Cuộc Rút Quân Hoa Kỳ Ra Khỏi Iraq

Phỏng Vấn GS Nguyễn Mạnh Quang

(SH)

Nguyễn Mạnh Quang

https://sachhiem.net/NMQ/NMQ031.php

03 tháng 9, 2010

Nhân việc TT Obama rút quân ra khỏi Iraq ngày 31/08/2010, chúng tôi muốn trao đổi vài câu chuyện với ông Nguyễn Mạnh Quang, một giáo sư đã học và nghiên cứu sử thế giới trong nhiều năm trong đời ông.

Vốn đã từng chống chiến tranh Iraq từ năm 2002 lúc còn là Thượng nghị sĩ tiểu bang Illinois, kế đó, năm 2004, Thượng nghị sĩ liên bang, và cả lúc vận động tranh cử Tổng Thống, Obama luôn chống đối cuộc chiến phi chính nghĩa ở Iraq. Theo hãng thông tấn AP, vào lúc cao điểm tháng 10/2007, Mỹ triển khai 170.000 quân tại Iraq. Tính đến cuối tháng trước, đã có ít nhất 4.413 lính Mỹ thiệt mạng tại Iraq và 31.897 người bị thương, và đã chi gần 737 tỷ USD cho cuộc chiến này. Nay trong giai đoạn khó khăn, ngân quỹ eo hẹp, Tổng Thống Hoa Kỳ Obama đã quyết định cho lịch sử sang trang, kết thúc "sứ mạng chiến đấu" vào cuối tháng 8, hoạch định chương trình giảm số quân Mỹ tại quốc gia vùng Vịnh xuống 50.000 vào cuối năm 2011.

 

Hỏi: Liên kết với kinh nghiệm chiến tranh Việt Nam, GS nghĩ thế nào về câu tuyên bố của TT. Obama “Cuộc chiến này chúng ta không thắng mà cũng không bại”?

Đáp: Theo tôi nghĩ, có hai cuộc chiến Iraq và cả hai cuộc chiến này đều do Hoa Kỳ chủ động tấn công Iraq.

Cuộc chiến Iraq lần thứ nhất còn được gọi là Cuộc Chiên Vùng Vịnh (The Gulf War). Cuộc chiến này ngắn ngủi kéo dài có hơn 6 tháng (2/8/1990 – 28/2/1991), xẩy ra trong thời Tổng Thống George Herbert Walker Bush (1893-1993) (Tổng thống Bush bố). Lý do vì trước đó Iraq đem quân tấn chiếm tiểu quốc Kuwait vào ngày 2 tháng 8 năm 1990.

Cuộc xâm lăng này của Iraq làm cho nhân dân thế giới vô cùng căm phẫn, lên án gay gắt. Ngày 3/8/1990 Liên Đoàn Á Rập đem vấn đề này ra Liên Hiệp Quốc và thỉnh cầu tìm biện pháp chặn đứng hành động hiếu chiến xâm lăng của Iraq. Tiếp sau đó, được sự đồng thuận của Liên Hiệp Quốc, cuộc chiến giải phóng Kuwait được tiến hành với quân đội của 34 quốc gia tham dự dưới quyền chỉ huy của Hoa Kỳ với những cuộc hành quân bằng cả hải lục không quân và bằng những vũ khí tối tân nhất. Iraq chịu không nổi và đề nghị xin rút quân. Cuộc chiến chấm dứt vào ngày 28/2/1991. Tổn thất về sinh mạng của phía đồng minh được coi như là rất nhẹ, riêng Hoa Kỳ chỉ có 293 tử thương và có 458 quân nhân bị thương. Nhưng số tiền tốn phí cho cuộc chiến tính ra lên đến 61.1 tỉ Mỹ kim trong đó Kuwait và Saudi Arabia đóng góp 36 tỉ, Đức và Nhật Bản đóng góp 16 tỉ (theo en.wikipedia.org/wiki/Gulf_War)

Cuộc Chiến Iraq lần thứ hai còn được gọi là Cuộc Chiến Vùng Vịnh Thứ Hai (The Second Gulf War). Cuộc chiến này là do chính quyền Tổng Thống George Walker Bush (2001-2008) [Bush con] đơn phương phát động tấn công nước Iraq vào ngày 20/3/2003 được quân đội của một số nước đồng minh của Hoa Kỳ cùng tham dự, nhưng không được Hội Đòng Liên Hiệp Quốc tán thành. Vì thế mà cuộc chiến này trở nên thất nhân tâm hay không có chính nghĩa.

