địa, nhưng ông vẫn tiếp tục chứng tỏ lòng trung thành với nước Pháp, một lòng trung thành mà đối với nhiều người là trái ngược với ý nghĩa nền tảng của quá trình thăng tiến của chính ông: “Không nghi ngờ gì rằng sau những việc đã làm cho chúng ta, nước Pháp sẽ mãi mãi giữ được quyền cai trị chúng ta. Tuy nhiên tôi hi vọng rằng mình sẽ không lầm khi khẳng định rằng chúng ta càng tỏ ra chân thành và trung thành với nước Pháp thì chúng ta càng thấy phạm vi những quyền tự do của chúng ta được mở rộng hơn”. Rút cục là, Nguyễn Bá Tòng chưa bao giờ đánh mất niềm tin rằng có thể có mối “quan hệ đặc biệt” giữa Pháp và Việt Nam trong quan điểm mới của Rome về Nhà thờ Thiên chúa giáo ở châu Á, rằng đất nước của ông có thể trở thành “người con cả của Nhà thờ ở châu Á, cũng như nước Pháp là người con cả của Nhà thờ ở châu Âu và trên toàn thế giới”.

Đoạn trên cho thấy tinh thần cuồng tín ngu đạo của Nguyễn Bá Tòng là như thế nào. Mơ tưởng của ông ta về một “người con cả của Nhà thờ ở châu Á» chỉ là một hoang tưởng vì gần 80 năm dưới quyền đô hộ của Pháp, Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam, vì có công với Pháp, nên được hưởng mọi đặc quyền, đặc lợi cũng chỉ chiếm được đất đai vật chất chứ số tín đồ trên tỷ lệ dân chúng chưa bao giờ lên quá 5%. Sự kiện này chứng tỏ nền văn hóa Việt Nam bất khả tương hợp với nền văn hóa Ca-tô. Trong bài Cuộc Đại Lễ Tấn Phong Giám Mục Và Gắn Huy Chương Tại Phát Diệm mà trong cuốn Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, Cụ Hoành Linh Đỗ Mậu đã trích lại từ cuốn Hội Hè Đình Đám của Toan Ánh chúng ta có thể đọc được đoạn sau đây về buổi đại lễ ở Phát Diệm:
http://www.giaodiemonline.com/2008/vnmlqht/phuluce.htm

Đức Giám Mục chủ phong trao mũ gậy cho tân Giám Mục, chỉ quyền ngài coi sóc con chiên giáo hữu. Ngài trao nhẫn ngụ ý rằng đức tân Giám Mục phải giữ lòng trung thành với Đức Tin, với Giáo Hội Roma, cũng như người bạn trăm năm một dạ cầm sắt với phu quân mình. Ngài lại trao sách Phúc Âm, chỉ quyền trao giảng giáo lý là phận sự của vị Giám Mục. Thế rồi Giám Mục chủ phong và thụ phong cũng nhau tiến hành cho hết lễ Misa. Lễ xong, đức Giám Mục chủ phong đội mũ vàng, trao gậy ngọc, xỏ nhẫn cho vị tân phong; đặt ngài trên tòa mình và quay xuống cách oai nghiêm như mừng và giới thiệu Giám Mục cho con chiên giáo hữu. Bấy giờ các sinh viên trường Thần Học và hội ca vịnh cử bài Ta Deum ngợi khen tán tụng Chúa. Đồng thời, tân Giám Mục mũ gậy uy phong tráng lệ đi làm phép cho dân. Hát xong bài ca tán tụng Chúa, Đức Cha mới ban phép lành đầu tiên cho giáo hữu... Đức tân Giám Mục bái gối ba lần cám ơn Đức Cha chủ phong chức, nhời vạn tuế “Thọ Tràng”. Kết thúc nghi lễ tấn phong, ba vị Giám Mục chủ phong, thụ phong cùng với Tân Giám Mục theo lễ nhạc trao đổi cho nhau những cái hôn thánh sạch, kèm nhời chúc tục.

Đức Cha Tòng đọc bài diễn văn tỏ lòng cám ơn chính phủ, tỏ lòng trung thành con dân Việt-Nam đối với Mẫu Quốc.

Đó là đại khái cái gọi là “Nguyễn Bá Tòng và “tinh thần quốc gia” Thiên chúa giáo của người Việt”. Chúng ta nên nhớ là Nguyễn Bá Tòng chỉ là một chức sắc trong một tôn giáo, và tôn giáo này chỉ chiếm khoảng 5% dân số Việt Nam, nhưng ông giám mục này lại càn rỡ phát ngôn bậy bạ “tỏ lòng trung thành của con dân Việt Nam đối với Mẫu quốc” trong khi đã có biết bao phong trào kháng chiến của đa số người dân Việt Nam nổi lên chống Pháp từ ngày đầu.

Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong Nhận Định Của Tạp Chí Ánh Sáng về buổi đại lễ tại Phát Diệm (VNMLQHT trang 1036-1041), tiếp theo bài của Toan Ánh:

Bài tường thuật buổi đại lễ tại Phát Diệm trên đây cho ta thấy giữa Thực dân Pháp và người Thiên Chúa giáo Việt Nam đã có quá trình liên hệ mật thiết như tình cha con ruột thịt. Không chỉ Tâm và Cảnh buổi lễ đã nhịp nhàng hòa cùng một điệu mà văn chương tường thuật buổi lễ mô tả cái nghĩa nặng tình dài đã ràng buộc mối thâm tình giữa người Pháp và người Thiên Chúa giáo Việt Nam khó có một sức mạnh nào lay chuyển nổi. Hãy đọc đoạn văn trích lại dưới đây để thấy mối ân tình đó sâu đậm khắn khít đến mức độ nào:

... Quan Thủ Hiến vừa bước chân xuống xe, tiến thẳng lại mộ cụ Trần Lục hai tay kính cẩn đặt vòng hoa trên nấm mộ vị Nam Tước. Một phút yên lặng: quan Toàn Quyền kính điếu một vị anh hùng, một vị quốc công danh vang bốn bể... Quan Toàn Quyền Decoux cảm xúc ai tình. Ngài cảm động hơn nữa khi nghĩ tới cụ Trần Lục là vị Phúc Tinh đã đem sự hòa bình thân thiện cho dân tộc Pháp-Nam...

... Quan Toàn Quyền đưa cặp mắt đầy cảm động ngó chung quanh lũ con dân chằng chịt như nêm cối, bao nhiêu con mắt đổ dồn về Ngài...

