 |
10 tháng 1, 2011 |
Phần 1
Nguồn khói lửa
Hai
đế-quốc cùng nhau tàn phá
Trong thời chiến-tranh Đông-dương 1946-54, Pháp dùng
không quân khủng-bố dân ở những vùng chúng chưa
chiếm đóng được ở châu thổ sông Hồng. Chợ đang họp
đông, người ồn-ào, máy bay đến gần họ mới nghe thấy
tiếng, vội chạy đi tránh né. Mấy cái hố ẩn chẳng
thấm vào đâu, thiếu chỗ, họ núp ở bờ ao, bờ đường.
Phi công thi nhau bỏ bom vào chợ, bắn dọc theo các
đường chung quanh. Máy bay hết thét xé bầu trời, dân
bóp ngóp bò dậy, nỗi sợ hãi vô hạn chiếm hết tâm
hồn, họ không để ý đến mình mặt mày lem luốc những
bùn, quần áo xốc xếch hoặc ướt sũng. Nét mặt hãi
hùng càng hoảng hốt thêm khi họ thấy những xác chết
tung tóe, đầu một nơi, mình một nẻo, chân tay bay
đâu mất. Bao nhiêu người khóc lóc đau khổ.
Dân
quê ai còn sống vẫn phải lo mà sống. Trẻ con nhặt ở
ngoài đồng vỏ đạn từ máy bay rơi xuống đem về chơi,
chiếc nào to thì dùng làm bình, ngắt hoa ở bờ rào
cắm vào. Nghe thấy người ta nói chiến lợi phẩm cũng
nói theo, trẻ con sung sướng với chiến lợi phẩm của
mình.
Rồi
quân Pháp tràn tới, có cả lính lê-dương và lính ta.
Một cậu bé mười lăm tuổi bị bắt giải đến ngôi chùa
làng Ân-thi, Hưng-yên. Cậu ngơ ngác run sợ trông
thấy một thanh niên bị treo tay chân trên cành cây
lủng lẳng tựa con khỉ. Anh ta đau đớn rền rĩ van xin
những quân lính oai quyền, lặp đi lặp lại: "Bẩm lạy
các quan lớn, con có làm gì đâu!" nhưng lính bận
canh gác, thổi nấu, chẳng ai thèm để ý đến lời anh.
Các tượng Phật nằm ngổn ngang dưới đất, pho bị chặt
mất đầu, pho bị cắt cổ dở dang.
Sáng
hôm sau, quân Pháp dời chùa, tiến thêm, cậu bé bị
bắt đi theo làm phu khuân vác. Dọc đường cậu trông
thấy nhiều xác người nằm dọc trên ruộng khô bên lối
đi. Một xác chui đầu trong chiếc cống nhỏ ngang con
đường đất, nạn nhân mất vía khi bị lính Tây đuổi đã
cố rúc vào ẩn nhưng cống nhỏ quá, hai vai không lọt.
Nhà cửa trong xóm vắng teo, sông không bóng thuyền
chạy tuy su hào thẳng tắp trên các luống, lấy vẻ
xanh khoe công nông dân tưới bón vài ba hôm trước.
Những cánh đồng xa tới hết tầm mắt chẳng một bóng
người. Trời đất trầm ngâm chứng kiến cảnh nhân loại
tương tàn.
Dân
thiếu thốn trăm đường, cái gì dùng được là dùng,
nhiều đồ thừa quân Pháp vất lại trong khi rút lui
cũng rất quí. Những người biết chữ Pháp có dịp đọc
báo Le Figaro để thưởng thức tin tức, bình luận, văn
chương, chữ nghĩa. Vỏ đồ hộp dùng làm cái đựng, vỏ
hộp cá tạm được, vỏ các thùng bánh bích-qui
(biscuit) quí hơn.
Năm
1954, khi quân Pháp bại trận chờ ngày rút lui khỏi
Bắc Việt, một di-tích lịch-sử thời nhà Lý ở chốn núi
Nùng sông Nhị bị phá hoại. Cửu-long Lê Trọng Văn đã
phanh phui ra những thủ-phạm là một nhóm người trong
bọn lính Ca-tô (Catholic hay Công-giáo La-mã, gọi
tắt là Công La, như thấy ở dưới đây, cũng gọi là
Cong-giáo với "cong"nghĩa là "cong queo") ở Phát
Diệm của giám mục Lê-Hữu-Từ và linh mục Hoàng Quỳnh.
Khi tạm trú tại trường Thiếu Sinh Quân Hà-Nội để chờ
phương tiện vô Nam họ đã đặt mìn giật sập chùa Một
Cột (Cửu-long, trang 45).
Trước đó mấy năm, thiên-chúa của đạo Giê-su ra oai ở
một đảo nhỏ trong lòng Tiền-giang. Từ Long-xuyên đi
xe hơi tới chợ Mỹ-luông quận Chợ Mới, bỏ xe lại, đi
đò sang bên kia sông là tới Cù-lao Giêng. Nhà thờ
Ca-tô Cù-lao Giêng ở gần bờ sông, xa hơn hút nữa là
nhà nữ tu cùng đạo, đi chưa tới một cây số là tới
chùa ông Đạo Nằm. Cù-lao Giêng bốn bề là nước, sông
Tiền-giang về mặt Cao-lãnh, sông Mỹ-luông, một nhánh
Tiền-giang, về mặt Long-xuyên.
Khoảng đầu thập-niên 1950, có một ông ở vùng Xếp Cả
Kích bên Cao-lãnh được dân chúng mệnh-danh là ông
Đạo Nằm, trắng-trẻo, tai dài như tai Phật, tính tình
hiền lành ai cũng quí mến. Người ta đồn là ông không
bơi vẫn nổi trên mặt nước, bồng bềnh trên giòng
Tiền-giang, nước ròng trôi lên, nước lớn trôi xuống.
Có kẻ nghi là ông trêu thiên hạ, nằm trên cái phao
gì đó cho nổi, bèn bơi ra sông, lặn xuống nước, tò
mò rờ xem ông có kê gì ở dưới lưng chăng nhưng chẳng
thấy gì cả. Dân Sài-gòn gom tiền góp của đem đến
Cù-lao Giêng xây một ngôi chùa, đón ông đến trông
coi nhang khói.
Đúng
ngày khánh thành, chùa đang đầy thiện nam tín nữ thì
một toán lính xông vào nổ súng. Ông Đạo Nằm và mấy
người nữa tử nạn, nhiều người bị thương. Bà Năm Mẫn,
năm 1997 trên bảy mươi tuổi, hiện sống tại Cù-lao
Giêng cũng bị thương. Bác sĩ Bàng ở bệnh viện
Long-xuyên chụp hình quang tuyến thấy bà Năm bị hai
viên đạn găm vào xương sống lưng, khuyên không nên
giải phẫu vì có thể đụng tới thần kinh, bà Năm nghe
theo.
Cháu
gái bà Năm ở California kể rằng thủ phạm là đám Cong
giáo, cháu bà nhắc lại "Cong giáo" chớ không phải
Công giáo. Giữa ban ngày ban mặt, đám đông nhận diện
được những kẻ nổ súng: chẳng phải ai xa lạ mà là một
số người trong bọn lính Việt hộ vệ các cha đạo tại
nhà thờ Ca-tô Cù-lao Giêng đấy thôi. Đang lúc loạn
ly, tố cáo chẳng đi đến đâu, chánh phủ dưới quyền
người Pháp lờ đi, chẳng thủ phạm nào bị bắt, bị điều
tra hay trừng phạt gì cả.
Cháu
bà Năm thuật chuyện này nói rằng đây là một niềm uất
hận quê hương đáng cho mọi người biết.
Đúng
lúc quân Pháp khủng bố dân Việt, phá phách chùa
chiền như vậy thì năm 1950, quốc-trưởng Bảo-đại, tay
sai của đế quốc Pháp, đã ký đạo dụ số 10 ban đặc
quyền cho các hội tuyên-truyền đạo Giê-su, lại xếp
các tôn-giáo khác trong nước đồng hạng với những
hiệp hội thể thao hay giải trí (Tuệ Giác, trang
130-131).
Trước đó hai năm, giám-mục Pháp Henri Chappoulie cho
xuất bản Tập Nhì bộ Aux Origi- nes d’Une Église -
Rome et Les Missions d’Indo- chine aux XVIIe Siècle
(Nói về Nguồn-gốc Một Giáo-hội – Rô-ma và Các Hội
Truyền-giáo Đông dương vào Thế-kỷ 17) vì các giáo-sĩ
đạo Giê-su theo gót quân viễn-chinh Pháp quay lại
Việt-nam tiếp tục mở mang nước thiên chúa Giê-hô-va
đang cần tài liệu để tiếp tục công việc của Rhodes
và những giáo-sĩ thuộc hội Paris Truyền-giáo
Quốc-ngoại. Tập Nhì ấy có toàn bộ tác-phẩm Phép
Giảng Tám Ngày của Rhodes bằng tiếng Pháp. Tập Nhất
đã được xuất bản năm 1943, khi thực dân Pháp đang
cai-trị Đông-dương.
Lính
Pháp đốt chùa, phá tượng khắp nơi trên nước
Việt-nam; lính đạo Ca-tô bắn giết người trong chùa
ông Đạo Nằm; khu nhà thờ Phát-diệm có lính cộng-tác
với Pháp; lính của cha đạo Hoàng Quỳnh dật mìn sập
chùa Một Cột; Bảo-đại ra dụ ban đặc quyền cho cuộc
tuyên-truyền đạo Ca-tô; giám-mục Pháp Chappoulie
xuất bản sách vừa thóa mạ các đạo cổ-truyền trên đất
Việt, vừa kể công các giáo sĩ ở Viễn-đông. Như sẽ
trình bày dưới đây, tất cả những sự việc ấy đã được
thực hiện theo ý muốn của cặp đôi đế-quốc
giáo-quyềnVatican với đế-quốc thế-quyền Pháp chớ
không ngẫu nhiên cùng xảy ra trong thời gian thực
dân có uy lực ở Đông-Dương.