Khi phát động cuộc chiến này, Tổng Thống George W. Bush (Bush con) cho rằng Iraq có kho dự trữ vú khí tàn sát người hàng loạt (WMD) gây nên mối đe dọa cho nền an ninh trong vùng và cho các nước đồng minh của Mỹ. Thế nhưng, Ủy Ban Theo Dõi và Thanh Tra của Liên Hiệp Quốc (The United Nations Monitoring Verification and Inspection Commission –UNMOVIC) không tìm được bằng chứng nào cho thấy rằng Iraq có loại vũ khí này, và cả Quốc Hội Hoa Kỳ cũng không tìm ra được bằng chứng về vấn đề này nữa.

Sau đó, chính quyền của Tổng Thống Bush lại nêu lên lý do cho cuộc chiến là vì Iraq có chứa chấp quân khủng bổ Al-Qaeda của Usama Bin Laden và đóng góp tiền bạc tài trợ cho các gia đình người Palestian có thân nhân hy sinh làm “bom người” tấn công các mục tiêu mà họ nhắm tới, nhưng hình như lập luận này không có sức thuyết phục. Vì thế mà cuộc chiến này vốn đã thất nhân tâm (vì không được Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tán thành) lại càng trở nên thất nhân tâm nhiều hơn. Đó là những lý do mà hầu như đại đa số nhân dân Hoa Kỳ rất chán ghét cuộc chiến phi chính nghĩa này.

Cho đến nay, chưa kể các quân đội đồng minh, riêng Hoa Kỳ, con số quân nhân tử thuơng lên tới hơn 4 ngàn và hơn 30 ngàn quân nhân bị thương tật.

Khi ra tranh cử cũng như sau khi đắc cử, Tổng Thống Obama đã long trọng hứa với quốc dân Hoa kỳ rằng sẽ tìm cách rút quân ra khỏi Iraq để dồn nỗ lực vào Chiến Tranh Afghanistan (cũng do Tổng Thống Bush phát động) và để ổn định nền kinh tế đang ở trong tình trạng thê thảm phát sinh và kéo dài trong thời hai nhiệm kỳ của Tổng Thống Bush. Tổng Thống Obama đã giữ lới hứa, và sau khi nhậm chức, ông đã đặt ra thời biểu rút quân ra khỏi Iraq. Rồi mới đây, ngày 31/8/2010, ông long trọng tuyên bố cuộc chiến Iraq chấm dứt kể từ ngày này.

Cuộc chiến này, chúng ta không thắng", Tổng Thống Obama đã thẳng thắn nói rõ Hoa Kỳ không thắng cuộc chiến này, điều này rất hiển nhiên. Mệnh đề này phải được hiểu là Hoa kỳ không thành công theo như ý muốn hay không đạt được mục tiêu mà Hoa kỳ đề ra khi phát động cuộc chiến này.

Nền "dân chủ" mà Hoa kỳ thiết lập ở Iraq không phải là một cái gì đáng hãnh diện, vì đó chỉ là dân chủ một chiều, dân chủ kiểu nền Cộng Hòa miền Nam, một thứ vỏ bọc mong manh, mà bên trong chứa đầy sự hiềm khích tôn giáo, và độc tài quyền chính. Thứ dân chủ này để che đậy sự củng cố quyền lực cho một thiểu số làm tay sai cho Mỹ, chỉ làm cho dân tộc bản địa chia rẽ và hận thù lẫn nhau.

Sự "an toàn cho nước Mỹ" cũng không có gì thay đổi nhờ vào chiến tranh Iraq.

Do đó Obama cho rằng "chúng ta không thắng."

Còn mệnh đề thứ hai “chúng ta không bại”, cũng là điều dễ hiểu. Khác với tình trạng rút quân khỏi Việt Nam. Trong cuộc chiến này ở Iraq, phe đối phương chưa thắng được chính quyền của Mỹ dựng nên, chưa có một hòa đàm nào giữa hai phe để cam kết rút quân như giữa Mỹ và chính quyền Bắc Việt tại Hòa đàm Ba-lê. Việc rút quân này là tự động về phía Mỹ mà thôi. Đó là lý lẽ cho câu nói "không bại." Nhưng nếu xét về thiệt hại mà Hoa kỳ đã mất vào cuộc chiến, mà không thể đạt đuợc kết quả mong muốn thì câu nói này rất gượng ép, chỉ là một lối nói nặng tính cách chính trị mà thôi.  

Hỏi: Giáo sư có thể dự đoán được tình hình chính trị ở Iraq sẽ diễn biến như thế nào ngay sau toán quân cuối cùng của Mỹ rời khỏi lãnh thổ Iraq ?

