Khi Người Công Giáo Nói Chuyện

"HÒA ĐỒNG TÔN GIÁO”

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNdt/TCNdt026.php

ngày 18 tháng 1, 2009

 

LTS: Để thích ứng với những thế tấn công văn hóa mỗi ngày một mới mẻ và đa dạng, những mảnh nhung bọc quanh các bàn tay sắt của Ca-tô giáo La Mã mỗi ngày một đổi màu để mời mọc và rồi sẽ siết cứng dân ta vào tròng của họ. Bằng một thái độ nghiêm túc, bằng những lý luận sắc bén, bằng những công trình nghiên cứu đứng đắn, và bằng một trái tim trong lòng dân tộc, tác giả Trần Chung Ngọc đã nêu lên những vấn đề trọng đại liên quan đến hệ thống Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Tuy không nhắc lại trong bài này, tác giả sẵn sàng đón nhận những lời chỉ giáo của độc giả nếu được trình bày bằng một thái độ nghiêm chỉnh và tương kính.

Phần trình bày cho đề tài này khá dài nên tòa soạn xin phép tóm lược dàn bài như sau để dễ theo dõi:

- Vào bài

- Vấn Nạn 1: Đứng Ngoài Dân Tộc

- Vấn Nạn 2: Tinh Thần Nô Lệ Cho Vatican.

- Vấn Nạn 3: Vướng Mắc Với Lịch Sử Bành Trướng Của CG La Mã.

- Vấn Nạn 4: Thánh Kinh -Căn Bản Đức Tin

- Công giáo Việt Nam và Vatican

- Bàn về Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền

- Bàn Về Lợi Ích Của Hòa Đồng Tôn Giáo

- Thiên Chúa Cựu Ước hay Tân Ước ?

- Vài câu hỏi cho "sản phẩm" của Nguyễn Anh Tuấn

- Kết


Toàn bài: 1 2 3 4 5

Dẫn: http://www.tiengnoigiaodan.net/anews09/0901_039.html

 

Vài Ý Kiến Nhân Đọc Bài
“NỀN TẢNG HÒA ĐỒNG TÔN GIÁO” Của Chu Tấn

Gần đây có vẻ như giáo dân trên tiengnoigiaodan.net rất thiết tha với chuyện “hòa đồng tôn giáo và dân tộc” ở Việt Nam. Chúng ta thấy xuất hiện bài của Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Quang, và nay là Chu Tấn. Cả ba đều cổ súy cho “Hòa đồng tôn giáo và dân tộc”. Hòa đồng tôn giáo, theo họ hiểu, là tiến tới “Tôn giáo đồng nguyên” với lý luận: Xưa kia, từ thời đại Lý Trần, tinh thần Tam Giáo [Thích, Nho, Lão] Đồng Nguyên đã là một thực thể trong nền văn hóa Việt Nam, vậy nay Việt Nam còn có Công Giáo, Tin Lành [Họ phân biệt Công giáo và Tin Lành tuy cả hai đều thờ một Chúa, cùng dùng một cuốn Thánh Kinh], Hồi Giáo, Cao Đài và Hòa Hảo cho nên Việt Nam có thể tiến tới “Bát Giáo Đồng Nguyên”. Nhưng nội dung mấy bài này khó có thể hiểu đó là để “hòa đồng tôn giáo và dân tộc” vì chứa đầy hận thù và còn rủa sả cả dân tộc, quốc gia Việt Nam (Nguyễn Anh Tuấn) và cả ba đều truyền đạo rất rẻ tiền vì ngu ngơ với kiến thức về đạo thuộc thế kỷ 14. Sau đây tôi xin đi vào phần góp ý kiến cùng ông Chu Tấn về vấn đề “Hòa Đồng Tôn Giáo”.

Bài “Nền Tảng Hòa Đồng Tôn Giáo” của ông Chu Tấn không ra ngoài “Sản Phẩm Trí Tuệ” của ông Nguyễn Anh Tuấn trong tiengnoigiaodan.net trước đây. Ông Nguyễn Anh Tuấn là một người, theo tiengnoigiaodan.net, đã từng dùi mài kinh sử về chính trị học và tôn giáo hơn 20 năm qua, thay mặt nhóm người Công Giáo Chủ trương Hoà Đồng Tôn Giáo và Dân Tộc, kêu gọi “Đóng Góp Sản Phẩm trí Tuệ Cho Tuyển Tập 2” của Công giáo, mang chủ đề “Chính Trị và Tôn Giáo”.

Trước khi góp vài ý kiến về bài của ông Chu Tấn tôi cần phải nhắc lại vài sự kiện về những đề nghị thuộc “Sản phẩm trí tuệ” của ông Nguyễn Anh Tuấn. Có ông Trần Vinh lên tiếng phê bình vài điểm trong bài của ông Nguyễn Anh Tuấn. Rồi ông Nguyễn Anh Tuấn đáp lại bằng một bài khá dài để… “tố Cộng” và “truyền đạo”. Cuối cùng có ông Chu Tấn lên tiếng phê bình cả hai: Nguyễn Anh Tuấn và Trần Vinh. Gọi là phê bình cho vui chứ thực ra Chu Tấn ca tụng ông Nguyễn Anh Tuấn hết lời và mạ lỵ, chụp mũ ông Trần Vinh khá nặng nề. Đọc mấy bài của Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Quang và Chu Tấn chúng ta thấy cái “sản phẩm trí tuệ” của “xưởng chế tạo trí thức Công Giáo Việt Nam” [Vietnamese Catholic Intellect Factory] có cái gì trục trặc trong đó (mượn lời của Hồng Y Silvio Oddi phê bình Vatican chỉ là cái “xưởng chế tạo thánh” (A Saint Factory). Và lẽ dĩ nhiên, nhóm Chủ trương Hoà Đồng Tôn Giáo và Dân Tộc cũng là những “sản phẩm trí tuệ” từ cùng một cái xưởng như trên mà ra. Tại sao? Vì trao phó trách nhiệm cho Nguyễn Anh Tuấn nhưng lại không đủ “trí tuệ” để biết Nguyễn Anh Tuấn đã viết những gì trong đó, và cứ thế đưa lên tiengnoigiaodan.net. Tôi đã phê bình bài của Nguyễn Anh Tuấn, đọc giả nào tò mò muốn biết xin vào đọc: http://sachhiem.net/TCN/TCNdt/TCNdt5.php [Phê bình Sản Phẩm Trí Tuệ của Nguyễn Anh Tuấn]. Và bây giờ, Chu Tấn đã tiếp nối “sản phẩm trí tuệ” của Nguyễn Anh Tuấn bằng “sản phẩm trí tuệ” của mình qua bài “Nền Tảng Hòa Đồng Tôn Giáo”.