Đạo
Giê-su Ki-tô
Đạo
Giê-su có nhiều giáo-phái, Ca-tô là một. Đứng đầu
phái này là giáo-hoàng, tuy ông chỉ là tiểu vương
một xứ nhỏ tí teo là Vatican, ông có nhiều thế lực
trên chính trường thế-giới vì dân một số nước
Âu-châu và một số thuộc địa cũ của họ theo giáo-phái
ấy. Vatican muốn thực hiện lời Giê-hô-va để kiềm chế
con người đồng thời mở mang một đế quốc giáo quyền.
Các
giáo-phái đạo Giê-su đều coi những lời trong
Thánh-kinh của họ là thiêng-liêng, là do chính
Giê-hô-va đọc hoặc linh ứng cho người ta viết ra.
Hiểu nguồn gốc đạo Giê-su là một điều cần thiết để
xét hành động của những người làm nghề giáo sĩ như
Rhodes. Bộ Thánh-kinh viết đã luộm thuộm lại đầy
những điều mê-tín, gian dối nên trở thành một mớ
bòng bong, nhưng chịu khó gỡ mối ta có thể phần nào
tìm ra lai lịch đạo ấy. Nhiều sử gia đã phân tích bộ
đó, đồng thời nghiên cứu nhiều văn liệu khác, soạn
nên những tác phẩm sáng sủa về lịch sử đạo Giê-su.
Thiên chúa Giê-hô-va
Khoảng thế kỷ 14 tiền dương-lịch, khi dân Do-thái
mới đến lập nghiệp ở vùng Palestine, họ còn man rợ
sống bằng nghề giặc cướp và tin theo chế độ giáo
quyền, mù quáng tuân lời các giáo sĩ. Giáo sĩ dựa
theo quan niệm độc thần của một vị vua Ai-cập, lập
nên đạo thờ Giê-hô-va ("thần") Sabaoth nghĩa
là "thần các đội quân". Sau này giáo-hội
Giê-su Ki-tô vẫn duy trì thần đó làm thiên chúa.
Giáo sĩ ăn trên, ngồi chốc, vua chỉ là một tên quân
cho họ sai đi ăn cướp. Khi vua có binh lực mạnh lấn
áp giáo sĩ thì những kẻ này khơi lòng mê tín của dân
để chống lại. Trải qua các thế kỷ, giáo sĩ gom góp
những văn liệu về dã sử, thần quyền, thi ca thành
một bộ sách họ tôn làm Thánh-kinh. Điều tai hại nhất
cho loài người là giáo-hội Do-thái cũng như các
giáo-hội Giê-su coi bộ sách ấy là chính lời và luật
thiên-chúa, chiếu vào đó để dự tính cũng như hành
động.
Giê-hô-va ra lệnh cho dân Do-thái diệt các dân tộc
láng giềng khi chiếm được một thành của họ: Giê-hô-va, thiên-chúa các ngươi, phó thành ấy vào
tay các ngươi. Các ngươi hãy giết hết đàn ông bằng
lưỡi gươm. Các ngươi phải chiếm hết đàn bà, trẻ con,
súc-vật và mọi thứ ở trong thành, tức là mọi của
cướp được, làm của-cải của các ngươi. Các ngươi hãy
hưởng những của cướp được ấy, vì thiên-chúa của các
ngươi đã cho các ngươi. Các ngươi hãy cư-xử như thế
với những thành ở xa-xôi, không thuộc các dân-tộc ở
ngay đây. Nhưng trong các thành của những dân-tộc ở
đây mà Giê-hô-va, thiên-chúa các ngươi, đã ban cho
các ngươi làm sản-nghiệp, thì chớ để sống một vật
nào biết thở (Thánh kinh, sách Deuteronomy,
chương 20, từ câu 13 đến câu 16). Vì là thần ăn
cướp, thiên chúa Giê-hô-va không chút xấu hổ, dám mở
miệng đích thân đòi quân cướp chia chiến lợi phẩm,
đặc biệt là có lần đòi nộp một lúc 32 gái trinh sau
khi đã hạ lệnh giết hết đàn ông, đàn bà đã ăn nằm
với đàn ông (Thánh-kinh, Dân-số 31:17-18 và 31:40).
[Xin coi phần trích dẫn tiếng Anh-phần trích dẫn
trang 291]
Giê-hô-va dặn kỹ càng tín đồ phải diệt các đạo khác:
"Phàm những dân tộc nào các ngươi đuổi đi được,
các ngươi phải phá sạch những nơi họ thờ thần của
họ, trên núi cao, trên đồi, dưới bóng cây xanh; các
ngươi phải đập tan bàn thờ, đập vụn cột đền, lấy lửa
đốt rụi các tượng của họ; các ngươi phải đục khoét
cho mất hết hình trạm trổ các tượng thần của họ và
xóa tên các thần ấy khỏi chỗ đó (Deut. 12:2-3)".
Vậy chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi bọn lính Ca-tô
cuồng tín giật mìn phá chùa Một Cột, xả súng giết
người trong chùa ông Đạo Nằm.
Ai
theo đạo khác là phải diệt, dù là người trong gia
đình, đó là ý muốn của thiên chúa Giê-hô-va, thần
dâm ác này ra lệnh:
Khi
anh em một mẹ với ngươi, hay con trai ngươi, hay con
gái ngươi, hay vợ yêu mến của ngươi, hay bạn chí
thân của ngươi, kín đáo xúi giục ngươi, bảo ngươi
rằng: Ta hãy đi thờ các thần khác, đó là những thần
mà ngươi và tổ tiên ngươi chưa hề biết, đó là các
thần của những dân tộc sống chung quanh ngươi, hoặc
gần hoặc xa, từ đầu này tới đầu kia mặt đất, ngươi
hãy chớ theo nó hay nghe nó. Mắt ngươi đừng thương
nó. Ngươi chớ sót sa che chở nó mà ngươi phải giết
nó. Ngươi phải ra tay giết nó trước rồi mới tới tay
dân chúng
(Deut. 13:6-9).
Ấy
thế mà bọn cuồng tín răm rắp nghe lời thần dâm ác
đó, họ đã có lần giết anh em, vợ con, bạn hữu, một
lúc ba ngàn người chỉ vì những người này thờ thiên
chúa E-lờ, tượng trưng bằng tượng con bò đúc bằng
vàng (Exodus 32:15-29).
Chúa
cứu thế Giê-su
Thời
thế kỷ 1 dương lịch, khi quân La-mã mới diệt đế-quốc
Hi-lạp xong và đất Palestine nhỏ bé đã phải nằm dưới
quyền cai trị của họ, một người thợ mộc nhà quê tên
là Giê-su khoảng ba mươi tuổi bỏ nhà đi sống lang
thang. Sau khi ông bị giết, một nhóm người tôn ông
là chúa cứu-thế, thờ cả Giê-hô-va, cả ông, lập nên
một giáo-phái Do-thái. Giáo-phái ấy biến thành một
đạo riêng gọi là đạo Ki-tô, đối lập với đạo Do-thái
(Trần Quí, trang 37).
Những lời truyền miệng trong dân gian, những lời
giáo sĩ bịa đặt thêm để bịp đám dân mê-tín tạo thành
những sự tích về Giê-su. Khoảng bốn mươi năm trở đi
sau khi ông chết, người ta chép những điều đó thành
sách, các sách ấy thường được gọi là phúc-âm hay tin
lành. Bốn sách như thế được các giáo-hội Giê-su
chính thức dùng gọi là sách thánh Mác, sách thánh
Ma-thi-ơ, sách thánh Lu-ca và sách thánh Gioan.
Tác-giả toàn là vô danh nhưng để lòe tín đồ, những
giáo-hội đạo Giê-su bảo rằng những sách ấy được viết
bởi chính các tông đồ Mác, Ma-thi-ơ, Lu-ca, Gioan là
các đệ-tử của Giê-su, đã từng sống với ông, biết rõ
ông. Nhiều điều trong những sách ấy chống tôn giáo
hoặc không có tính cách tôn-giáo cho ta thấy các
tác-giả mê muội hiểu lầm đó là những điều cao siêu,
thiêng liêng lắm, vượt sức hiểu biết của họ, nên họ
cứ thế chép lại không suy nghĩ. Nhờ những điều ấy,
sau khi ta lột bỏ áo chúa cứu thế giả tạo của vai
Giê-su trong những phúc-âm đi, phần nào nguyên hình
Giêsu-thật hiện ra.
Giêsu-thật đã trên ba mươi tuổi, chớ bé bỏng gì, mà
mẹ cứ phải lẽo đẽo đi theo. Có lần người nhà phải đi
tìm ông vì ông nổi cơn điên (Mark 3:21). Một đám
đông nói: "Người này bị ma ám đây mà!" (Mark
3:30), như ngày nay ta biết, dân gian thường tưởng
lầm người điên là bị ma làm. Giê-su có những
ảo-giác, hoang tưởng như trông thấy quỉ, nghe thấy
tiếng quỉ, lại nghĩ rằng mình bị quỉ mang lên mái
nhà, lên đỉnh núi (Ma-thi-ơ 4:1-10), toàn là những
triệu chứng bệnh điên điển hình, mà bị như thế cả
tháng, cả năm chớ không phải chỉ một vài ngày (Trần
Quí, trang 108).
Thỉnh thoảng Giê-su nói được những câu khôn ngoan
chứng tỏ có lúc ông tỉnh. Sức học kém, ông kể một
chuyện lịch-sử Do-thái nhỏ ra cũng sai, ông nói rằng
Abiathar là giáo-sĩ trưởng khi vua David bị đói phải
vào đền thờ xin ăn bánh thánh, nhưng đúng theo sách
chép thì giáo-sĩ trưởng bấy giờ là Ahimelech (Mác
2:26 và I Samuel 21:6).
Giê-su làm nhiều điều ngang tàng dại dột, phá phách
của cải của người ta, bị dân Do-thái giận, bắt giao
cho quan La-mã, bị án tử hình rồi bị đóng đinh trên
cây thập ác cho chết. Nếu ông sống trong thời đại
văn minh, thuốc đã hay, luật pháp lại nương tay cho
kẻ bệnh tâm thần, thì đâu nên nỗi.
Giê-su nói nhiều câu chứng tỏ ông giễu cợt nước trời
của Gioan Rửa Tội (John the Baptist), người đã rửa
tội cho ông, nói chi đến việc ông lập một đạo riêng.
