Nhân Đọc Bài

"NHÀ CHÚA HAY NHÀ CHÙA" Của LM Thiện Cẩm

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNdt/TCNdt012.php

22 tháng 2, 2008

 

Ngày hôm nay, 22 tháng 2, 2008, tôi đảo vào Vietcatholic thấy bài “Nhà Chúa Hay Nhà Chùa” của LM Thiện Cẩm. Nếu chỉ là “Nhà Chúa” thì tôi chẳng quan tâm, nhưng lại dính đến “Nhà Chùa” thành ra tôi lại phải đọc cho biết là LM Thiện Cẩm biết gì về “Nhà Chùa”.

Đối với LM Thiện Cẩm thì tôi lại nhớ đến một câu chuyện cũ, chuyện này không liên quan gì đến chuyện thắp nến cầu nguyện (ai) để đòi tòa Khâm sứ, nhưng là một chuyện vui mà không phải là vui đối với một số người, nên xin quý độc giả kiên nhẫn, đọc chơi một chút trước khi tôi đi vào nội dung bài viết của LM Thiện Cẩm. Chuyện đó như sau:

  Trong cuốn “Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phao-Lồ II”, nơi trang 82-83, tác giả Trần Văn Kha đưa ra những thắc mắc về “linh hồn” như sau:

  Nếu linh hồn có cùng lúc với con người, khi con người sinh ra, nghĩa là do thân xác mà có, thì khoa học dạy chúng ta rằng khi thân xác không còn, thì linh hồn cũng không còn.

  Nếu bảo rằng linh hồn là một thực thể riêng biệt, không do thân xác sinh ra, nên không chết cùng với thân xác, thì linh hồn ấy ở đâu ra? Nếu bảo rằng linh hồn do Chúa sinh ra, chứ không phải thân xác, thì vị trí của cái linh hồn ấy đối với thân xác là như thế nào? Sự thông minh, hay ngu dốt, hay tính độc ác, của một người là ở trong đầu óc, nghĩa là ở thân xác, hay ở linh hồn. Bảo là ở thân xác, thì tại sao Chúa lại đem một linh hồn trong sạch bỏ vào một thân xác ngu đần, độc ác, rồi lại bắt linh hồn phải chịu trách nhiệm? Nếu bảo là ở linh hồn, thì lại càng vô lý. Tại sao Chúa lại sinh ra linh hồn tội ác? Chúa có chịu trách nhiệm về linh hồn do Chúa sáng tạo không? Những linh hồn do Chúa sinh ra đều bình đẳng nhau, hay có cái tốt, cái xấu, như xe hơi Nhật, xe hơi Mỹ? Linh hồn có tội gì đâu mà lại sinh ra ở Phi Châu đói khổ, rồi bị người da trắng cai trị, bóc lột, đem buôn bán làm nô lệ?

  Những linh hồn do Chúa sinh ra, ở đâu trước khi nhập vào một đứa trẻ sơ sinh? Ở một chỗ nào đó trên Thiên Đàng có một kho chứa linh hồn. Kho ấy lớn hay nhỏ, hay cần tới đâu thì nới tộng tới đó. Ai trông coi cái kho đó? Một vị thiên thần? Vị thiên thần này chắc giống như là Nam Tào, Bắc Đẩu coi về sinh tử trong truyện Tàu, có trách nhiệm đem linh hồn nhập vào một thai nhi. Cho nhập vào khi nào? Khi vừa bắt đầu thụ thai, hay khi đứa trẻ lọt lòng mẹ…Chắc chắn là có những đứa trẻ sinh ra không có linh hồn, nên sinh ra đã chết?