Đọc bài của ông Chu Tấn, chúng ta thấy đúng là cùng một loại “sản phẩm trí tuệ”, vì trong bài viết về “Hòa Đồng Tôn Giáo”, ông Chu Tấn cũng gài vào những câu “Tố Cộng” [irrelevant đối với chủ đề], kèm theo những câu “truyền đạo” chứng tỏ không có mấy hiểu biết hay lương thiện trí thức về chính đạo của mình, và có những hiểu biết rất hời hợt về tôn giáo và xã hội Việt Nam. Bài viết này của tôi không phải để tranh luận hay đối thoại, mà nặng phần nhận xét có tính cách giáo dục để chỉnh lại một số điểm trong bài của Chu Tấn. Tôi không có thì giờ phê bình từng điểm một trong bài của ông Chu Tấn. Tôi chú trọng vào chủ đề Hòa Đồng Tôn Giáo và góp vài ý kiến xây dựng về làm thế nào để có Hòa Đồng Tôn Giáo, và sau đó duyệt qua vài điểm khác trong bài của ông Chu Tấn.

Chúng ta hãy đọc câu mở đầu của ông Chu Tấn:

Từ khi bùng nổ cuộc cách mạng điện toán hay cuộc cách mạng tin học, đưa đến kết qủa thu hẹp không gian và thu ngắn thời gian khiến cho “năm châu một chợ bốn biển một nhà” hay người ta còn gọi là thời đại “toàn cầu hóa”. Nhân loại hiện nay không chỉ có nhu cầu toàn cầu hóa về “kinh tế”, mà còn tiến tới toàn cầu hóa về chính trị, văn hóa và tôn giáo. Đặc biệt tại Việt nam từ thời đại Lý Trần, cha ông chúng ta đã chủ trương “Tam Giáo Đồng Nguyên” (Phật-Lão- Khổng) nay nước ta lại có thêm các tôn giáo mới như: Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài Giáo nên một số người làm Văn Hóa đã đặt vấn đề “Bước sang thế kỷ 21 Việt Nam có thể tiến tới Bát Giáo Đồng Nguyên hay không?”

Đầu đề bài viết của ông Chu tấn là “Nền Tảng Hòa Đồng Tôn Giáo”. Vậy, trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là “Hòa Đồng Tôn Giáo”. Đồng có hai nghĩa: “Cùng nhau” và “Giống nhau”. Lẽ dĩ nhiên không làm gì có các tôn giáo giống nhau dù trong các tôn giáo chúng ta thường thấy có một số điểm giống nhau. Nhưng đó không phải là nền tảng giống nhau của các tôn giáo. Vậy thì Hòa Đồng Tôn Giáo chỉ có nghĩa là các tôn giáo sống cùng nhau một cách hòa bình. Nhưng ngay cả theo nghĩa “hòa đồng tôn giáo” này cũng rất khó mà thực hiện vì những khúc mắc của lịch sử tôn giáo, giáo lý, văn hóa, xã hội v..v…

Nhìn vào tình hình thế giới ngày nay, chúng ta có thấy tôn giáo nào thực sự có thực tâm sống hòa bình với tôn giáo khác. Do Thái và Hồi Giáo tiếp tục giết nhau ở Palestine, bề ngoài là tranh chấp về đất đai nhưng sâu thẳm chính là vấn đề tôn giáo. Công giáo và Tin Lành, cùng thờ một Chúa, cùng đọc một cuốn Kinh, nhưng chưa bao giờ thực sự hòa thuận với nhau, khoan kể là ở một vài địa phương thỉnh thoảng vẫn còn chém giết nhau. Như vậy chúng ta có thể có hi vọng gì để tiến tới “Bát Giáo Đồng Nguyên” ở Việt Nam, trong đó có cả Tin Lành và Công Giáo, nhất là khi bản chất Công Giáo, hoàn toàn lệ thuộc Vatican, hay Tin Lành, hoàn toàn lệ thuộc cuốn Thánh Kinh, đều hoàn toàn xa lạ với nền văn hóa cổ truyền của Việt Nam..

Nhưng vấn đề là ông Chu Tấn cũng như Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Quang đều không hiểu thế nào là “đồng nguyên” cho nên mới đưa ra ý tưởng mà ông ta cho là của một số người làm văn hóa: “tiến tới bát giáo đồng nguyên”. “Tam Giáo Đồng Nguyên” là ba tôn giáo: Thích – Nho – Lão có cùng một nguồn gốc và cùng đi đến một mục đích (Tam Giáo Đồng Quy). Mục đích đó là gì? Đó là phục vụ con người, tùy theo đường lối khác nhau, nhưng đều lo về đạo đức, sự tu tập cá nhân, vận dụng trí tuệ để thăng tiến trên con đường tâm linh, tự lực tự cường đi đến giải thoát.

Tinh thần Tam Giáo là tinh thần hài hòa giữa các tôn giáo khác nhau, còn tinh thần của Cựu Ước và Tân ước là tinh thần độc tôn, ngoài ta ra không có ai khác. Cựu Ước viết: “Ngươi không được thờ thần nào khác ngoài ta”; Tân Ước viết, Giê-su phán: “Hãy mang những kẻ thù của ta, những người không muốn ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt ta”. Vậy làm sao mà tinh thần của Thánh Kinh Tân Ước và Cựu Ước cũng không khác tinh thần Tam Giáo Đông Phương cho được. Chỉ có những người mà đầu óc không đội trời chung với sự hiểu biết ngày nay về tôn giáo của nhân loại mới không biết rõ như vậy, và lẽ dĩ nhiên những người này chưa bao giờ đọc Thánh Kinh của Ki Tô Giáo cũng như chưa từng biết tinh thần của Tam Giáo: Thích, Nho, Lão, là gì.

Đạo Phật là Đạo của trí tuệ. Đạo Lão là Đạo hài hòa với thiên nhiên. Đạo Khổng cho chúng ta một tập hợp các tiêu chuẩn đạo đức trong xã hội. Tất cả những tính chất này đều không có trong Ki Tô Giáo, tôn giáo của đức tin, tin không cần biết không cần hiểu, và là tôn giáo tàn bạo đẫm máu nhất thế gian. Mặt khác, Tam Giáo là những tôn giáo hòa bình chưa hề gây ra chiến tranh, trong khi Do Thái, Ki Tô và Hồi Giáo đều là những tôn giáo hiếu chiến, đã từng gây ra bao nhiêu cuộc chiến tranh trên thế giới vì lý do tôn giáo, vậy hòa đồng theo nghĩa nào, hòa đồng chim sẻ với phượng hoàng?

Những chủ trương dạy con người tự lực tự cường để thăng tiến trên con đường tâm linh không thấy có trong các tôn giáo thờ thần như Công Giáo và Tin Lành, những tôn giáo của đức tin và hi vọng, trong đó đức tin là điều tiên quyết, và hi vọng là cứu cánh tối hậu. Tất cả các điều khác, thí dụ như “sống đạo, tốt đời”, hay đi kiếm linh hồn cho Chúa bằng mồi vật chất, hay làm từ thiện để quảng cáo như bà Teresa v..v… chỉ là phụ. Thật vậy, Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận đã chẳng viết trong cuốn Chứng Nhân Hi Vọng, trang 29: “Chúng ta không được chọn vì công trạng của mình, nhưng chỉ vì lòng từ bi của Chúa”. Nhưng Chúa có lòng từ bi hay không, và có từ bi đối với những người không phải là Do Thái, trong đó có người Việt Nam, thì điều này đã được Chúa khẳng định rõ trong Tân Ước: Matthew 1: 21; Luke 1: 33, và đặc biệt là Matthew 15: 21-28.

