THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH:

NẠN NHÂN ĐẤU TỐ CỦA VÔ MINH, HIẾU CHIẾN & CUỒNG TÍN

Trần Chung Ngọc

đã đăng trên http://www.giaodiem.com/doithoai/nh-trancn.htm

Trần Chung Ngọc

http://sachhiem.net/TCN/TCNdt/TCNdt006a.php

5 tháng 8, 2007

 

Th Giác Lượng Liên Tôn      Đấu Tố ThNhHanh
Màn một: Giác Lượng khúm núm Liên Tôn          Màn hai: hung hăng đấu tố thầy Nhất Hạnh

* * *

  911 là số điện thoại cấp cứu trên toàn nước Mỹ. Một nhóm 19 không tặc thuộc tổ chức khủng bố Hồi Giáo quá khích đã chọn ngày 11 tháng 9, người Mỹ viết là 9-11 (tháng trước, ngày sau), để cướp 4 chiếc máy bay chuyên chở hành khách đang bay trên không, và thực hiện một cuộc khủng bố ngay trên đất Mỹ, làm rung động thế giới.

8 giờ 45 sáng, giờ New York, quân khủng bố lái chiếc máy bay thứ nhất cướp được trên đó có 81 hành khách đâm thẳng vào tòa cao ốc 110 tầng phía Bắc của Trung Tâm Giao Thương Thế Giới. (WTC: World Trade Center).

9 giờ 03 sáng, chiếc máy bay bị cướp thứ hai trên đó có 58 hành khách đâm thẳng vào tòa cao ốc phía Nam của WTC.

Khoảng 9 giờ 45 sáng, chiếc máy bay bị cướp thứ ba đâm thẳng vào Ngũ Giác Đài, Cơ quan đầu não quân sự Hoa Kỳ.

Vào lúc 10 giờ 10 sáng, chiếc máy bay thứ tư rơi ở gần phi trường Somerset County, Pennsylvania, cách Washington D.C. không xa, vì hành khách trên đó đã chống lại quân không tặc. Mục tiêu của chiếc máy bay thứ tư này rất có thể là Tòa Bạch Ốc hay Quốc Hội Hoa Kỳ.

10 giờ sáng, tòa cao ốc phía Nam của WTC sụp đổ, và 10 giờ 30 sáng, tòa cao ốc phía Bắc của WTC cũng sụp đổ theo. Sự sụp đổ của hai tòa cao ốc trên đã gây thêm chết chóc cho hơn 100 nhân viên cứu hỏa đang cấp cứu của thành phố New York.

Ảnh hưởng và sự thiệt hại gây nên bởi cuộc khủng bố đại quy mô được sửa soạn và tính toán kỹ lưỡng trên không thể tính ra bằng tiền. Về nhân mạng, có tất cả có trên dưới 6 ngàn người thiệt mạng.

God Bless America: Xin Thiên Chúa Hãy Ban Phúc Lành Cho Nước Mỹ.

Lần đầu tiên người dân Mỹ trực tiếp thấy cảnh tàn phá về vật chất và nhân mạng ngay trên đất nước của mình vì cảnh máy bay đâm thẳng vào hai tòa cao ốc cũng như cảnh sụp đổ của hai tòa nhà này đã được thu vào ống kính và chiếu đi chiếu lại trên TV suốt ngày đêm, liên tiếp trong nhiều ngày.

Người dân Mỹ nói chung, nhất là người dân New York, trở nên hoang mang, không thể nào hiểu nổi cảnh tàn khốc như vậy lại có thể xảy ra trên đất Mỹ. Người Mỹ thông thường tin rằng Mỹ là một nước văn minh tiến bộ nhất thế giới, đạo đức nhất thế giới, hào hiệp nhất thế giới, là một thị trấn trên đỉnh đồi (A city on the hill) mà cả thế giới đều phải ngước mắt lên nhìn ngưỡng mộ, là cái đầu tầu kéo cả thế giới chạy theo, và lẽ dĩ nhiên, tin ở Thiên Chúa (In God We Trust). Họ không biết đến thực chất những hoạt động của chính phủ Mỹ trong cộng đồng thế giới.

Phản ứng của người dân rất đa dạng. Có một số người đi tìm những người gốc Ả Rập để hành hung hoặc giết để trả thù. Thị Trưởng New York cũng như Tổng Thống Bush đã phải lên tiếng kêu gọi người dân hãy bình tĩnh, không nên "giận quá mất khôn" mà đi làm những việc trái với pháp luật. Nhưng cho đến nay đã có trên 750 vụ như vậy.

Có nhiều người trở nên nghi ngờ sự hiện hữu của Thiên Chúa và họ đã hỏi thẳng các linh mục, mục sư ở nhà thờ những câu như sau: "Thiên Chúa có thật sự hiện hữu hay không?" "Tại sao Thiên Chúa lại để cho vụ khủng bố xảy ra cho nước Mỹ, một nước nổi tiếng là ngoan đạo, sùng tín Thiên Chúa?" Nhiều linh mục và mục sư đã trả lời thật là "Tôi không biết" (I don't know) vì sự lương thiện trí thức không cho phép họ trả lời trái với lương tâm. Nhưng cũng có những vị vẫn giảng rằng đầu óc con người không thể hiểu được những việc làm của Thiên Chúa, vậy hãy giữ vững niềm tin vì đó là niềm an ủi chính mà con người có thể có. Và từ đó, một chiến dịch giữ vững niềm tin với những bảng hiệu "God Bless America: Xin Thiên Chúa Hãy Ban Phúc Lành Cho Nước Mỹ" và "Chúng Ta Đứng Vững Trong Đoàn Kết" (United We Stand) đã tung ra trên khắp nước Mỹ.

Có nhiều người trẻ bỗng nhiên nhận thức được rằng cuộc đời là vô thường và phát biểu: "Trước đây tôi chỉ chăm chú làm sao kiếm cho nhiều tiền, ngày nay tôi cảm thấy điều đó thật là vô nghĩa", thay đổi triết lý sống và nghĩ đến người khác nhiều hơn.

Về phía chính quyền thì trong cơn nóng giận Tổng thống Bush đã tuyên bố nhiều câu chỉ hợp trong các phim "cao bồi bắn người da đỏ" (cowboys shooting Indians) thí dụ như "hun khói để lùa chúng ra khỏi lỗ" (smoking them out of their holes), "làm cho chúng phải chạy trốn và mang chúng ra trước công lý" (getting them running and bringing them to justice), và đưa ra motto "Sống Hay Là Chết" (Dead or Alive) để đối phó với Osama Bin Laden, người mà Mỹ tin rằng chính là chủ mưu trong vụ khủng bố này.

David Greising viết trong tờ Chicago Tribune ngày 30 tháng 9, 2001: "Công lý theo kiểu Tổng Thống Bush nghe như là có vẻ muốn trả thù nhiều hơn" (Justice, President Bush-style is sounding a lot like vengeance). Tổng Thống Bush cũng dùng đến danh từ "Thánh Chiến" (Crusade) để chỉ sách lược chiến tranh chống khủng bố (war against terrorists) của ông. Điều này làm cho khối Hồi Giáo Ả Rập lên án ông là cố tình tạo nên cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Ki Tô Giáo và Hồi Giáo, lập lại lịch sử những cuộc Thánh Chiến của Ca Tô Giáo Rô Ma để tiêu diệt Hồi Giáo khi xưa. Tổng Thống Bush đã phải xin lỗi thế giới và không dùng đến danh từ này nữa.

Trong tình trạng hoặc hoang mang, hoặc thù hận, hoặc mất niềm tin v..v.. của chính quyền và người dân Mỹ như trên, nhiều nhà lãnh đạo tinh thần thuộc các tôn giáo đã được mời để nói lên tiếng nói của mình cho người Mỹ và nước Mỹ biết quan điểm tôn giáo của họ về cuộc khủng bố. Một trong những bậc lãnh đạo tinh thần này là một vị sư già Việt Nam, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Chúng ta không thấy mặt những bậc gọi là lãnh đạo tinh thần khác của Việt Nam, thí dụ như Hồng Y Nguyễn Văn Thuận hay Đức Ông Nguyễn Văn Tiến, Đức Ông Trần Văn Hoài chẳng hạn, những người nổi tiếng chống Cộng để phục vụ chân lý Ca-Tô. Chúng ta cũng không thấy mặt những bậc lãnh đạo tinh thần của Phật Giáo rất nổi tiếng trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, thí dụ như Hòa Thượng tự phong và tự do ôm chân Giáo Hoàng, hay Hòa Thượng tự phong và tự tung tự tác ở Cửa Như Lai (Như Lai Gate). Có lẽ ban tổ chức đã biết rõ khả năng và bản chất của các quý vị này trong lãnh vực tôn giáo.

Ngày 25 tháng 9 năm 2001, Thầy Nhất Hạnh đã đến New York để cống hiến cho dân New York một bài Pháp nhan đề "Ôm Lấy Sự Giận Dữ" (Embracing Anger), tại nhà thờ Riverside ở New York. Theo bản loan tin về buổi thuyết Pháp này thì thính giả được khuyến cáo là số ghế ngồi chỉ có hạn, 2500 ghế mà thôi. Người ta ước tính số người đi nghe vào khoảng 4000.

God Bless America: Xin Thiên Chúa hãy ban phúc lành cho nước Mỹ!

Bài thuyết Pháp dài của Thầy Nhất Hạnh gồm có ba phần và đã được đưa lên trang nhà của Làng Mai. Nội dung của phần đầu là trình bày phương pháp tu của Thầy để đối trị sự tức giận ở trong lòng, từ những kinh nghiệm của chính Thầy trong cuộc chiến ở Việt Nam. Thầy thuyết về Giáo Pháp Tỉnh Thức, một Giáo Pháp bắt nguồn từ Kinh Hoa Nghiêm với những quan niệm như Tương Duyên, Tương Túc v..v.. của nhà Phật. Thông điệp của Thầy là không nên hành động hấp tấp khi nóng giận, bình tĩnh suy tư tìm hiểu căn nguyên vấn đề để tìm ra một giải pháp thích đáng phù hợp với lòng từ bi của Phật Giáo.