... Đức Cha Nguyễn Bá Tòng đọc diễn văn bày tỏ lòng cảm ơn chính phủ, tỏ lòng trung thành con dân Việt Nam đối với Mẫu Quốc. Mừng quan Toàn Quyền nhờ tài ngoại giao lỗi lạc mà tránh cho Đông Dương một cơn khủng bố.

... Những tấm huy chương khẩu hiệu của Đức Giáo Hoàng và các vị Giám Mục, dự tiệc hôm ấy chen lấn vào với cờ Tòa Thánh, cờ nước Pháp và cờ vàng đỏ của Triều Nam...

Hình như văn chương lâm ly của những bài diễn văn, những lời tuyên bố chưa đủ bộc lộ hết sợi dây liên ái, người ta còn đặt tên cho buổi tiệc tiếp theo buổi Đại Lễ là “Bữa tiệc hợp nhất pha chủng tộc, pha tôn giáo, bữa tiệc gia thất, bữa tiệc lòng” để “mọi con tim cùng đổ một dịp theo với những điệu kèn nhà binh của người đội lính khố đỏ” thứ lính bảo vệ cho quyền lực người Pháp tại Đông Dương.

Thử hỏi người tín đồ Thiên Chúa giáo nào khi đọc bài tường thuật buổi đại lễ tại Phát Diệm, nơi được coi là thủ đo tinh thần của Thiên Chúa Giáo Việt Nam, lại không xúc cảm ngậm ngùi, lại không tự hào kiêu hãnh? Xúc cảm ngậm ngùi vì được là hậu duệ của người cha chung là linh mục Trần Lục, tự hào kiêu hãnh vì được làm con dân hiếu thảo của Decoux, của Pétain, của Mẫu Quốc Pháp.

Nhà văn Toan Ánh bảo rằng người Thiên Chúa giáo vô cùng hân hoan với buổi đại lễ quan trọng đó cho nên khi đăng bài tường thuật buổi lễ vào quyển Hội Hè Đình Đám ông đã cẩn thận nói rõ ông trích nguyên văn từ quyển “Autour des Fêtes du 3 Décembre 1940 à Phát Diệm” để khỏi mang tiếng sai lầm, xuyên tạc.

Buổi lễ vĩ đại và long trọng thật nhưng thái độ hân hoan cao độ của người Thiên Chúa giáo lại tạo ra nhiều thắc mắc cho đại khối dân tộc Việt Nam, những thắc mắc cần phải được giải tỏa để sự thật của lịch sử khỏi bị bóp méo, đó là mục đích của bài nhận định này.

Trước hết là trường hợp của Đức Cha Nguyễn Bá Tòng, vị Giám Mục Việt Nam cao cấp nhất thời bấy giờ được toàn quyền Decoux thay mặt Quốc trưởng Pétain gắn Bắc Đẩu Bội Tinh.

Bắc Đẩu Bội Tinh là thứ huân chương cao quý nhất của nước Pháp và chỉ được trao tặng cho những ai có sự nghiệp lớn lao đối với nước Pháp, vậy Đức Cha Tòng là nhà tu hành Việt-Nam đã có công nghiệp vĩ đại nào mà lại được Chính phủ Pháp đền ơn bằng cái vinh dự to lớn đó? Phải chăng công nghiệp của ngài là đã theo chân cố Linh mục Trần Lục xây dựng cho chế độ thuộc địa của Pháp tại Đông Dương một hậu thuẫn gồm khối người Thiên Chúa giáo Việt Nam chỉ biết trung thành với Mẫu Quốc Pháp, một khối người trở thành con dân của nước Pháp như chính Ngài đã long trọng tuyên bố trước sự hiện diện của đông đảo Giám Mục, Linh Mục, bà sơ và hàng vạn giáo dân và cũng để thực hiện chính sách Đồng Hóa của các cố đạo ngoại quốc như Alexandre de Rhodes, Pigneau du Béhaine, Puginier v.v... đã chủ trương.

Thứ hai là trường hợp Linh Mục Trần Lục. Ông là ai và đã làm gì mà được người Pháp và giáo dân Thiên Chúa giáo Việt Nam hết lòng trọng vọng, được tôn vinh là Nam Tước, là Quốc Công, là Phúc Tinh, là anh hùng danh vang bốn bể...?

Theo tác phẩm “Dieu et Cesar” phần nói về “Les Catholiques dans L’histoire du Vietnam" của Linh Mục Trần Tam Tĩnh (Librairie Sud Est Asie, Paris 75005), thì cụ Trần Lục nguyên là linh mục tại Phát Diệm, sau khi giúp Pháp dẹp tan các phong trào kháng Pháp tại hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An, ông còn lập được một chiến công vĩ đại là triệt hạ được chiến khu Ba Đình của lãnh tụ Cần Vương Đinh Công Tráng, một chiến khu kiên cố từng làm cho quân Pháp nhiều phen bị thiệt hại nặng nề.

Theo quyển “Những Trận Đánh Pháp” của Lãng Nhân (Zeiklers Hoa Kỳ xuất bản) thì trong trận đánh phá chiến khu Ba Đình, các giáo đoàn Phát Diệm, Kẻ Sở, Điền Hộ, Bồ Xương đã cung cấp cho đạo quân Thực dân Pháp 5.000 giáo dân để lo việc đào hầm và vận lương. Tất nhiên Ba Đình thất thủ.

Cũng theo sách này thì Trần Lục khi làm Linh Mục ở Phát Diệm hay ỷ thế hà hiếp dân chúng, nên nhân một vụ lộng hành bị cụ Phan Đình Phùng, lúc còn làm Tri Phủ Yên Khánh (Ninh Bình) nọc ra đánh, vì thế cụ đã bị thuyên chuyển về Kinh. Sau đó cụ trở thành một lãnh tụ Cần Vương, 10 năm gian lao kháng Pháp. Sự nghiệp và tên tuổi của anh hùng Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng v.v... được ghi vào sử xanh dân tộc hàng ngàn năm chói lọi và được đặt tên cho các đại lộ, công viên, trường học từ Bắc chí Nam để nhân dân muôn đời ghi nhớ. Hai tiếng “Ba Đình” lừng lẫy cũng được đặt cho công trường lớn nhất, đẹp nhất tại Thủ đô Hà Nội khi toàn dân vùng lên đáp lời thề sông núi, bảo vệ quê hương mùa Thu năm 1945.