Tuy giữa các tôn giáo dân tộc ở Việt Nam và Công giáo, Tin Lành có những khác biệt căn bản, các tôn giáo sống chung hòa bình với nhau không phải là điều không thể thực hiện được. Dân tộc Việt Nam vốn là một dân tộc hiếu hòa, và vì tinh thần Phật Giáo đã thấm nhuần trong đại khối dân tộc, nên chẳng có ai muốn có sự xung đột tôn giáo, và ước mong mọi tôn giáo được sống hòa bình với nhau trên đất nước là ước mong chung của tuyệt đại đa số người dân. Nhưng không phải chỉ nói trên đầu môi chót lưỡi là muốn có hòa bình, trong khi bản chất vẫn là chia rẽ, vẫn có những mưu toan xâm lấn bắt nguồn từ sự cuồng tín tôn giáo thể hiện qua những hành động cụ thể trong xã hội, là có thể thực hiện được hòa bình giữa các tôn giáo. Trong thời đại ngày nay, hòa bình giữa các tôn giáo cần sự hiểu biết đúng về các tôn giáo trong quảng đại quần chúng, và riêng ở Việt Nam, cần phải có một số điều kiện tiên quyết không thể không có trên đất nước Việt Nam. Nếu không hội đủ các điều kiện này thì chủ trương “hòa đồng tôn giáo và dân tộc” của Công giáo chỉ là một ảo tưởng, hay nói đúng hơn, chỉ là một bình phong che đậy những âm mưu đen tối đàng sau.

Vì chủ đề bài của ông Chu Tấn có tính cách xây dựng nên tôi cũng xin góp vài ý kiến xây dựng để đi đến hòa đồng tôn giáo ở Việt Nam. Theo tôi giữa các tôn giáo ở Việt Nam như Thích, Nho, Lão, Cao Đài, Hòa Hảo v..v.. không có vấn đề gì vì tất cả vẫn sống hòa bình với nhau. Nhưng Ki Tô Giáo, nhất là Công giáo thì có vài vấn nạn. Không giải quyết được những vấn nạn này thì khó mà có thể xây dựng hòa đồng giữa Công giáo và các tôn giáo khác. Thật vậy, Công Giáo Việt Nam có vài vấn nạn bất lợi có thể cản trở việc thực hiện “hòa đồng tôn giáo”.

Những vấn nạn này cần phải giải quyết nếu Công Giáo thực tâm muốn đi đến hòa đồng tôn giáo ở Việt Nam. Muốn tiến tới “hòa đồng tôn giáo” chúng ta phải nhìn vào những thực tế xã hội chứ không thể dựa vào những lý thuyết thần học vu vơ.

Vấn nạn thứ 1: Đứng Ngoài Dân Tộc.

Vấn nạn phải giải quyết trước nhất là làm sao có thể xóa bỏ được hình ảnh đứng ngoài dân tộc của Giáo hội Công giáo Việt Nam mà lịch sử đã ghi rõ, trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Chúng ta hãy đọc vài tài liệu sau đây, nhân dịp ôn lại một chút lịch sử:

Trong quá khứ, lịch sử đã ghi rõ, không còn nghi ngờ gì nữa, Giáo hội Công giáo là một giáo hội “Việt gian” theo nghĩa đã làm tay sai cho thực dân Pháp để đưa nước nhà vào vòng nô lệ của Pháp trong gần 100 năm. Điều này tôi đã chứng minh tạm gọi là đầy đủ trong cuốn “Công Giáo Chính Sử”, Chương 8:
 http://sachhiem.net/TCN/TCNtg/CGchinhsu/CGCS8.php với khá nhiều tài liệu.

Tôi đã đưa ra một tài liệu điển hình có tính cách khẳng định sau đây của chính Giám mục Puginier, được trích dẫn trong cuốn Catholicisme et Sociétes Asiatiques của Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi:

"Giám Mục Puginier viết rằng: "Không có các thừa sai và giáo dân Công Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng. Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ. Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Công Giáo, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai; họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào tình trạng không thể hoạt động được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng. Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại." [Vào thời điểm đó, ở Việt Nam, “Les Chrétiens” chính là người Công giáo. TCN]

(Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes. La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force. En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres. Leur position ici ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)

Tình hình thế giới biến chuyển, năm 1945 Pháp mất quyền ở Đông Dương và Việt Nam thu hồi được nền độc lập của nước nhà. Nhưng Pháp không từ bỏ giấc mộng thực dân, toan tính tái lập chế độ thuộc địa ở Việt Nam, trở lại Việt Nam với sự trợ giúp của Anh và Mỹ. Toàn dân nổi lên kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Việt Minh. Giáo hội Công giáo đã làm gì trong thời gian toàn dân kháng chiến này?

Theo Linh Mục Trần Tam Tĩnh trong cuốn Dieu et César thì:

"Cuối năm 1945, Việt Nam giành lại được độc lập từ tay người Pháp, lòng yêu nước của người Công giáo VN bùng lóe lên với những cuộc biểu tình của hàng chục ngàn giáo dân mang biểu ngữ và hô khẩu hiệu "Giáo Hoàng Muôn Năm", "Giáo Hội Việt Nam của Người Việt Nam", "Việt Nam Độc Lập Muôn Năm" (Vive le Pape, L'Église Vietnamienne aux Vietnamiens, Vive le Vietnam Indépendant.)

Nhưng rồi Linh mục Tĩnh viết:

"Vậy, với các giám mục và linh mục dẫn đầu, tín đồ Công giáo muốn phá bỏ hình ảnh của một giáo hội đã cộng tác với quân xâm lăng, một giáo hội phục vụ nước Pháp, một giáo hội đã sống ngoài lề sự tranh đấu cho chủ quyền và tự do của dân tộc. Một trang sử đã lật qua nhưng khốn thay chẳng được bao lâu"

(Ainsi, avec les évêques et les prêtres en tête, les catholiques voulaient détruire l'image d'une église collaboratrice avec les agresseurs, d'une église au service de la France, d'une église qui avait vécu en marge d'un peuple en lutte pour sa souvenaineté et sa liberté. Une page est tournée. Mais, malheureusement pas pour longtemps.)

Tại sao? Vì theo một sắc lệnh của Giáo Hoàng Pie XII ban hành ngày 1 tháng 7 năm 1949, tuyên bố "tuyệt thông" bất cứ người nào cộng tác với Cộng sản, tuyên truyền cho CS, đọc sách báo CS v...v.. nên giáo hội Công giáo Việt Nam lại hợp tác với quân đội Pháp, được Pháp trang bị vũ khí để lập những khu được gọi dưới mỹ danh là "tự trị" như Bùi Chu, Phát Diệm..., lại đứng ngoài lề công cuộc kháng chiến để bảo vệ nền độc lập mới thu hồi của dân tộc Việt Nam. Hơn nữa, giám mục Lê Hữu Từ cùng các linh mục Hoàng Quỳnh, Phạm Ngọc Chi v..v.. lại còn xua giáo dân đi giúp quân xâm lăng Pháp, tích cực săn lùng tra tấn giết chóc người theo hoặc bị tình nghi là theo Việt Minh trong khi họ chỉ là những người kháng chiến yêu nước.