Ông nói: "Nước trời giống như gì nào? Ta hãy ví
nước trời với gì đây? Nước trời ví như hạt cải người
ta lấy ném ra vườn, nó mọc thành cây to, thế là chim
trời đến làm tổ trên cành" (Lu-ca 13:18-19). Rau
cải nào mọc thành cây mộc với cành to lớn cho chim
đến làm tổ. Chim nào dại dột làm tổ trên cành rau
cải khi ngày ngày vườn có người ra tưới nước, chăm
cây.
Giêsu-thật không làm nên gì đáng nói cho nhân loại
nhưng vai Giê-su trong Thánh kinh đã gây ảnh hưởng
lớn trên khắp năm châu. Sau khi Giê-su chết, đồng
bọn sợ liên-lụy, họ tìm lối thoát, bịa ra là ông
sống lại, bay lên trời và họ lập nên một giáo-phái
thờ ông. Dân chúng lạc hậu tin liền, thế là che chở
họ. Họ đã thoát hiểm lại trở nên phát tài, có địa
vị. Giáo-phái phát triển nhanh hơn sau khi một giáo
sĩ là thánh Paul bịa ra thuyết cứu-thế. Giê-su trở
thành một chúa cứu-thế chết theo chương trình của
Giê-hô-va. Thần này phái ông xuống trần gian ban ơn
cứu rỗi bằng cách lấy cái chết của mình để rửa tội
hộ cho nhân loại. Đánh đúng tâm lý con người, Paul
rất thành công.
Giáo-phái Giê-su viết phúc âm, viết nhiều sách nữa
tạo thành một bộ sách mới thêm vào bộ Thánh-kinh
Do-thái. Họ gọi Thánh-kinh Do-thái là Cựu-ước, bộ
sách mới là Tân-ước. Họ tâng Giê-su lên ngang hàng
với Giê-hô-va, họ gọi thần này là chúa cha, Giê-su
là chúa con, lại bảo rằng chúa cha với chúa con là
một. Họ bịa chuyện rất sơ sài, ấy thế mà tín đồ say
mê. Vai Giê-su cứu-thế được coi là có tài tiên-tri,
Ngài nói trước rằng Ngài sẽ chết rồi sau ba ngày, ba
đêm Ngài sống lại. Ngài phán: "Giô-na đã ở trong
bụng cá voi ba ngày ba đêm thì con của người cũng
thế, sẽ ở trong lòng đất ba ngày, ba đêm"
(Ma-thi-ơ 12:40). Nhưng họ khôn vặt mà không ngoan,
để lòi cái đuôi bịa chuyện. Theo sách Mác, chừng 36
giờ sau khi Giê-su chết, chỉ sau chưa tới hai chớ
không phải ba đêm thì xác ông không còn nằm trong mộ
nữa (Mác 16:2-6).
Vai
Giê-su thề thốt: "Đừng tưởng ta đến để phá
luật-pháp hay lời các nhà tiên-tri. Ta đến không
phải để phá mà để thực-hiện toàn-vẹn. Ta thề mà nói
rằng chừng nào thế-gian còn, trước khi thế-gian tàn,
một dấu chấm, một nét phảy trong luật-pháp cũng
không mất đâu" (Ma-thi-ơ 5:17-18). Luật-pháp là
những lời trong Ngũ-kinh tức là trong năm cuốn sách
đầu bộ Thánh-kinh; lời các nhà tiên-tri là lời những
người như Samuel; nói khác ra, Giê-su dạy tín-đồ
phải thi-hành đúng từng lời từng chữ trong bộ
Cựu-ước. Giáo-hội Giê-su nào cũng muốn duy trì
nguyên vẹn sự thờ Giê-hô-va, nhưng giáo-hội nào cũng
đòi tín đồ phải thờ trong khuôn khổ của họ, đồng
thời phải coi tất cả những giáo hội khác là sai lầm.
Chính-sách đế-quốc của Vatican
Năm
1493, Giáo-hoàng Alexandre VI vạch một đường Bắc Nam
100 dặm về phía Tây quần đảo Azores làm ranh giới
chia địa cầu thành hai; ông dớ dẩn không nghĩ tới
việc chia hai thì cần vạch hai đường như vậy chớ
không phải một. Ông ra sắc lệnh giao quyền cai-trị
và truyền-giáo đến các xứ phía Đông đường ấy cho
Bồ-đào-nha, phía Tây đường ấy cho Tây-ban-nha.
Phi-châu, Á-châu thuộc quyền Bồ-đào-nha, còn Mỹ-châu
thuộc quyền Tây-ban-nha. Các mảnh đất như Goa ở bờ
phía Tây bán đảo Ấn-độ, Malacca trên bán-đảo Mã-lai,
Macao trên nước Trung-hoa do Bồ-đào-nha lấy được từ
trước thì Bồ cai-trị đã đành. Nhưng làm gì với
Phi-luật-tân đây, Tây-ban-nha đã chiếm được rồi đời
nào chịu nhường cho Bồ dù Cha dưới đất đại-diện Cha
trên trời bảo. Tây-ban-nha cãi rằng Phi-luật-tân ở
phía Tây vạch chia. Từ Tây-ban-nha cứ đi mãi về phía
Tây, vượt qua eo biển Magellan, qua Thái-bình-dương
cũng tới Phi-luật-tân thật. Tòa thánh Vatican lờ
chuyện ấy đi.
Tuy
dâm-dật kém thiên chúa của ông, giáo-hoàng Alexandre
VI đã có ít ra là bảy con khi còn làm hồng-y
giáo-chủ bên Tây-ban-nha; Lu- crèce Borgia là một
trong bốn người con ông có với bà tình nhân tên
làVannoza. Ông hối-lộ để được bầu làm giáo-hoàng,
phung-phí tiền tứ phương nộp về cho tòa thánh, dùng
thế lực, của cải của giáo-hội gây dựng quyền hành,
sản nghiệp cho con cái, họ hàng. Khi làm giáo-hoàng,
ông đem Lucrèce gả chồng nhiều lần. Một chồng cũ của
nàng là Giovanni Sforza phàn nàn rằng ông loạn luân
với nàng. Ông rất cần tiền, rất cần hậu thuẫn của
các vua chúa dưới quyền ông, lại muốn họ đem võ lực
mở mang đế-quốc giáo-quyền của ông khắp thế giới.
Giám
mục Henri Chappoulie xuất bản tập nhất bộ sách Aux
Origines d’Une Église nói trên năm 1943, khi
thực-dân Pháp vẫn còn cai trị dân Việt và các
giáo-sĩ đạo Giê-su vẫn còn đầy lòng tin tưởng vào
quyền lực của thực-dân ở các nước bị trị. Ông không
cần e dè viết trần sự thật ở ngay trang thứ nhất
phần mở đầu cuốn sách:
Trong khắp các thời đại lịch sử của nước giáo-hoàng,
nước ấy đã coi việc truyền bá tin phúc-âm đến mọi
người là nhiệm vụ chính yếu. Vào thế kỷ 16, trong
thời-gian nhiều cuộc khám-phá lớn xảy ra, Rô-ma bỗng
dưng bị đặt trước những khối lớn nhân loại trải rộng
trên những vùng đất chưa rõ to nhỏ bao nhiêu; và chỉ
dựa vào phương tiện của mình thì nước giáo-hoàng
không tài nào đi đến được. Các giáo hoàng nhận thấy
không có cách gì khác để hoàn thành nhiệm vụ tông đồ
ngoài cách giao việc truyền bá phúc-âm đến các xứ xa
xôi cho những vua chúa nào đã khám phá ra các xứ đó
cho Âu-châu thuộc đạo Giê-su Ki-tô. Tàu bè của họ
đưa các thừa sai đi, khí giới của họ bảo vệ các thừa
sai, những của cải họ mới kiếm ra nuôi nấng các thừa
sai. Để trả công cho việc phục-dịch đó, (nước
giáo-hoàng) cho vua chúa được quyền vừa lựa chọn
những kẻ chỉ huy, vừa điều khiển sự bành trướng sau
này của các giáo hội. Quan niệm ấy đẻ ra quyền các
vua Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha được bảo-hộ Tây Ấn-độ
(châu Mỹ La-tinh), Đông Ấn-độ (xứ Ấn-độ ngày nay),
Phi-châu.
(Chappoulie, tập 1, trang xi).
Lịch-sử thế-giới nói chung, lịch-sử Việt-nam nói
riêng và gần đây, cuộc chiến-tranh Đông-dương
1946-54, cho thấy đế quốc giáo quyền Vatican đã
cộng-tác chặt-chẽ với đế-quốc thế quyền để vừa
mê-hoặc dân các nước hậu tiến, vừa dùng võ lực đàn
áp họ, cốt để bóc lột họ đúng như chánh-sách
Giám-mục Henri Chappou- lie mới nói trên. Tuy vậy,
lịch sử còn cho thấy, hai bọn ấy dù nhiều khi cộng
tác với nhau, song vẫn có lúc đi lẻ trong công cuộc
xâm lăng; dù nhiều khi chung sống với nhau để cùng
ăn cướp, song vẫn có lúc ruồng rẫy nhau để thủ lợi
cho riêng mình; dù nhiều khi ôn hòa chia nhau chiến
lợi phẩm, song vẫn có lúc kình địch nhau hay tranh
nhau của cải chiếm được của dân bị-trị. Họ giống như
cặp anh chị lấy nhau vì tham lợi, chẳng vì mảy may
yêu đương.
Phần 2
Alexandre de Rhodes -
Rhodes gốc Do-thái Tây-ban-nha
Tổ tiên Alexandre de Rhodes là người Do-thái ở Aragon,
Tây-ban-nha, bị chính-phủ đạo Ca-tô bên ấy ngược đãi
nên bỏ chạy sang Avignon, miền Nam nước Pháp ngày
nay, nơi ông chào đời năm 1591. Ấy thế mà ông theo
đạo Ca-tô, dòng Tên. Ông học tiếng Nhật, định sang
đó sinh sống bằng nghề tuyên truyền đạo của mình.