Tuy nhiên, câu mở đầu bài thuyết Pháp của Thầy Nhất Hạnh đã gây nên một cơn bão trong chén nước lèo trong cộng đồng người Việt ở Nam Cali mà thủ đô chống Cộng là Quận Cam, với phần lớn phương tiện truyền thông nằm trong tay những con chiên của Vatican. Cơn bão trong chén nước lèo này đã chuyển thành một cảnh đấu tố vắng mặt Thầy Nhất Hạnh trước tòa án nhân dân mà thành phần là những người sống trong thế kỷ 21 nhưng hiểu biết và tâm cảnh thuộc thời Trung Cổ. Nguyên văn đoạn mở đầu của Thầy Nhất Hạnh như sau:

My Dear friends, I would like to tell you how I practice when I get angry. During the war in Vietnam, there was a lot of injustice, and many thousands, including friends of mine, many disciples of mine, were killed. I got very angry. One time I learned that the city of Ben Tre, a city of three hundred thousand people, was bombarded by American aviation just because some guerillas came to the city and tried to shoot down American aircrafts. The guerilla did not succeed, and after that they went away. And the city was destroyed. And the military man who was responsible for that declared later that he had to destroy the city of Ben Tre to save it. I was very angry.

Tôi xin dịch đoạn trên như sau:

Các bạn thân mến của tôi, Tôi muốn nói cùng các bạn tôi đã thực hành như thế nào khi tôi tức giận. Trong cuộc chiến ở Việt Nam, có rất nhiều bất công, và nhiều ngàn người, trong đó có có những bạn bè, nhiều đệ tử của tôi bị giết. Tôi rất giận. Một ngày nọ tôi nghe tin rằng tỉnh Bến Tre, một tỉnh có ba trăm ngàn dân, bị máy bay Mỹ bỏ bom chỉ vì có vài du kích quân vào tỉnh và định bắn hạ máy bay Mỹ. Quân du kích không thành công, và sau đó họ bỏ đi. Và cả tỉnh bị phá hủy. Và sau đó viên chức quân sự trách nhiệm sự tàn phá trên tuyên bố là ông ta phải hủy diệt tỉnh Bến Tre để cứu tỉnh đó. Tôi rất giận.

Một người có đầu óc khi đọc đoạn trên thì phải hiểu ngay rằng Thầy Nhất Hạnh muốn trình bày phương pháp thực hành của Thầy để chế ngự sự tức giận ở trong lòng (câu đầu) và kể ra một trường hợp đã khiến Thầy tức giận (câu cuối), câu tuyên bố của viên chức quân sự phá hủy toàn tỉnh Bến Tre: "Chúng ta phải hủy diệt toàn tỉnh để cứu tỉnh đó" (We had to destroy the town to save it). Câu này đã để lại một vết đen trong quân sử Hoa Kỳ, và trở thành đề tài đàm tiếu trên thế giới. Những chi tiết về con số và du kích quân chỉ là phụ vì Thầy không phải là một chứng nhân của sự việc xảy ra ở tỉnh Bến Tre mà Thầy chỉ "nghe tin" như vậy. Thật vậy, khi Thầy nghe tin về vụ Bến Tre, năm 1968, thì Thầy đang bị Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta đầy ở ngoại quốc. Hiển nhiên nguồn tin là của báo chí hay đài truyền hình ngoại quốc. Nhưng vấn đề không phải là những chi tiết trong nguồn tin mà là thông điệp của Thầy Nhất Hạnh trong bài thuyết Pháp. Sau đoạn mở đầu, Thầy đã dẫn thính giả vào con đường tu tập "Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức" trong một đoạn dài với nhiều chi tiết, và tất cả chỉ có vậy.

Ngày 12 tháng 10, 2001, tôi có mặt ở Quận Cam để dự cuộc họp mặt các bạn đồng khóa, kỷ niệm 50 năm ngày nhập trường Sĩ Quan Trừ Bị Khóa I Nam Định và Thủ Đức. Trong cuộc họp, một người bạn cho tôi biết tin là: "Này, bọn nó đang tố khổ Thầy Nhất Hạnh, gọi phone đến các Chùa ở đây hăm dọa bằng những ngôn từ tục tĩu, và dự tính tổ chức biểu tình chống đối Thầy chủ nhật này (14-10) đấy". Tôi hỏi: "Chống đối về cái gì?" Anh ta trả lời: "Họ cho rằng trong bài thuyết Pháp ở New York, Thầy Nhất Hạnh đã bịa đặt ra chuyện về vụ Mỹ ném bom ở Bến Tre với ý định can Mỹ đừng trả thù quân khủng bố." Tôi cười và hỏi: "Toa đã đọc bài thuyết Pháp của Thầy Nhất Hạnh chưa?" Anh ta trả lời: "Chưa, nhưng một số báo chí bên này và đài phát thanh ở đây đều lập luận như vậy". Tôi chỉ thốt ra hai tiếng "Vậy hả?" rồi chúng tôi nói sang chuyện khác. Tôi tự nghĩ lấy làm lạ, vì suốt chiều qua ngồi chơi với Chị Chân Huyền, một đệ tử của Thầy Nhất Hạnh, mà không thấy chị nhắc đến chuyện này. Có lẽ những chuyện thị phi thuộc loại như vậy không đáng để chị bận tâm. Sau đó tôi có đọc mục "Chiều Khác Của Một Vụ Tranh Cãi Về Thiền Sư Thích Nhất Hạnh" đăng trên Nhật Báo Viễn Đông ngày 12 tháng 10, trong đó có bài của Lê Văn Quang và phần đầu bài của Lý Hoàng Thái. Tôi cũng đọc "Thư Ngỏ: Xin Đừng Chà Đạp Lên Tự Do Tín Ngưỡng Của Chúng Tôi" của Gia Đình Phật Giáo Vùng Orange County gửi Truyền Thông, Báo Chí Orange County, đăng trên vài báo Việt ngữ . Từ đó tôi đã hiểu phần nào nội vụ. Và gần đây, nhân đọc bài VÀI Ý KIẾN VỀ BÀI THUYẾT PHÁP CÔNG CỘNG CỦA THIỀN SƯ NHẤT HẠNH TẠI NHÀ THỜ RIVERSIDE, NY, 25.09.2001 của Bùi Kha trên trang nhà Giao Điểm, tôi lại biết rõ thêm một số chi tiết.

Trước khi đi vào phần phê bình phân tích những hành động ồn ào chống đối Thầy Nhất Hạnh, tôi nghĩ có lẽ chúng ta cũng nên biết Thầy Nhất Hạnh là người như thế nào, những hoạt động từ trước tới nay ra sao, từ đó chúng ta mới có thể nhận ra bộ mặt thật của những hoạt động chống đối Thầy ngày nay.

Tôi không phải là đệ tử của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Tôi cũng chưa bao giờ được gặp Thầy và lẽ dĩ nhiên, chưa bao giờ có duyên nghe Thầy giảng đạo. Tuy không trực tiếp biết Thầy nhưng tôi cũng biết phần nào những hoạt động cho dân tộc Việt Nam và công cuộc truyền bá Đạo Pháp của Thầy trên thế giới. Lẽ dĩ nhiên, sự hiểu biết của tôi về Thầy Nhất Hạnh còn thiếu sót rất nhiều. Tôi hi vọng sẽ được những người biết rõ Thầy hơn bổ túc cho những thiếu sót này. Phần viết này nói lên vài nét về những điều tôi biết về Thầy Nhất Hạnh.

Đã từ lâu, "người ta", người ta đây gồm cả "bạn" lẫn "thù", đã có những mánh mưu xuyên tạc với mục đích hạ thấp bôi nhọ Thầy, với ảo tưởng là có thể làm giảm uy tín của Thầy trong cộng đồng người Việt di cư. Ai là "bạn"? Điểm qua vài mặt chúng ta thấy có "phản đồ" ăn lương của ngoại bang, ngồi ở Paris tranh đấu cho "quyền làm người" (sic) của 77 triệu dân Việt Nam ở trong nước; có nhóm chủ trương tờ Chánh Đạo, trang nhà TongVu (Khong) Hoang Phap, chuyên dùng những lời lẽ vô đạo hoặc đăng bài của ngoại đạo để xuyên tạc, đánh phá Phật Giáo và chụp mũ bất cứ ai không hùa theo chủ trương, ý kiến thuộc loại dưới đáy giếng của hạng người vô tài vô đức. Và ai là "thù"? Chẳng cần phải nói ai cũng biết đó là những nô lệ tinh thần của thế lực đen quốc tế, cay cú vì mất đi quyền lực ở Việt Nam, cay cú vì trong thế giới tiến bộ trí thức Tây Phương, ánh sáng của đạo trí tuệ đã xua đi bóng tối của đức tin vào những mê tín hoang đường không còn thích hợp với thời đại ngày nay, nên trút mọi giận hờn lên những bậc lãnh đạo Phật Giáo trong đó có Thầy Nhất Hạnh, và chạy tội bất tài, tham nhũng v..v.. của hai chế độ bù nhìn Ca-Tô Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu, nguyên nhân chính đưa đến sự sụp đổ miền Nam, bằng cách vu cho mấy ông Sư cái tội làm mất nước (sic) . Những cái mũ "cộng sản", "phản chiến" v..v.. dù đã rách nát với thời gian, vẫn được mang ra nhai đi nhai lại trong một thiểu thiểu số người Việt di cư làm nghề chống Cộng cho Chúa toàn thời gian (full time) để chụp lên đầu một ông Sư chỉ vì đối với họ, ông ta có cái tội duy nhất là nổi tiếng trên thế giới, có nhiều đệ tử từ các tôn giáo khác ở khắp năm châu, và dám phê bình thẳng thắn giáo hoàng Ca-Tô John Paul II trong cuốn Living Buddha, Living Christ.