Đáp: Theo tôi nghĩ, sau khi quân đội Hoa Kỳ rút lui khỏi Iraq, chính quyền Iraq hiện thời là chính quyền do Hoa Kỳ dựng lên, giống như Hoa Kỳ đã làm ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975. Tuy nhiên, hoàn cảnh chính trị ở Iraq hiện nay có một phần giống và cũng có phần khác với cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam trong những năm này..

Điểm giống nhau là ở chỗ có đặc tính cuồng tín và quá khích về tôn giáo. Tại miền Nam Việt Nam nhóm người được Hoa Kỳ tin cậy đưa lên cầm quyền đều là những người vốn đã có liên hệ thân tình khắng khít với chính quyền của Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican trong thời trước năm 1945 hay trong thời 1945-1954 mà đại số là tín đồ Ca-tô.  Chính quyền này luôn luôn có người của Vatican ở hậu trường chỉ đạo. Bằng cớ cho sự kiện này là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng lo nhận lệnh của Giám-mục Phạm Ngọc Chi trong lúc dầu sôi lửa bỏng vào cuối tháng 3 năm 1975.  Dù không phải là tín đồ Ca-tô, với tư cách Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I, tướng Trưởng phải báo cáo lên cho Giám-mục Phạm Ngọc Chi biết là ông đã cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng theo đúng như lời giám mục căn dặn (do Trung Tướng Lâm Quang Thi chuyển tới). Lúc đó thì giờ hết sức quý báu và vô cùng eo hẹp, thế mà tướng Trưởng cũng phải dành ra tới cả một giờ đồng hồ thân hành đến Toà Tổng Giám Mục để báo cáo quân tình.

Tướng Trưởng quyết định ở lại một mình trong trại Thủy Quân Lục Chiến ở Non Nước. Ông đưa phương tiện di chuyển duy nhất còn lại của ông cho tướng Khánh. Sau đó tướng Trưởng lấy một jeep có tài xế, quân cảnh và đi ra khỏi doanh trại và đến tòa Tổng Giám Mục Địa Phận Đà Nẵng để thăm Đức Cha Phạm Ngọc Chi và trở về khoảng một tiếng sau.

Tướng Trưởng cho Đức Cha Chi biết là ông đã cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng. Trước khi bỏ Huế tướng Thi cũng đi từ giã Đức Cha Điền, địa phận Huế.” Hồ Văn Kỳ Thoại, Can Trường Trong Chiến Bại (Fall Church, VA: TXB, 2007), tr 250.

Điểm giống nhau này rõ rệt nhất là giữa những tín đồ Ca-tô người Việt và tín đồ Hồi Giáo người Iraq dù là thuộc hệ phái Sunni hay Shiite cũng đều là tín đồ Thiên Chúa Giáo cho nên họ có những đặc tính chung là cuồng tín, tự cao, tự đại. Họ tự phong là “dân Chúa”, mục hạ vô nhân, lố bịch, trịch thương. Người có quyền thì háo thắng, háo sát, chuyên đoán, độc tài, và lúc nào cũng muốn sử dụng bạo lực để tàn sát những người không phải là cùng tôn giáo và không tuân phục họ.

Trong những năm 1941-1945, họ đã tàn sát tơi gần 800 ngàn dân thuộc các hệ phái Chính Thống Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo trên tổng số dân chưa tới 3 triệu người. Tại miền Nam Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963, họ tàn sát tới hơn 300 ngàn dân trên tổng số dân vào khỏang 15 triệu người. Tại Rwanda, trong vòng 100 ngày trong mấy tháng mùa hè năm 1994, họ tàn sát tới gần 800 ngàn người trên tổng số dân hơn tám triệu người.

Chỉ riêng về vấn đề này thôi cũng đủ làm cho hoàn cảnh chính trị của Iraq trở nên bất ổn. Hoàn cảnh của miền Nam Việt Nam trong thời 1954-1963 cũng gần giống như vậy dù là có sự canh chừng của người Mỹ.

Từ đầu năm 1964 cho đến ngày 30/4/1975, người Mỹ cảnh chừng kỹ hơn. Nhờ vậy mà tính cách kỳ thị và bách hại các tôn giáo khác ở miền Nam Việt Nam giảm bớt đi rất nhiều, và chính quyền Ca-tô ở miền Nam bớt lộ liễu và bớt hung hăng hơn. Dù vậy, tính cách Việt gian phản quốc của nó vẫn còn nguyên vẹn như trước vì vai trò Vatican (tôn giáo) vẫn còn ở hậu trường sân khấu chính trị để điều khiển những nhân vật nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền cũng như trong quân đội.