Vấn đề còn phải đặt ra là trước cao trào giải thực khắp thế giới và trong lúc toàn thể các đảng phái cách mạng, các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo lợi dụng cuộc thế chiến thứ hai (1939-1945) làm lung lay các đế quốc, lợi dụng Đông Dương mất liên lạc với chính quốc, lợi dụng sự tranh dành quyền lực giữa Pháp và Nhật tại Đông Dương để đồng loạt, bí mật hay công khai hoạt động chống Pháp để dành lại độc lập cho nước nhà, thì tại sao Thiên Chúa giáo Việt Nam lại vẫn khư khư ôm chân giặc Pháp, chỉ muốn Pháp làm chủ đất nước Việt Nam, lại còn tự nguyện làm con dân Mẫu Quốc Pháp như bài tường thuật buổi Đại lễ tại Phát Diệm đã xác định, như lời tuyên bố của Giám Mục Nguyễn Bá Tòng trước mặt vợ chồng Toàn Quyền Decoux?

► Đọc vài lời Charles Keith viết về «Hồ Ngọc Cẩn và việc động viên giáo dân Việt Nam» chúng ta có thể biết được tác giả viết bài An Nam Vùng Lên… với ý định gì. Tôi sẽ không phê bình chi tiết chỉ đưa ra vài nhận xét ngắn.

Hồ Ngọc Cẩn là vị giám mục người Việt thứ hai. Ông trở thành giám mục giáo phận Bùi Chu (giáo phận có nhiều giáo dân nhất Việt Nam) vào tháng 6 năm 1935, gần đúng hai năm sau lễ tấn phong Nguyễn Bá Tòng. Lễ tấn phong Hồ Ngọc Cẩn diễn ra trong thời buổi nhiễu nhương. Kinh tế suy thoái khiến tình hình vốn đã tuyệt vọng ở Việt Nam càng trầm trọng thêm; phong trào phản đế lan mạnh, và ngày càng thể hiện rõ ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Cũng như ở những nơi khác trên thế giới, thái độ thù địch của chủ nghĩa Marx-Lenin đối với tôn giáo buộc giới lãnh đạo Nhà thờ ở Việt Nam phải tìm biện pháp đương đầu với ảnh hưởng ngày càng gia tăng của phong trào cộng sản quốc tế.

Nhận xét: Vào thập niên 1930, ở Việt Nam có bao nhiêu người biết về chủ nghĩa Marx-Lênin và thái độ thù nghịch của chủ nghĩa Marx-Lênin đối với tôn giáo ở Việt Nam là như thế nào. Tác giả viết bậy gì ở đây?

Trong cộng đồng tôn giáo với rất ít nguồn bồi dưỡng các giáo sĩ về mặt trí tuệ, Hồ Ngọc Cẩn là một lựa chọn hấp dẫn cho chức giám mục. Ông là một nhà thần học và một trí thức hoàn hảo.

Nhận xét: Thần học là một môn học không có chủ đề. Đối tượng của thần học là một cái gì vô hình (invisible), không ai biết là cái gì (unknowable), và không ai hiểu được (incomprehensible) mà người Ca-tô gọi là Gót (God).

Trong thời gian làm giám mục, Hồ Ngọc Cẩn đã lập ra ở Bùi Chu một loạt tổ chức Thiên chúa giáo dành cho thanh niên mà trước đó vốn chỉ tồn tại trong các khu phố thị, rồi lập Thanh Niên Thôn Quê Thiên chúa Giáo, chuyên thảo luận những vấn đề của đời sống nông thôn. Các tổ chức này có nhiều chức năng, ví dụ động viên dân chúng đi lễ, cùng nhau đọc Kinh thánh, rửa tội cho trẻ sơ sinh... Các tổ chức do Hồ Ngọc Cẩn giúp đỡ tạo dựng còn đóng vai trò quan trọng sau năm 1945, trong việc tổ chức các xứ đạo và giúp đỡ người dân trong cuộc kháng chiến chống quân Việt Minh.

Nhận xét: Việt Minh kháng chiến chống Pháp, còn Hồ Ngọc Cẩn thì tổ chức các xứ đạo và giúp đỡ người dân (dân nào?) để «kháng chiến» (sic) chống Việt Minh. Ai là kẻ phản quốc ở đây.

Nhân vật thứ ba được tấn phong làm một trong những giám mục tiên khởi của Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam được Charles Keith nói đến là Ngô Đình Thục, dưới đầu đề:

«Ngô Đình Thục và Đệ nhất gia tộc trong nền chính trị Thiên chúa giáo Việt Nam»

Chỉ cần đọc cái đầu đề này chúng ta cũng có thể đoán ra nội dung của phần này. Quả nhiên tác giả đã không tiếc lời ca tụng cái «Đệ Nhất Gia Tộc» này. Nhưng chúng ta không cần đọc thêm bất cứ điều gì mà tác giả viết về gia đình Ngô Đình Khả và Ngô Đình Thục. Chúng ta chỉ cần đọc tài liệu sau đây:

 

BẢN DỊCH THƯ VIẾT BẰNG PHÁP NGỮ
CỦA GIÁM MỤC NGÔ ĐÌNH THỤC GỬI ĐÔ ĐỐC
JEAN DECOUX, TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG

* Trích từ: Tạp chí Lên Đường, số Ra mắt, Houston

Tòa Truyền Giáo Vĩnh Long, ngày 21 tháng 8 năm 1944

Vĩnh Long (Nam Kỳ)

Thưa Đô đốc,

Một Linh mục từ bổn Tòa được phái đi Saigon để lo việc cho chủng viện vừa cho tôi biết rằng hai người em của tôi đang bị truy tố tại Huế. Vì đã lâu không nhận được tin tức gì từ Huế, tôi không biết là điều tôi vừa được báo cáo có đúng sự thật hay không.

Tuy nhiên, nghĩ đến nỗi đau đớn và sự bất nhẫn rất đúng mà chắc chắn là Đô Đốc đã cảm thấy - nếu sự truy tố các em tôi là có thật, tôi vội viết thư này để bày tỏ với Đô Đốc nỗi đau đớn lớn lao của tôi về việc này.

Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp thì - với tư cách của một Giám Mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con của một gia đình mà phụ thân đã phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an, Hà-tịnh - tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận (hoạt động của các em tôi).

Thưa Đô Đốc, tôi tuyên bố như vậy không phải với mục đích bảo toàn địa vị cá nhân của tôi: bởi vì nếu xét rằng cá nhân hèn mọn của tôi có thể phương hại đến quyền lợi của đạo (Thiên Chúa), tôi sẽ vui vẻ rời khỏi Tòa Giám Mục nầy ngay.