Bài viết này không có mục đích bênh vực Thầy Nhất Hạnh vì tôi biết chắc Thầy không cần đến sự bênh vực của tôi. Tôi cũng biết chắc Thầy không bao giờ quan tâm đến những tiếng ồn ào bâng quơ bên đường hướng lên mặt trăng với ảo tưởng là có thể ngăn cản những bước chân vững chãi và thảnh thơi của Thầy cùng các đệ tử đi trên con đường hoằng dương đạo Pháp. Đoàn lữ hành cứ thản nhiên qua.

Đối với tôi, Thầy Nhất Hạnh quả thật là một niềm hãnh diện cho Phật Giáo Việt Nam. Rất có thể có một số Phật tử, tôi là một trong số này, đôi khi không đồng ý với Thầy về một vài điểm nào đó, khi Thầy đưa ra những ý kiến hoặc thông tin bên ngoài vấn đề thuyết giảng Phật Pháp. Nhưng xét về toàn thể những đóng góp của Thầy cho cộng đồng thế giới, cho Phật Giáo nói chung, cho Phật Giáo và dân tộc Việt Nam, và nhất là cho hòa bình của Việt Nam nói riêng, chúng ta không thể phủ nhận sự kiện là, trong thời cận đại, hiếm có một tăng ni Việt Nam nào có thể sánh ngang với Thầy.

Trong bài này tôi sẽ không nhắc đến tiểu sử của Thầy Nhất Hạnh, nghĩa là những chi tiết về Thầy xuất thân từ đâu, học trường nào, bằng cấp ra sao, đã giữ những chức vụ gì v..v.. Đối với tôi, những chi tiết này không phải là những tiêu chuẩn quyết định để đánh giá một Thiền sư. Trong lịch sử thế giới ngày nay cũng như khi xưa, chúng ta thấy không thiếu gì những bậc được gọi là "lãnh đạo tôn giáo" có bằng cấp, chức tước, địa vị thật cao, mũ mãng cân đai, áo đỏ áo tím v..v.., nhưng thực chất chỉ là những nô lệ tâm linh, đạo đức thấp kém.. như lịch sử các tôn giáo đã chứng minh.

Viết về Thầy Nhất Hạnh, chúng ta không thể bỏ qua những hoạt động của Thầy trong thập niên 60, khi mà chiến tranh đang tàn phá đất nước Việt Nam, cả về sinh mạng lẫn vật chất, những hoạt động đã khiến cho cả thế giới biết đến Thầy, từ Giáo Hoàng Paul VI của Ca Tô Giáo Rô Ma, cho tới những nhân vật lãnh đạo quân sự, ngoại giao và tôn giáo của Hoa Kỳ và một số quốc gia trên thế giới.

Trước hết chúng ta hãy trở lại đầu thập niên 60, khi mà chính quyền Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam đang dung dưỡng cho những giám mục, linh mục Ca Tô Việt Nam thao túng chính trường và thị trường, cùng xuống tay tiêu diệt mọi đảng phái đối lập, bức hại các tôn giáo phi Ca-Tô trong đó có Phật Giáo.

Trong hoàn cảnh miền Nam Việt Nam bị đắm chìm trong chiến tranh, và toàn dân miền Nam sống trong bức màn đen tối dày đặc của ý thức hệ Rô-Ma (Dr. Barnado: In the thick darkness of Romanism), một ý thức hệ tôn giáo trị của thời Trung Cổ mà Phán Quan Ngô Đình Diệm cùng những nô lệ tâm linh của Vatican đang cố gắng triệt để thi hành, thì ngày 11 tháng 6, 1963: Ngọn lửa từ bi bốc lên từ nhục thân Bồ Tát Thích Quảng Đức đã có tác dụng soi sáng và thức tỉnh lương tâm nhân loại, kết quả là xua đi bóng tối của vô minh và tàn bạo không bao lâu sau đó. Stephen Batchelor tường thuật cuộc tự thiêu trên trong cuốn Sự Thức Tỉnh Của Tây Phương (The Awakening of the West, Parallax Press, CA 1994, pp.353-354) như sau:

11 tháng 6, 1963. Trên đường Phan Đình Phùng ở Saigon, một vị sư già tên là Thích Quảng Đức ngồi tọa thiền theo tư thế kiết già. Dầu xăng được đổ lên người Ngài, và Ngài bật một que diêm, rồi ngồi bình thản và bất động khi thân thể bốc lửa. Trong khi cuộc chiến ở Việt Nam gia tăng, một số tăng ni khác hành động theo gương người. Khi những hình ảnh tự thiêu này hiện trên màn ảnh TV trên khắp thế giới, chúng gây cho khán giả sự kinh hoàng và không thể hiểu nổi. Một vị sư ngồi như Đức Phật ngập trong đám lửa trong một quốc gia bị tàn phá bởi chiến tranh đã xé rách tâm tư Tây phương.

(11 June 1963. On Phan-dinh-Phung street in Saigon an elderly Buddhist monk called Thich Quang Duc sits down cross-legged in meditation. Petrol was poured over his body and he lighted a match, then remains calm and immobile as his body bursts into flames. As the Vietnamese war intensifies, other monks and nuns follow his example. As these images appear on television screens around the world, they provoke incomprehension and horror. A monk seated like a Buddha being engulfed by fire in a country ravaged by war sears itself into the Western mind.)

5 tháng sau, chế độ Ngô Đình Diệm Ca Tô độc tài, tôn giáo trị, gia đình trị, phi tự do, phi dân chủ, một chế độ mà tuyệt đại đa số người dân miền Nam oán ghét đã sụp đổ. Trong giai đoạn lịch sử này, Thầy Thích Nhất Hạnh đang làm công tác nghiên cứu và giảng dạy tại đại học Columbia, Hoa Kỳ. Sau khi chế độ nhà Ngô sụp đổ, đầu năm 1964 Thầy Nhất Hạnh được Thượng Tọa Thích Trí Quang mời về giúp đất nước.

Về tới nước, Thầy Nhất Hạnh bắt tay ngay vào việc trong đường hướng "Phật Giáo Dấn Thân" hay "Phật Giáo Đi Vào Cuộc Đời", một đường hướng đáng lẽ Phật Giáo Việt Nam đã phải thực hành từ lâu. Thầy là một trong những sáng lập viên của Viện Đại Học Vạn Hạnh với tiêu chỉ "Duy Tuệ Thị Nghiệp" của Phật Giáo. Thầy cũng là người sáng lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội năm 1965 để huấn luyện thanh niên thiện nguyện Việt Nam trong chiều hướng phục vụ các làng xã bằng những kiến thức chuyên môn, sửa soạn cho việc xây dựng và hàn gắn đất nước khi chiến tranh chấm dứt. Những công tác cho vui cứu khổ (từ bi) của Trường lúc đầu khá thành công và được mọi người đón nhận với thiện cảm, kể cả trong những vùng xôi đậu, vì những hoạt động này mang lợi ích trực tiếp đến với người dân mà không vướng mắc vào những ràng buộc chính trị phe phái. Bất hạnh thay, sự hoạt động của Trường không phát triển nổi vì Trường, với mục đích phụng sự xã hội thuần túy, đã tự đặt mình giữa hai lằn đạn của hai thế lực cuồng tín ngoại lai.

Đầu năm 1967, một toán mặc quân phục và đeo mặt nạ đã ném lựu đạn vào hai lớp học, giết chết một giáo sư và một sinh viên, làm bị thương 21 sinh viên khác. Một nữ sinh viên bị phá nát chân, sau đó được đưa đi Nhật để chỉnh phẫu (remedial surgery). Sau đó, năm thành viên trong đó có hai tăng sĩ Phật Giáo, nửa đêm đang ngủ bị bắt đưa ra bờ sông hành quyết, nhưng một tăng sĩ đã sống sót sau khi bị quân khủng bố tưởng ông ta đã chết ở bờ sông. Rồi một toán 8 hoạt động viên của Trường bị bắt cóc mất tích không có tin tức. Tất cả những cuộc khủng bố trên đều được chính quyền miền Nam nói là của Việt Cộng làm. Nhưng những sinh viên hiểu biết và nhiều người khác ở Saigon cho rằng rất có thể là do phía chính quyền làm. (Alfred Hassler, Saigon, U.S.A., Richard W. Baron, New York, 1970, p. 55: All incidents were attributed by the Government to the Vietcong, but knowlegeable students and others in Saigon suspected that the attackers could just as reasonably have been from the Government side) Rồi sinh viên của Trường bị chính phủ bắt nhập ngũ rồi gửi ra tiền tuyến. Trong hoàn cảnh như vậy Trường đã bắt buộc phải bỏ những lớp học chính thức nhưng vẫn tích cực trong việc tuyển mộ các thanh niên nam nữ tình nguyện và huấn luyện họ trong đường hướng phụng sự xã hội vô vị lợi.