Điểm khác nhau là tại miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975, những thành phần nằm trong giai cấp thống trị đều có liên hệ thân tình với thế lực xâm lược Pháp và Vatican. Đại đa số họ là tín đồ Ca-tô thuộc lọai “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa”, “Giữ đạo, chứ không giữ nước”, chỉ biết nhắm mắt nghe lời và tuân phục Vatican. Vì thế mà họ bi đại khối nhân dân coi như là những quân Việt gian phản quốc.

Các chính quyền miền Nam Việt Nam trong những năm này không thể nào tạo được chính nghĩa để lôi cuốn nhân dân đi theo họ và cũng không được cảm tình của nhân dân thế giới. Đây là một vấn đề khiến cho các chính quyền này không thể có khả năng tự túc, tự cường để tự tồn. Nó hoàn toàn được nuôi dưỡng (lĩnh lương của Mỹ) bằng đồng tiền viện trợ và được che chở bằng cái dù sức mạnh quân sự của quân đội Mỹ để phục vụ cho quyền lợi của Mỹ và của Vatican. Cũng vì thế mà khi Mỹ cúp viện trợ thì các nhân viên cao cấp trong chính quyền cũng như các tướng tá và úy trong quân đội miền Nam đều mất tinh thần và tính kế “tẩu vi thượng sách”. Khi Mỹ chính thức rút ra khỏi miền Nam thì toàn bộ chính quyền và quân đội đều rơi vào tình trạng rã ngũ tan hàng, mạnh ai người đó bỏ chạy, chức vụ lớn bỏ chạy trước, chức vụ nhỏ bỏ chạy sau.

Trái lại, giai cấp thống trị ở Iraq hiện nay vốn không phải là những thành phần phản quốc hay Iraq gian trước kia. Phần lớn họ là những người dân Iraq đã từng chìm nổi với đất nước,  ngọai trừ có một vài người đã sống lưu vong ở Mỹ được Mỹ đưa về nắm giữ những chức vụ cao cấp. Dù vậy, chính quyền Iraq hiện nay cũng vẫn là chính quyền do Mỹ dựng nên. Vì thế mà nó không được lòng dân dù là chính quyền này thuộc hệ phái Shiite hay hệ phái Sunni. Vì lẽ này mà sau khi Mỹ rút quân ra khỏi Iraq, chính quyền này sớm muộn cũng sẽ được thay thế bằng một chính quyền khác.

Thế nhưng, ngoài đặc tính chống đối kịch liệt giữa hai hệ phái Sunni và Shiiite, còn có thêm vấn đề nhóm thiểu số người Kurd ở vùng giáp ranh Thổ Nhĩ Kỳ sẽ làm cho tình hình Iraq trở nên bất ổn trong một thời gian không phải là ngắn.

Hỏi: Thưa giáo sư, bản chất của cuộc nội chiến sau này nếu có ở Iraq giống hay khác với cuộc chiến thống nhất Bắc Nam ở Việt Nam kể từ sau khi Mỹ rút quân ở miền Nam từ năm 1973 như thế nào?

Đáp: Theo tôi nghĩ, sau khi Mỹ rút ra khỏi Iraq, nếu cuộc chiến ở Iraq còn tiếp tục thì chính yếu là giữa hệ phái Sunni và hệ phái Shiite, nghĩa là mang bản sắc tôn giáo. Cũng giống như Cuộc Chiến 30 năm ở Âu Châu (1618-1648) giữa một bên là hệ phái Ca-tô dưới quyền chỉ đạo của Vatican và một bên là các hệ phái Tin Lành mới ly khai khỏi Giáo Hội La Mã, dù rằng cả hai hệ phái này cùng coi Jesus như là Chúa Cứu Thế và cùng thờ ông ta. Nó cũng giống như cuộc chiến giữa những người Ca-tô giáo và Tin Lành ở Ái Nhĩ Lan kéo dài từ cuối thé kỷ 16 cho đến nay vẫn còn âm ỷ.