Trung-tâm dòng Tên ở Viễn-đông là Ma-cao, nên dù
hành nghề ở xứ nào trong vùng, các giáo-sĩ của dòng
cũng phải lui tới đó để nhận lệnh cấp trên;
phương-tiện di chuyển là tàu thuyền. Gặp khi chính
phủ Nhật-bản đang tiễu trừ tới tận diệt người theo
đạo Ca-tô, dòng Tên thấy đất Việt là nơi tương đối
dễ sống hơn, bèn gửi giáo sĩ sang.
Rhodes gốc dân Do-thái ở Tây-ban-nha. Lịch sử
Tây-ban-nha gắn bó với lịch sử đạo Ca-tô. Thế kỷ 8,
dân Hồi giáo bên Ma-rốc vượt biển sang chiếm phần
khá lớn bán đảo Iberia. Họ dễ dãi với các đạo thờ
thần Giê-hô-va nên dân Do-thái và dân Ca-tô sống yên
lành dưới quyền họ. Họ lập nên một nền văn hóa cao
vượt hẳn văn hóa đạo Giê-su, đem cho châu Âu những
ảnh hưởng quan trọng về tư-tưởng, về khoa-học nhưng
vào thế kỷ 13, họ suy yếu chỉ còn giữ được một phần
đất nhỏ về miền Nam còn phần Bắc do các lãnh chúa
phong kiến Ca-tô cai trị. Đến thế kỷ 15, hầu hết các
lãnh chúa phong kiến miền Đông Bắc của bán đảo nằm
trong địa phận xứ Aragon, còn các lãnh chúa miền Tây
Bắc nằm trong phạm vi xứ Castile. Nữ hoàng Isabella
cai trị xứ Castile kết hôn với Ferdinand, con vua xứ
Aragon. Năm 1479, Ferdinand nối ngôi cha, hai vợ
chồng cùng cai trị Aragon và Castile. Đó là lịch sử
cuộc hình thành nước Tây-ban-nha.
Đầu
năm 1492, vua Hồi-giáo đầu hàng Castile, dân Hồi
sống dưới quyền người Ca-tô không được may mắn như
dân Ca-tô sống dưới quyền người Hồi ngày trước. Tổng
giám-mục Hernando de Talavera xúi nữ hoàng Isabella
bắt họ phải đổi đạo. Francisco Jiménez de Cisneros,
tuyên úy của nữ hoàng, sau này được thăng hồng y
giáo-chủ, đã bày ra kiểu ép đổi đạo tập thể. Dân Hồi
nổi lên chống năm 1499 nhưng năm sau loạn bị dập
tắt, những người không chịu đổi đạo bị trục xuất
sang Ma-rốc.
Dân
Do-thái, đồng bào của Giê-su, vốn được dân Hồi đối
đãi nhân hậu, bây giờ bị những kẻ thờ ông đàn áp
khắc nghiệt. Theo giáo-lý đạo Giê-su, Giê-hô-va cho
con là Giê-su xuống chết tạm ở thế-gian mấy ngày để
chuộc tội hộ loài người. Ví như dân Do-thái thời xưa
có kết tội Giê-su, khiến ông bị quan La-mã đem giết
đi, theo giáo lý ấy họ chẳng phạm tội gì với đạo
Ca-tô cả mà họ còn có công là đằng khác, vì họ đem
cho Giê-su cơ hội để chết theo chương trình của
Giê-hô-va. Nhưng nhiều tín đồ đạo Ca-tô, vốn quen
uống máu ăn thịt Giê-su, gọi là ăn bánh thánh, đã
đua nhau làm thịt đồng bào của ông (dân Do-thái)
trong gần hai ngàn năm.
Năm
1478, giáo-hoàng Sixtus IV ban sắc lệnh cho phép
Tây-ban-nha lập tòa án đạo để xét xử những conversos
(dân Do-thái đã đổi sang đạo Giê-su) phạm tín tội.
Năm 1492 Tomás de Torquemada, một converso, quan
toàn-quyền tòa án đạo Ca-tô đầu tiên, xúi vua trục
xuất hết những người Do-thái không chịu đổi đạo như
ông. Một số khá lớn conversos bị tình nghi là giả
đổi đạo nhưng tình thực vẫn còn ngấm ngầm theo đạo
cũ. Họ bị tố cáo, bắt bớ, tra khảo; khoảng sáu ngàn
người bị giết, phương pháp hành hình thường là thiêu
sống. Một số conversos trở thành mộ đạo Giê-su; họ
theo dòng Alumbrados (Illuminists, Chiếu minh), hay
để noi gương giáo sĩ Anh Erasmus, theo dòng
Erasmians. Dẫu đi tu cũng vẫn không thoát, họ vẫn bị
tòa án đạo truy lùng khiến nhiều người phải bỏ xứ mà
đi.
Torquemada, Rhodes gốc đạo Do-thái, tổ tiên vốn bị
giáo-hội Ca-tô ngược đãi tàn nhẫn, thế mà họ đổi
sang đạo này rồi hành động để tỏ lòng mộ đạo hơn cả
những tín đồ Ca-tô gốc là một điều đáng chú ý. Các
nhà tâm-lý nói là họ "đồng-hóa với kẻ ăn
hiếp"(identifying with the aggressor). Khi đồng hóa
với kẻ ăn hiếp mình, nạn nhân cảm thấy mình thuộc
phe mạnh, thuộc phe những kẻ đi ăn hiếp, thế là yên
ổn trong lòng hơn. Dĩ nhiên những kẻ ấy hoặc không
có hoặc bán rẻ lương-tâm nên coi đồng bào của mình
cũng là kẻ thù.
Rhodes theo dòng Tên
Rhodes theo dòng Tên (Jesuite). Dòng Tên do Ignatius
thuộc tộc Loyola lập ra. Ignatius sinh năm 1491 vùng
Basque, Tây-ban-nha. Năm 1521, khi còn là quân nhân,
ông bị một trái đạn đại-bác của đối-phương, quân
Pháp, gây thương tích ở cẳng phải. Vụ chữa xương gãy
không được hoàn hảo nên người nam nhi thọt sinh ra
say đắm đạo Ca-tô.
Năm
1534, Ignatius cùng năm bạn đồng song ở Đại-học
Paris, Francois Xavier là một, lập ra dòng Tên; năm
sau dòng được giáo-hoàng Paul III thừa nhận. Một
trong các điều lệ dòng là tuyệt đối tuân lời cấp chỉ
huy, nhất là giáo hoàng. Chỉ mấy tháng sau khi thành
lập, Ignatius gửi Xavier với ba người nữa
sangViễn-đông tuyên truyền đạo Ca-tô. Năm 1556, khi
Ignatius qua đời, dòng Tên có độ một ngàn người; năm
1626 có tới 15.544, trong đó có một số đến tuyên
truyền tại Việt-nam.
Ignatius lập ra dòng Tên là để củng cố lại sức mạnh
của Vatican sau khi giáo hội ấy bị sự xuất hiện của
các giáo-hội Tin Lành làm suy yếu. Cuộc thành lập
dồn dập các giáo-hội Tin Lành được gọi là phong-trào
Cải-cách nên cuộc phục-hồi uy-quyền của giáo-hội
Ca-tô được gọi là phong-trào Phản Cải-cách. Dòng Tên
là con đẻ quan trọng nhất của phong trào này.
Đầu
thế kỷ 15 là thời giáo-hội Ca-tô La-mã đầy uy quyền
ở Tây Âu, thủ lãnh giáo-hội sống huy hoàng ở
Vatican, tha hồ thị oai tác phúc, dân chúng run sợ
đã đành, vua chúa cũng phải kiêng nể họ. Khi lên
ngôi, vua phải cố xin xỏ đút lót làm sao cho giáo
hoàng công nhận, nếu không, ngai vàng chắc chắn lung
lay. Dân gian bị dạy mãi thành ra tin rằng giáo
hoàng ở trần thế là người đại diện thiên chúa
Giê-hô-va ở trên trời nên một khi người này ngưng
công nhận, vua lập tức bị những kẻ thù lợi dụng cơ
hội quấy động sự mê tín của quân sĩ, của dân chúng,
để chống lại, vua bị lật đổ như không.
Nắm
quyền độc đoán trong tay, người ta dễ làm càn, đời
là vậy. Muốn xoay tiền dân, giáo-hội Vatican bày ra
nhiều mánh khóe, một trong các mánh khóe là bán các
món ân-xá (indulgences).
Một
khi phạm tín tội, người theo đạo Ca-tô tin rằng họ
không có hi vọng lên được thiên đàng sau ngày tận
thế, viễn ảnh đời đời bị đầy trong hỏa ngục nằm
trước mắt. Tín tội là tội xét theo lòng tin, đương
nhiên không vâng lệnh gì của Giê-hô-va cũng là phạm
tín tội, một cách để chuộc tội là bỏ tiền ra mua ân
xá. Năm 1476, giáo-hoàng Sixtus IV cần tiền nên đặt
ra một món ân xá mới, đó là kêu gọi dân chuộc tội
cho cha mẹ, ông bà hay người thân hiện đang nằm
trong luyện ngục. Dân chất phác tin rằng bỏ tiền mồ
hôi nước mắt của họ vào thùng chuộc tội là cứu được
người quá-cố thoát khỏi nơi đày ải ấy. Giáo-sĩ
Johann Tetzel dòng Đa-minh quảng cáo rằng: "Tiền vừa
reng ở thùng này, hồn vung khỏi hỏa ngục ngay tức
thì!" (Durant VI, trang 339).
Luther, một giáo-sĩ dòng Augustin, bực bội sẵn về sự
thối nát của Vatican, không chịu nổi các vụ làm tiền
trắng trợn như thế. Năm 1517, ông liều mạng chống
đối, đã dán lên cánh cửa nhà thờ Palast tại
Wittenburg một bản 95 điều cần nói. Dân chúng hưởng
ứng lời kêu gọi của ông, chống lại giáo hoàng. Ở
nhiều nơi trên đất Đức, Pháp, Thụy-sĩ, giáo sĩ đua
nhau lập ra các giáo hội Tin Lành, cũng được gọi là
các giáo hội Cải-cách. Các giáo hội Tin Lành vẫn tin
vào Giê-su, vào Giê-hô-va nhưng không phục tòng
Vatican. Vua chúa kẻ theo phe này, người theo phe
nọ, bản đồ Âu-châu trở thành một thứ da beo, xứ thì
Ca-tô, xứ thì Cải-cách.