  Trước những thắc mắc rất trí thức như trên, LM Thiện Cẩm đã phán một câu: “Đối với những bà lão Công giáo nhà quê thì Chúa đã sáng tạo ra vũ trụ muôn loài, vậy thì cho mỗi người một linh hồn có khó khăn gì?”

hình minh họa lấy trong http://deoxy.org/soulbody.htm

  Chuyện vui đã qua, bây giờ chúng ta hãy đi vào nội dung bài “Nhà Chúa Hay Nhà Chùa” của LM Thiện Cẩm. Mở đầu, LM Thiện Cẩm viết:

 LM Thiện Cẩm: Nhân vụ khiếu kiện về nhà đất Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh, tọa lạc ở số 42 Nhà Chung Hà Nội, có người lên tiếng cho rằng vụ việc không chỉ liên quan giữa Tòa Tổng giám mục Hà Nội và chính quyền Thành phố Thủ đô, mà còn liên quan đến cả Phật giáo, vì cho rằng khu đất ở ấy xưa kia là đất Chùa Bảo Thiên (hay Báo Thiên?). Trong số những người nêu lên vấn đề này, có ông Lê Quang Vịnh, nguyên Trưởng ban Tôn giáo chính phủ, và mới đây, Hòa thượng Thích Trung Hậu, Trưởng ban văn hóa trung ương Phật giáo, đã thừa ủy nhiệm của HĐTS GHPGVN, gửi văn thư, đề ngày 16/2/2008, cho thủ tứơng Nguyễn Tấn Dũng, đề nghị “nên xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một thành phần trong những thành phần chủ yếu để tham khảo trước khi có có quyết định cụ thể liên hệ đến sự việc trên.” Như vậy hàm ý muốn đưa Phật giáo vào một cuộc thảo luận tay ba, giữa chính phủ, với Công Giáo và Phật giáo.

   Thưa với LM Thiện Cẩm: Chẳng có ai “cho rằng” khu đất tòa Khâm sứ xưa kia là đất Chùa Báo Thiên mà Phật Giáo cũng như người dân chỉ nhắc lại một sự kiện lịch sử: đó chính là đất của Chùa Báo Thiên.  “Cho rằng” hàm ý không chắc chắn, nhưng sự kiện lịch sử thì không ai có thể chối cãi. Mặt khác, theo tôi hiểu, bức thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu không có ý phải “đối thoại tay ba” mà chỉ để nhắc nhở Nhà Nước hãy thận trọng, nên xét đến mọi khía cạnh liên quan đến tòa Khâm sứ trước khi đưa ra một quyết định. Và bức thư này cũng hàm ý, quyết định của Nhà Nước nên phù hợp với những sự kiện lịch sử và hợp với lòng dân.

  LM Thiện Cẩm:   Chuyện khu đất ở số 42 Nhà Chung Hà Nội xưa kia có là đất của chùa Bảo Thiên hay không, thì nhiều người nói tới.

   Đây không phải là vấn đề có phải là đất của Chùa Báo Thiên Hay không, mà chính là đất của Chùa Báo Thiên. Cho nên không thể nhập nhằng cái chuyện có hay không.

  LM Thiện Cẩm: Nhưng làm thế nào đất Chùa lại trở thành đất Chúa, thì đó mới là điều quan trọng cần phải làm sáng tỏ. Và điều này mới thật khó. Người thì bảo Tây cưỡng chiếm và đem cho các cố Tây để xây nhà thờ; người thì bảo chùa đã bị hoang phế nên nhà sư đã đem bán đất cho các cố Tây; hay vì lý do nào khác không rõ nữa, đất Chùa đã trở thành đất Chúa.