Trái lại, cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 là một cuộc chiến chống Liên Minh Xâm Lược Mỹ - Vatican để đòi lại miền Nam cho tổ quốc hầu đem giang sơn về một mối. Thực chất của cuộc chiến này là như vậy cho dù bộ máy tuyên truyền của Vatican và của miền Nam Việt Nam thường dùng nhiều danh xựng khác nhau để lạc dẫn dư luận và đánh lừa hậu thế. Những danh xưng đó là “Chiến Tranh Quốc- Công”, “Nội Chiến”, “Chiến Tranh Ủy Nhiệm”. Cũng người ta cho rằng đó là "Chiến Tranh Công - Cộng” (Công Giáo - Cộng Sản) hay “Chiến Tranh Việt gian – Việt Cộng”. Bất kể là nó được gọi bằng danh xưng nào đi nữa, bản chất của cuộc chiến này vẫn được Việt Nam và nhân dân thế giới công nhận là một cuộc chiến chống Liên Quân Xâm Lược Mỹ - Vatican để thống nhất đất nước. Người viết tin rằng lịch sử sẽ phải ghi như vậy.

Tại Miền Nam Việt Nam, sau khi Mỹ bắt đầu rút quân về nước theo tinh thần Hiệp Ước Paris 1973, chính quyền miền Bắc liền tính việc đặt kế hoach tấn chiếm miền Nam để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử thống nhất đất nước, dự trù là sẽ hòan thành nhiệm vụ thống nhất vào cuối năm 1976. Trong khi đó thì tất cả những thành phần nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong chính quyền cũng như trong quân đội miền Nam bị mất tinh thần và chuẩn bị đào tẩu. Vì thế cho nên mới có chuyện Miền Bắc không ngờ là chiến thắng đến quá nhanh ngòai sức tưởng tượng của họ. Lý do là sau trận đánh chiếm Ban Mê Thuột trong những ngày đầu trong trung tuần tháng 3/1975, quân đội miền Nam hoảng sợ, rơi vào tình trạng hỗn lọan để rồi “Tướng đầu cuốn gói, ba quân ngỡ ngàng” và tiếp theo là rã ngũ tan hàng.

Đã là cuộc chiến giải phóng thì chỉ có môt bên miền Bắc là có chính nghĩa thôi. Dĩ nhiên là phe có chính nghĩa thì ắt được đại khối nhân dân nhiệt liệt ủng hộ. Vì thế mà nó có chiều hướng kết thúc mau chóng hơn.

Trái lại, cuộc nội chiến ở Iraq sẽ không chấm dứt mau như vậy vì bản chất của cuộc chiến này là cuộc nội chiến vì tôn giáo, bên nào cũng có "chính nghĩa về tôn giáo" của họ cả. Đặc tính này hoàn toàn khác với cuộc chiến giải phóng ở miền Nam Việt Nam. Bất kỳ cuộc nội chiến tôn giáo nào cũng dai dẳng và kéo dài trong nhiều năm. Cuộc chiên ở Iraq sau khi Mỹ rút quân về, nếu có, cũng ở trong tình trạng này.

Hỏi: Bằng vào những yếu tố nào, giáo sư có thể cho rằng nội tình bất ổn ở Iraq sẽ kéo dài hay sẽ sớm kết liễu trong một trật tự mới?

Đáp: Như đã nói trên, cuộc nội chiến ở Iraq có bản chất là chiến tranh tôn giáo, cộng thêm vấn đề nhóm thiểu số người Kurd ở vùng giáp ranh Thổ Nhĩ Kỳ, chắc chắn là nội tình Iraq sẽ bất ổn kéo dài trong nhiều năm. Còn kéo dài bao nhiêu năm thì tùy theo những yếu tố khác, như là sự can dự của những nước khác. Và điều đó khó có thể tiên đoán chính xác được. Chỉ có yếu tố cuồng tín về tôn giáo không thôi, đã là một thứ nhiên liệu vô tận sẽ tiếp tục nung nấu mãi mãi cho các cuộc xung đột cho dù được bật mồi bằng loại que diêm nào. Nói cách khác, cho dù người ta có dán nhãn hiệu nào cho mỗi cuộc chiến tranh ở đó, bản chất tôn giáo luôn luôn là chất xúc tác mạnh mẽ nhất.

- HẾT -

Tài liệu liên hệ:

- Tổng thống Mỹ cam kết rút quân khỏi Iraq đúng hạn (HaNoiMoi)

- U.S. military in final phase of Iraq mission - Gates (Reuters)

- Mỹ rút quân khỏi Iraq: “Nhất cử lưỡng tiện” (VOV News)

- Remarks by the President in Address to the Nation on the End of Combat Operations in Iraq (https://www.whitehouse.gov)

- U.S. says Iraq war ended - Mỹ tuyên bố chấm dứt chiến tranh Iraq (VNExpress)

- Obama: Time to turn the page in Iraq (Reuters)

- Obama's Iraq War Speech: Why? (Politics Daily)