Ước Một Gorbachev cho Giáo Hội La Mã (!)

THƯ NGỎ GỬI GIÁO HOÀNG BENEDICT XVI

Nguyễn Mạnh Quang

http://sachhiem.net/NMQ/NMQ034.php

10-Nov-2011

 

Thưa Ngài,

 

Nhân đọc bản tin “Ái Nhĩ Lan đóng cửa Tòa Đại Sư Vatican” phổ biến trên sachhiem.net, tôi vội viết mấy dòng tâm tình này trân trọng kính đệ lên Ngài, kính mong được Ngài đọc và suy nghĩ rồi tuỳ Ngài quyết định hành động.

 

Thiết nghĩ rằng:

Thứ nhất, do phương tiện thông tin đại chúng ngày càng thuận tiện, càng ngày càng có rất nhiều người trên thế giới đã nhận ra, qua lịch sử các hành động và các hệ quả, Giáo Hội La Mã vốn là một xí nghiệp kinh doanh không hơn không kém. Với kỹ thuật siêu việt, sử dụng và sản xuất (1) những chuyện hoang đường, Giáo hội đã mê hoặc người đời, (2) với những xảo ngữ bình phong, giáo hội đã ngạo nghễ xưng mình là Hội Thánh của một tôn giáo hoàn vũ, (3) với uy quyền tột đỉnh, giáo hội đã xử dụng bạo lực để khủng bố và sát hại những người lương thiện không chịu khuất phục, gây ra biết bao cảnh tàn sát nhân loại. Nạn nhân của giáo hội từ xưa đến nay không thể nào kể cho xiết..

Thứ hai, chắc chắn Ngài cũng biết hết tất cả những  khu rừng hành động  tội ác mà giáo hội đã gieo tai giáng họa cho nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Vị tiền nhiệm của Ngài là Giáo Hoàng John Paul II (1978-2005)  đã   xin lỗi các dân tộc nạn nhân của giáo hội hơn  100 lần, và  đã  tổ chức một buổi đại lễ vô cùng trọng thể tại Quảng Trường Peter (Rome) vào sáng ngày Chủ Nhật 12/3/2000 để chính ông ta cùng với các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican đứng ra cáo thú tội ác với Chúa (!). Việc này xảy ra trước sự chứng kiến của hơn nửa triệu người tại chỗ và hàng trăm triệu người theo dõi qua các màn ảnh truyền hình ở khắp mọi nơi trên thế giới.

Là một người đã từng nắm giữ chức vụ Tổng Trưởng Thánh Bộ Đức Tin tại giáo triều Vatican trong thời gian từ ngày 25/11/1981-2/1/2005, tất nhiên là Ngài thấu hiểu rõ cả nguyên nhân và động lực khiến cho Giáo Hoàng John Paul II phải hành động như vậy. Nhưng dù sao những lời xin lỗi đó cũng chỉ bay lên Chúa của Ngài mà thôi, chứ không ở lại trần gian được để xoa dịu các nạn nhân của hội "thánh" của Ngài. Do đó, chuyện nào cũng còn nguyên.

Ngài thừa biết, trong kỳ Hội Nghị Cộng Đảng Liên Sô XXVII  diễn ra vào tháng 2 và tháng 3 năm 1988, ông Mikhail Gorbachev (1931- ), Tổng Bí Thư Cộng Đảng kiêm chủ tịch nhà nước Liên Sô đã đưa ra một quyết định vô cùng quan trọng. Đó là các chương trình đổi mới “perestroika” và  “glasmost”. Đây là một cuộc cách mạng đường lối quản trị  quốc gia nhằm giúp cho đất nước của ông ta vượt qua những khủng hoảng về mọi mặt, đặc biệt là tình trạng thất nhân tâm  gây ra bởi những việc làm sai lầm trầm trong và tội ác của các chính quyền tiền nhiệm từ khi ông Joseph Stalin (1878-1953) lên cầm quyền  vào 21/1/1924 (khi ông Ulyanov Lenin qua đời) cho đến lúc bấy giờ.