Phe
Ca-tô kết tội phe Cải-cách là nói sai lời Giê-hô-va,
gọi họ là bọn tà-giáo. Phe Cải-cách cãi lại rằng
chính phe Ca-tô nói sai lại chê là thờ thần tượng,
vì phe này thờ tượng chúa hài-đồng, Ma-ri-a, thánh
nọ thánh kia. Trung thành với lệnh Giê-hô-va
(Deuteronomy 18:20) "Phải giết đi kẻ tiên tri nào
dám nhân danh ta nói điều gì ta không bảo nói",
hai phe gây chiến với nhau hàng trăm năm giết hại
biết bao sinh linh.
Trung-tâm dòng Tên ở Viễn-đông là Ma-cao thuộc
Bồ-đào-nha. Tuy Bồ là một dân tộc rất bé sống ở một
rẻo đất nhỏ miền Tây bán đảo Iberia, nhưng nhờ giỏi
về nghề hàng hải, đầu thế kỷ 15 họ đã bắt đầu chiếm
được nhiều đất trên thế giới để lập thành một đế
quốc. Cuộc chiếm quần đảo Madeira năm 1419, quần đảo
Azores năm 1427 ở Đại-tây-dương, xa ngoài Phi-châu,
là những miền đất không người ở. Họ di dân đến đấy
lập nghiệp. Họ lập pháo đài cùng trạm thương mại ở
vịnh Guinea, Tây Phi-châu năm 1481. Các nhà hàng hải
Bồ vượt mũi Hảo-vọng sang Ấn-độ-dương năm 1488.
Âu-châu thời bấy giờ theo chế độ phong kiến, vua
chúa xứ nọ thường thông gia với vua chúa xứ kia. Sau
khi vua chết, quyền kế vị nằm trong tay người cùng
huyết thống, bất kể trai hay gái. Thuộc địa của vua
qua đời có thể bị cắt thành nhiều mảnh để chia cho
các con, vậy nên xảy ra nhiều trường hợp, một người
vốn sống ở xứ mình có thể trở thành vua một xứ xa
xăm cách trở. Bởi thế nhiều ông vua không nói được
tiếng và cũng không biết tập quán của dân mà mình
cai trị. Đó là trường hợp khiến cho vua Tây-ban-nha
thành vua nước Bồ hay vua nước Hòa-lan. Columbus tìm
thấy Tây-bán-cầu năm 1492; đất đai chiếm được phải
thuộc về vua Tây-ban-nha là kẻ bỏ vốn ra bảo trợ
cuộc thám hiểm nhưng vì quyền thừa hưởng theo huyết
thống, Bồ được Tây-ban-nha ký nhường một vùng đất
bao la ở Tây-bán-cầu gọi là xứ Ba-tây theo thỏa ước
Tordesillas năm 1494.
Afonso de Albuquerque chiếm Goa ở bờ biển miền Tây
bán đảo Ấn-độ năm 1510, rồi năm sau chiếm Malacca
trên bán đảo Mã-lai. Năm 1557, Bồ thuê của nhà Minh
đất Ma-cao ở tỉnh Quảng-đông bên Trung-quốc, lập
thành thuộc địa. Bồ hiện đang duy trì thành-phố nhỏ
nghèo nàn ấy làm một nơi cho du khách đến cờ bạc
giải-trí, ít nhất cũng được đến năm 1999 là khi phải
trả lại cho Trung quốc.
Rhodes không sang được Nhật
Rhodes học tiếng Nhật trước khi sang Viễn-đông, vì
đã tính mạo hiểm đến đấy làm ăn nhưng dân Nhật quyết
liệt diệt đạo Ca-tô nên dòng Tên đành đưa ông vào
nước Việt-Nam vậy.
Vào
thế kỷ 17, tàu buôn Tây-phương cứ ghé đất Nhật là
được các lãnh chúa tiếp đón ân cần. Họ ham thích
những hàng hóa vừa thiết yếu, vừa hấp dẫn, nhất là
những khí giới vượt xa kỹ thuật sản xuất trong xứ.
Các giáo-sĩ đi ké thuyền buôn được hậu đãi lây,
không bị các lãnh chúa mảy may ngờ vực, còn được
tướng-quân tặng đất ở Kinh-đô (Kyoto) để xây
giáo-đường. Tướng-quân bên Nhật thời ấy y hệt chúa
Trịnh ở Đàng Ngoài, nắm quyền cai-trị toàn cõi,
thiên-hoàng chỉ ngồi làm vì.
Nước
Vatican cử một giáo sĩ dòng Tên (Jesuite) là
Valignani sang Nhật để điều khiển cuộc xâm lăng nước
này. Ông tới nơi năm 1579, khôn khéo phô trương bề
ngoài hiền như bụt, không vụ lợi, cũng chẳng cướp
bóc tranh giành. Ông được lòng những người quyền
thế. Các vương hầu như Omura, Arima, Bungo ngả theo,
hết lòng giúp đỡ nhóm ông mở chủng viện, trường học,
nhà thương. Giáo-sĩ Tây-phương dạy thần học đạo
Giê-su cho thanh niên Nhật. Mọi kẻ tân tòng, bất kể
là vương-hầu hay thường dân đều bị giáo-sĩ dạy phải
tuân lời giáo-hoàng mà chỉ vâng lời người này thôi,
rồi họ quên luật pháp quốc gia, lòng yêu nước cũng
phai mờ theo Tưởng rằng cơ hội đã tới, giáo sĩ bèn
tự lột mặt nạ hiền lành, xúi tín đồ phá phách chùa
chiền nếu không biến thành giáo đường để thờ
Giê-hô-va.
Tướng-quân Hideyoshi tuần du đảo Cửu-châu năm 1587,
ngỡ ngàng thấy tận mắt cảnh chùa tan hoang, tượng
Phật bị đập bể. Khi khám phá ra vụ các lãnh chúa
theo đạo Ca-tô trong vùng lén cử sứ thần sang Rô-ma
để tỏ lòng trung thành với giáo-hoàng, một kẻ xa lạ
ở tận Roma, ông giật mình lo ngại rồi lập tức ra
lệnh triệt hạ các giáo đường, tu viện đạo Ca-tô ở
Kyoto, Osaka và trục xuất hết giáo-sĩ ngoại quốc,
bắt họ phải rời khỏi đất Nhật trong vòng hai mươi
ngày.
Chiếc tàu San Felipe của Tây-ban-nha gặp bão dạt vào
tỉnh Tosa năm 1596 bị Tướng-quân Hideyoshi cho các
quan đến tịch thu. Viên thuyền-trưởng phô trương sức
mạnh của nước mình cho các quan, hi vọng rằng đến
tai tướng-quân, ông này sẽ sợ rồi hủy bỏ lệnh đi.
Hắn vừa mở bản đồ ra khoe những đất đai Tây-ban-nha
cai-trị ở khắp bốn phương trời, vừa giảng rằng xứ
Nhật không tài nào làm thế nổi, là vì Tây-ban-nha có
giáo-sĩ mà Nhật thì không. Giáo sĩ đi trước thuyết
giảng cho dân các nước theo đạo Ca-tô, rồi lính đế
quốc Tây-ban-nha dùng tín đồ đạo ấy làm nội ứng đã
dễ dàng chiếm nhiều xứ khác.
Tướng quân Hideyoshi quả nhiên sợ nhưng ông đã phản
ứng khác với ý muốn của viên thuyền trưởng dại dột.
Năm 1597, các giáo sĩ dòng Phan-xi-cô, dòng Đa-minh
bị chính phủ thiên-hoàng đặt ra ngoài vòng pháp
luật. Tại Na-gasaki, 26 giáo sĩ bị hành hình. Đã
hiểu thâm ý của Vatican, các tướng-quân về sau tiếp
tục diệt đạo Ca-tô, có khi gắt gao hơn cả Hideyoshi.
Tướng-quân Yeyasu cấm dân đi theo giáo-sĩ trốn ra
nước ngoài.
Năm
1637, dân đạo Ca-tô ở đảo Amakusa và vùng lân cận là
Shimbara ép Phật-tử đổi sang đạo họ, lại võ trang
chống chính phủ. Các giáo-sĩ Tây-phương dòng Tên cầm
đầu 30.000 quân dương cờ lâm trận; có cờ mang tên
Giê-su, tên Ma-ri-a. Họ giết vị quan cai-trị
Shimbara, chiếm thành trì làm nơi cố thủ. Quân chính
phủ không phá được thành vì không có đại bác đủ
mạnh, phải điều đình mượn thương thuyền có võ trang
của Hòa-lan. Người Hòa-lan theo đạo Tin Lành, cũng
thờ Giê-su nhưng không biết ý chúa cứu-thế này ra
sao mà họ không chịu đội trời chung với Tây-ban-nha
và Bồ-đào-nha. Đại bác Hòa-lan mạnh, thành bị phá,
quân chính phủ Nhật tiêu diệt được quân đạo Ca-tô ở
trong. Từ đó trở đi, đạo Ca-tô không ngóc đầu lên
nổi ở Nhật. Một số người Nhật trốn ra khỏi nước đã
làm nghề phụ-giáo-sĩ ở Hội-an để độ thân.
Đúng
là kẻ cắp gặp bà già, Vatican là tay không vừa đụng
phải dân Nhật-bản là những người quyết không dung
các kẻ muốn cướp nước họ. Giáo-sĩ Ca-tô cứ tưởng áp
dụng chiến-thuật dùng "vật hi-sinh" là có thể lung
lạc nổi dân Nhật. Họ tin rằng nhờ cách ấy họ đã nuốt
xong đế quốc La-mã to lớn thì thế nào mà chẳng nuốt
trọng được nước Nhật nhỏ bé.