  Như vậy là LM Thiện Cẩm không biết gì về lịch sử nước nhà. Điều này không lạ. Chuyện Tây cưỡng chiếm và đem cho các cố Tây để xây nhà thờ là chuyện đã rõ ràng, nếu LM Thiện Cẩm chịu khó đọc những tài liệu trên các trang nhà sachhiem.net, giaodiemonline.com, phattuvietnam.net. Nhưng còn chuyện chùa đã bị hoang phế nên nhà sư đã đem bán đất cho các cố Tây là một chuyện tiếu lâm. Người nào bịa ra chuyện này là người có đầu óc thuộc loại mì ăn liền. Tại sao? Vì Chùa ở Việt Nam không phải là của Sư, Chùa là cái thiện của làng, của nhân dân, không phải là của cá nhân. Cho nên không có cá nhân nào có quyền được bán Chùa. Có thể người nào đó nghĩ đến chuyện ở bên Mỹ, Cha nhà thờ bán nhà thờ để trang trải bồi thường cho các nạn nhân tình dục của các Cha, cho nên suy diễn ra, cho rằng Sư có quyền bán Chùa, nhất là trong thế kỷ 19 ở Việt Nam.

LM Thiện Cẩm:  Chuyện đất Tòa Khâm sứ xưa kia có là của chùa Báo Thiên hay không, là chuyện của quá khứ đã qua đi hơn một trăm năm rồi, chẳng còn một chứng nhân lịch sử nào còn sống để mà nói lên sự thật cho chúng ta hay. Ông Tây, ông Sư hay ông Cố đều đã nằm dưới những nấm mồ, và thân xác đã mục nát với thời gian. Ngòai ra, cũng không ai tìm được những chứng cứ xác nhận chủ quyền khu đất này là của ai, trước và sau khi có chùa, cũng như trước và sau khi chùa biến thành đất Nhà Chung. Chứng từ duy nhất có tính pháp lý hiện nay, là giấy chủ quyền mà Tòa Tổng giám mục Hà Nội nắm trong tay.

  Đây cũng là luận điệu ngớ ngẩn của Lê Tuấn Huy trước đây mà tôi đã từng phê bình.

  Lê Tuấn Huy: “Đúng là sự thật ở Việt Nam có những nhà thờ được xây trên nền chùa, nhưng điều đó đã đi vào lịch sử chứ không còn là vấn đề của hiện thực. Vì sao? Đơn giản là những chủ thể của sự kiện dỡ chùa nay đã không còn tồn tại.”…  Khi một trong các bên chủ thể đó đã không còn tồn tại [giám mục Puginier và Việt gian Ca-tô Nguyễn Hữu Độ đã chết]; hoặc khi đã qua một thời gian đủ lâu [từ lúc cướp Chùa và phá Chùa vào cuối thế kỷ 19], lúc mà các chủ thể trực tiếp đều biến chuyển thành các chủ thể hậu duệ [chủ thể trực tiếp đầu tiên đi ăn cướp xong rồi truyền lại cho các chủ thể hậu duệ] thì xem như lịch sử đã được xác lập [lịch sử chỉ có thể xác lập được sự kiện là Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam đã dựa thế thực dân để cướp Chùa, chứ không thể xác lập tính cách hợp pháp về sở hữu chủ của chủ thể hậu duệ trên mảnh đất ăn cướp đó]

  Đọc LM Thiện Cẩm chúng ta thấy cùng một thứ lý luận ngớ ngẩn như trên, nghĩa là lịch sử đã qua lâu rồi, chẳng còn nhân chứng nào đối chiếu, và vấn đề chính là Tòa Tổng Giám Mục Hà-Nội nắm trong tay giấy chủ quyền, coi đó như là một chứng từ có tính pháp lý hiện nay.