 Gorbachev 1987

Mikhail Gorbachev, nguyên lãnh đạo của Sô Viết. ảnh: Adrian Dennis/AFP/Getty Images

Nhờ có chính sách “đổi mới” như vậy,  mà (1) nhân dân Liên Xô mới có cơ hội nói lên tiếng nói của họ và hăng say tích cực làm việc nhiều hơn xưa, (2)   Cộng Đảng Liên Xô mới bị giải thể và chính quyền Liên Xô được thực sự dân chủ hóa, (3) mức sống người dân Nga được nâng cao nhiều hơn, Cũng vì thế mà ông Mikhail Gorbachev được người dân Liên Xô coi  như là đại anh hùng dân tộc và nhân dân thế giới coi ông như là ân nhân của nhân loại (vì rằng nhờ việc ông mạnh dạn đưa ra chính sách “đổi mới” như vậy mà cuộc Chiến Tranh Lạnh  giữa phe tư bản và phe cộng sản  khởi phát vào năm 1947 mới có thể chấm dứt vào cuối thập niên 1980).

Tôi thiết tha đề nghi với ngài rằng, Ngài nên theo gương ông Mikhail Gobachev mà đưa ra chính sách đổi mới để chấm dứt tai ương cho nhân loại. Cả tỷ tín đồ trên thế giới, đấm ngực mỗi ngày "lỗi tại tôi", "lỗi tại tôi", "lỗi tại tôi",... lẽ nào không có được một vị Giáo Hoàng thực sự cảm thấy xấu hổ vì tội lỗi của Giáo Hội mình từ xưa đến nay, và thật tâm xoá bỏ các đầu mối tội lỗi đó!

Ước chi:

Là người lãnh đạo Giáo Hội La Mã, Ngài đứng ra (1) lãnh trách nhiệm về những rặng núi tội ác chống lại nhân loại mà giáo hội đã liên tục gây ra không biết bao nhiêu thảm họa đau thương cho nhân loại trong gần hai ngàn năm qua, và (2)  giải thể Giáo Hội La Mã.

Được vậy, những người ít học và ngu  dốt không còn bị phình gạt, lừa bịp, bắt nạt và bóc lột bởi giới tu sĩ áo đen.

Được vậy, các trẻ em vị thành niên và nữ tín đô của giáo hội không còn bị “các ngài đại diện Chúa” dụ dỗ hãm hiếp.

Được vậy, chính Ngài không còn phải cùi nhầy và lì lợm  đối với những lời tố cáo của các nạn nhân của giáo hội để rồi  lại “chứng nào vẫn tật ấy” như ngài đã từng làm (1)

 Thưa ngài,

NẾU Ngài làm được như vậy, thì quả là đại phúc cho nhân loại, vì

1.- Hàng chục hay hàng trăm ngàn  trẻ em  vị thành niên và nữ tín đồ đã và đang là nạn nhân của bọn dâm tặc áo đen sẽ được tự do tố cáo kẻ gây thiệt hại cho họ.

2.- Sẽ không còn  cái nạn bị các nhóm tu sĩ và tín đồ bản địa tu tập bất hợp pháp để gây bạo loạn đánh phá chính quyền địa phương với chiêu bài là “hiệp thông cầu nguyện” hay “hiệp ý cầu nguyện” rêu rao rằng  tranh đấu cho công bằng tôn giáo, cho công lý, cho hòa bình, cho tự do và dân chủ như ở Việt Nam hiện nay. Chắc chắn là các dân tộc này sẽ biết ơn Ngài không ít.

3.- Nhân dân thế giới sẽ không còn “vấn nạn Giáo Hội La Mã” và cũng không còn “vấn nạn chiến tranh tôn giáo” hay “thánh chiến”  do Vatican chủ mưu gây ra.

4.- Trong bảng danh sách những tên bạo chúa ác độc nhất trong lịch sử nhân loại sẽ không có thêm một tên bạo chúa Ca-tô nào nữa. Trong số 100 tên bạo chúa trên thế giới theo sử gia Niggel Cawthorne, thì có 15 tên ở vào thời thượng cổ, (lúc đó Giáo Hội La Mã chưa ra đời). Còn lại 85 tên từ thời Trung Cổ cho đến ngày nay thì có  ít nhất là 54 tín đồ  Ca-tô và Ki-tô, tức gần 64%. Trong số này có cả Tưởng Giới Thạch (Trung Hoa Ki-tô theo đạo vợ là bà Tống Mỹ Linh), Lý Thừa Vãn (Nam Hàn, Ki-tô được Mỹ đưa về làm tổng thống), Ferdinand Marcos (Phi Luật Tân,Ca-tô), Ngô Đình Diệm (Ca-tô) và hầu hết là Ca-tô ở Phi Châu và ở Châu Mỹ La-tinh (sản phẩm của GHLM).