Ngoài ra, Thầy Nhất Hạnh cũng còn làm chủ bút của tuần báo Thiện Mỹ của Phật Giáo. Nhà xuất bản Lá Bối ra đời và phổ biến những tác phẩm, thơ văn của Thầy, và những tác phẩm Phật Giáo. Đặc biệt là, Thầy cùng một số tăng trẻ đã cùng với một số linh mục và giáo dân cấp tiến tạo nên phong trào Sống Đạo và cho ra tờ báo Sống Đạo. Đây là một thành quả có tầm vóc lịch sử nếu chúng ta xét đến sự thù nghịch lịch sử giữa hai tôn giáo lớn ở Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam càng ngày càng khốc liệt, nhất là sau khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam năm 1965. Sự chết chóc về nhân mạng và hủy diệt về vật chất càng ngày càng nhiều. Trong hoàn cảnh như vậy, Phật Giáo, tôn giáo của hòa bình, không thể ủng hộ chiến tranh. Thầy Nhất Hạnh đã tuyên bố: "Cộng sản và Chống Cộng (theo kiểu Mỹ. TCN) đều bắt nguồn từ sự cuồng tín của Tây phương, và Phật Giáo là kẻ thù của mọi hình thức cuồng tín." (Alfred Hassler, Ibid., p. 113: Both Communism and anti-Communism, declared Nhat Hanh, are Western fanaticisms, and Buddhism is the enemy of fanaticism of all forms.) Đứng giữa hai thế lực cuồng tín gây chết chóc cho hàng ngàn dân Việt vô tội, năm 1966, Phật Giáo ý thức được rằng phải tìm đồng minh ở ngoài nước, và nhất là phải cho người Mỹ biết đến những sự đau khổ và khát khao hòa bình của đại đa số người dân Việt. Khi đó, người duy nhất trong Phật Giáo Việt Nam có uy tín, khả năng, kinh nghiệm với người Mỹ, để hoàn thành nhiệm vụ khai sáng thế giới về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, không có ai khác ngoài Thầy Nhất Hạnh.

Một cơ hội đã tới. Do lời mời của đại học Cornell, Thầy Nhất Hạnh đã được phép xuất ngoại. Chuyến đi sang Mỹ của Thầy đã trở thành chuyến du thuyết cho hòa bình trên khắp thế giới, nhưng buồn thay, đó cũng là chuyến đi mở đầu cho cuộc đời lưu vong của Thầy. Stephen Batchelor tóm tắt chuyến xuất ngoại trở thành lưu vong của Thầy như sau, Ibid. p. 353:

..Vào tháng năm, 1966, một vị tăng Việt Nam 39 tuổi, Thích Nhất Hạnh, tới Hoa Kỳ, bề ngoài có vẻ là để giảng về "Sự phục sinh của Phật Giáo Việt Nam" tại đại học Cornell. Mục đích thực sự của chuyến đi sang thăm viếng Hoa Kỳ là nói cho người dân Mỹ biết về những sự đau khổ của đồng bào ông. Hội Ái Hữu Hòa Giải gốc Ki Tô đã tổ chức một chuyến xuất ngoại 3 tuần lễ cho ông. Nhưng những thư mời ông tiếp tục gửi đến, và chuyến xuất ngoại kéo dài 3 tháng, sang cả Âu Châu, không chỉ ở Mỹ. Ở Mỹ, ông đã gặp nhiều lãnh tụ tôn giáo và chính trị... Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara đã kéo dài cuộc tiếp kiến để nghe kỹ hơn những điều mà ông muốn nói. Trong một cuộc họp báo chung, Martin Luther King đánh đồng sự tranh đấu của người da đen với sự tranh đấu của các Phật tử ở Việt Nam, và năm sau đã đề nghị trao giải Nobel về hòa bình cho Thầy Nhất Hạnh. Cuộc du thuyết ở Âu Châu cuối cùng đã dẫn đến cuộc hội kiến với Giáo Hoàng Paul VI ngày 16 tháng 7 trong đó vị tăng sĩ Phật Giáo đã thúc giục Giáo Hoàng khuyến khích các tín đồ Ca Tô Giáo ở Việt Nam hãy cùng với các Phật tử tranh đấu cho hòa bình. Đi đến đâu , nơi đó cử tọa cũng cảm thấy mình tầm thường và mủi lòng trước một vị sư mảnh dẻ, từ ái, nói lên tiếng nói của quần chúng không nói lên được tiếng nói của mình, trong đất nước đau khổ của ông ta.

Thích Nhất Hạnh và những hoạt động viên Phật Giáo cùng tranh đấu với ông không về phe Cộng Sản ở miền Bắc, cũng không về phe chống Cộng ở miền Nam. Họ cũng không nuôi dưỡng một tham vọng nào về quyền lực chính trị cho chính họ. Họ tìm kiếm sự hiểu biết thay vì sự xung đột. Nhưng nhất là họ nói thay cho hàng triệu nông dân mà những sự khác biệt về ý thức hệ thật là vô nghĩa, đối với những người này chiến tranh chỉ mang lại tàn phá, khủng khiếp và chết chóc.

(...In May 1966, a 39-year-old Vietnamese monk, Thich Nhat Hanh, arrives in America, ostensibly to lecture on "The Renaissance of Vietnamese Buddhism" at Cornell University. The true purpose of his visit is to tell the American people of the sufferings of his fellow countrymen and women. The Christian-based Fellowship of Reconciliation has organized a three-week tour for him. But invitations keep coming, and the tour continues for three montshs, extending beyond the United States to Europe. In America he meets with leading religious figures and politicians... The Secretary of Defense Robert McNamara extends his appointment to listen more carefully to what he has to say. In a joint press conference, Martin Luther King identifies the struggle of blacks in America with that of the Buddhists in Vietnam, and the following year nominates Nhat Hanh for the Nobel Peace Prize. The visit to Europe culminates, on 16 July, in an audience with Pope Paul VI in which the Buddhist monk urges the Supreme Pontiff to encourage Catholics in Vietnam to join hands with Buddhists to end the war. Wherever he goes, audiences are humbled and moved by this slight, gentle monk who gives voice to the silenced mass of his tormented land.

Thich Nhat Hanh and his fellow Buddhist activists sided neither with the Communist north nor the anti-Communist south. Nor did they harbour any desire for political power themselves. They sought understanding instead of conflict. Above all they spoke for millions of peasants for whom the ideological differences were meaningless, for whom the war meant nothing but destruction, terror and death.)

Hành trình du thuyết cho Hòa Bình của Thầy Nhất Hạnh ở ngoại quốc được trình bày đầy đủ hơn trong cuốn Saigon, U.S.A., pp. 10-15, của Alfred Hassler, Giám Đốc Hội Ái Hữu Hòa Giải ở Hoa Kỳ:

Những cuộc hành trình sau đó của ông (Nhất Hạnh) trên khắp nước Mỹ, rồi qua Tây Âu và tới Úc, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân và Nhật Bản, và rồi lại trở lại Mỹ là do sự đỡ đầu của Ủy Ban Quốc Tế về Lương Tâm Đối Với Việt Nam ... Bản Tuyên Bố của Ủy Ban, "Họ là anh em của chúng ta mà chúng ta giết", đã được sự ủng hộ của 10 ngàn (10,000) chữ ký của các lãnh đạo tôn giáo của mọi tín ngưỡng từ trên bốn mươi quốc gia khi bản này được đăng trên hai trang báo trong tờ New York Time ngày 23 tháng 1, 1966. Một trong những chữ ký trên ghi giản dị là "Một nhà sư Việt Nam" là của Thích Nhất Hạnh; sự ẩn danh là do chúng tôi quyết định, không phải là ý định của ông. (Vào thời điểm này, Thầy Nhất Hạnh còn ở Việt Nam cho nên Ủy Ban Lương Tâm đã quyết định tránh cho Thầy Nhất Hạnh những nguy hiểm về sinh mạng có thể xảy ra ở miền Nam. TCN)...

Ở Mỹ, vị sư mảnh dẻ nhiệt tình này được đón tiếp nồng hậu và chiều đãi khiến cho ông ta ngạc nhiên và tin tưỡng hơn là người Mỹ chắc chắn sẽ chấm dứt chiến tranh nếu họ biết được những sự đau khổ của đồng bào ông lên tới mức độ nào. Mới đầu ông ta thu hẹp những bài thuyết trình trong chủ đề này. Những cử tọa của ông xúc động đến rơi nước mắt khi ông nói thay cho "những nông dân không có tiếng nói của mình" và lòng khao khát chấm dứt cái chiến tranh đã phá nát đời sống của họ, và kể đến chuyện những thiếu nữ phải bán thân cho lính Mỹ để nuôi gia đình...

Hội Ái Hữu thu xếp lộ trình và những buổi nói chuyện của Nhất Hạnh, với sự giúp đỡ của Ủy Ban Lương Tâm Quốc Gia trong 19 quốc gia, và tôi đã đi cùng với ông trong phần lớn nước Mỹ và Tây Âu. Một mình hay cùng với tôi ông ta đã gặp nhiều viên chức cao cấp.. Ở Hoa Thịnh Đốn, Thượng Nghị Sĩ và Dân Biểu, cá nhân hoặc nhóm, đã đàm luận cùng ông, và Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara đã tăng gấp đôi thời giờ dành cho ông để tham khảo kỹ càng ý kiến của ông. Thượng Nghị Sĩ Eugene J. McCarthy, ngày trước ngày tuyên bố ứng cử Tổng Thống, đã đóng cửa văn phòng riêng của mình để tránh tiếng ồn ào của bộ tham mưu, và nhã nhặn chăm chú nghe sự trình bày của ông, hỏi nhiều câu hỏi đã được tìm hiểu và suy nghĩ kỹ, và khi được biếu một thi phẩm của Nhất Hạnh, đã biếu lại ông Sư một thi phẩm Hi Lạp. Sau đó, ở New Hampshire (nơi tổ chức bầu cử chọn ứng cử viên Tổng Thống. TCN) Thượng Nghị Sĩ của bang Minnesota đã trích dẫn những câu thơ của nhà thi sĩ Việt Nam.

Ở Luân Đôn, Nhất Hạnh đã gặp những thành viên của Hạ Nghị Viện Anh; ở Stockholm với thành viên Quốc Hội Thụy Điển và Ngoại Trưởng; ở Rô-ma với Giáo Hoàng Paul VI mà ông đề nghị một cuộc thăm viếng Việt Nam, "đến Hà Nội trước, vì Mỹ sẽ ngưng bỏ bom Hà Nội, rồi tới Saigon để khuyến khích con cái của giáo hoàng (con chiên) ở đó đừng có thù ghét Phật Giáo, hãy tiếp tay với họ để tranh đấu cho một hòa bình chung".. (Không bao lâu sau đó, theo phóng viên của tờ The National Catholic Reporter ở Rô-ma, cuộc viếng thăm Giáo Hoàng của Nhất Hạnh đã đẩy nhanh sự kiện một phái đoàn của Giáo Hoàng cầm đầu bởi Đức Ông Sergio Pignedoli, bạn thân của Giáo Hoàng, đã tới Saigon khẩn thiết yêu cầu hợp chung nỗ lực của Ca-Tô - Phật Giáo để tranh đấu cho hòa bình).