Ở
đế-quốc La-mã, họ gây sự cho chính phủ bắt bớ, giết
hại giáo sĩ. Quả nhiên các hoàng-đế đã làm như họ
muốn. Các vị vua ấy tính rằng giết một người, vạn
người sợ, nên mỗi khi hành hình một kẻ cuồng tín là
rềnh rang quảng cáo với công chúng. Giám mục Cyprian
ở tỉnh Phi-châu tức Algeria, Tunisia ngày nay, vừa
nhiều tham vọng, vừa to miệng, lẩn trốn được tám năm
rồi bị chính phủ bắt. Năm 258 ông đành chịu hưởng ân
tử đạo. Khi ông bước ra pháp trường, các giáo sĩ làm
việc dưới quyền ông được phép đi theo để tiễn đưa
ông lên thiên đàng hưởng nhan Giê-hô-va. Họ bày một
tấm vải ra để hứng máu ông khi đầu ông rơi xuống,
đem về làm thánh tích (Gibbons, trang 219). Hoàng đế
Diocletian (284-305) và những người kế vị đã đàn áp
đạo Ca-tô trong mười năm. Sử-gia Gibbons kể rằng
trong thời gian ấy, riêng tại vùng Palestine 92
người được danh dự chết cho Giê-hô-va rồi ông tính
rằng cũng trong thời gian ấy, trên toàn đế quốc độ
hai ngàn người (Gibbons, trang 233) được hưởng ân
sủng đó. Nói chung trong mỗi thành thị ở đế quốc
rộng bao la như vậy, thường là lâu lâu mới có một
người bị lên án tử hình. Sự trừng trị đã chẳng làm
kẻ mê muội tỉnh ra, lại còn thành dịp cho các
giáo-sĩ khích động lòng cuồng tín. Thế là đế-quốc
La-mã xụp đổ, Âu-châu bị xé thành nhiều xứ phong
kiến do các lãnh chúa Ca-tô cầm đầu dưới quyền
giáo-hoàng.
Nhật-bản không đối đáp với giáo-hội Ca-tô theo cách
thức của đế-quốc La-mã. Họ đã tình cờ lấy gậy ông
đập lưng ông, họ đã dùng chiến-thuật "làm cỏ" đạo
khác của Vatican để chống lại đám người Ca-tô cuồng
tín. Thế-kỷ 13, dân vùng Toulouse, miền Nam nước
Pháp ngày nay, nhận thấy Giê-hô-va ác quá, đúng là
quỉ Satan mạo nhận làm thiên-chúa. Họ lập giáo-phái
Cathari chỉ kính thờ Giê-su thôi. Năm 1209,
Giáo-hoàng Innocent III ra lệnh thánh chiến để diệt
họ, quân phe giáo-hoàng bao vây thành Bézier rồi
ngày 22 tháng bảy xông vào trong giết hết dân kể cả
đàn bà, trẻ thơ. Người Nhật không biết dùng một gậy
nữa của đạo Ca-tô. Vatican làm cỏ dân sống chưa đủ,
họ không tha người đã chết. Năm 1329, tòa án đạo của
họ ở Carcassonne cho đào mả bảy người họ kết tội tà
đạo, móc xác lên đốt đi (Trần Quí, trang 133)
Rhodes viết sách
Rhodes để lại một số tác phẩm. Ông soạn một cuốn tự
điển chữ quốc ngữ đối chiếu với tiếng Bồ-đào-nhà và
tiếng La-tinh tựa là Dictionnarium Annamiticum
Lusitanum et Latin- um. Vài giáo sĩ Bồ đã dùng mẫu
tự La-mã phiên âm tiếng Việt từ trước, Rhodes bồi bổ
thêm.
Năm
1645 Rhodes viết một bản Tường-trình Về Đàng Trong
nói về những hoạt-động, những thủ đoạn tuyên-truyền
đạo Giê-su của giáo sĩ ở Đàng Trong. Những đoạn như
sau trong sách cho thấy dù chiến thuật dùng vật
hi-sinh thất bại ở Nhật, họ vẫn kiên nhẫn áp dụng ở
đất Việt:
"Thày giảng Inhaxu cần mẫn thực hành chức vụ trong
miền Bắc đã trao phó cho thày. Thày bắt đầu làm
nhiệm vụ trong phủ, nơi không thiếu việc để thỏa mãn
lòng nhiệt thành. Có nhiều người xin theo đạo, những
người này từ một năm nay đã giữ các ngày Chủ nhật và
ngày lễ như thể đã là các Kitô hữu. Có một vụ bắt bớ
đã xảy ra trong tỉnh này, làm mồi nhóm lòng nhiệt
thành rất lạ lùng"
(trang 13-14).
"Thù
địch ơn cứu rỗi của ta không thể chịu mất nhiều đồ
đệ, thế là khi tôi rút lui thì nổi lên một vụ bắt bớ
dữ dằn chống lại các người tân tòng, nhất là ở làng
Kẻ Đại nơi có nhiều Kitô hữu hơn. Có một sắc lệnh
được ban hành, bắt mọi người phải bỏ đạo, nếu không
thì sẽ bị tịch thu hết của cải và bị án lưu đồ"
(trang 14).
Bốn
thủ đoạn chính đế quốc giáo quyền dùng để thôn tính
các xã hội là gây lòng cuồng tín, cộng tác với đế
quốc thế quyền, tàn sát những kẻ khác tín ngưỡng,
đòi tự do tôn giáo. Vào cuối thế kỷ 20, nhiều lực
lượng chính trị lớn mạnh trên thế giới không nề hà
dùng tín ngưỡng làm khí giới để hạ địch thủ nên
quyền tự do tôn giáo được yểm trợ mạnh mẽ. Những kẻ
đòi quyền ấy nhiều nhất cũng là các giáo sĩ thờ thần
dâm ác nào ta đã biết. Họ đòi quyền ấy để đi diệt
các tôn giáo khác vì lệnh của thần đó là: Phải
dứt khoát giết đi người thờ thần nào ngoài Giê-hô-va
ra (Exodus 22:20). Lệnh này khiến họ cảm thấy là
làm một sứ mệnh thiêng liêng khi nhúng bàn tay vào
máu để diệt kẻ không cùng đạo. Vụ người đạo Giê-su
tàn sát những người Hồi phái nam từ mười sáu tuổi
trở lên ở Bosnia năm 1995 chứng minh rằng họ trở
thành khát máu như không (Trần Quí, trang 136). Lời
Rhodes khoe khoang ở trên còn biểu lộ một thủ đoạn
nữa giáo sĩ thường dùng, họ gọi là "ơn cứu rỗi".
Khi
giáo sĩ dùng mê tín để xâm lăng nước nào, họ bảo là
họ mang "ơn cứu rỗi" đến cho nước ấy. Họ tuyên
truyền là họ có một sứ mệnh rất cao cả nên nhất định
liều thân đến làm ơn tuy không được mời, tuy bị đuổi
đi.
Những người Việt sống trong thời Pháp-thuộc được
đồng thời hưởng hai ơn của Tây-phương, "ơn cứu rỗi"
của đế quốc giáo quyền, "ơn khai hóa" của đế quốc
thế quyền. Chính phủ thuộc địa quảng cáo rằng người
Pháp đại lượng hi sinh, đành bỏ cuộc sống sung sướng
ở bên nước họ, lặn lội đi khai hóa dân lạc hậu. Quân
Pháp thua trận, rút đi, chịu thôi hiến "ơn khai hóa"
cho dân Việt. Giáo-sĩ Pháp hết được khí giới của
thực dân bảo vệ cũng cút theo, chịu ngừng sứ mệnh đi
dâng "ơn cứu rỗi".
Người Pháp xét lại lịch sử đã phải công nhận rằng
mục đích của đế quốc, của thực dân chỉ là bóc lột
dân bị trị, đạo đức bề ngoài chẳng qua là thủ đoạn
mà thôi.
"Ơn
khai hóa", bạn lòng của "ơn cứu rỗi", đã chết, nữ
ma-vương "ơn cứu rỗi" đang cần tìm một hay nhiều
tình nhân mới đủ sức mạnh che chở nàng, biết xoay xở
nuôi sống nàng, để gậm nhấm, nếu không nuốt trọng
nổi, những cá nhân, những xã hội, những quốc gia vô
tình không biết bản chất nàng.
Rhodes viết: "Phải ghi nhận ở đây lòng quảng đại
của một thanh niên là Âutinh, anh mới là Kitô hữu
được ba bốn tháng, về thân xác thì đau yếu gần như
bệnh tật. Anh bị bắt và tức khắc bị gò cánh khỉ rất
đau đớn, để ở ngã ba đường phố không sao cựa mình
được, thế nhưng anh vẫn không ngưng tươi nét mặt,
mọi người đều khen lòng can đảm bất khuất của anh,
anh đã toàn thắng tất cả những sự dã man người ta
bắt anh chịu. Lương dân lại càng thêm đe dọa các
Kitô hữu, nạt nộ họ, người thì đem chôn sống, kẻ thì
dọa bắt đóng đinh trên cây Thánh giá mà các Kitô hữu
đã thành tâm cho dựng trong xóm, nhưng tất cả các đe
dọa không làm cho họ bỏ điều họ cho là của cải lớn
nhất của họ" (trang 14).
Một
người ông gọi là André tự nộp mình cho chánh phủ
Đàng Trong,"lớn tiếng nói mình sẵn sàng chịu mọi
hình khổ vì đạo".
"Thiên chúa muốn thưởng cho thày danh dự tử đạo".
Quan tòa nói: "nếu y xưng là y nghèo khó và y đến
phục dịch ông cha (giáo
sĩ) để có của nuôi thân, thì tôi đã tha cho y,
nhưng y bất khuất và táo bạo xưng mình là Kitô hữu
và sẵn sàng chết vì đạo, y không sợ cực hình; như
thế y tỏ ra ngoan cố và điên dại, y chết là phải. Đó
là lời lẽ quan tòa ngoại đạo gọi sự khôn ngoan của
Đức Thánh Linh là điên cuồng" (trang 32).
André bị hành hình. Rhodes kể rằng bọn giáo-sĩ
Tây-phương ở Ma-cao hết sức mừng rỡ khi đón xác một
người Việt thiệt mạng vì trúng mẹo ẩy bụi rậm của
họ: "Ngay khi Gaspar d’Amaral, viện trưởng học
viện Macao, cũng là phó giám tỉnh Nhật bản được tin
về phẩm vật cao quí tôi gửi từ xứ Đàng Trong tới thì
cha vô cùng hớn hở, chính cha cũng đã lâu năm được
phái tới giảng Phúc âm trong nước này. Thế là quyết
định đưa tin vui về thi hài thánh cho cả học viện và
thành phố biết" (trang 37). Rhodes nói nữa về
nỗi hân hoan của bọn giáo sĩ ấy, đoạn trên chỉ là
một phần thôi.