5.- Những khi di chuyển ra khỏi Điện Lateran đi đến tham quan bất cứ nơi nào trong nội địa nước Ý hay đi thăm viếng một quốc gia nào khác, Ngài không cần phải huy động các binh đoàn hàng ngàn những cận vệ, cảnh sát chìm, cảnh sảt nổi để bảo vệ an ninh cho cá nhân Ngài. Đi đến đâu Ngài cũng sẽ ung dung tự tại, hồn nhiên, không cần phải có các bình đoàn võ trang hộ tống, tiền hô hậu hét làm phiền hà nhân dân ở những nơi Ngài đi tới, một mình Ngài sẽ tha hồ tự do xông xáo đi vào bất cứ nơi nào đông người và  sẽ được nhân dân ở đó  nồng nhiệt tiếp đón, tranh nhau chen lấn để được bắt tay Ngài giống như người ta đã từng háo hức đổ xố ra tranh nhau chen lấy để được bắt tay ông Mikhail Gobachev và Đức Đat Lai Lạt Ma mà mọi người đều được chứng kiến tại chỗ hay qua các màn ảnh truyền hình.

6.- Ngài cũng không cần phải chui vào cái chiếc Popemobile giống như cái xe chở thú vật để đề  phòng có người vì thù ghét giáo hội mà mưu sát Ngài. Chiếc xe Popemobile sẽ có thể  được đem đấu giá lấy tiền giúp cho những nạn nhân chiến tranh hiện nay như ở  nước Palestine, ở Iraq, ở Afghanistan, vân vân.

pope mobile

Thưa Ngài,

Không có cá nhân hay sức mạnh nào có thể ngăn cản được bánh xe tiến hóa của nhân loại. Lịch sử đã  cho thấy rằng (1) tất cả những tấm màn đen che phủ hay giấu kín những sự thật về các phát minh khoa học đều bị ngọn lửa của ánh sáng khoa học thiêu huỷ, và (2) tất cả những kẻ chống lại sẽ bị bánh xe tiến hóa của nhân loại nghiền nát. 

Thiết tưởng vở tuồng nào cũng phải đến hồi kết thúc và chế độ chính trị thất nhân tâm nào rồi cũng phải bị diệt vong. Vở tuồng “Tội Tổ Tông” và “Chúa Cứu Thế” đã đến hồi hạ màn và gánh tuồng Giáo Hội La Mã cũng đã đên hồi phải bị giải thể.

Người Việt Nam chúng tôi thường nói “đồng tiền đi trước đồng tiền khôn.” NẾU Ngài có can đảm theo gương ông Mikhail Gobachev đứng ra tuyên bố giải thể cái “đạo bịp” này thì cái  vinh dự như đã nói nở trên đương nhiên là được dành cho Ngài.

Tin tức xấu về giáo hội La Mã của Ngài cứ hàng ngày xuất hiện trên các mặt báo, không thể bưng bít mãi như trước đây được nữa.

Tình thế đã chín muồi như trái lê chín sắp lìa khỏi cành, thời gian rất là cấp bách. Nếu Ngài trù trừ do dự hay trì hoãn, chắc chắn sẽ rơi vào tính trạng “trâu chậm uống nước đục”, nghĩa là đã bỏ lỡ  cơ hội bằng vàng. Hoặc là sẽ có người khác hành động, hoặc là sẽ có phong trào nhân dân  thế giới nổi lên để hành động bằng những biện pháp mạnh mà khởi đầu là  đóng cửa tòa đại sứ Vatican như nước Ái Nhĩ Lan đã làm vào ngày Thứ Sáu 4/11/2011 vừa qua, hoặc là sẽ có rất nhiều quốc gia sẽ theo gương  nước Anh đã làm trước thời Cách Mạng Pháp 1789 mà hành động.

Cũng nên nhớ là khi chống lại Giáo Hội La Mã, Quốc Hội và nhân dân Anh  không những chỉ cắt đứt mọi quan hệ  ngoại giao với Vatican, không những chỉ quốc hữu hóa toàn bộ  của nổi, của chìm,  động sản và  bất động sản của giáo hội tại quốc gia này, mà còn ban hành Đạo Luật Ổn Định vào năm 1691. Đạo luật này cấm không cho người Anh là tín đồ của giáo hội lên cầm quyền. 2Rồi sau đó,  các nước Nhật Bản, Trung Hoa, Pháp, Ý, Đức, Tây ban Nha, Ba Lan,  Mễ Tấy Cơ, Nicaragua, Cuba, Nga,  và rất nhiều nước khác trong thế giới Hồi Giáo cũng tích cực theo gương nước Anh  cương quyết giải trừ vấn nạn Giáo Hội La Mã cho nhân dân nước họ.