  Nhưng pháp lý hiện hành có thể dựa vào những sự kiện lịch sử trong quá khứ để đi đến những quyết định hợp lý, hợp với lòng dân, và lấy lại sự công bằng lịch sử.  Những bất công trong quá khứ cần phải giải quyết, nếu có thể giải quyết được. Ở trên đời không làm gì có chuyện những chuyện đã qua hãy để cho nó qua, và chính quyền không có trách nhiệm gì về chúng. Lịch sử là một mối liên tục của một quốc gia, cái trước liên hệ đến cái sau, hiện tại liên hệ đến quá khứ và cả tương lai. Sự kiện lịch sử là thực dân Pháp và Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam đã cướp đất Chùa để xây nhà thờ, do đó Giáo hội Ca-Tô Rô-ma ở Việt Nam có đưa ra bất cứ chứng thư hay giấy chủ quyền nào cũng là vô giá trị, vì những chứng thư đó không thể biện minh cho việc cướp Chùa của thực dân Pháp và Ca-tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam.  Mặt khác, Tòa Tổng Giám Mục chỉ nói là có giấy chủ quyền đó mà không công bố nội dung giấy chủ quyền ra sao, do ai cấp, ai ký tên, người cấp ở chức vụ nào, chính quyền nào, có quyền cấp không, cấp bao giờ, và trong hoàn cảnh nào, viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ hay chữ Pháp?.  Nếu là trên một tờ giấy thì khoa học ngày nay có thể xác định được tờ giấy đó thuộc vào thời nào, và có thể khảo nghiệm xem dùng loại máy chữ nào, nếu là đánh máy chữ, và nếu là viết tay thì lối chữ viết trên đó có đúng là chữ viết của tác giả không, nếu tìm được văn bút của tác giả. Những công việc khảo nghiệm khoa học này, để cho đầy đủ và chính xác, sẽ mất nhiều thì giờ và có khi kéo dài cả nhiều năm. Vậy xin Tòa Tổng Giám Mục hãy giao giấy chủ quyền đó cho Nhà Nước để Nhà Nước tìm hiểu sự thật, và tôi tin rằng Phật Giáo sẽ tiếp tay với Nhà Nước về vấn đề kỹ thuật để tìm ra sự thật. Chúng tôi không thể tin vào một lời tuyên bố vu vơ là đã nắm trong tay giấy chủ quyền hay chứng thư gì đó rồi phải chấp nhận đó là chuyện không phải bàn cãi nữa..

  Nhưng thực ra thì tòa khâm sứ là gì.  Khâm sứ là đại sứ hay đại diện của giáo hoàng. [Nuncio = a papal ambassador or representative] , và tòa khâm sứ là văn phòng, nơi trú ngụ của vị đại sứ hay đại diện đó [Nunciature = the office or term of office of a nuncio]. Vatican là một tiểu quốc gia thế tục nấp sau bình phong tôn giáo. Tòa Khâm sứ cũng giống như tòa Đại sứ của các nước, thực chất là một ổ gián điệp, và chỉ có giá trị song phương giữa các nước có quan hệ ngoại giao với nhau. Cũng vì vậy mà năm 1959, vị khâm sứ ở Hà Nội, John Dooley, đã bị đuổi khỏi Việt Nam. Sau Hiệp Định Genève, Chính quyền Việt Nam để cho John Dooley ở lại Hà-Nội một thời gian, không biết vì lý do gì, nhưng năm 1959 có thể vì không thấy có lý do gì để cho một đại sứ của một nước không có quan hệ ngoại giao nằm vùng ở trong nước, nên đã đuổi ông ta về Vatican. Chắc hẳn Nhà nước đã biết đến những hành động gián điệp của các thừa sai Ca-Tô khi xưa như Alexandre de Rhodes, Puginier, Huc, Retor, Gauthier v..v…. Việt Nam đuổi đại sứ của Vatican là chuyện bình thường vì Việt Nam không có quan hệ ngoại giao với Vatican, cho nên không cần phải tôn trọng luật ngoại giao quốc tế. Sau năm 1975, Khâm sứ ở Saigon, Henri Lemaitre, chỉ có giá trị với chính quyền miền Nam, cũng bị đuổi ra khỏi Việt Nam. Vậy tòa Khâm sứ không còn là tòa Khâm sứ vì không còn Khâm sứ. Đó là tại sao chính Vatican cũng không thể lên tiếng đòi tòa Khâm sứ. Vậy Giáo hội Ca-Tô Rô-ma ở Việt Nam ngày nay đòi tòa Khâm sứ là để cho Khâm sứ nào? Trên nguyên tắc, đất Tòa Đại sứ của một nước thuộc chủ quyền của nước đó, và chính quyền sở tại có bổn phận phải bảo vệ đất đai và nhân viên trong đó.  Tòa khâm sứ ở Hà Nội, vì không còn khâm sứ, nên Nhà Nước đã dùng làm các cơ sở văn hóa để phục vụ người dân. Mai này, nếu Việt Nam có quan hệ ngoại giao với Vatican, thì Vatican sẽ gửi một ông hay bà Khâm sứ tới Việt Nam, và Vatican sẽ xây một tòa nhà làm tòa Khâm sứ để cho vị đại sứ này ở và làm gián điệp. Trên căn bản ngoại giao giữa hai nước, nếu Vatican có một tòa Khâm sứ ở Việt Nam thì tòa đó, trong khi còn quan hệ ngoại giao với Việt Nam, được coi như đất mà Vatican có chủ quyền trong đó. Đất đ1o không phải là của Giáo hội Ca-tô Rô-ma ở Việt Nam. Giống như Mỹ, khi có quan hệ ngoại giao với Việt Nam đã xây Tòa Đại Sứ ở Hà Nội, thay vì đòi lại Tòa Đại Sứ ở Saigon trước đây, vì Tòa Đại sứ này chỉ có tính cách pháp lý đối với chính quyền Saigon. Tòa Đại Sứ Mỹ không phải là đất của Giáo hội Tin Lành ở Việt Nam. Mấy ông Ngô Quang Kiệt, Thiện Cẩm v..v.. có hiểu được điều này không?