Cùng một nhận xét, dựa trên những sự kiện lịch sử, Cao Huy Thuần viết trong Luận Án Tiến Sĩ Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam (1857-1914), trg. 547-548:

"Sau ngày Việt Nam tuyên bố độc lập vào tháng 8-1945, những tín đồ Thiên Chúa, trong một tình yêu nước nồng nhiệt mới mẻ hoàn toàn, đã xác định rõ rệt và long trọng lòng tha thiết với độc lập và quyền lợi dân tộc.

"Các con chiên Việt Nam, tờ Kỷ Yếu các phái bộ viết, biết rằng tương lai của tôn giáo họ được nêu lên. Nếu họ chứng tỏ được lòng yêu nước ra dưới mắt của cả nước, chắc chắn họ sẽ lấp được cái hố còn ngăn cách họ với đồng bào phi-Thiên Chúa của họ. Nếu họ khước từ, họ làm cho cái hố đó không vượt qua được. Vì thế không còn gì phải nghi ngờ về bổn phận nữa, chỉ còn phải theo đó mà hành động. Đa số con chiên đã lựa chọn. Được các giám mục của giống nòi họ soi sáng và ủng hộ, họ không còn muốn phạm lỗi lầm của những người trước trong thế kỷ vừa qua. Họ cương quyết không chịu làm lại tín ngưỡng mình bằng cách dính líu với chính quốc. Họ muốn bảo vệ sự độc lập của đạo Thiên Chúa bằng cách cùng làm việc với đồng bào phi-Thiên Chúa của họ cho xứng nghĩa của nền độc lập của tổ quốc." (Giibal, Les Catholiques en Vietnam. Buổi diễn thuyết tại Trung Tâm Nghiên Cứu Á-Phi, Paris, 1953.)

Và vì thế bốn Giám mục Việt Nam lập tức lựa chọn lấy mấy lập trường vào ngày 23-9-1945, họ đã viết thư cho Giáo hoàng Piô XII nhân danh "dân tộc Việt Nam" để yêu cầu "sự ban phước lành, lòng đại lượng cùng các lời cầu nguyện để ủng hộ nền độc lập mà nó vừa mới thu hồi được và bảo vệ bằng mọi giá." (Ibid.)

Đó là lần đầu tiên mà đạo Thiên Chúa Việt Nam chịu hòa mình trong cộng đồng dân tộc và gắn liền quyền lợi của họ vào quyền lợi đất nước. Nhưng than ôi! Tia lửa yêu nước vụt tắt ngay mấy tháng sau, Pháp đổ quân vào Việt Nam, chiến tranh Đông Dương bùng nổ và tín đồ Thiên Chúa lại hợp tác với ngoại bang."

Qua những tài liệu ở trên, chúng ta có thể thấy ngay rằng, ngay từ buổi đầu, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã tự tạo cho mình một hình ảnh không mấy tốt đẹp trong lòng đại khối dân tộc Việt Nam. Như vậy, rõ ràng là trong quá khứ, Giáo hội Công giáo đã là một giáo hội Việt gian phản bội dân tộc. Nên hiểu rằng, không có ai hàm hồ cho rằng tất cả những người Công giáo Việt Nam đều là Việt gian. Nhưng ở trong một định chế tôn giáo như Công giáo mà chính sách nhồi sọ tín đồ từ khi còn nhỏ đã là một sự kiện thì trách nhiệm về phần Giáo hội, nghĩa là tập thể những người lãnh đạo Công giáo, hoạch định chính sách của Công giáo và chăn dắt con chiên. Đa số giáo dân, vì kém hiểu biết và được đúc trong cái khuôn “con đường lên thiên đường là “đức vâng lời”” trong cái định chế tôn giáo này, nên nhiều khi chính họ cũng không ý thức được những việc họ làm. Họ là những người đáng thương chứ không đáng trách.

Đọc hai đoạn trên của Linh mục Trần Tam Tĩnh và Tiến sĩ Cao Huy Thuần, chúng ta thấy rõ tâm cảnh nô lệ Giáo hoàng của hàng giáo phẩm Công giáo Việt Nam và rất ngu ngơ về những quyền năng tự tôn của Giáo hoàng. Bởi vì, lời đe dọa “tuyệt thông” của Giáo hoàng Pius XII thực chất là vô giá trị, nó chỉ là một mánh mưu nhốt đàn con chiên của ông ta trong vòng tuân phục như Linh mục James Kavanaugh đã nhận định.

Thật vậy, trong cuốn Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đã vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất và ý nghĩa của Hình Phạt Hù Dọa Tuyệt Thông Của Tòa Thánh, trang 39-40:

...Tuyệt thông, trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai Thượng đế . Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô. Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự do và trưởng thành.

Tuyệt thông toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục. Có thể những phương pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện con người để chiến đấu ngoài mặt trận. Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý với sự liên hệ của con người đối với Thượng đế; nhưng thật không thể tin được là chúng vẫn còn tồn tại.

(...Excommunication had for centuries been authority's way of playing God. It was the inhuman and unchristian denial of man's freedom of conscience. But most of all it had been a deeply frigtened authority's frantic effort to dominate and control men and woman rather than to direct them toward a free and mature love. Excommunication attempted to turn the religious experience into a boot camp where the officer in charge aspires to build loyal robots by smothering them with confinement and indignity. Perhaps such methods might have had meaning in preparing man for combat. They are only childish and dishonest in dealing with a man or woman's relationship with God, but incredulously they still exist.)

Vì ngu ngơ tin vào cái quyền tuyệt thông hoang đường của Giáo hoàng mà hàng giáo phẩm Công giáo Việt Nam lại làm tắt đi lòng yêu nước mới nhúm lên, quay đầu trở lại làm “Việt gian” cho Pháp. Thật là tội nghiệp.

Trong tương lai, để có hòa đồng tôn giáo ở Việt Nam, hàng giáo phẩm Công giáo phải từ bỏ tinh thần nô lệ tuân phục Giáo hoàng vô điều kiện đượm màu sắc mê tín như trên, và tâm cảnh trịch thượng, cuồng tín, làm như đất nước Việt Nam đều thuộc về Chúa của họ và hứa sẽ không bao giờ tái phạm những hành động như sau..

  • Thứ nhất, một người Việt Nam yêu nước thực sự thì không bao giờ cần đến sự ban phước lành của Giáo hoàng cho nền độc lập của nước nhà, bởi vì Giáo hoàng và Giáo hội Gia Tô La Mã đã đóng vai chủ chốt trong việc xâm chiếm nước Việt Nam, đặt Việt Nam dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, điều này đã được chứng minh rõ ràng trong những tài liệu lịch sử bất khả phủ bác. Chưa kể là phép lành của Giáo hoàng chỉ có giá trị trong nội bộ Công giáo chứ không có giá trị gì đối với hơn 90% dân chúng Việt Nam phi-Gia Tô, đó chỉ là một thứ thần quyền tự nhận của Giáo hoàng để ngự trị đám tín đồ thấp kém ở dưới? Lịch sử Công Giáo ghi không thiếu gì những giáo hoàng vô đạo đức, là kẻ loạn dâm, sát nhân v...v...