Vấn đề này đã được người viết trình bày khá đày đủ trong các Chuwng 15, 16, 18, 19, 20,  và được tóm lược trong Chương 21, sách Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

(http://sachhiem.net/NMQ/TAMTHU/NMQtt_Main.php)

Thưa Ngài,

Trên đây là mấy lời đề nghị thô thiển nhưng rất chân thành đối với Ngài. .Ước mong rằng lá thứ này sẽ làm cho Ngài thức tỉnh thoát ra khỏi cơn mộng du làm bạo Chúa và  mau chóng quyết định hành động cho kịp thời kẻo bỏ lỡ mất cơ hội bằng vàng này.

Nay kính,

 

Nguyễn Mạnh Quang

Một người dân cúa một dân tộc nạn nhân lâu năm của Giáo Hội La Mã

 

CHÚ THÍCH

1)  Peter Tatchell Special to CNN . “Why I oppose the pope's visit.” Ngày16/9/2010. Source: http://www.cnn.com/2010/OPINION/09/16/opinion.tatchell.pope/index.html. :

Năm 2001, Giáo hoàng Bê-nê-đích đã viết một thư luân lưu gửi cho tất cả các Giám mục Công giáo để ra lệnh giữ “Bí mật cấp độ Giáo hoàng” về những tố cáo liên quan đến lạm dụng tình dục trẻ em. Ông đã ra lệnh cho các Giám mục phải gửi tất cả những hồ sơ đó về La-Mã, vậy thì ý kiến cho rằng ông không biết gì về chuyện linh mục loạn dâm qủa là một sự vô nghĩa lý. Lá thư nầy của ông không đề cập gì đến chuyện các Giám mục phải báo với cảnh sát về các kẻ lạm dụng tình dục nầy. Nhà thần học Công giáo đáng kính, ông Hans Kung đã nói là Giáo hoàng phải cùng chịu trách nhiệm về sự che dấu và Giáo hoàng Bê-nê-đích đã không có lời xin lỗi về sự thiếu sót của chính ông trong cuộc khủng hoảng  lạm dụng tình dục các trẻ em

Nguyên văn: “In 2001, Pope Benedict wrote a letter to all Catholic Bishops, which ordered "Papal secrecy" concerning allegations of child sex abuse. He instructed the Bishops to report all such cases to him in Rome, so the idea that he did not know about sex abuse by priests is nonsense. His letter did not tell Bishops to report the abusers to the police. The esteemed Catholic theologian, Hans Kung, said the pope bears co-responsibility for the cover-up and that Benedict has failed to apologize for his own personal shortcomings during the child sex abuse scandal.”

2)  Arnold Schrier & T. Walter Wallbank, Living World History (Glenview, Illinois: Scott, Foresman and Company, 1975), p..,p. 398. Nguyên văn: “A third measure, the Act of Settlement of 1691, provided that no Roman Catholic could be ruler of England, automatically excluding the descendants of James II by his second wife.” 

PHỤ BẢN

1.- Hosni (Muhammad) Mubarak (1928- )


Military leader and president of Egypt (1981- ). He was born on May 4, 1928, in Kafr-al Meselha, the son of an inspector of the Ministry of Justice. Mubarak was educated at Egypt's national Military Academy and Air Force Academy and at the Frunze General Staff Academy in Moscow.

Under Egyptian president Anwar al-Sadat, Mubarak served in a number of military posts, including deputy minister of war from 1972 to 1975; in 1975, he became vice president. After Sadat was assassinated, on October 6, 1981, Mubarak became president. He instituted a vigorous economic recovery program; remained committed to the peace treaty with Israel (signed in 1979); mended relations with other Arab states, which were damaged after Egypt's peace with Israel; and initiated a policy he called “positive neutrality” toward the great powers.

He was reelected when his National Democratic Party won the October 1987 elections and was thus able to nominate him as the sole candidate for president. With serious economic problems and rising Islamic fundamental opposition at home, Mubarak continued to seek an end to the stalemate that had developed between Israel and Arab nations; in 1988 he visited the United States for talks on that subject.

Mubarak, supported the 1990 United Nations (UN) sanctions against Iraq when that country invaded Kuwait, orchestrated Arab League opposition to the invasion, committed about 38,500 troops to the anti-Iraq coalition in the Persian Gulf War (1991), and supported postwar efforts to achieve peace in the Middle East.