Lời tuyên bố của tôi chỉ có mục đích là tỏ cho Đô Đốc thấy rằng lòng tin tưởng trìu mến của Đô Đốc (đối với tôi) đã không bị đặt vào một kẻ bất xứng hay vô ơn.

Thưa Đô Đốc, tôi chưa bao giờ tiếc là đã xa Huế như thế nầy. Giá có mặt ở đấy thì tôi đã có thể khuyên răn các em tôi tốt hơn, và khi chuyện xẩy đến tôi đã có thể chống lại các chủ đích của các em tôi, nếu quả thật các em tôi có nghĩ đến những dự định có thể gây hại cho chính quyền lợi của nước Pháp.

Có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thú thực là không tin - cho đến khi được chứng minh ngược lại - rằng các em tôi đã phản lại truyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế, một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháp từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi.

Ngay chính các em tôi đã từng liên tục đưa mạng sống ra vì nước Pháp, trong cuộc nổi loạn của Cộng Sản. Diệm, người em kế tôi, suýt đã phải ngã gục dưới những phát súng của một Hoa kiều Chợ Lớn được phái đến Phan-rang với mục đích hại Diệm, Phan-rang là nơi mà Diệm đã mãnh liệt chống giữ lối xâm nhập vào An-nam của các cán bộ Cộng Sản được từ Nam Kỳ phái đến.

Lẽ tất nhiên, sự tận tụy của các em tôi trong quá khứ không phải là điều nêu ra để làm cớ mà biện hộ cho hoạt động bất cẩn của họ ngày hôm nay, nếu sự bất cẩn nầy được chứng tỏ là điều đã gây nên tội. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là tôi đã làm chuyện vô ích khi kêu gọi đến sự khoan hồng đầy xót thương của Đô Đốc hầu xét với hảo ý trường hợp các em tôi. Đô Đốc không phải là người chỉ xét đến hiện tại mà lại bỏ quên đi quá khứ. Tôi nêu ra điều nầy khi xét thấy rằng thân phụ tôi là Ngô Đình Khả đã từng được vinh dự phục vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và khi xét đến quá trình lâu dài của các em tôi, một quá trình được hình thành bằng lòng tận tụy vô bờ của các em tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống của mình cho nước Pháp.

Thưa Đô Đốc, một lần nữa bày tỏ với Đô Đốc tất cả niềm đau đớn của tôi trong vụ nầy, tôi xin Đô Đốc vui lòng nhận nơi đây lời kính chào trân trọng nhất của tôi.

Ngô Đình Thục

 

► Trong Phần Kết Luận, Charles Keith viết về Giám mục Lê Hữu Từ, Giám mục tiên khởi thứ tư của Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam được tấn phong vào tháng 11, 1945, với đầu đề:

Kết luận: Các giám mục Việt Nam và tình hình chính trị sau khi giành được độc lập

Giám mục Lê Hữu Từ

Cùng một luận điệu hoang tưởng về chính sách của Vatican thiết lập các giáo hội dân tộc và độc lập địa phương, Charles Keith viết:

Trong suốt chín năm chiến tranh diễn ra sau đó, càng ngày càng có nhiều giáo phận do người châu Âu trực tiếp cai quản được chuyển cho người Việt – Hà Nội và Bắc Ninh vào năm 1950, Vinh vào năm 1951, Hải Phòng vào năm 1953 và cuối cùng là Sài Gòn, trung tâm của chính quyền thuộc địa Pháp, vào năm 1955.

Kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất cũng đặt dấu chấm hết cho cái đế chế mà Tông thư Maximum Illud đã dự đoán từ trước, và việc tấn phong Lê Hữu Từ cũng như những vị giám mục sau ông cho người ta thấy rõ rằng các nhà truyền giáo châu Âu có một tương lai có giới hạn trong Nhà thờ Thiên chúa giáo tại Việt Nam. Quả thật như thế, năm 1960, sáu năm sau khi chiến tranh kết thúc và Việt Nam bị chia cắt làm hai, Rome đã chuyển giao giáo phận cuối cùng do người Âu châu cai quản sang cho giám mục người Việt, và do vậy, chính thức thừa nhận Nhà thờ Thiên chúa giáo Việt Nam là Nhà thờ dân tộc độc lập.

Thực tế là trong 9 kháng chiến chống Pháp, với khí thế của người dân trong thời đó nặng lòng thù hận Pháp, thì người Pháp đâu còn chỗ đứng trên đất nước Việt Nam, cho nên các chức sắc Ca-tô ngoại quốc ở Việt Nam, nhất là ở miền Bắc, phải cuốn gói để lại đàng sau những giám mục, linh mục Việt Nam tự cai quản lấy các giáo phận. Năm 1960 là năm Vatican đưa ra Tông sắc Venerabilium Nostrorum thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, từ đó giáo hội Ca-tô Rô-ma ở Việt Nam mới bắt đầu hình thành. Việc trao quyền cho các Giám mục Việt Nam cai quản các giáo phận ở Việt Nam, có thể vì Giáo hội hoàn vũ đang lâm cảnh thiếu hụt giới giáo sĩ ở Tây phương, không có nghĩa là “Nhà thờ Thiên Chúa Giáo Việt Nam là nhà thờ dân tộc và độc lập”, vì Tông sắc Venerabilium Nostrorum đã khẳng định: Tất cả các Địa phận trên đây sẽ tiếp tục trực thuộc Thánh Bộ Truyền Giáo…[ở Vatican]. Vậy thì dân tộc và độc lập ở chỗ nào? Dân tộc ở chỗ tiếp tục lệ thuộc Vatican, và độc lập ở chỗ tiếp tục thi hành những lệnh của Thánh Bộ Truyền Giáo?

Charles Keith tiếp tục viết về Giám mục Lê Hữu Từ và chính trị Việt Nam với lời lẽ đặc thù Ca-tô, thí dụ như câu:

“Với chiến thắng của Việt Minh ở Điện Biên Phủ và việc chia đôi đất nước vào năm 1954, trung tâm Thiên chúa giáo Việt Nam nằm dưới quyền của chế độ thù nghịch. Đứng trước cuộc sống dưới chế độ cộng sản, được những người lãnh đạo Thiên chúa giáo mô tả bằng những lời lẽ dữ tợn nhất, phần lớn giáo dân miền Bắc quyết định di cư hoặc đơn giản là được di tản vào Nam».