  • Thứ nhì, bốn giám mục không thể nhân danh "dân tộc Việt Nam" để mà quỵ lụy trước Giáo hoàng và Tòa Thánh Vatican, xin xỏ ân huệ "ban phước lành" không cần thiết và vô giá trị cho nền độc lập của Việt Nam. Nền độc lập của Việt Nam là một thực thể tuyệt đối, được xây dựng bằng công ơn của tổ tiên và xương máu của những người dân Việt yêu nước, không dính dáng gì tới một tôn giáo mà thực chất "không thể tiêu hóa nổi" trong xã hội Việt Nam. Nếu các giám mục nhân danh con chiên của họ, vào khoảng 5-7 % dân số Việt Nam thì đó là quyền của họ, nhưng họ không thể nhân danh "dân tộc Việt Nam" được. Dân tộc Việt Nam cương quyết từ khước "phép lành" của Giáo hoàng nếu thực sự ngài kém cỏi đến độ nghe theo lời cầu xin của bốn giám mục Việt Nam và cưỡng ban phép lành trên đầu dân tộc Việt Nam. Cùng một hành động làm càn, coi đất nước như của riêng mình, bất kể hơn 90% người dân trong đó không hề biết và cũng không cần biết bà Maria của Công giáo là ai, Hội đồng giám mục Việt Nam và chính quyền Ngô Đình Diệm đã từng dâng hiến cả nước Việt Nam cho một người đàn bà Do Thái mà họ cho rằng đã hiện ra ở La Vang tuy Vatican chưa bao giờ công nhận vụ hiện thân này.

    Vấn nạn thứ 2: Tinh Thần Nô Lệ Cho Vatican.

    Vấn nạn thứ hai của Giáo hội Công giáo Việt Nam cần phải giải quyết là tinh thần nô lệ Tòa Thánh Vatican, và đây chính là yếu tố phi-dân tộc quan trọng nhất. Chúng ta đã thấy, vì tinh thần nô lệ này mà Giáo hội Công giáo Việt Nam đã tự đặt mình ra ngoài lề dân tộc, trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Vụ cầu nguyện với búa, kìm, và xà beng ở Tòa Khâm Sứ Hà Nội gần đây đã chứng tỏ như vậy. Giáo hội kiên trì xúi giáo dân lì lợm phá rối trật tự xã hội bất chấp những lời khuyên giải của nhà nước Việt Nam, nhưng chỉ với một văn thư của Hồng Y Bertone từ Vatican gửi đến là đã cum cúp cùng nhau “thu chiến lợi phẩm vinh quang chiến thắng trở về nhà thờ”. Gần đây, có người trong giáo hội cho rằng người Công Giáo cũng có tinh thần dân tộc. Bằng chứng là, ngày nay nhiều người Công giáo cũng thờ cúng tổ tiên, cũng ăn giỗ ăn Tết, cũng lấy người ngoài đạo mà không có sự ép buộc người hôn phối phài theo đạo v...v.. Nhưng chính những điều này lại nói rõ hơn gì hết tinh thần nô lệ Tòa Thánh Vatican của Giáo hội Công Giáo Việt Nam.

    Thật vậy, từ trước tới nay, giáo hội Công Giáo Việt Nam đã nổi tiếng là nhất cử nhất động đều tùy thuộc Vatican. Khi Giáo Hoàng cấm thờ cúng tổ tiên thì giáo hội dẹp bỏ hay xếp bàn thờ tổ tiên vào xó. Sau hơn bốn trăm năm, từ 1533 cho đến Công Đồng Vatican II vào đầu thập niên 1960, khi Giáo Hoàng cho phép thờ cúng tổ tiên lại, thì giáo hội, tuy không khuyến khích vì gần đây vẫn còn có vị Linh mục gọi đó là "làm chay cúng ruồi", nhưng cũng không ngăn cấm việc thờ cúng tổ tiên nữa. Khi Giáo Hoàng bắt phải làm lễ bằng tiếng La Tinh thì giáo hội vẫn thản nhiên làm lễ bằng tiếng La-Tinh. Sau vài trăm năm, khi giáo hoàng cho phép làm lễ bằng tiếng địa phương thì các lễ mới được chuyển một phần sang tiếng Việt. Như vậy, đâu có phải là tinh thần dân tộc, vì tinh thần dân tộc thì đâu có cần phải chờ lệnh của Tòa Thánh. Giáo hội chỉ làm theo lệnh của Giáo hoàng chứ đâu có phải là thành tâm và đứng trên cương vị dân tộc, vì nếu thành tâm và đặt dân tộc trên hết thì những chuyện này đã phải làm từ lâu rồi đâu cần chờ lệnh của Giáo hoàng?

    Nhưng vấn đề thực ra không phải là quy trách sự tuân phục Vatican vô điều kiện của Giáo hội Công giáo Việt Nam như vậy. Đây là điều khó tránh được. Vì chúng ta biết rằng Công giáo vào Việt Nam chỉ thành công ở những địa phương nghèo khổ nhất, dân trí thấp kém nhất trong xã hội. Cho nên những lớp người này không đủ trí tuệ và không có khả năng phán đoán để có thể nhận ra chân giả, và vì lòng mê tín nên đã tin tưởng những gì các giáo sĩ thừa sai ngoại quốc đã nhồi nhét vào đầu óc mộc mạc của họ. Đây không phải là lời nói chơi vô căn cứ để hạ thấp Công giáo mà là những sự kiện lịch sử qua vài tài liệu sau đây:

    Chính Toàn Quyền Đông Dương J. L. de Lanessan, cách đây hơn 100 năm, trong cuốn Les Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi Patrick J. N. Tuck trong cuốn “Thừa sai Công giáo Pháp và các chính sách đế quốc tại VN 1857-1914” (The French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in VN 1857-1914), cũng phải thú nhận là sự truyền đạo của Công Giáo vào Việt Nam chỉ có thể len lỏi vào giới cùng đinh qua nhận xét như sau:

    "Thật ra, trong hơn 2 thế kỷ mà các Hội Truyền Giáo Công Giáo hoạt động ở Trung Hoa và bán đảo Đông Dương, có lẽ họ không cải đạo được quá 10 học giả. Toàn thể giới cầm quyền có học của dân chúng đã tránh né sự truyền đạo của họ. Đại cương thì các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và phần lớn là những kẻ, vì lý do này hay lý do khác, đã bị xã hội An-Nam ruồng bỏ."

    (In fact during the two centuries and more that the Catholic Missions have been operating in China and the Indochinese peninsula they have probably not converted more than ten scholars in all. The entire educated and governing class of the population has evaded their proselytism. In general Catholic missionaries only recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various reasons have been rejected by Annamese society.)

    Nhận xét của de Lanessan đã được lập lại trong một cuộc đối thoại của ông ta với Giám mục Puginier trong đoạn sau đây trong cuốn Ki-Tô Giáo: Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại, trang 115, trích dẫn một đoạn Jean Raoul Clémentin viết:

    Vì Giám mục Puginier luôn luôn trở lại vấn đề các sĩ phu, de Lanessan (Toàn Quyền Đông Dương) viết: “Tôi nghĩ mình được phép hỏi: “Theo ý ông thì nước Pháp phải đối xử với tầng lớp sĩ phu như thế nào?” Câu trả lời của ông ta rất rõ ràng và ngắn gọn: “Phải tiêu diệt họ đi.”