Reelected in 1993, Mubarak cracked down on Muslim fundamentalist opposition groups after an upsurge in guerrilla violence by Islamic extremists. Mubarak survived an assassination attempt unharmed in June 1995 in the Ethiopian capital of Addis Ababa. Five of the assailants were killed during or after the ambush and three escaped to Sudan, which is widely believed to have sponsored the attack. In November 1995, just before parliamentary elections, Mubarak's government accused the Muslim Brotherhood of helping violent Islamic groups. Many of the Muslim Brotherhood's members were arrested, and several who planned to run in the elections or monitor them were tried and sentenced to prison. Critics accused the government of trying to eliminate even peaceful opponents. In the elections that followed, Mubarak's National Democratic Party won an overwhelming victory. Mubarak was elected to a fourth six-year term in 1999.


Mubārak); (born 4 May 1928) is the fourth and current President of the Arab Republic of Egypt. He was appointed Vice President in 1975, and assumed the Presidency on 14 October 1981, following the assassination of President Anwar El-Sadat. He is the longest-serving Egyptian ruler since Muhammad Ali Pasha. Before he entered politics Mubarak was a career officer in the Egyptian Air Force, serving as its commander from 1972 to 1975. As of 30 January 2011, Mubarak is struggling to contain a popular uprising against his rule.

Mubarak was born on 4 May 1928, in Kafr-El-Meselha, Monufia Governorate, Egypt. Upon completion of high school, he joined the Egyptian Military Academy, where he received a Bachelor's Degree in Military Sciences in 1949. On 2 February 1949, Mubarak left the Military Academy and joined the Air Force Academy, gaining his commission as a pilot officer on 13 March 1950[2] and eventually receiving a Bachelor's Degree in Aviation Sciences. Hosni Mubarak is married to Suzanne Mubarak, and has two sons: Alaa and Gamal.

As an Egyptian Air Force officer, Mubarak served in various formations and units, including two years when he served on one of the Spitfire fighter squadrons. Some time in the 1950s, he returned to the Air Force Academy, this time as an instructor, remaining there until early 1959. From February 1959 to June 1961, Mubarak undertook further training in the Soviet Union, attending a Soviet pilot training school in Moscow and another at Kant, near Bishkek in Kyrgyzstan (then a Soviet republic), an airfield that is today home to the Russian 5th Air Army's 999th Air Base.

Mubarak undertook training on the Ilyushin Il-28 and Tupolev Tu-16 jet bomber, and then joined the Frunze Military Academy in 1964. On his return to Egypt, Mubarak served in wing and then base commander appointments, taking up command of the Cairo West Air Base in October 1966 before briefly commanding the Beni Suef Air Base.[2]

In November 1967 Mubarak became the Air Force Academy's commander and two years later he became Chief of Staff for the Egyptian Air Force. His military career reached its pinnacle in 1972 when he became Commander of the Air Force and Egyptian Deputy Minister of Defence and the following year he was promoted to air chief marshal in recognition of service during the October War of 1973.[2]

Vice President of Egypt

In April 1975, Mubarak was appointed by Sadat as Vice President of the Egyptian republic. In this position, he loyally served Sadat's policies. He took part in government consultations that dealt with the future disengagement of forces agreement with Israel.[3]

As part of his support for Sadat's policies, he went in early September 1975 on a mission to Riyadh and Damascus, in order to convince the Saudi and Syrian governments to accept the disengagement agreement signed with the Israeli government ("Sinai II"), but was refused a meeting by the Syrian president.[4][5]

In addition, Mubarak was sent by Sadat to numerous meetings with foreign leaders.[6] Mubarak's political significance as Vice-President can be seen from the fact that at a conversation held on June 23, 1975 between Foreign Minister Fahmy and US Ambassador Hermann Eilts, Fahmy said to Eilts that "Mobarek [sic] is, for the time being at least, likely to be a regular participant in all sensitive meetings" and he advised the Ambassador not to antagonize Mubarak, as he was Sadat's personal choice.[7]

President of Egypt

Following the assassination of President Sadat in 1981 by army officers opposed to his signing of the Egypt–Israel Peace Treaty, Hosni Mubarak became the President of the Arabic Republic of Egypt, and the Chairman of the National Democratic Party (NDP). He is also the longest serving President of Egypt, his term now counting 29 years.

 

Trang Thời Sự