Mùa Xuân năm 1966, Nhất Hạnh viết một cuốn sách nhắm vào độc giả Mỹ. Cuốn sách này được phổ biến khá tốt trong nước Mỹ, nhưng cuốn sách cũng được xuất bản bằng 8 thứ tiếng khác và trong 9 quốc gia khác. Điều đáng chú ý là, sự thành công ngoạn mục nhất của cuốn sách lại ở ngay trong Nam Việt Nam, một bản tiếng Việt đã được bí mật đưa vào in chui trong nước và bán hơn 100000 cuốn (trong một nước mà cuốn sách nào bán được 30000 cuốn được coi như là bán chạy nhất).

(His subsequent travels, back and forth across the United States, then through Western Europe and to Australia, New Zealand, the Philippines, Japan, and once again through the United States were under the auspices of the International Committee of Conscience on Vietnam... The Committee statement, "They Are Our Brothers Whom We Kill", had won the signatures of 10,000 religious leaders of all faiths from more than forty countries when it appeared as a two-page advertisement in the New York Times on January 23, 1966. One of those signatures, identified in the ad as simply "A Vietnamese Buddhist Monk", was that of Thich Nhat Hanh; the anonymity had been our decision, not his...

In the United States, the slight, fervent monk was greeted with a warmth and hospitality that surprised him and led him to feel even more strongly that the Americans would surely stop the war if they knew how terrible were the sufferings of his people. At first his speeches were confined to that subject. His audiences were moved to tears as he spoke for the "voiceless peasants" and their longing for an end to the war that had torn their lives apart, and told of the young girls who sold their bodies to American soldiers in order to buy rice that would keep their families alive...

The Fellowship arranged Nhat Hanh's itinerary and engagements, with the help of the National Committee of Conscience that had sprung up in nineteen countries, and I traveled with him through much of the United States and Western Europe. Alone or with me he met with many dignitaries. In Washington, members of the Senate and the House, singly or in groups, talked with him, and Secretary of Defense Robert S. McNamara doubled the time he had allotted to question the Vietnamese monk closely. Senator Eugene J. McCarthy, the day before he announced his candidacy for the presidency, closed the door of his private office against the hubbub of his staff and listened attentively and courteously to Nhat Hanh presentation, asked thoughful and informed questions, and when presented with a small collection of Nhat Hanh's poetry, in turn gave a book of contemporary Greek poetry to the monk. Later, in New Hampshire, the Minnesota Senator was to quote from the Vietnamese poet's works.

In London, Nhat Hanh met with forty members of the House of Commons; in Stockholm with members of the Swedish Parliament and the Foreign Minister; in Rome with Pope Paul VI, to whom, he suggested a visit to Vietnam, "first to Hanoi, because then the Americans woild stop bombing Hanoi, but also to Saigon, to urge your children there not to hate the Buddhists but to work with them for a common peace."...(Shortly therafter a papal mission headed by Monsignor Sergio Pignedoli, a personal friend of the Pope, did go to Saigon to plead for joint Catholic-Buddhist effort for peace, precipitated, according to the Rome correspondent of The National Catholic Reporter, by Nhat Hanh's visit)...

In the Spring of 1966, Nhat Hanh wrote a book intended for the American people. It had a fairly good distribution in this country, but it was published as well in eight other languages and nine other countries. Interestingly, its most spectacular success was in South Vietnam itself, where a smuggled-in version was printed illegally and sold more than 100,000 copies (this in a country where a 3,000 sale constitutes a best-seller).

Cuốn sách trên chính là cuốn Hoa Sen Trong Biển Lửa mà bản tiếng Anh: Lotus In A Sea Of Fire đã được linh mục Thomas Merton, một nhà thần học Ca-Tô nổi tiếng trên đất Mỹ, viết lời mở đầu, và Alfred Hassler viết lời cuối. Trong lời mở đầu của Thomas Merton có đoạn như sau:

Những trang sách phê bình thẳng thắn và khôn khéo mà Nhất Hạnh viết về lịch sử trong quá khứ của đạo Ca-Tô ở Việt Nam rất là quan trọng, chúng ta phải công nhận như vậy. Những nhà bảo thủ Ca-Tô có thể sẽ không ưa thích gì những trang này. Họ sẽ toan tính gạt bỏ chúng như là chống Ca-Tô và do thành kiến thù nghịch. Tôi rất sẵn sàng thông cảm với nỗi sầu khổ thành thực của họ, nhưng tôi tiếc phải nói rằng tôi không thể đồng ý với họ. Thích Nhất Hạnh không hề thù nghịch đạo Ca-Tô hay giáo hội Ca-Tô. Chắc chắn là những trang sách trên sẽ làm cho một tín đồ Ca-Tô bực bội hổ thẹn. Họ cần phải như vậy. Công đồng Vatican II đã thừa nhận rõ ràng rằng không có chỗ đứng nào để cho sự chiến thắng trống rỗng trong lịch sử truyền giáo Ca-Tô. Giáo hội đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng, và chúng đã mang lại sự mất tín nhiệm to lớn cho thông điệp Ki Tô. Những sai lầm đó không phải vì do đức tin hay do Phúc Âm, mà do những thành kiến về văn hóa và quốc gia, sự bám chặt vào khuôn mẫu tổ chức cứng rắn, hoặc bị ám ảnh bởi mặt mũi của định chế và uy tín chính trị. (Là một linh mục Ca-Tô, Thomas Merton đã cố gắng bào chữa cho Ca-Tô Giáo, làm nhẹ bớt tội lỗi của giáo hội, trong khi các học giả ngày nay, ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, đã đồng thuận là những sai lầm của các nhà truyền giáo bắt nguồn từ chính đức tin Ca-Tô vào những điều trong Phúc Âm. TCN)

(The outspoken and shrewdly critical pages which Nhat Hanh devotes to the past history of Catholicism in Vietnam are, let us admit it, very important. Catholic conservatives are probably not going to like these pages. They will perhaps attempt to dismiss them as mere anti-Catholicism and hostile prejudice. I am perfectly prepared to sympathize with sincere grief of these people, but I regret that I cannot agree with them. Thich Nhat Hanh is not hostile to Catholicism or to the Church. Certainly these pages make a Catholic squirm with embarrassment. They should do so. The Second Vatican Council has clearly admitted that there is no place for empty triumphalism in the Catholic estimate of missionary history. Serious errors have been made, and they have brought great discredit on the Christian message. These errors were due not to the faith and to the Gospel, but to nationalistic and cultural prejudices, attachment to rigid organizational patterns, or obsession with institutional facades and political prestige.)

Những hoạt động vận động cho hòa bình ở Việt Nam của Thầy Nhất Hạnh đã khiến cho Thầy trở thành đối tượng chống đối và vu khống của cả hai phe Cộng và chống Cộng. Thầy đã bị báo chí và đài phát thanh Saigon chụp cho Thầy cái mũ "Cộng sản" và không cho Thầy trở về nước. Trong khi đó thì đài phát thanh Hà Nội lại gán cho thầy cái danh hiệu "Công cụ của Ngũ Giác Đài" (Tool of the Pentagon). Những kẻ hiếu chiến và chủ trương giết Việt Cộng cho Chúa (Kill a gook for God) ở miền Nam thì lên án Thầy là "phản chiến ". Chỉ có những kẻ "hiếu chiến" mới lên án những người chủ trương hòa bình để tiết kiệm xương máu người dân là "phản chiến". Nhưng mà những ai phản chiến?

Đó là giáo hoàng Paul VI, người đã tuyên bố ở giữa hội trường Liên Hiệp Quốc:

Hãy ngưng ngay cuộc chiến (ở Việt Nam). Đừng có chiến tranh nữa, không bao giờ có chiến tranh nữa (Stop the war. No more war, never again war)

Đó cũng là Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant, sau khi quan sát tình hình, đã tuyên bố:

Cuộc chiến chênh lệch giữa kỹ thuật Hoa Kỳ và một nước nhỏ kém mở mang (VN) là một trong những cuộc chiến "man rợ nhất" của lịch sử.

(The Secretary of the United Nations, U Thant, was driven by his observations to call this mismatch between the United States and a small underdeveloped nation one of the "most barbarous" wars in history)

Đó cũng là 2700 mục sư, linh mục, mục sư Do Thái (Rabbi) đã ký tên dưới một bức thư gửi Tổng Thống Johnson, đăng trên tờ The New York Times ngày 4 tháng 4 năm 1965 kêu gọi: "Nhân danh Thiên Chúa, Hãy ngưng ngay chiến tranh" (In the Name of God, STOP IT).

Đó cũng là 65 giáo sư đại học Saigon, ngày 16 tháng 1, 1968, với bản tuyên ngôn kêu gọi "Các phe hiếu chiến hãy kéo dài vô thời hạn cuộc ngưng chiến vào dịp Tết và đàm phán với nhau ngay để có một dàn xếp hòa bình." (We appeal to all the belligerent parties to extend indefinitely the Tet cease fire and to negotiate immediately a peaceful settlement).