    “Vì sao?” Tôi hỏi. Giám mục trả lời: “Vì các sĩ phu có một ảnh hưởng rất lớn, một uy tín rất lớn; họ được kính trọng mỗi khi họ ra làm quan, cho nên cần thiết phải tiêu diệt họ. Chừng nào tầng lớp sĩ phu còn, thì chúng ta còn phải lo sợ tất cả, bởi vì lòng yêu nước nồng nàn, họ không thể nào chấp nhận nền đô hộ của chúng ta. Còn điều nữa là chẳng một ai trong họ chịu theo đạo Thiên Chúa cả.”

    Vấn đề chính ngày nay là Giáo hội Công Giáo Việt Nam vẫn còn lệ thuộc Giáo hoàng và Vatican mà thực ra không biết gì về lịch sử các giáo hoàng và bản chất của giáo hoàng, cũng như không hiểu Vatican là một tổ chức như thế nào. Cho nên, họ vẫn lên tiếng ca tụng những giáo hoàng vô đạo đức gần đây như John Paul II và Benedict XVI trong khi thực sự họ không biết mấy giáo hoàng này thuộc loại người nào. Về Vatican thì họ lại càng mù mờ hơn nữa vì không bao giờ họ dám đọc những cuốn sách nghiên cứu về Vatican của chính những người trong giáo hội và của các học giả. Một khi họ đã tự nguyện hay bị dụ dỗ chui đầu vào trong cái thòng lọng Công giáo thì khả năng phán đoán của họ đều bị tê liệt. Vì thế tôi muốn đề nghị với quý vị đôi điều.

    Để xây dựng hòa đồng tôn giáo, tôi hi vọng quý vị trong hàng giáo phẩm Công giáo Việt Nam hãy chịu khó đọc một số sách nghiên cứu về nhiều mặt của Vatican. Tôi có thể bảo đảm với quý vị là đọc sách không có chết đâu mà sợ, và nhất là đọc sách không có bị đầy xuống hỏa ngục đâu, dù là đọc những cuốn sách mà giáo hội khi xưa cấm hay những cuốn trong thời hiện đại mà giáo hội không muốn cho quý vị đọc khi không còn quyền cấm. Lý do là chính Giáo hoàng John Paul II đã tuyên bố là chẳng làm gì có hỏa ngục dưới lòng đất, và hỏa ngục không phải là sự luận phạt của Thượng đế áp đặt từ bên ngoài.

    Sách viết về Vatican có khá nhiều nhưng có một số cuốn căn bản sau đây quý vị cần phải đọc, đọc để mà biết và chọn cho mình một con đường thích hợp.

    - Bello, Nino Lo , The Vatican Empire, Triden Press, New York, 1968.

    - Chamberlin, E. R., The Bad Popes, A Signet Book, New York, 1969.

    - Hammer, Richard, The Vatican Connection, Chanter Books, New York, 1983.

    - Hebblethwaite, Peter, In The Vatican: How The Church is Run - Its Personalities, Traditions and Conflicts, Adler & Adler, Maryland, 1986.

    - Hofmann, Paul, O Vatican! A Slightly Wicked View of the Holy See, Congdon & Weed, Inc., New York, 1984.

    - Ide, Arthur Frederick, Unzipped: The Popes Bare All, A Frank Study of Sex & Corruption in the Vatican, AA Press, TX, 1987.

    - Manhattan, Avro, 1). The Vatican's Holocaust, Ozark Books, Springfield, MO., 1986; 2). The Vatican Billions, Paravision Books, London, 1972; 3). Catholic Imperialism and World Freedom, Watts & Co., London, 1952; 4. Vietnam: Why Did We Go?, Chick Publications, CA., 1984

    - Linh mục McCabe, Joseph, The Vatican's Last Crime: How The Black International Joined the World-Plot Against Freedom, Liberalism, and Democracy, Haldeman-Julius Co., Kansas, 1941.

    - Minerbi, Sergio I., The Vatican & Zionism, Oxford University Press, New York, 1990.

    - Nichols, Peter, The Politics of the Vatican, Frederick A. Praeger, Publishers, New York, 1968.

    - Pigott, Adrian, Freedom's Foe - The Vatican, The Pioneer Press, 1965.

    - Rappoport, Angelo S., The Love Affairs of the Vatican or The Favorites of The Popes, Barnes & Nobles Books, New York, 1995.

    - Thomas, Gordon & Witts, Max Morgan, Pontiff, A Signet Book, New York, 1983.

    Có vài cuốn mà tôi cho rằng không thể thiếu trong bộ kiến thức của người Công Giáo về chính giáo hội Công giáo của họ. Cuốn thứ nhất là cuốn: Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy, Crown Publishers, New York, 1988, của Peter de Rosa.

    [Linh Mục dòng Tên Peter de Rosa nguyên là giáo sư Siêu Hình Học (Metaphysics) và Đạo Đức tại Trường Dòng Westminster, Khoa Trưởng khoa Thần học tại Trường Đại Học Corpus Christi ở Luân Đôn. Năm 1988, ông xuất bản cuốn Những Đại Diện Của Chúa Ki Tô: Cái Mặt Đen Tối Của Những Triều Chính Giáo Hoàng (Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy) trong đó tác giả vạch trần cái mặt đen tối đã ngự trị trong nhiều triều chính Giáo hoàng, từ St. Peter (Phê-rô) đến John Paul II, như đồi bại, ngụy tạo tài liệu, loạn dâm, giết người, theo đuổi chính sách diệt chủng v..v.. (corruption, document-forgery, sex scandals, murder, genocide etc..). Tác giả đã mở toang những khung kính màu (mẫu mực cửa sổ ở Vatican) và để lộ ra những điều “Giáo hội dạy rằng...”, thường là “hình thành bởi những ham muốn đồi bại, độc tài và cuồng tín của các Giáo hoàng (de Rosa opens the stained glass window and reveals that the Church’s teachings were too often “shaped by the whims of corrupt, despotic and fanatical Popes.”. Cuốn sách đã được nhiều tín đồ Công Giáo đánh giá cao vì tính chất lương thiện và nghiêm túc của nó (The book was appreciated for its honesty and seriousness by many Catholics). de Rosa đã đưa ra nhiều tài liệu chứng minh rằng, ngay trong thế kỷ qua, các Giáo hoàng đã coi “tự do tôn giáo” là điên rồ, bầu cử tự do là vô Thiên Chúa, và tự do báo chí là vô thần (..Within the past century, Popes have called religious freedom madness, free elections godless, and a free press tantamount to atheism). Người Công Giáo Việt Nam, lẽ dĩ nhiên, vẫn tin Giáo hội hoàn vũ của họ là một Hội Thánh chủ trương “tự do tôn giáo” mà họ đang tranh đấu ở nơi quê nhà bằng những hành động côn đồ và lời lẽ hạ cấp trong Tòa, và cầu nguyện với búa, kìm, và xà beng, và còn luôn luôn khoa trương, đánh bóng bộ mặt tự do, dân chủ chưa từng có của Giáo hội.