Cần phải viết rõ hơn là “chế độ mà Thiên Chúa Giáo thù nghịch” chứ không phải là “chế độ thù nghịch Thiên Chúa Giáo”. Chúng ta không cần đọc tiếp Charles Keith nữa, vì tác giả không biết là ai đã quyết định cho giáo dân miền Bắc di cư, và vì chúng ta đã thấy chủ đích trong bài viết của tác giả là như thế nào. Về Giám mục Lê Hữu Từ chúng ta có thể đọc vài đoạn trên http://vi.wikipedia.org/wiki/Tađêô_Lê_Hữu_Từ :

Với danh nghĩa Công giáo cứu quốc, ông chỉ đạo cho các giáo dân võ trang và tổ chức thành những đội vũ trang Tự vệ Công giáo, biến các giáo khu thành những chính quyền tự trị, ngoài sự kiểm soát của chính quyền Việt Minh.

Hồi ký của ông có chép lại việc này như sau:

Vào thời ấy, hoàn cảnh bắt buộc chúng tôi phải có một lực lượng tự vệ hùng mạnh để có thể "nói chuyện" với chính phủ Cộng sản. Vì thế, lợi dụng tình hình, chúng tôi đã có các toán du kích địa phương và lợi dụng đường lối chiến tranh nhân dân do ông Hồ Chí Minh công bố, tôi đã xin phép được mua súng đạn. Hố Chí Minh không thể từ chối tôi việc này, bèn đề nghị tôi gặp ông Phan Anh, Bộ trưởng Quốc phòng, đã được ông Hồ mớm cho việc tìm lý do, ra những điều kiện, để đừng phải cấp cho tôi giấy phép. Nhưng với cái phép miệng, tôi đã gửi người lên Móng Cáy mua vũ khí.

Tuy vậy, việc chuyên chở vũ khí được tiến hành một cách bí mật và phải dùng mưu mẹo mới qua được. Nhiều lần, xe ôtô của tôi chở vũ khí đã có thể qua các trạm gác vốn được kiểm soát rất nghiêm nhặt, vì tôi đưa ra cái thẻ "Cố vấn Tối cao của Chính phủ" và tôi nhất quyết không cho khám xe. Tôi nói với bọn cảnh sát: Chủ tịch đã chọn tôi làm Cố vấn vì Người tin tưởng ở tôi; nếu Người không tin tôi, tôi sẽ từ chức. Và bởi vì tôi là Cố vấn Tối cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chẳng ai có quyền khám xét tôi mà không có lệnh rõ ràng của Chủ tịch. Một khi súng đạn đã được tới nơi yên ổn, tôi thông báo cho Ủy ban Nhân dân và cảnh sát biết rằng, tôi đã mua vũ khí với sự đồng ý của Hồ Chí Minh.

Khi súng ống và đạn dược về tới Hải Phòng thì bị quân Pháp giữ lại, bọn này chỉ chịu trao cho tôi khi chính tôi phải đích thân can thiệp và bọn họ còn cấp thêm súng đạn (để mua chuộc tôi). Tuy nhiên, nguyên tắc của tôi là nhận khí giới từ bất cứ phía nào, kể cả ngay phía Nga hay Tàu Cộng sản, để chống lại Cộng sản. Tôi đã vay tiền nơi Đức Cha Gomez, một người Tây Ban Nha giám mục Hải Phòng và đã xin Ngài vui lòng hỗ trợ tôi trong chuyện này. Sau khi đã bàn hỏi Đức khâm mạng Drapiê, Ngài đã cho tôi mượn một khoản tiền lớn (1.000.000 đồng) và đã cung cấp cho tôi một lượng súng đạn quan trọng.

Khi Pháp toan tái chiếm Đông Dương, chính phủ Việt Minh dời lên Việt Bắc. Dưới sự kích động của người Pháp, cùng với sự quá khích của dân chúng, một số cuộc xung đột đã nổ ra giữa lương dân và giáo dân. Để xoa dịu những xung đột và tránh những ảnh hưởng bất lợi, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư cũng như gửi các đặc phái viên để giải quyết xung đột, cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của giám mục Lê Hữu Từ cũng như giới Công giáo[6]. Tuy nhiên, những nỗ lực đều bất thành.[7].

Ông liên tục chỉ đạo mở rộng các đội vũ trang, từ những trung đội "Vệ sĩ Công giáo" (1946), thành "Đoàn Cựu chiến binh Công giáo" (1947), rồi các đoàn “Dũng sĩ Công giáo” (1948)... Giáo khu Phát Diệm được tổ chức thành 3 khu quân sự là khu Phát Diệm, khu Phúc Nhạc và khu Gia Khánh, Gia Viễn, Nho Quan. Tất cả đều được đặt dưới quyền chỉ huy chung của "Tổng bộ Tự vệ Công giáo”, do linh mục Hoàng Quỳnh làm Tổng chỉ huy.

Từ tháng 11 năm 1948, sau khi Giám mục Bùi Chu là Giuse Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn qua đời, Tòa Thánh chỉ định ông kiêm Giám quản Tông tòa Giáo phận Bùi Chu. Ảnh hưởng và tổ chức của ông tiếp tục lan ra đến Bùi Chu[8]. Cả một khu vực Bùi Chu - Phát Diệm trở thành khu tự trị Công giáo với 40 vạn giáo dân, dưới sự cai quản của ông, ngoài quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hồi ký trên cho thấy Lê Hữu Từ là một con người xảo quyệt, lợi dụng sự cởi mở của Cụ Hồ để mưu đồ chống Việt Minh theo lệnh của Vatican. Nguyên do chỉ vì sự cuồng tín tôn giáo cộng với tinh thần nô lệ Vatican của Giám mục cũng như của mọi giới lãnh đạo trong Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam. Chúng ta còn nhớ giáo hoàng Pius XII đã đe dọa tuyệt thông mọi giáo dân nào ủng hộ Cộng sản hay có liên hệ gì với Cộng sản. Đối với những tín đồ thấp kém, nhẹ dạ, cả tin, "tuyệt thông" hay "rút phép thông công" là một vũ khí hù dọa hữu hiệu, vì họ đã được nhồi vào đầu từ khi còn nhỏ là muốn hiệp thông với Chúa thì phải đi qua các trung gian như Linh mục, Giám mục, Giáo hoàng hay "Tòa Thánh". Nhưng đối với giới trí thức, ngay cả trong giáo hội, thì đó chỉ là một biện pháp hù dọa đáng khinh, vì nó vô giá trị, vô nghĩa, lỗi thời, và nhất là dựa vào một quyền lực tự phong, không có một căn bản nào có thể thuyết phục được những người có đầu óc. Thật vậy, trong cuốn Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đã vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất và ý nghĩa của Hình Phạt Hù Dọa Tuyệt Thông Của Tòa Thánh, trang 39-40:

Tôi thấy khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một đoàn thể tôn giáo (Ca-Tô giáo Rô-ma. TCN) lại có thể quá lỗi thời để tin rằng một hình phạt thuộc loại huyền thoại như vậy vẫn còn có ý nghĩa gì đối với con người.