LM Thiện Cẩm: Trong trường hợp của Đức Khâm sứ John Dooley, cũng như trường hợp của Đức Khâm sứ Henri Lemaitre ở Sàigòn sau này, cả hai đều đã không tự ý bỏ đi, để lại vườn hoang nhà trống, cả hai cũng chẳng hề bị kết án và tịch thu tài sản, nhưng chỉ bị trục xuất khỏi Việt Nam. Đức Khâm sứ John Dooley còn được ở lại dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những hơn 4 năm sau khi Chính quyền cách mạng tiếp quản thủ đô, còn Đức Khâm sứ Henri Lemaitre thì phải rời khỏi Việt Nam không bao lâu sau ngày 30-04-1975. Vậy thì phải xếp hai Tòa Khâm sứ ở Hà Nội và ở Sài Gòn thuộc lọai tài sản nào đây? Nhất là khi chưa có bang giao chính thức giữa Chính phủ ta và Tòa Thánh Vatican?

  Ông LM này lẫn cẫn rồi. Điều rõ ràng là nếu các ông khâm sứ John Dooley và Henri Lemaitre đều đã không tự ý bỏ đi thì có nghĩa là các ông ấy đã bị đuổi ra khỏi Việt Nam, nghĩa là Việt Nam không chấp nhận vai trò khâm sứ của các ông ấy. Không chấp nhận vai trò khâm sứ nhưng lại phải gánh vác nhiệm vụ canh giữ đất đai của các ông ấy để chờ ngày các ông ấy trở về hay sao? Vậy thì phải xếp hai Tòa Khâm sứ ở Hà Nội và ở Sài Gòn thuộc lọai tài sản nào đây? Hỏi ngớ ngẩn, tài sản quốc gia chứ còn tài sản nào nữa. LM Thiện Cẩm đã vừa hỏi vừa trả lời rồi mà không biết. Câu trả lời nằm trong câu: Nhất là khi chưa có bang giao chính thức giữa Chính phủ ta và Tòa Thánh Vatican?  Chưa có bang giao thì đất nào là đất của Vatican?