Và còn những bậc trí thức vang danh thế giới như Bertrand Russell, Jean Paul Sartre, hàng trăm giáo sư đại học trên khắp thế giới, hai anh em cùng là linh mục Ca-Tô Daniel và Philip Berrigan, chưa kể đến hàng trăm ngàn sinh viên đại học Mỹ đã thường xuyên xuống đường "phản chiến". Vậy "phản chiến" thì sao? Ai có quyền "kết tội" những người "phản chiến"? "Phản chiến" là một quyền căn bản của con người, ít ra cũng là quyền của những người Việt Nam yêu nước, yêu dân tộc, yêu hòa bình, không chấp nhận bạo lực, nhất là những bạo lực này lại từ những thế lực ngoại quốc mang đến.

Với vài nét về Thầy Nhất Hạnh như trên, tôi nghĩ cũng đủ để cho chúng ta thấy Thầy Nhất Hạnh là mẫu người như thế nào. Ở đây, tôi không nói đến những đóng góp của Thầy cho Phật Giáo nói chung, Phật Giáo Việt Nam nói riêng, kể từ 1975 đến nay, những đóng góp văn hóa qua hàng trăm tác phẩm, cũng như những đóng góp thiết thực trong vấn đề tu tập, qua các khóa tu trong nhiều quốc gia trên thế giới. Những đóng góp này đã được thế giới và người Việt Nam, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, biết đến nhiều.

Bây giờ tôi xin trở lại hiện tượng chống đối Thầy Nhất Hạnh một cách quái gở ở quận Cam. Như trên đã nói, trong mục "Chiều Khác Của Một Vụ Tranh Cãi Về Thiền Sư Thích Nhất Hạnh" đăng trên Nhật Báo Viễn Đông ngày 12 tháng 10, có bài của Lê Văn Quang và phần đầu bài của Lý Hoàng Thái.

Sau khi phân tích đoạn tiếng Anh trích dẫn ở trên trong bài thuyết Pháp của Thầy Nhất Hạnh ở New York, ông Lê Văn Quang cho rằng "Chúng ta không thể kết tội (sic) HT Nhất Hạnh vì người phê bình không đọc kỹ và nhiều người chưa bao giờ đọc bản tiếng Anh, chỉ nghe người khác nói rồi nói theo".

Còn ông Lý Hoàng Thái viết: "Một số người đứng trên quan điểm một người lính, một người chiến đấu, hoặc một người thích súng đạn bắn giết để luận xét quan điểm của một người tu hành. Một nhà sư Phật Giáo thì không thể hô hào chiến tranh cho dù cuộc chiến đó là cuộc chiến có chính nghĩa."

Theo tôi, chẳng phải là họ không đọc kỹ mà là họ đã cố tình xuyên tạc để gây thù hận trong đám người cuồng tín, đám người đã quen thuộc với sự nô lệ tâm linh nên đánh đồng Thầy Nhất Hạnh với Phật Giáo. Tôi xin chứng minh qua bức thư ngỏ sau đây của Gia Đình Phật Tử Vùng Orange County chiếm trọn một trang báo trên vài tờ nhật báo tại Orange County:

THƯ NGỎ

XIN ĐỪNG CHÀ ĐẠP LÊN TỰ DO TÍN NGƯỠNG CỦA CHÚNG TÔI

KÍNH GỞI: TRUYỀN THÔNG, BÁO CHÍ ORANGE COUNTY

Trong nhiều tuần lễ vừa qua, một vài làn sóng phát thanh tại Orange County với đề tài nói về Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã liên tiếp bàn luận cho thính giả gọi vào đã tạo sự kích động, gây ra một cái nhình lầm lẫn, bôi lọ Phật Giáo.
Việc Thầy Nhất Hạnh đã phát biểu trên tờ báo New York Times là ý kiến riêng của Thầy và chỉ có Thầy mới là người sáng tỏ điều này, chứ không liên quan gì đến Phật Giáo và Đồng Bào Phật Tử.
Kết quả hiện nay là: Một số Chùa trong vùng quận Cam đã bị gọi điện thoại chửi bới, hăm dọa dùng những lời lẽ thô tục với những Sư Cô hầu hết đều từ lứa tuổi 70 đến trên 80 tuổi. Chuông điện thoại gọi đến liên tục gây trở ngại rất nhiều trong công việc tu tập.
Kính xin quý vị truyền thông, báo chí ngưng ngay lập tức những lời kêu gọi, phỉ báng, nhục mạ tôn giáo của chúng tôi…
Đừng lợi dụng bôi nhọ tôn giáo của chúng tôi…
Nam Mô A Di Đà Phật
Gia Đình Phật Giáo Vùng Orange County

Chúng ta thấy ngay rằng những hành động trên là những hành động chủ ý đánh phá Phật Giáo chứ không chỉ nhắm riêng Thầy Nhất Hạnh. Có phương tiện truyền thanh và báo chí trong tay, họ đã xuyên tạc sự việc, như tôi sẽ chứng minh trong một phần sau, lạc dẫn dư luận quần chúng và từ đó họ đã dựa vào những thông tin ngụy tạo để chống đối Thầy Nhất Hạnh và Phật Giáo. Họ thừa biết rằng Thầy Nhất Hạnh không phải là Giáo Hoàng của Phật Giáo. Họ cũng thừa biết rằng Phật tử không có bổn phận phải "quên mình trong vâng phục", một giáo lý căn bản trong Ca-Tô giáo Rô-Ma, và không có bổn phận phải nghe theo hoặc tin theo bất cứ những gì Thầy Nhất Hạnh nói. Người Phật tử dùng đầu óc và sự hiểu biết của chính mình để xét đoán sự việc, chỉ tin theo những gì mình thấy là đúng, là không sai giáo lý, là có lợi cho mình cho người trong con đường tu tập. Kinh Phật thuyết cho dân Kalama đã dạy như vậy. Cho nên, bất cứ Phật tử nào cũng phải hiểu rằng, tiếng nói của Thầy Nhất Hạnh không phải là tiếng nói của Phật Giáo. Tất cả chỉ là quan điểm cá nhân của Thầy, không dính dáng gì tới các bậc tu hành khác trong Phật Giáo. Nhưng họ, với hành động càn rỡ vô liêm sỉ, phi lý, đã chủ tâm"gọi điện thoại đến các Chùa ở vùng quận Cam để chửi bới, hăm dọa dùng những lời lẽ thô tục với những Sư Cô hầu hết đều từ lứa tuổi 70 đến trên 80 tuổi." bất kể đến đạo lý, bất kể đến bản chất man rợ trí thức của những hành động phi lý trên. Tư cách của họ thuộc hạng người nào? nếu không phải là tư cách của những kẻ cuồng tín, đầu óc thiển cận, hẹp hòi, đố kỵ?? Tôi cho rằng nhóm người này không phải là các Phật tử, vì không có Phật tử nào lại đi hành động một cách đần độn vô lối như vậy. Tôi đề nghị mỗi Chùa nên trang bị một cái ID phone để ghi xuất xứ nơi gọi, và nếu biết rõ, có thể đưa những kẻ sách nhiễu, hăm dọa ra tòa. Báo Giao Điểm trước đây bị một người vu khống là Cộng Sản, Giao Điểm đã đưa người đó ra Tòa và Tòa đã phạt người đó 70 ngàn đô la về tội vu khống, và người đó đã phải bỏ trốn biệt tích.

Qua những bài viết của các ông Lê Văn Quang và Lý Hoàng Thái trong tờ Viễn Đông Thời Báo ngày 12 tháng 10, 2001, và bài VÀI Ý KIẾN VỀ BÀI THUYẾT PHÁP CÔNG CỘNG CỦA THIỀN SƯ NHẤT HẠNH TẠI NHÀ THỜ RIVERSIDE, NY, 25.09.2001 của Bùi Kha trên Trang Nhà Giao Điểm, tôi có thể biết rằng ông Đỗ Sơn, chủ đài VOV, sau khi kích động quần chúng trên đài VOV bằng những thông tin sai lạc, từ đó có những cò mồi gọi phone vào đài VOV để nói hỗn với Thầy Nhất Hạnh, ngày 14 tháng 10, 2001 đã tổ chức một cuộc "Hội Luận" của cái gọi là "Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại" mà ông làm chủ tịch để tố khổ Thầy Nhất Hạnh. Bùi Kha đã trích báo Người Việt ra ngày 16 tháng 10, 2001 và tóm tắt luận cứ của cuộc "Hội Luận" gồm ba điểm sau đây để tố Thầy Nhất Hạnh:

  • Tất cả đều xác nhận thị xã Bến Tre chỉ có khoảng 80 ngàn dân chứ không phải 300.000.

  • Ông Đỗ Sơn đã trích dẫn một đoạn trong bài thuyết pháp của Thiền sư Nhất Hạnh nói về vụ ném bom Bến Tre, thành phố 300.000 người, cách nay hơn 30 năm. Ông khẳng định rằng tất cả những sự kiện không xác thật đó là do Thiền sư Nhất Hạnh bịa đặt, trong ý đồ của những nhóm phản chiến nhằm mục đích tạo dư luận trói tay chánh phủ Hoa Kỳ không để cho chống trả bọn khủng bố gây tội ác ngày 11.9.2001.

  • Thêm nữa suốt trong thời chiến tranh và trong vụ Việt Cộng tấn công Tết Mậu Thân, thời điểm đó Thiền sư Nhất Hạnh nói tới, chưa hề có vụ các phi cơ Hoa Kỳ hay Việt Nam Cộng Hòa dội bom hủy diệt thị xã Bến Tre bao giờ.

  • Tôi xin có vài ý kiến về những điểm trên.