Rhodes viết một cuốn sách bằng chữ quốc ngữ Việt-nam
đối chiếu với tiếng La-tinh, tựa là "Phép giảng tám
ngày cho kể muấn chịu phép rứa tọi, ma beꦣ224;o đạo
thánh đức Chúa blời [cho kẻ muốn chịu phép rửa tội
mà vào đạo thánh đức Chúa trời], Tủ Sách Đại Kết,
Sài-gòn, in lại năm 1993, gọi tắt là Phép Giảng Tám
Ngày.
Ngày
thứ nhất Rhodes giảng về linh hồn và chúa trời đạo
Giê-su. Ông nói khơi khơi chúa trời khiến ta tưởng
dân vùng Địa-trung-hải thời đó chỉ thờ có một
thiên-chúa thôi. Thực ra họ thời Giê-su như dân Việt
thời nay, sùng bái nhiều đạo, nhiều thần. Mỗi đạo
của họ thờ một thiên chúa riêng, hoặc nam hoặc nữ,
như nữ thiên chúa Cybèle, nam thiên chúa Zeus,
Mithra.
Ngày
thứ hai đả kích quan niệm về Ngọc-hoàng của đạo Lão,
nói nữa về chúa trời, nói về các thiên thần, về ân
sủng.
Ngày
thứ ba nói về quyền năng chúa trời, tạo thiên lập
địa dựa theo Cựu-ước, cũng nói về "thằng ngụy
Lucifer", về A-đam và E-và. Phải có mặt trời, trái
đất phải xoay quanh mặt trời mới có ngày đêm, vậy mà
Rhodes kể Thiên chúa Giê-hô-va làm việc khác trong
ba ngày rồi ngày thứ tư mới tạo ra mặt trời,
Giê-hô-va dốt ơi là dốt về kiến thức phổ thông nên
để lòi cái đuôi giả mạo nhận tạo ra vũ trụ như vậy.
Cây cối ra đời ngày thứ ba, trước cả mặt trời nữa
chớ! Thật hết đường nói!
Cái
lưỡi không xương mới quảng cáo rằng chúa trời của
đạo Giê-su lòng lành vô cùng trong bài giảng ngày
thứ hai thì sang ngày thứ ba lại kể rằng chúa ấy sai
thiên thần đánh "thằng" (quân) Assirio, một đêm đánh
chết một vạn tám muôn năm nghìn (trang 62). Con số
cũng vô nghĩa, có lẽ người Việt nào đó gà tiếng Việt
cho Rhodes quên không kiểm soát; vạn là muôn, một
vạn tám muôn nghĩa là làm sao?
Ngày
thứ bốn nói nữa về Cựu-ước, đả kích tam giáo, mạt
sát Phật Thích-ca, tuyên truyền nữa về chúa trời đạo
Giê-su.
Ngày
thứ năm nói về bà Maria là gái rất ngoan, có chồng
nhưng không ngủ với chồng vẫn chửa đẻ ra Giê-su.
Thomas Paine dí dỏm bài bác nỗi mê tín. Ông bảo rằng
ví dụ bây giờ có cô gái không chồng mà chửa đổ cho
thần linh ngủ với mình, chắc chắn không ai thèm tin,
thế mà biết bao kẻ đi tin truyện y như thế được bịa
ra cả ngàn năm xưa (Trần Quí, trang 343).
Ngày
thứ sáu kể sự tích Giê-su, Rhodes thuật rằng ông lễ
phép nói với mẹ: "Lạy đức Mẹ, mà sao đức Mẹ có tìm
Con làm vậy?" (Rhodes, trang 175).
Ngày
thứ bảy kể tiếp sự tích Giê-su.
Ngày
thứ tám tuyên truyền về đạo Giê-su, đả kích đạo
Phật, nói về các lệnh của chúa trời đạo Giê-su, về
ba ngôi thiên-chúa đạo ấy.
Thiên chúa Giê-hô-va cũng như Giê-su thường nói mày
tao, thằng này, thằng nọ trong sách Phép Giảng Tám
Ngày, phản ảnh đúng tư cách những vai ấy trong Thánh
Kinh đạo Ki-tô. Giê-hô-va tự nhận tên mình là
Ganh-ghét (Exodus 34:14), lại có lúc dọa "trát cứt"
lên mặt người ta (Malachi 2:3). Trong các tôn giáo
trên thế-gian chưa từng có thần nào dâm ác hơn, tục
tĩu hơn.
Tân-ước kể Giê-su hỗn hào mắng mẹ như sau: "Này
người đàn bà kia, ta với ngươi có liên hệ gì đây?"
(John 2:4). Trong suốt sách ấy, Giê-su chỉ gọi Maria
bằng "người đàn bà kia", chớ có bao giờ gọi bằng mẹ
đâu! Biết phong tục Việt-nam lấy chữ hiếu làm đầu,
Rhodes đã đặt vào mồm người thợ mộc ấy những lời
người ấy không biết dùng: "Lạy Đức Mẹ, mà sao đức Mẹ
có tìm Con làm vậy?" Giê-su là dân Do-thái, một phụ
nữ không phải dân Do-thái đến nhờ chữa bệnh cho con,
Giê-su ruồng rãy: "Cho chó ăn còn hơn cho người
ngoài đạo Do-thái ăn"(Mark 7:27). Thật là đã
chẳng có tí lòng thương nào đối với người mẹ đang lo
lắng lại nói vừa hỗn vừa liều. Gọi người ta thế nào,
người ta gọi mình làm vậy thì tính sao đây?
Rhodes đã đánh bóng tư cách Giê-su lại gian dối dịch
sai lời Thánh-kinh, vậy tại sao Giê-hô-va, Giê-su
mày tao lắm vậy trong sách ông? Có lẽ Rhodes đã
tránh né giới sĩ phu hoặc họ đã cố xa lánh kẻ bịp
bợm nên Rhodes chỉ được học tiếng Việt với những
người thấp kém, rồi đã vô tình để Giê-hô-va cùng
Giê-su nói năng hạ cấp.
Phần
3
Pháp
hướng về Viễn-đông
Chuẩn bị lên đường
Rhodes bị đẩy sang Ba-tư, ba người ông nhắm nhấc lên
thành giám mục Đông-phương lủi thủi quay về nơi ở
cũ. Năm 1655, sau khi giáo-hoàng Innocent X chết,
giáo hoàng Alexandre VII lên thay, hội Tuyên-truyền
lại ngỏ ý muốn đem vấn đề Viễn-đông ra xét. Người
Pháp tức thời vồn vã đáp ứng. Vincent de Paul báo
tin rằng nhiều người ở Paris sẵn sàng bỏ tiền ra
giúp chương-trình bành trướng đạo Ca-tô sang vùng
Tây Thái-bình-dương. Hội-đồng Giáo-phẩm Pháp nhượng
bộ, bằng lòng đặt tiền quĩ dưới quyền quản lý của
tòa thánh. Hội Tuyên-truyền chùn bước, lờ đi lần
nữa.
Người Pháp quyết nắm chặt món quà Viễn-đông Rhodes
đã dâng. Giữa năm 1657, Francois Pallu cùng một nhóm
người Pháp sang Roma vận động. Họ cả quyết với giáo
hoàng rằng họ chẳng những đặt tiền quĩ dưới quyền
trực tiếp của ông, còn chẳng để tòa thánh mất xu
teng nào. Cuối năm ấy, một cha đạo là Pierre Lambert
de la Motte, người miền Normandie, sang Roma nhập
vào nhóm Pallu. Ông ta giàu có, tự nguyện đem của
riêng ra ứng trước để nuôi các giám-mục tương lai
bên đất chúa Trịnh, chúa Nguyễn. Thế là một ủy-ban
gồm bốn hồng-y quyết định tuyển ba giám mục để gửi
đi hoạt động dưới quyền điều động của hội
Tuyên-truyền.
Dự
định của Vatican mới đầu bằng con ễnh ương đã phồng
bằng con bò, họ cử giám mục cai quản chẳng những đất
Việt-nam mà cả cõi Viễn-đông bao la. Tháng 9-1658,
họ đã ngông-nghênh nâng Pallu thành giám mục
Heliopolis, cai quản Đàng Ngoài, Lào, các tỉnh
Quảng-tây, Quí-châu, Vân-nam, Tứ-xuyên; cử Lambert
làm giám mục Béryte, cai quản Đàng Trong, đảo
Hải-nam, các tỉnh Quảng-đông, Phúc-kiến, Giang-tây,
Triết-giang. Tháng 9-1660 họ nhấc Ignace Cotolendi,
một cha đạo ở Aix-en-Provence, lên chức giám mục
Metellopolis, cai quản Nam-kinh, Bắc-kinh, Sơn-đông,
Sơn-tây, Thiểm-tây, cả các nước Triều-tiên, Mông-cổ
nữa.
Bồ-đào-nha ấm ức vì thế là Pháp đã giẵm lên vùng đất
họ đang thao túng. Dòng Tên ngả về phe Bồ. Đức thánh
cha rất hiểu bụng dân Ca-tô đối với nhau, đã cảnh
cáo Pallu chớ ăn cánh với dòng Tên nếu không muốn
hỏng việc (Chap- poulie, tome I, trang 120). Các
giám mục được lệnh rằng trên đường sang Viễn-đông
phải hết sức bí mật, mai danh, ẩn tích, chớ để phe
Bồ biết gì hết; không được đi qua đất người Ca-tô
cầm quyền; phải đi đường bộ qua đất đạo nào tương
đối dễ chịu hơn, nghĩa là qua đất Hồi-giáo, tức vùng
Lưỡng-hà, xứ Ba-tư, ở Ấn-độ thì qua xứ Mogol; nếu đi
đường biển, phải tìm tàu nào chạy thẳng một mạch tới
nơi, chớ có ghé đâu.
Tháng 9 năm 1660 giám mục Lambert cùng hai cha đạo
Jacques de Bourges, Francois Dey- dier xuống tàu ở
Marseille đi Syrie để theo đường bộ sang
Đông-phương.