  Mặt khác, về chuyện đất đai thì sau cuộc chiến Đông Dương I, tất nhiên là tất cả tài sản quốc gia thuộc quyền quản lý của chính quyền. Trong cuốn “Vietnam: The Valor and Sorrow” của Thomas D. Boettcher, chúng ta có thể đọc, nơi trang 138: “Tài sản của Pháp tất nhiên bị tịch thu mà không có sự đền bù.. Các địa chủ người Pháp ở ngoài Bắc mất tất cả.” [The property of the French was, of course, confiscated without compensation…French landowners in the North did lose everything.] Vậy thì nên xếp tòa Khâm sứ ở Hà Nội và Saigon thuộc loại tài sản nào? Có cần phải đặt câu hỏi này không?

 

LM Thiện Cẩm: Trở lại vấn đề đất của Chùa hay đất của Chúa, tôi xin đặt thẳng vấn đề như sau: nếu như lịch sử chứng minh được rằng đất Nhà Chung Hà Nội, bao gồm cả Nhà Thờ Lớn, Tòa Tổng giám mục hiện nay và Tòa Khâm sứ đang tranh chấp, là đất Chùa Bảo Thiên và đã bị Tây chiếm đọat đem cho các cố Tây, và từ đó thuộc quyền sở hữu của Nhà Chung Hà Nội, thì tôi tin rằng Giáo hội Công Giáo chúng tôi sẽ chẳng ngần ngại gì mà không trả lại cho Phật giáo, cũng như Đức Tổng giám mục Duval đã trả lại ngôi nhà thờ Chánh tòa Alger cho Hồi giáo, sau khi Algérie được độc lập, vì lý do ngôi nhà thờ đó vốn là một đền thờ Hồi giáo.

  Thứ nhất, những sự kiện lịch sử được viết trên sử sách và đó là những chứng minh có giá trị nhất. Về nguồn gốc Chùa Báo Thiên và Nhà Thờ Lớn Hà Nội thì nay đã không thiếu gì những tài liệu đã thành văn. Chỉ có điều LM Thiện Cẩm không biết đến, hay không muốn biết đến, nên vẫn còn đặt vấn đề không cần phải đặt là “nếu chứng minh được…”.

  Thứ nhì, một số tài liệu về Chùa Báo Thiên đã có trên một số trang nhà. LM Thiện Cẩm có thể vào trang nhà sachhiem.net đọc bài Timeline cho Chùa Báo Thiên của Lý Thái Xuân trong http://sachhiem.net/TONGIAO/Lythai.php

LM Thiện Cẩm:  Nhưng nếu luật pháp nước ta còn tôn trọng nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu của công dân, cấp sổ hồng sổ đỏ cho những người có nhà có đất, thì việc trả lại nhà đất ở số 42 Nhà Chung cho Nhà Chung, thì đó là điều hợp lẽ phải, và cũng hợp tình nữa, như Đức Giêsu đã nói: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” (Mt 22,21), nghĩa là đất Nhà Chung, thì trả về Nhà Chung!

Của Xê-Da Trả Về Xê-Da; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa.??  Nhưng Chúa nói nhảm nhí, đồng tiền của dân gian tiêu dùng đâu có phải là của César, César chỉ có cái hình trên đó, vậy chúng ta hãy trả tiền đô-la cho Washington, hay trả tiền Việt Nam cho Cụ Hồ?? Và Chúa thì có cái gì? Khi chết chỉ có cái khố rách mang trên mình đeo toòng teng trên cây thập giá. Vả chăng Chúa đã nói thế giới này không phải của Ta. Nhà nước có ăn cướp Thiên đường của Chúa đâu mà trả cho Chúa. Nhưng đất Nhà Chung thì rõ ràng là đã đi ăn cướp của Phật Giáo, vậy thì trả cho Phật Giáo mới là điều hợp lẽ phải, và cũng hợp tình nữa, không phải như Đức Giêsu đã nói, mà là hợp tình đối với đồng bào Việt Nam.