    Về điểm 1, như trên tôi đã nói, năm 1968, Thầy Nhất Hạnh đang ở ngoại quốc, và cái tin về con số 300000 ngàn dân mà Thầy nghe được không chính xác. Đúng. Tỉnh Bến Tre chỉ có khoảng 75000 dân. Nhưng 33 năm qua rồi, con số Thầy nhớ có đúng hay không? Điều này không quan trọng vì vụ ném bom tỉnh Bến Tre Thầy đưa ra chỉ nêu lên một thí dụ về một trường hợp đã khiến Thầy nổi giận. Thông điệp chính của Thầy trong bài thuyết Pháp là phương pháp tu hành Thầy theo để chế ngự được sự nóng giận, và quan niệm bạo lực chống bạo lực sẽ không giải quyết được cỗi rễ của sự phát sinh ra bạo lực của Thầy. Vậy khi ông Đỗ Sơn trích dẫn một câu ngoài toàn bộ vấn đề (out of context) và dựa vào một tiểu tiết không quan trọng trong đó để đưa đến kết luận trong điểm 2 là một việc làm thiếu sự lương thiện trí thức, nếu ông được coi là một nhà trí thức.

    Điểm thứ hai, cho rằng "tất cả những sự kiện không xác thật là do Thiền sư Nhất Hạnh bịa đặt, trong ý đồ của những nhóm phản chiến nhằm mục đích tạo dư luận trói tay chánh phủ Hoa Kỳ không để cho chống trả bọn khủng bố gây tội ác ngày 11.9.2001" là luận điệu của một kẻ khát máu, hiếu chiến. Thứ nhất, Thầy Nhất Hạnh có quyền "phản chiến" hay không ở trên đất nước này? Phản chiến thì sao? Tôi cũng phản chiến như Thầy. Tại sao? Vì tôi nhớ đến 2 quả bom ở Hiroshima và Nagasaki ở bên Nhật. Vì tôi nhớ đến những thảm bom trải từ B52, thuốc độc Agent Orange, Mỹ Lai, Tết Mậu Thân, những cảnh tàn phá về vật chất và sinh mạng, những cảnh người dân tỵ nạn chạy trốn chiến tranh, cảnh phá hủy Bến Tre, Huế, Vĩnh Yên v..v.. trên đất nước tôi. Vì tôi nhớ đến hàng trăm ngàn người dân vô tội bị chết oan chết uổng trên khắp nước Việt Nam. Ông Đỗ Sơn có hoang tưởng hay không. Nhắc lại một sự kiện xảy ra cách đây 33 năm là có thể trói tay chánh phủ Hoa Kỳ không chống trả bọn khủng bố hay sao? Chỉ có những kẻ đầu óc chứa toàn "mì ăn liền" mới có thể nghĩ ra một cách diễn giải đần độn như vậy.

    Đức Giáo Hoàng cũng không hề hô hào Hoa Kỳ phải trừng phạt khủng bố. Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng khuyên không nên lấy bạo lực chống trả bạo lực, vì bạo lực chỉ gây thêm bạo lực. Họ cũng phản chiến cả đấy, ông hãy tổ chức "Hội Luận" chống họ đi. Và còn hàng ngàn người đang tiếp tục xuống đường trên khắp nước Mỹ để chống chiến tranh. Ông tính sao với họ? Tại sao ông chỉ đi tố khổ một ông Sư và tố khổ lan sang cả Phật Giáo? Vậy ông hãy nói rõ ý đồ của ông lên xem sao. Chẳng cần phải nói tôi cũng biết ông thuộc hạng người nào và ý đồ ra sao.

    Không phải chỉ có Giáo Hoàng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, và Thầy Nhất Hạnh là có chủ trương không khuyến khích chiến tranh mà còn có nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo khác cũng như một số người dân thường. Họ đã tổ chức biểu tình chống chiến tranh tại Washington D.C., San Francisco, Chicago và vài nơi khác.

    Mike Dorning, viết về những cuộc biểu tỉnh chống chiến tranh ở Chicago, đã tường thuật trên tờ Chicago Tribune ngày 30 tháng 9, 2001 như sau:

    Bà Keeanga Taylor, dân Chicago, nói rằng thái độ kiêu căng của Hoa Kỳ đối với các nước khác là nguyên nhân của những sự chống - Hoa Kỳ ở nhiều nơi trong thế giới Hồi Giáo.
    Bà ta nói bà ta hi vọng rằng cuộc khủng bố (ở New York) sẽ làm cho Washington phải xét lại chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.
    Một vài diễn giả và người chống đối (trong cuộc biểu tình) nói rằng họ nghĩ cuộc khủng bố sẽ làm cho Hoa Kỳ phải xét lại chính sách ở Trung Đông và nhiều nơi khác.
    Một diễn giả trong cuộc biểu tình đã yêu cầu quần chúng yên lặng một phút để vinh danh dân tộc ở Trung Đông và các dân tộc khác trong Thế Giới Thứ Ba "bị khai thác bởi lòng tham lam" của Hoa Kỳ và Âu Châu.
    (Chicagoan Keeanga Taylor said the US’ arrogant attitude toward other countries is to blame for the anti-US sentiment in parts of the Muslim world.
    She said she hopes the terrorist attacks will lead Washington to reconsider the nation’s foreign policy.
    Some of the protesters and speakers said they thought the terrorist attacks should cause the US to re-examine its policies in the Middle East and elsewhere.
    One speaker at a rally before the march asked for a moment of silence to honor people in the Middle East and other Third World countries "exploited by the greed" of the US and Europe.)

    Lance Wilcox viết trong tờ Chicago Tribune ngày 21 tháng 10, 2001 như sau:

    Khi dùng đến võ lực, làn ranh giới giữa đủ và quá bức rất khó mà nhận ra, và quá mức thì thật là khủng khiếp. Chúng ta cần lên tiếng lớn và rõ trong những quan niệm của chúng ta để phê bình chính sách của chúng ta, vì như trong thập niên 1960 (chiến tranh Việt Nam), những lời phê bình này được chứng minh là đúng. Chính những phê bình này mới có thể kéo chúng ta trở lại truớc khi chúng ta đứng trên bờ đâm đầu xuống vực thẳm.

    (In the use of force, the line between enough and too much is very hard to see, and excess is dreadful. We need the critics of our policy to be loud and clear in their opinions because, as happened in the 1960s, at some point they could prove to be right. They alone will be able to call us back from the brink before we plunge over.)

    Đây là quyền phát biểu ý kiến tự do trên đất Mỹ, một quyền được tuyệt đối tôn trọng. Ông Đỗ Sơn và đồng bọn hãy văn minh lên một chút, đừng làm xấu lây đến cả cộng đồng người Việt Nam tị nạn phải mang tiếng là cộng đồng của những người chậm tiến của thời Trung Cổ. Các ông phải nhớ rằng các ông đang sống trên đất Mỹ, không phải ở trong những ốc đảo ngu dốt ở Việt Nam (từ của Linh Mục Trần Tam Tĩnh), và người dân Việt di cư có quyền hành động, phát biểu ý kiến riêng với điều kiện là không vi phạm luật pháp, không gian dối, không xuyên tạc sự thật.

    Điểm thứ ba, ông lôi các nhân chứng của ông ở Bến Tre để khẳng định là "chưa hề có vụ các phi cơ Hoa Kỳ hay Việt Nam Cộng Hòa dội bom hủy diệt thị xã Bến Tre bao giờ." Tôi không thể tưởng tượng là một ông chủ tịch "Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại" mà kiến thức về chiến tranh Việt Nam lại tệ đến mức như vậy. Tôi xin giúp ông, đưa ra vài tài liệu để ông đọc về vụ hủy diệt tỉnh Bến Tre.

  • "Dù chúng ta quan tâm đến sự chết chóc của vài người dân vô tội như được mô tả trong cuốn Thương Vong của Chiến Tranh của Daniel Lang, hay đến sự phá hủy toàn tỉnh và dân chúng Bến Tre mà Thiếu Tá Không Quân Chester L. Brown đã biện minh rằng "Hoàn cảnh đã trở thành cần thiết phải hủy diệt cả tỉnh để cứu tỉnh đó", những hành động như vậy cần phải xét đoán trong bối cảnh mà những hành động đó xảy ra.. Cái gì đã làm cho một Trung U鹠Calley (đã bị đưa ra tòa xét xử về tội tàn sát hơn 400 người dân vô tội tại Mỹ Lai. TCN) và một Thiếu Tá Brown tin rằng giết những nông dân cũng không sao?.. Sự kiện hiển nhiên là những tội ác chiến tranh của Hoa Kỳ (ở Việt Nam. TCN) là một phương pháp được chấp nhận và thường xuyên áp dụng trong cuộc chiến ở Đông Dương…

  • Định nghĩa sau đây về tội ác chiến tranh đã được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp thuận: "giết hay hành hạ tù binh chiến tranh, giết con tin, hủy diệt thị trấn, tỉnh lỵ, làng mạc hoặc những tàn phá khác." Hiển nhiên là Mỹ Lai và Bến Tre vi phạm định nghĩa trên của luật quốc tế, nhưng cả hai trường hợp trên và nhiều trường hợp tương tự khác đã được sự thỏa thuận chính thức của Bộ Quốc Phòng."

    (The Indochina Story: A fully Documented Account by the Committee of Concerned Asian Scholars (A representative Group of historians, political scientists and sociologists who have devoted their lives to the study of the people and countries of Asia. Chapters of the Committee are active at the U of Berkeley, Cornell, Yale, Michigan,Harvard, Washington University at St. Louis, Washington U. at Seattle, Stanford, Wisconsin, and Columbia), Bantam Books, 1970, p. 128: Whether one is concerned with the death of a few innocent people such as are described in Daniel Lang's Casualties of War, or the destruction of an entire city and its inhabitants like BenTre which Air Force Major Chester L. Brown rationalized by saying, "It became necessary to destroy the town in order to save it," these acts must be examined in the context in which they occured....What makes a Lieutenant Calley or a Major Brown believe that the killing of Vietnamese peasants is OK?...The fact is that U.S. war crimes are an accepted and regularly used method of waging war in Indochina...

    The following definition of war crimes has been adopted by the General Assembly of the United Nations: "..murder or ill-treatment of prisoners of wars, killing of hostages, wanton destruction of cities, towns, or villages or other devastation." Obviously My Lai and Ben Tre violate this definition of international law, yet both events as well as many similar ones have had the official sanction of the Department of Defense.)

