Cuộc đối thoại lý thú

Đại Tá Trần Văn Thà


28 tháng 2, 2009

 

Từ "Thần Sấm" xuống xe trâu (Đại uý Gadem Willart Selleck lái máy bay Mỹ F.105 bị bắn hạ tại thôn Sen Hồ, Lục Ngạn, Bắc Giang ngày 7-8-1966). Ảnh: Văn Bảo

Ngày 4-4-2007, được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao ta, tôi gặp phái đoàn MIA (Văn phòng tìm kiếm người mất tích của Mỹ) tại cơ quan đại diện Bộ Ngoại giao ở phía Nam. Phía Mỹ có 4 người, phía ta cả tôi nữa là 4. Họ đón tôi tại cửa xe ô tô, chào hỏi trân trọng bằng tiếng Việt. Khi ngồi vào ghế, trưởng đoàn phái đoàn MIA giới thiệu thành phần phía họ trong cuộc gặp và hỏi tôi họ tên, năm sinh, nhập ngũ, đánh Tây ở đâu, đánh Mỹ ở đâu, cấp chỉ huy lúc bấy giờ. Hỏi đến đâu họ dò trên máy tính đến đấy, tôi phân vân tại sao họ nắm tôi kỹ như vậy?

Trưởng đoàn Mỹ nói đại ý số liệu của ông thật chính xác. Hôm nay gặp ông chúng tôi hỏi một số vấn đề liên quan đến lính Mỹ mong ông giúp cho. Tôi nói, cuộc gặp này các anh hỏi tôi biết thì trả lời và tôi cũng hỏi các anh, các anh phải trả lời tôi!

Cả đoàn đổ xô nhìn tôi và họ gật đầu đồng ý.

Họ hỏi: “Từ 1965-1967, ông làm đảo trưởng Cồn Cỏ có máy bay nào của Mỹ rơi trên đảo không?”. Tôi trả lời: “Chúng tôi bắn rơi 48 máy bay Mỹ nhưng không có chiếc nào rơi trên đảo vì đảo nhỏ, có 10 máy bay Mỹ rơi cách đảo 1-1,5km, phi công nhảy dù ra”. Họ lại hỏi: “Vậy ông có cho bộ đội bơi ra để bắt tù binh Mỹ không?”. Tôi nói: “Trên biển, tàu chiến của Hạm đội 7 vây quanh đảo như đàn sói, trên trời máy bay Mỹ như đàn ong, bắt một tù binh Mỹ mà chúng tôi hy sinh thì quá đắt. Chúng tôi sẵn sàng chờ thủy phi cơ hoặc trực thăng Mỹ đến cứu, chúng tôi diệt luôn cả hai như trận ngày 22-12-1966”.

Họ hỏi: “Các ông tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ bằng tàu nào?”. Tôi quắc mắt nhìn họ: “Các anh hỏi để làm gì?”. Trưởng đoàn MIA nói: “Không, không chúng tôi không có ý gì xấu đâu!”. Tôi nói mà trong lòng trào dâng nỗi căm hờn và xúc động: “Hạm đội tiếp tế cho đảo là máu của nhân dân Vĩnh Linh”.

Thấy tôi căng thẳng, họ mời tôi uống nước và hỏi tôi ở chiến trường Quảng Trị. Tôi trả lời những câu hỏi của họ trên chiến trường Quảng Trị, và thấy họ rất hài lòng.

Tôi nói: “Các anh không hỏi nữa thì bây giờ tôi hỏi các anh đây”- “Vâng, bác cứ hỏi”, phía Mỹ nói.

1. Tôi chỉ cho họ tên phi công trên chiếc trực thăng bị đồng chí Cao Lương Bằng của đơn vị tôi bắn rơi tại cánh đồng Mai Xá, Lâm Xuân Tây tháng 2-1968. Viên phi công ấy được chôn cùng với thẻ bài, ở rìa tre bắc làng Mai Xá. Các anh biết chưa? Vậy là họ lục tài liệu lưu trữ, hồi lâu, rồi họ nói cảm ơn ông để chúng tôi cứu xét lại.

2. Trong trận ngày 6-5-1968, lính của Đại đội A và Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn 196 của Mỹ chết tại cánh đồng Nhĩ Trung-Nhĩ Hạ hơn 150 người. Chúng tôi kiểm soát chiến trường vẫn để nguyên các thẻ bài trong cổ lính Mỹ để người chỉ huy đơn vị Mỹ biết ai đã chết và gia đình họ bên nước Mỹ nhận được thi thể con em họ nhanh hơn! Vậy trận ấy các anh còn sót ai không? Họ lại lục tìm lưu trữ, và nói sẽ kiểm tra lại.

3. Trong một số trận đánh với quân Mỹ từ ngày 20-1-1968 đến 6-5-1968, chúng tôi có một số anh em hy sinh, chúng tôi đã mai táng chu đáo như ở xóm Kênh, Lâm Xuân Đông, Nhĩ Trung... khi chúng tôi rút đi, quân Mỹ đến đào mồ của anh em chúng tôi lên chụp hình rồi lôi chôn vào các hố bom, buộc chúng tôi phải báo về gia đình họ là mất thi hài, hiện nay chúng tôi còn 12 đồng chí nữa, không biết các anh chôn ở hố bom nào? Tại sao quân đội Mỹ hành động như thời Chiến quốc ở Trung Quốc vậy? Thật không chấp nhận được, chủ trương này là của ai?

- Chúng tôi ghi nhận ý kiến của ông và hỏi lại việc này-phía Mỹ hứa.

4. Cho tôi hỏi một câu cuối cùng: Ngày 19-8-1971, sau khi giành thắng lợi ở Mặt trận đường 9 - Nam Lào, trung đoàn tôi được lệnh đánh tiêu diệt chiến đoàn 39 ngụy tại Đá Bạc-Hồ Khê ở Quảng Trị. 16 giờ chúng tôi nổ súng đến 17 giờ 30 phút thì giải quyết xong trận đánh. 17 giờ 45 phút tôi nhận tin của cấp trên là Mỹ dùng B52 ném bom vào tọa độ X… Y… Đối chiếu bản đồ, tôi thấy tọa độ X… Y… đúng vào Đá Bạc-Hồ Khê. Tôi ra lệnh băng bó 12 lính Sài Gòn bị thương để lại trận địa, rút toàn bộ đơn vị ra khỏi Đá Bạc mang theo 55 tù binh. Chúng tôi ra khỏi Đá Bạc chưa đầy 1km thì 3 chiếc B52 thả bom chồng lên Đá Bạc, làm 18 xe thiết giáp bị chúng bắn hỏng, hơn 200 lính chết và 12 lính Sài Gòn bị thương không còn vết tích gì. Vì sao các ông lại nhẫn tâm vậy?

- Vâng chúng tôi ghi nhớ những điều ông hỏi-phía Mỹ nói.

- Vậy chào các ông, chúng tôi về!

Về đến nhà, đồng chí Đại tá Cục bảo vệ An ninh Quân đội nói với tôi: “Bác hỏi thật lý thú quá!”.

Đại tá TRẦN VĂN THÀ

 

CTH chuyển ngày 27Feb09

 

 

Trang Lịch Sử