...Tuyệt thông, trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai Gót (God) . Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô. Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự do và trưởng thành.

Tuyệt thông toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục. Có thể những phương pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện con người để chiến đấu ngoài mặt trận. Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối với Gót; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại. (9)

Một tài liệu khác với nhiều chi tiết hơn về lịch sử Việt Nam sau khi Việt Nam giành được độc lập từ thực dân Pháp, và sự liên hệ chính trị giữa Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Giám mục Lê Hữu Từ là của Linh mục Trần Tam Tĩnh trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm. Chúng ta có thể đọc tài liệu này trên http://sachhiem.net/TONGIAO/TTTINH/TTT_20.php, Chương II, BINH THÁNH GIÁ, NẠN NHÂN CỦA ĐẠO QUÂN THÁNH GIÁ.

 

Vài Lời Kết:

Ca-tô Rô-ma Giáo đang suy thoái trầm trọng ở phương trời Âu Mỹ. Đây là một sự kiện mà chính Giáo hoàng Benedict XVI và Hội Đồng Giám Mục Âu Châu đã công khai thừa nhận. Trước hàng trăm tác phẩm nghiên cứu về Ki Tô Giáo nói chung của các học giả và cả của các giới lãnh đạo trong Ki Tô Giáo như Hồng Y, Đức Ông , Giám Mục, Linh Mục, Mục Sư, người dân hiểu biết không còn tin vào những điều hoang đường của thời bán khai nữa. Mất chỗ đứng ở Âu Mỹ vì dân trí nơi đây đã cao, Ki Tô Giáo tìm đất mới để phát triển. Lợi dụng dân trí tương đối còn thấp và kinh tế còn kém phát triển ở một số địa phương ở Á Châu và Thế Giới Thứ Ba, Ca-tô Rô-ma Giáo phối hợp với Tin Lành để bành trướng đạo bằng bả vật chất cũng như những luận điệu truyền đạo đượm màu mê tín của thời Trung Cổ cho đám dân thấp kém, cả tin, đồng thời vơ vét tiền bạc trên sự mê tín của tín đồ. Điển hình là trên trang nhà conggiaovietnam.net có giới thiệu một cuốn sách mà Ca-tô Rô-ma giáo ở Việt Nam cho là có giá trị đối với các tín đồ Ca-tô, cuốn “Sống Theo Mục Đích” [The Purpose Driven Life] của Mục sư Tin Lành hệ Baptist, Rick Warren. Cuốn sách được TGM giáo phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt và TGM Nguyễn Như Thể giáo phận Huế giới thiệu.

Ở Mỹ, cuốn “The Purpose Driven Life” của Rick Warren là một cuốn không có mấy giá trị đối với ngay cả những đồng nghiệp của ông ta trên nước Mỹ, tuy rằng đó là một cuốn sách thuộc loại bán chạy nhất trong nước Mỹ. Nước Mỹ nổi tiếng là một nước đứng đầu về khoa học kỹ thuật nhưng được xếp rất thấp về ý niệm và hiểu biết tôn giáo như Mục sư Ernie Bringas đã nhận định ở trên. Cho nên những nhà truyền giáo như Jerry Falwell, Pat Robertson, Rick Warren, Billy Graham, Robert Schuller và cả những tên lừa bịp rồi vào tù ngồi như Jimmy Swaggart, Jim Baker v..v… mới trở thành các tỷ phú hay triệu phú, với rất nhiều thủ đoạn truyền đạo khác nhau. Khai thác điều mê muội về một Thiên Chúa của đám tín đồ thấp kém, Rick Warren đã viết cuốn “The Purpose Driven Church” để bày kế hoạch cho các nhà thờ Tin Lành khác nhau làm sao khuyến dụ tín đồ trở thành các mega-church, nghĩa là các nhà thờ đông đảo tín đồ để vơ vét tiền bạc của tín đồ đóng góp cho Chúa, rồi viết cuốn “The Purpose Driven Life” cho lớp người dân thấp kém ở dưới đã có sẵn trong đầu một Thiên Chúa đã được nhà thờ nhét vào đầu óc họ mà không cần biết đến Thiên Chúa đó thực sự là cái gì. Nói khác đi, cuốn “Sống Theo Đúng Mục Đích” của Rick Warren có mục đích giữ những tín đồ vô trình độ trong bóng tối của ngục tù tâm linh bằng những luận điệu thần học nhồi sọ cũ kỹ đã lỗi thời, không còn giá trị trong thế giới tiến bộ trí thức ngày nay. Thực chất chỉ là “người mù dẫn giắt người mù” như Mục sư Ernie Bringas đã nhận định. Về vụ Ca-tô Giáo ở Việt Nam giới thiệu cuốn “The Purpose Driven Life”, xin đọc chi tiết trong http://www.sachhiem.net/TCN/TCNtg/TCN63.php.

Lợi dụng chủ trương “đoàn kết, đại đoàn kết” của chính quyền Việt Nam để lo mặt phát triển kinh tế, không muốn có xáo trộn trong xã hội, Ca-tô Rô-ma Giáo cũng như Tin Lành đã tung ra những hành động vô cương vô pháp. Mặt khác, một số trí thức Ca-Tô đang cố gắng viết lại lịch sử, đề cao tinh thần dân tộc của Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam, từ phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm đến lên án Phật Giáo làm mất miền Nam, làm như miền Nam là của riêng của những tập đoàn Hố Nai, Gia Kiệm v..v… Những trí thức (sic) tân tòng Tin Lành thì ra sức phỉ báng truyền thống và văn hóa dân tộc, xuyên tạc Phật Giáo, cùng một sách lược mà Tin Lành đã áp dụng ở Thái Lan, lợi dụng tinh thần hòa hợp khoan dung trong những xã hội Phật Giáo như Việt Nam, Thái Lan, Tích Lan v…v… Về vụ Tin Lành hai lần ra Tuyên Ngôn Phục Linh phỉ báng dân tộc Việt Nam ở quảng trường Mỹ Đình thì Ca-tô Rô-ma Giáo, tự nhận là tôn giáo dân tộc, không hề lên tiếng phản đối. Chính quyền địa phương thì chỉ cần tiền cho thuê quảng trường Mỹ Đình nên cũng im hơi lặng tiếng, chính quyền trung ương thì “chuyện nhỏ thôi mà, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, đại thành công”. Rút cuộc chỉ có một số trí thức Phật Giáo, Tăng, Ni, Tục lên tiếng cảnh báo hiểm họa Tin Lành, một ung nhọt ác tính của dân tộc Việt Nam.