    Cuốn thứ hai là cuốn của Mgr (Đức Ông) Luigi Marinelli: “Via Col Vento In Vaticano” (Cuốn Theo Chiều Gió Trong Vatican), tôi có bản tiếng Pháp: Le Vatican Mis À Nu, NXB Robert Laffont, 2000.

    [Đọc cuốn sách của Đức Ông Marinelli quý vị sẽ thấy tất cả những sắc thái thế tục trong cung đình Vatican: nịnh bợ cấp trên để thăng chức, mua quan bán tước, đồng giống luyến ái, linh mục cùng nhau xem phim X v..v… Cuốn sách được mô tả là phanh phui “sự đồi bại về tinh thần và vật chất ngự trị trong triều chính của Giáo hội” (La corruption morale et physique régnant dans le gouvernement de l’Église)

    Ngoài ra vào Internet, địa chỉ sau:

    http://www.bibliotecapleyades.net/esp_vatican.htm#Books_and_Treaties

    quý vị có thể đọc vài cuốn sách như sau mà tôi nghĩ quý vị không thể tin được đó lại là những sự thật về cơ quan chỉ đạo tôn giáo mình mà quý vị luôn luôn tuân phục:

    Vatican Assassins - The Diabolical History of The Society of Jesus - by Eric Jon Phelps.

    và đặc biệt là cuốn “The Vatican Mafia” của Đức Ông Tiến sĩ Rafael Rodriguez Guillen. Đây là một cuốn sách động trời. Động trời vì viết bởi một Đức Ông trong Giáo hội Công giáo, chưa hề bị tuyệt thông và vẫn còn hành nghề hợp pháp [the person saying it is a Monsegñor and Vaticanist priest who has not been excommunicated and still has his Canonical licenses.] Đây là một tác phẩm kết quả của nhiều năm nghiên cứu khoa học về lịch sử, triết lý, thần học về thánh kinh [work of many years of philosophical, biblical theological, scientifically and historical investigation]

    Cuốn The Vatican Mafia gồm có 40 chương như sau, tôi không muốn dịch, để quý vị nếu có chút can đảm hãy tự đọc lấy:

    The Vatican Mafia - by Monsegñor Dr. Rafael Rodriguez Guillen

    · Dedication

    · Introduction

    1. The Great Controversy

    2. 'O Vatican, a Slightly Wicked View of the Holy See of Paul Hofman

    3. Personages of the Sacred Mafia of the Vatican

    4. The Vatican's Mafia in the Catholic Churches

    5. The Gangsters or the Vatican's Sacrilegious Mafia

    6. The connection of the Vatican in the Counterfeiting of Billions of Dollars

    7. The Vatican and her Connections With the Crime Syndicate

    8. The Archbishop Marcinkus and the Vatican's Mafia

    9. The Vatican's murderous Mafia

    10. The Vaticanist Historian Peter de Rosa

    11. The Vatican's Alliances with the International Mafia

    12. The Holy Mafia

    13. The Intellectual, Political and Sacred.....Mafia

    14. The Sacred Mafia in the USA, Spain and Latin America

    15. The Terrorist Mafia of the Vatican

    16. The Vatican and her Roman Legions Connected with the Mafia

    17. The Vatican Mafia's Efforts to Destroy Protestants

    18. The Lie of the Catholic Ecumenical Movement Organized by the Vatican's Mafia

    19. Satan wants to Unite Catholics and Evangelicals in the Third Millennium

    20. The Holy Mafia or the Opus Dei

    21. Writers and Historians who Prove the Vatican's Mafia

    22. Richard Hammer's Book "The Vatican Connection with the Mafia"

    23. Vaticanist Historians not compromised with the Vatican's Mafia

    24. The Vaticanologist Ex-Jesuit Martin Malachi

    25. The Vatican USA De Nino Lo Bello

    26. The Papacy's Journalist. Juan Arias

    27. Michael Walsh: Opus Dei by Jesuit

    28. The Fundamental Lies of the Catholic Church

    29. Pontifex Maximus, Millennial Dynasty of Witch Priests

    30. The Mexican Authors Who Write the Truth about the Vatican

    31. The Vaticanist Author Rapporport Documents the Vatican's Mafia

    32. The Author Rius and the Vatican

    33. The United Nations and the World Order

    34. The Mafia of the Vatican is Directed by the Antichrist 666

    35. The Great Conflict between Christ and Antichrist or the Vatican's Mafia

    36. The Roman Catholic Church and the Last Days

    37. Satan has Covered With Smoke Screens the Minds of the Majority of Human Beings

    38. Satanic Practices of the Mafia

    39. Statistics which Prove the Sexual Abuse of the Vatican's Sect

    40. General Conclusions

    · Epilogue

    Bibliography

    Tôi không nghĩ rằng quý vị sẽ hoàn toàn tin những gì viết về các “Đức Thánh Cha” và về Tòa Thánh Vatican của quý vị mà quý vị không thể ngờ được, nhưng đây là những tài liệu nghiên cứu bởi những bậc lãnh đạo trong Giáo hội như TGM Peter de Rosa, Đức Ông Marinelli, Đức Ông Guillen, Linh mục Joseph McCabe và các học giả trong thế giới Tây Phương mà Công Giáo là chủ lực tinh thần trong hơn 1000 năm. Riêng về tác hại của Vatican đối với Việt Nam, quý vị cũng nên đọc thiên khảo cứu: “Vatican – Kẻ Thù Lâu Dài Nhất, Nguy Hiểm Nhất Và Thâm Độc Nhất Của Dân Tộc Việt Nam” của Giáo sư Sử học Nguyễn Mạnh Quang.

    Với những tài liệu bất khả phủ bác như trên, và đó chỉ là một số nhỏ, về thực chất của Vatican, cơ quan đầu não của Công giáo, một câu hỏi cần được đặt ra: “Một định chế như vậy có đáng để cho những người Công giáo yêu nước Việt Nam cúi đầu tuân phục cam tâm làm nô lệ hay không?” Tôi nghĩ rằng câu trả lời nằm trong câu hỏi.

    Vấn nạn thứ 3: Vướng Mắc Với Lịch Sử Bành Trướng Của CG La Mã.

    Vấn nạn thứ ba của Giáo hội Công giáo Việt Nam là Giáo hội dù muốn dù không cũng vướng mắc vào cái lịch sử bành trướng của Giáo hội Công giáo La Mã trong 2000 năm nay. Giáo hội Công giáo La Mã đã phạm quá nhiều tội ác đối với nhân loại nói chung, dân tộc Việt Nam nói riêng. Và trong thời đại ngày nay, Giáo hội không còn có thể bưng bít che dấu được nữa nên ngày 12 tháng 3, 2000, tại Thánh Đường Phê-rô ở Vatican, Giáo hoàng John Paul II đã cùng với một số Hồng Y và Tổng Giám Mục, trong đó có TGM Nguyễn Văn Thuận của Việt Nam, lên tiếng xưng thú với thế giới 7 núi tội ác của Giáo hội đối với nhân loại, trong đó có Việt Nam. Dù các tín đồ Công giáo được đào tạo, khuyến khích trong một tâm cảnh ích kỷ: "Tôi chỉ cần tin Chúa là được Chúa cứu rỗi", không cần biết đến ai khác, nhưng họ không thể vứt bỏ được cái lịch sử đen tối của Giáo hội Công giáo La Mã trong 2000 năm nay. Họ không thể nói, thí dụ như, Giáo hoàng không phải là Công Giáo, Giáo Hội không phải là Công Giáo, vì họ không thể phủ nhận sự lệ thuộc của họ vào Giáo hoàng, vào Giáo hội hoàn vũ, và cấu trúc của Giáo hội. Trong Công giáo, các con chiên chỉ có quyền độc nhất là quyền để cho giáo hội dẫn dắt, và tuyệt đối thi hành “đức vâng lời”, phục tùng mệnh lệnh của những kẻ chăn chiên. Cho nên, ngày nào mà các con chiên còn chưa phá bỏ được cái hàng rào quyền lực của Công Giáo thì ngày đó họ còn vướng vào cái lịch sử đẫm máu của Công Giáo, chỉ đạo bởi Giáo hội và Tòa Thánh Vatican.