  • "Nhận xét không suy nghĩ của một Sĩ Quan dự phần trong sự giải tỏa làng Bến Tre ở đồng bằng – "Chúng tôi phải hủy diệt toàn tỉnh để cứu tỉnh đó"- có vẻ như được coi là mẫu mực cho sự phá hủy không có mục đích của chiến tranh"

  • (George C. Herring, America's Longest War, The U.S and Vietnam, 1950-1975, John Wiley & Sons, New York, 1979, p. 189: The offhand remark of a U.S. Army Officer who had participated in the liberation of the delta village of Ben Tre - "We had to destroy the town to save it" - seemed to epitomize (coi là mẫu mực) the purposeless destruction of the war.)

  • Cái lôgíc điên dại có vẻ được coi như là mẫu mực qua nhận xét của một Sĩ Quan Mỹ với Peter Arnett sau khi phần lớn Bến Tre đã trở thành đống tro gạch: "Hoàn cảnh đã trở thành cần thiết phải hủy diệt toàn tỉnh để cứu tỉnh đó."

  • (Neil Sheehan, A Bright Shining Lie, Vintage Books, New York, 1988, p.719: The mad logic seemed to be epitomized by the remark of an American major to Peter Arnett after much of Ben Tre had been turned to broden bricks and cinders: "It became nesessary to destroy to town to save it".)

  • "Rồi trong năm 1968, tỉnh Kiến Hòa đã trở thành bất diệt một cách kỳ cục bởi lời tuyên bố của một Sĩ Quan Hoa Kỳ về tỉnh Bến Tre vào tháng 3, 1968, "chúng tôi phải hủy diệt toàn tỉnh để cứu tỉnh đó" sau khi lực lượng của ông ta đã giết khoảng 550 người và làm bị thương 1200 người trong số dân 75000."

  • (James P. Harrison, The Endless War: Vietnam's Struggle For Independence, Columbia University Press, New York, p. 172: Then in 1968, the province Kien Hoa was bizarrely immortalized by the statement of an American officer who stated of Ben Tre City in March 1968, we had "to destroy the town to save it" after his forces had killed an estimated 550 and wounded another 1,200 of its 75,000 inhabitants..)

  • Báo chí đã loan tin đầy đủ, đặc biệt là sự đau khổ mà cả hai phe đều áp đặt trên những ngưởi dân vô tội. Peter Arnett , sau khi viếng tỉnh Bến Tre, hỏi: "Khi nào thì sự gây thương vong cho dân sự trở thành không phải là vấn đề liên hệ đến mục đích tiêu diệt kẻ thù?" người ký giả trả lời câu hỏi bằng một câu của một cố vấn Hoa Kỳ: "Hoàn cảnh đã trở thành cần thiết phải hủy diệt toàn tỉnh để cứu tỉnh đó." Tờ New York Times đã nắm lấy nhận xét này ngay khi biết đến nó. Tờ báo Time cũng vậy. Từ đó câu trên đã đi vào truyền thuyết của chiến tranh, trở thành một trong những hình ảnh hữu dụng nhất của phong trào chống chiến tranh.

  • (William M Hammond, Reporting Vietnam: Media & Military at War, University Press of Kansas, Kansas, 1998, p. 115: The press covered it all, particularly the suffering both sides had imposed on innocent civilians. "At what point do you turn your heavy guns and fighter bombers on your own city?" Peter Arnett asked after visiting Ben Tre. "When does the infliction of civil casualties become irrelevant as long as the enemy is destroyed?" ...the reporter answered the question with a comment by an U.S. adviser who had said, "It became necessary to destroy the town to save it." The New York Times seized upon the remark as soon as it appeared. So did Time. From there it passed into the lore of the war, to become one of the most serviceable icons of the antiwar movement.)

  • Như một Thiếu Tá Hoa Kỳ nói, trong một toan tính thành công đi vào lịch sử "Chúng tôi phải hủy diệt tỉnh Bến Tre để cứu tỉnh đó" Đó là lý do tại sao hầu hết miền Nam trở lại cái mà chúng ta gọi là trong vòng kiểm soát, và làm thế nào mà những vùng này trên thực tế vẫn bị Việt Cộng và Bắc Việt chiếm cho đến những ngày nhiều năm sau đó chẳng còn một ai của chúng ta ở đó.

  • (Reporting Vietnam: American Journalism 1959-1975, The Library of America, 1998, p. 315, in a dispatch by Michael Herr,: As one American Major said, in a successful attempt at attaining history, "We had to destroy Ben Tre in order to save it." That's how most of the country came back what we called control, and how it remained essentially occupied by the Viet Cong and the North until the day years later when none of us left there.)

    Vậy thì, thưa với ông Đỗ Sơn và Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại: Có hay không có vụ hủy diệt tỉnh Bến Tre? Các ông đã dựa vào mớ kiến thức ăn đong của các ông về một sự kiện lịch sử đã quá rõ ràng để đánh phá một tu sĩ Phật Giáo và luôn cả Phật Giáo. Có thể các ông cũng đã biết rõ sự thật về vụ Bến Tre nhưng vẫn cố tình phủ nhận để có cớ đánh phá Phật Giáo một cách vô liêm sỉ. Các ông thật là chủ quan, coi cộng đồng Việt Nam hải ngoại gồm toàn những kẻ ngu si, không biết gì về lịch sử và âm mưu của các ông hay sao?

    Qua phần trình bày trên, tôi đã chứng minh rằng những hoạt động chống đối của ông Đỗ Sơn, người đọc tiếng Anh mà không hiểu, và một số người chỉ nghe mà không đọc, đối với Thầy Nhất Hạnh và Phật Giáo là những hành động cố ý, càn rỡ, qua thủ đoạn xuyên tạc, bóp méo lịch sử, bất kể đến lý lẽ, đến sự thật, đến liêm sỉ và đến sự lương thiện trí thức như tôi tóm tắt sau đây.

  • Xuyên tạc bản văn để gán cho Thầy Nhất Hạnh cái ý định hoang đường là muốn trói tay chính phủ Mỹ không cho họ chống trả quân khủng bố.

  • Bị luận điệu tuyên truyền vu khống của đài VOV lạc dẫn nên một số người, có thể là đồng bọn, đã gọi điện thoại đến đài VOV để "phát biểu ý kiến" bằng những ngôn từ vô lễ, tục tĩu phản ánh một trình độ giáo dục thấp kém, một hiểu biết nông cạn, và một thái độ hạ cấp.

  • Gọi điện thoại đến các Chùa chửi bới, hăm họa với những lời lẽ thô tục đối với các bậc tu hành đáng tuổi cha mẹ, bất kể đến sự kiện là các Chùa ở vùng Orange County chẳng liên hệ gì đến bài thuyết Pháp của cá nhân Thầy Nhất Hạnh, phản ánh những thái độ côn đồ, phi lý.

  • Lừa dối dư luận bằng cách bóp méo lịch sử, trắng trợn phủ nhận một sự kiện lịch sử về vụ hủy diệt tỉnh Bến Tre như tôi đã trích dẫn trong 6 tài liệu trên, và câu nói để đời của Thiếu Tá Chester L. Brown : "It became necessary that we had to destroy the town to save it", đưa nhân chứng cò mồi ra cuộc "Hội Luận" để khẳng định rằng "chưa hề có vụ các phi cơ Hoa Kỳ hay Việt Nam Cộng Hòa dội bom hủy diệt thị xã Bến Tre bao giờ." và lên án Thầy Nhất Hạnh là bịa đặt ra điều này. Đây là một hành động vô liêm sỉ, bất lương trí thức không thể chấp nhận được.

  • Để kết luận tôi xin có vài lời về lời tuyên bố của ông giáo sư Lưu Trung Khảo mà Bùi Kha đã trích dẫn từ báo Người Việt:

    Giáo Sư Lưu Trung Khảo nói rằng cần phải có ranh giới rõ ràng giữa Thế Quyền và Thần Quyền. Một nhà tu có bổn phận hướng dẫn đệ tử đi vào con đường lương hảo. Nhưng nếu nhà tu hành bước sang lãnh vực chánh trị thì người ấy sẽ bị phán xét với tư cách là một công dân chứ không phải là một tu sĩ."

    Mang danh là một giáo sư mà ông cũng đi theo con đường "theo đóm ăn tàn", tuyên bố lăng nhăng. Ông phải biết, Phật Giáo không phải là đạo thờ Thần nên không làm gì có Thần quyền. Thần quyền tự phong chỉ có trong các đạo thờ Thần. Bài thuyết Pháp của Thầy Nhất Hạnh không có một đoạn nào nói về chính trị. Nội dung của bài là chế ngự sự nóng giận, tránh những hành động hấp tấp, suy nghĩ tìm ra nguyên nhân sự việc, và khước từ bạo lực theo tinh thần Phật Giáo. Đức Giáo Hoàng cũng khuyên không nên dùng bạo lực, có phải là chính trị không? và ông phán xét nhà tu hành đó với tư cách là một công dân của nước nào? Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng vậy. Ông phán xét ngài với tư cách của một công dân nước nào? Thầy Nhất Hạnh đến nước Mỹ với tư cách là khách của nước Mỹ, cũng như bất cứ người nào từ ngoại quốc đến nước Mỹ một cách hợp pháp. Vậy ông phán xét Thầy với tư cách là một công dân của nước nào? Nước Bolsa? Nhưng vấn đề chính là trình độ hiểu biết cỡ ông và của những người như Đỗ Sơn, những người gọi điện thoại đến các Chùa hăm dọa bằng những ngôn từ thô lỗ, tục tĩu v..v... có đủ tư cách để phán xét những bậc như Giáo Hoàng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, và Thầy Nhất Hạnh về chuyện này hay sao? Các ông tự nghĩ thì sẽ thấy câu trả lời.

    Mùa thu Tân Tỵ
    Trần Chung Ngọc