Một số trí thức Tây phương cũng muốn viết lại lịch sử, bỏ qua lịch sử không mấy tốt đẹp của Ki Tô Giáo. Riêng về Việt Nam, vì cuộc chiến Việt Nam đã vang danh trên thế giới, nên vấn nạn Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam không thể bỏ qua, xét đến vai trò của Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam hợp tác với thực dân Pháp để đưa nước nhà vào 80 đô hộ, và xét đến sự thao túng của Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam trong 9 năm cầm quyền của chế độ Ngô Đình Diệm. Đây là một đề tài hậu chiến khá hấp dẫn làm chủ đề cho một số sinh viên đại học nghiên cứu để đáp ứng mong muốn của những người Tây phương muốn tìm hiểu thêm về Việt Nam nói chung, Ca-tô Rô-ma giáo ở Việt Nam nói riêng. Charles Keith là một trong những sinh viên này, làm luận án Ph.D. ở đại học Yale, Mỹ. Nhưng muốn viết trung thực về Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam, tác giả không chỉ dựa trên những tài liệu đã thành văn mà phải còn hiểu rõ lịch sử Việt Nam, tâm tình người Việt Nam, và nhất là trạng thái tâm lý tôn giáo của các tín đồ Ca-tô Rô-ma giáo ở Việt Nam. Linh mục Trần Tam Tĩnh có lẽ hiểu rõ hơn ai hết về lịch sử Ca-tô Rô-ma Giáo du nhập Việt Nam, và nhất là về tâm lý tôn giáo của các tín đồ, cho nên khó ai có thể phủ nhận những nhận định của Linh mục trong cuốn “Dieu et César”, bản tiếng Việt: Thập Giá và Lưỡi Gươm, .

Yale có cả một kho tài liệu về Việt Nam. Nhưng bài viết trên của Charles Keith chẳng có mấy giá trị hàn lâm vì ông ta chỉ tham khảo một số ít tài liệu chọn lọc phù hợp với ý định rất rõ ràng trong bài viết trên mà tôi đã vạch ra những nhận xét sai lầm của ông ta về Vatican, về Ca-tô Rô-ma Giáo ở Việt Nam. Cho đến nay, Vatican vẫn cương quyết giữ quyền, thần quyền cũng như thế quyền, trên các giáo hội Ca-tô địa phương. Vừa qua, Vatican đã lên tiếng phản đối vụ Trung Quốc tự tiện phong chức Giám mục cho người Trung Quốc, chứng tỏ tinh thần dân tộc và độc lập của Ca-tô Rô-ma Giáo ở Trung Quốc. Hành động này chứng tỏ Vatican không bao giờ chấp nhận một giáo hội dân tộc, tự do, nằm ngoài vòng chỉ đạo và kiểm soát của Vatican. Cho nên, như trên đã nói, Thông tư Maximum Illud và Tông sắc Venerabilium Nostrorum , thực chất chỉ là một mớ chỉ thị về kế hoạch truyền đạo của Vatican đưa ra tùy theo thời thế và nhu cầu của Giáo hội hoàn vũ mà thôi, tuyệt đối không phải để xây dựng các giáo hội dân tộc và độc lập với Vatican. Tiếc thay ông Nguyễn Văn Lục lại đi cóp nhặt một bài ít có giá trị hàn lâm để viết lên một bài còn ít giá trị hơn là bài gốc của Charles Keith.

 


Chú Thích:

1. Before He returned to His Father, Our Lord Jesus Christ addressed to His disciples the words: "Go into the whole world and preach the gospel to all creation" (Mark 16:15). With these words He committed to them a duty, a momentous and a holy charge, that was not to lapse with the death of the Apostles but would bind their successors, one after another, until the end of the world - as long, that is, as there remained on this earth men whom the truth might set free. From that time on, as the centuries have passed, the Church has never forgotten that command God gave her, and never yet has she ceased to dispatch to every corner of the world her couriers of the doctrine He entrusted to her, and her ministers of the eternal salvation that was delivered through Christ to the race of men.

2. Uta Ranke-Heinemann, Ibid., p. 215: Jesus has no intention of founding a “church” and certainly not a “church universal.” For an authentic example of Jesus’ view, consider Matt 10:5-6, which expresses the exact opposite of a universal commission: “These twelve Jesus sent out, charging them, “Go nowhere among the Gentiles, and enter no town of the Samaritans, but go rather to the lost sheep of the house of Israel.” Two further authentic passages are Matt 15:24, “I was sent only to the lost sheep of the house of Israel,” and Matt. 10:23, “You will not have gone through all the towns of Israel, before the Son of Man comes.” …Jesus himself – and all theologians have by now acknowleged this – believed that the Kingdom of God would be coming soon. But that is the opposite of a world mission in the grand style.

3. Of all the fictions which still shelter from the storm of modern criticism under the leaky umbrella of “Catholic Truth”, the legend of the divine foundation of the Papacy and the Papal system is quite the boldest and most romantic. No divine force, but a pitifully human series of forgeries and coercions, of pious frauds and truculent ambitions, perpetrated in an age of deep ignorance, built up the Papal power, hierarchy and creed… The word “church” had no meaning at all in the days of Christ and Peter. There was no such word in Aramaic. Christ would have had to say “synagogue”; and he hated synagogues.

4. The man entrusted with a Catholic mission must make it his special concern to secure and train local candidates for the sacred ministry. In this policy lies the greatest hope of the new churches. If, however, the indigenous clergy is to achieve the results We hope for, it is absolutely necessary that they be well trained and well prepared. Their education should be complete and finished, excellent in all its phases, the same kind of education for the priesthood that a European would receive…

5. [Joseph McCabe, The Truth About The Catholic Church, pp. 89-90: Recruits are now sought at a very early age, and usually from the less educated class...The Church now, in all countries, has a difficulty in securing the proper type of recruits, and the theoretical qualifications have to be considerably lowered. As a rule, the priesthood is recruited by the adoption of young boys to whom ordination means promotion to a position and prestige which their personal merits would not otherwise obtain for them.