    Dù giáo hội có giải thích hành động xưng thú tội lỗi của giáo hoàng như thế nào đi chăng nữa, là hành động can đảm hay theo đúng tinh thần tự kiểm ăn năn thống hối của Công Giáo, là để thanh tẩy ký ức hay để tiến tới sự hòa hợp tôn giáo v…v…, các tín đồ Công Giáo vẫn không thể nào giải đáp được thỏa đáng những câu hỏi mà người ngoại đạo đặt cho họ như:

    Tại sao Giáo hội Công giáo La Mã thường tự nhận là do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là "thánh thiện", “tông truyền”, “duy nhất”, là "ánh sáng của nhân loại", quán quân về "công bằng và bác ái", được "thánh linh luôn luôn hướng dẫn" v…v… lại có một lịch sử ô nhục đẫm máu nhất trên thế gian, mang trên bờ vai trên dưới 200 triệu sinh mạng vô tội gồm già trẻ lớn bé, qua những tội ác vô tiền khoáng hậu trong suốt 2000 năm nay đối với nhân loại như những cuộc Thập Ác Chinh, những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, những cuộc săn lùng và thiêu sống phù thủy, sử dụng những hình cụ tra tấn man rợ nhất trong lịch sử loài người, với chính sách bách hại người Do Thái, kỳ thị phái nữ, làm tiên phong hay theo gót thực dân để truyền đạo v.. v.. đến nỗi chính giáo hoàng John Paul II đã phải xưng thú trước thế giới 7 núi tội ác của Công Giáo La Mã đối với nhân loại, trong khi các tôn giáo Đông Phương như Thích, Nho, Lão, ra đời trước Công Giáo cả 5,6 trăm năm nhưng không hề làm đổ một giọt máu trong suốt lịch sử truyền đạo của mình ??

    Những câu hỏi này sẽ luôn luôn ám ảnh những tín đồ Công Giáo có đầu óc, còn đôi chút lương tri và óc suy luận. Vì một tôn giáo mà gây ra nhiều tội đại ác như tra tấn, tù đầy, thiêu sống v..v.., giết hại hàng chục triệu sinh mạng vô tội, gồm cả đàn bà và trẻ con, bất cứ vì lý do nào, thì không thể được coi là một tôn giáo nữa. Đó chẳng qua chỉ là một tổ chức núp sau bình phong tôn giáo để duy trì những quyền lực thế tục. Lương tâm trí thức của họ bắt họ phải trực diện với sự thực này. Phải chăng họ đã bị lừa dối từ bao thế kỷ nay bởi một cái bánh vẽ trên trời mà không cần đếm xỉa gì tới vấn đề đạo đức, luân lý? Phải chăng họ đã bị nhào nặn từ nhỏ để có một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ hi vọng vào một sự “cứu rỗi” tưởng tượng cho riêng mình mà không cần biết đến cái cộng đồng tôn giáo của mình ra sao? Phải chăng họ đã bị nhồi sọ từ nhỏ đến độ chỉ còn có thể tin một cách mù quáng, không còn khả năng suy nghĩ để tìm ra lẽ thật? v..v..

    Tín đồ Công Giáo muốn tôn vinh quyền năng của Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, và Giáo hoàng thế nào thì tôn vinh, nhưng họ không bao giờ có thể xóa bỏ được những sự thực lịch sử về Công Giáo, những sự thực mà cả thế giới đã biết rõ và đã bị phanh phui đến mức độ giáo hội không thể làm gì khác là đưa giáo hoàng ra xưng tội cùng thế giới loài người về những tội ác của Giáo hội Công Giáo để xoa dịu dư luận thế giới. Những tội lỗi của Công Giáo đối với nhân loại, qua lời xưng thú tội lỗi của giáo hoàng, sẽ ám ảnh lương tri của người Công Giáo suốt đời, không phải vì họ phải chịu trách nhiệm về những việc làm của giáo hội trong quá khứ, mà vì dù muốn dù không, họ cũng thuộc một đoàn thể có một lịch sử quá đen tối, trái ngược với những lời tuyên truyền giả dối đã tạo thành niềm tin của họ. Từ nay, họ không còn có thể tự đề cao mà không ngượng miệng những điều họ được nhồi vào đầu óc từ khi còn nhỏ, ví dụ như Công Giáo là một tôn giáo thánh thiện, duy nhất thiên khải, cao quý hơn tất cả các tôn giáo khác, hoặc như, người trong đạo là những người lành thiện, đạo đức hơn tất cả những người “ngoại đạo” v…v… Thế giới đã thấy rõ từ lâu, tất cả những lời tự tôn, tự ca tụng, tự tôn vinh v..v.. của Giáo hội Công Giáo chỉ là những lời tuyên truyền huênh hoang giả dối cho đám tín đồ thấp kém, trái hẳn với bản chất mê tín, hoang đường, thấp kém, tàn ác v..v.. của giáo hội Công Giáo.

    Tôi vẫn chờ xem có người nào trong Công giáo Việt Nam, từ hàng giáo phẩm đến các bậc trí thức trong Giáo hội, giải thích cho tôi hiểu, cùng là con người, nhưng những người do Thiên Chúa Lòng Lành (Le Bon Dieu) sinh ra (theo lý thuyết thần học của Ki Tô Giáo và người Ki Tô Giáo tin như vậy) mà tại sao các tín đồ Do Thái Giáo, Ki Tô Giáo, Hồi Giáo lại quá tàn bạo như lịch sử đã ghi rõ, trong khi những người theo Tam Giáo: Thích, Nho, Lão, những người không hề chấp nhận là mình do Thượng đế của Ki Tô Giáo sinh ra, lại hiền hòa, không hề nhân danh tôn giáo của mình để gây ra những tội ác đối với đồng loại. Thật ra câu trả lời đã rõ ràng nếu quý vị đọc kỹ kinh điển các tôn giáo và nếu quý vị đọc với một đầu óc phân tích thì quý vị sẽ thấy một sự khác biệt lớn lao rất rõ ràng giữa nội dung của các kinh điển này. Dù quý vị từ chối không muốn giải thích nhưng câu hỏi trên sẽ được luôn luôn nhắc lại để đánh động lương tâm của quý vị và cùng lúc để mở mang kiến thức của người dân.

     

    (xem tiếp: Thánh Kinh - Căn Bản Đức Tin. )