This casts the burden of their training almost entirely upon the Church, and their education is generally very poor. Very few priests could read any Latin author (except Ceasar) at sight, or make much sense of Horace, Tacitus, or Juvenal. Of Greek they have, as a rule, received only an elementary knowledge, which they soon forget. Of science, history, and philosophy, in the modern sense, they, as a rule, know nothing.

Science is taught in very few training-colleges for the clergy, and then only in the most elementary form and for a very short time. History is represented only by a few lessons, from Catholic writers, on Church history...

In science and history I did not receive one single lesson in the whole course of my training; and, as I said, my "philosophy" had as little relation to modern philosophy as astrology has to astronomy.

The value of the education given to me in the Church was made plain the moment I returned to "the world"...I could not get a position as a teacher at ten dollars a week. My friend Mr. Forbes, regretfully told me, after a short examination, that my "education" was quite useless...Three of my colleagues secretly left the Church and tried to earn their living. Each failed, and had to return..The Church must have a high proportion of such men.]

6. James Kavanaugh, A Modern Priest Looks at His Outdated Church, pp. 20-21: I studied four years after college until I was declared ready to be a priest. My studies spoke seldom of doubts or opinions and most frequently of blacks and whites.. In philosophy, for example, we could handle Berkeley, Hume, and Kant in a single week... We memorized each thesis and definition and proved that "reason" could only lead an honest man to faith. We were the only honest men as we defended by "reason" all the moral teachings of the Church. Catholic opposition to divorce and birth control, to freedom of speech and thought, to mercy killing and adultery were all the obvious conclusions of a "reason" unclouded by passion and pride. It did not seem important that there were millions of "unreasonable" men...It was an education without sympathy, a training without recourse. I heard what I was supposed to hear, and said what the administration expected me to say. Rebels were weeded out. Only the strong and legal-minded, or the naive and passive, could last. Creativity was discouraged unless it pursued the accepted patterns wich cautious minds approved. "heresy" was a word which ended every argument, and "the Church teaches" was the narrow outline of every debate. I was not educated, I was formed. I was not encouraged to think, but trained to defend. I was not asked to reflect, but to memorize.

...My God! What have I become? You asked me to minister with the weakness of my flesh, to serve the struggling sinner, and I have grown rigid and comfortable in the service of myself. I am not "another Christ," I am not even a man, I am only a prisoner, a synthetic paragon, a defender of the tired past.

God! If I am to be a priest, first lat me be a man. Do not let me hide behind my collar, my titles, my false front. Do not make me give answers I do not believe, nor mold men into impersonal and uncomplaining dolts. Let them know my doubts from my own lips, and let them tell me honestly of theirs. Let me not bind them with law and hell, nor frigten them with tales of unexpected death...

7. Emmett McLoughlin, American Culture and Catholic Schools, pp. 36 -37: I did not learn to think. As the years of childhood slipped through a frustrated adolescence (in the seminary) into the days that were supposed to be those of manhood, my mind was molded in an intellectual pattern as effectively as though it had been cast in concrete.

The closest approach to science that I experienced in those 21 years was that a non-laboratory course in elemental physics...Of the world's really great literature, in 12 years I learned practically nothing. Its greatest lights were locked in the prison of the Index of Forbidden Books.

In short, I was not educated. I was merely endoctrinated. I had achieved the level of the rigor mortis of intellectual mediocrity.

I had become an automaton, a priest of sacred, half known rites as meaningless in the efficacy as the chants of a Puerto Rican woodoo priest.

I was an ecclesiastical technician trained to mold other young, pliable minds...

8. James Kavanaugh, Ibid., p. 32-35: The Catholic man sees the world through a system which forbids him to be himself. He can walk the city streets and watch every face and every situation fall neatly into its proper category. He has never really known the joy of search, the wonder of discovery, the exciting freedom of personal decision. The world is a stranger to him since he judges its citizens before he really knows and understands. He has been taught what to read, how to think, and whom to call his friend.

I watch the Catholic come to Mass and pity the formation that warped his mind and distorted his religious sense. He comes because he has been told to come by religious leaders who are as docile and listless as he. He read the prayers wrapped in stilted phrases and make the gestures totally foreign to his modern way of life. He lives in a world of jet and atomic bombs, and prays in a world of medieval magic. He is bored in the presence of his God. And yet he comes, because he has learned from his youth that hell is the home of those who miss Mass. He is too frightened to admid he is bored.

In his business his eye is tuned to efficiency and progress. He looks for shorcuts, for new way to reach the public, for another service that will attract his fellow man. He has views on world peace, opinions on fiscal reform, thoughts on crime prevention, mental health, and transportation in megalopolis. But in religion he is a robot who can only recite the answers he has learned. He will accept the priestly decisions without protest, appear thoughful when he hears a rehash of the truths he learned in school, and support the Church which has robbed him of his mind...

The man or woman who is a Catholic has lost his touch with life. He is afraid to read the books that others read, to see the movies that reflect our modern life...

The Church, like a frightened and angry parent, takes too much credit for the help that it can offer man. Consequently Catholics are treated as children and they continue to behave as such...

The Catholic man opposed evolution and he was wrong. He supported monarchy long after democracy had made the people free. He promoted racial prejudice until "pagans" showed him he was wrong. He fought mixed marriages and fights them still, although he enjoys the freedoms that pluralism has won. He asks for freedom of conscience and expects protestants to raise their children in his faith...

He has not the right to follow his own conscience, or the power to select the principles that give him help. He is a Catholic, a child, who demands that another make for him his choice...

Thus, the Catholic man cannot truly know the meaning of dialogue, but only give arguments to defend the position he has inherited from his youth...

The Catholic man is an organized answering service whose first obligation is to protect his Church.)

9. I found it hard to believe that in the age of space technology a religious body could be so out of touch as to believe such a mythological penalty could have any meaning left for man.

...Excommunication had for centuries been authority's way of playing God. It was the inhuman and unchristian denial of man's freedom of conscience. But most of all it had been a deeply frigtened authority's frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct them toward a free and mature love. Excommunication attempted to turn the religious experience into a boot camp where the officer in charge aspires to build loyal robots by smothering them with confinement and indignity. Perhaps such methods might have had meaning in preparing man for combat. They are only childish and dishonest in dealing with a man or woman's relationship with God, but incredulously they still exist.

 

Grayslake, Illinois

Ngày mồng Ba Tết Tân Mão.

Trần Chung Ngọc