Pallu từ Roma trở về Pháp làm những việc ông chưa hề
hé miệng nói cho hội Tuyên-truyền biết. Ông cần tính
việc với hội, tên đúng là công-ti (compagnie), Saint
Sacrement trước khi đi Viễn-đông. Hai bên ý hợp tâm
đầu, ông định lập một đoàn thể đi ngoại quốc tuyên
truyền thì hội cũng đang lo lập. Hội cử bốn cha đạo
cùng mười hai thường dân trông coi công việc tổ
chức. Một dịp may đến đương khi họ cần tìm trụ sở.
Giám mục Jean Duval có mấy tòa nhà ở đường Bac,
Paris, định dùng làm nơi sinh hoạt cho những người
sang Ba-tư tuyên truyền, việc không thành nên nhà để
trống. Hai bên mặc cả, Duval thấy được lợi bèn giao
nhà cho họ.
Tháng bảy, năm 1663, vua Louis XIV chuẩn y sự hình
thành hội đó với tên là "đoàn thể đi đổi đạo cho
những người chưa theo ở ngoại quốc" (séminaire pour
la conversion des infidèles dans les pays
étrangers). Các Bạn Tốt cầm đầu hội. Tháng 6 năm
1664, họ bầu một người trong nhóm họ, Vincent de
Meur, kẻ có công môi giới cho Pallu gặp giáo hoàng,
làm chủ tịch. Nhiều giáo sĩ trong nhóm nhận làm đại
diện (procureur) để bênh vực quyền lợi cho đoàn khi
cần thiết. Sau này đoàn trở thành Missions
Étrangères de Paris (Hội Paris Truyền-giáo
Quốc-ngoại), công cụ lợi hại nhất của thực dân Pháp
tại Việt-nam.
Công-ti Saint Sacrement muốn buôn bán trong khi
tuyên truyền đạo nên tính lập một công ti thương
mại. Họ mong giáo sĩ, thương nhân cùng vượt trùng
dương bằng tàu Pháp, dựa lẫn vào nhau trên đường làm
ăn. Thương thuyền thì họ nhờ Fermanel de Favery, một
nhà hàng hải, lo liệu. Ông này đang có một con làm
linh mục đại diện cho Lambert. Ông sang Hoà-lan sắm
sửa một chiếc tàu, tên đặt là Saint Louis, cho
công-ti. Năm 1664, ông trở nên một trong những cột
trụ của thượng thư Colbert trong cuộc thành lập
công-ti Đông Ấn-độ (compagnie des Indes Orien-
tales) của Pháp.
Không có Rhodes chỉ lối, ắt Công-ti Saint Sa-
crement của giáo-hội Ca-tô mù tịt chẳng biết đường
sang Viễn-đông làm ăn, không dựng nên Hội Paris
Truyền-giáo Quốc-ngoại, Công-ti Đông Ấn-độ được
thành lập ngay sau đó cũng thiếu kẻ dẫn lối. Con
người thích phiêu-lưu, mạo hiểm và bất hạnh ấy đã
chỉ đường cho giáo-hội Ca-tô và nước Pháp đi sang
miền Tây Thái-bình-dương khuân về những món lợi lớn
lao. Giáo-hội Ca-tô không nhớ ơn, Pháp không thổi
phồng Rhodes sao được!
Giám-mục Pallu mộng làm ăn lớn. Ông tính cộng tác
với Công-ti Đông-phương và Madaga- scar của Pháp để
đóng hoặc mua một tàu to, một thuyền to, một thuyền
nhỏ, tuyển mộ một hoa tiêu, 50 sĩ quan, 55 thủy thủ
và 2 bác sĩ giải phẫu; tàu chuyển hàng từ Âu-châu
tới tận Đàng Ngoài. Về tiền nong, ông tính các giám
mục hùn vốn một nửa, nửa kia công ti chịu. Ông tính
đòi được quyền mang theo 20 người riêng của mình
(Chappoulie, tome I, trang 125).
Tiếng đồn về các hoạt động của Pallu làm hội
Tuyên-truyền ở Roma giật mình. Sự chào đời của tàu
Saint Louis làm người Hòa-lan sợ Pháp cướp mất chỗ
buôn bán mặc dù tháng chạp năm 1660, tàu ấy bị bão
phá tan. Nghe thấy Pallu không tàu Pháp để đi theo
dự định, tính dựa vào phương tiện của Tây-ban-nha
đạo Ca-tô, Lesley bên hội Tuyên-truyền ở Roma vội
can gián, khuyên nên đi tàu Anh đạo Tin Lành an toàn
hơn. Tháng giêng năm 1662, Pallu cùng hai cha đạo
Louis Laneau, Pierre Brindeau và mấy người nữa xuống
tàu ở Marseille. Khi ấy bọn Lambert đang ở giữa
đường đi Xiêm.
Lambert ở Xiêm
Bọn
Lambert tới Syrie, đi đường bộ qua vùng Lưỡng-hà đến
Ba-tư. Tháng 10 năm 1661 tới hải-cảng Gomeron trên
xứ ấy, bên bờ eo biển Ormuz, họ thấy người Anh,
người Hòa-lan đã chiếm hết cơ-sở của Bồ-đào-nha, một
nước đang lâm cảnh suy vi. Gặp lúc Anh đang
hòa-thuận với Pháp, người Anh giúp họ xuống tàu Hồi
đi nước Mogol. Lên bến Surate, xa về phía Bắc
Bombay, họ nghe nói hải cảng Gao của Bồ, rất xa về
phía Nam, đang tàn tạ nên tiếng đồn rằng nhà cầm
quyền Gao được lệnh tìm bắt họ không làm họ ngại
ngùng. Họ ngồi trên ba xe bò, đi bốn mươi mốt ngày,
băng ngang bán đảo Ấn-độ sang hải cảng Masulipatam,
nước Golcon -de, bên bờ biển Coromandel trông ra
vịnh Ben- gale. Họ lại nghe thấy Bồ bất hòa với nước
Golconde nên cơ sở Bồ ở Meliapour xa về phía Nam
Madras chắc cũng chẳng bao lâu nữa bị nước ấy chiếm
mất. Họ đáp tàu Hồi tới Tenas- serim ở miền Tây bán
đảo Mã-lai, nằm trong địa phận nước Xiêm. Gặp Jean
Cardoso, một cha đạo người Bồ dòng Tên, Lambert khoe
khoang địa-vị giám mục, quên khuấy lời dặn dò của
hội Tuyên-truyền ở Roma.
Bọn
Lambert đặt chân lên Tenasserim khi nước Xiêm, tức
Thái-lan, đang thanh bình thịnh vượng, vua Xiêm đang
dễ dãi với đạo Giê-su. Họ ngồi thuyền, đi bộ rồi lại
ngồi thuyền, tháng 8 năm 1662 tới kinh đô Xiêm là
Ayouthia. Thành thị này cũng nằm trên bờ sông Menam
Chao Phraya như Bangkok ngày nay nhưng nhích lên
phía Bắc mấy chục cây số. Thuyền bè từ Âu-châu,
Ấn-độ, Phi-luật-tân, Nhật-bản ghé tới. Anh, Hòa-lan,
Bồ-đào-nha đều có cửa hàng buôn bán. Chùa năm trăm
ngôi, ngôi nào ngôi nấy nhiều tượng nạm vàng.
Năm
1622, vua Phra-chao Song-tham chiều các thương-gia
Bồ đang làm ăn trong nước đã dục dã giám-mục
Gonvalve da Silva ở Malacca gửi cha đạo sang sống
với họ. Hai năm sau, Jules Cé- sar Margico được phái
đến. Ông khéo léo, vừa ý vua, được lòng các đại
thần, nhưng chẳng bao lâu ông bị một người Ca-tô đầu
độc đưa về chầu thiên chúa Giê-hô-va. Mãi năm 1655
mới có một giáo-sĩ dòng Tên khác, người đảo Sicile,
từ Macao tới. Việc chính ông Thomas Valguarnera này
nhằm vào là sinh hoạt với nhóm người Ca-tô đã trốn
khỏi Đàng Trong, Nhật-bản để tránh đàn áp.
Hầu
hết dân Xiêm theo một đạo duy nhất là Phật-giáo,
khác dân Việt, dân Nhật. Một cá nhân thuộc các dân
tộc này có thể đồng thời theo nhiều đạo, thờ nhiều
thần mà chẳng gặp trở ngại gì, vì thế họ đón nhận
thần Giê-hô-va không mảy may nghĩ tới cái nguy hại
về sau. Họ không ngờ rằng thần dâm ác ấy đã ra lệnh:
"Phải dứt khoát giết đi người lễ thần nào khác
ngoài Giê-hô-va ra" (Exodus 22:20) và những kẻ
thờ Giê-hô-va đã thực hiện lời đó dọc theo lịch sử
nhân loại. Dân Xiêm nghe giáo sĩ tuyên truyền cứ như
không, vẫn một lòng tuân lời Phật. Trước Lambert gần
một thế kỷ, các giáo sĩ dòng Đa-minh đã bỏ công
Dã-tràng ra dụ họ. Nhưng Lambert vẫn hi-vọng.
Dưới
triều vua Narai, quan đại thần Constance Phaulcon
nước Xiêm theo đạo Tin Lành là người Lambert cần
giao thiệp nhất. Phaulcon nguyên tên là Gerachi,
người vùng Vénétie, sinh trong một gia đình thế tộc
ở Custodia, đảo Céphalonie, có người nói ông gốc
Hi-lạp. Làm cho công-ti Ấn-độ của Anh, ông trôi dạt
tới Xiêm, được tể-tướng rồi được cả vua tin dùng.
Khi tể tướng qua đời, Phaulcon trẻ măng, được vua cử
cầm quyền thay nhưng ông chẳng bao giờ chính thức
tuyên bố giữ chức ấy.
Bọn
Lambert đang hòa điệu êm ái với dân Tây-phương ở
Xiêm thì người Bồ tại đó trở mặt. Người Bồ được lệnh
phó vương Goa là phải bắt đám giáo sĩ Pháp vì tội
hành nghề cha đạo lậu. Đang bối rối lo sợ, Lambert
được dân Đàng Trong đến cứu đem về cùng ở trong xóm
cạnh sông. Hoàn cảnh đưa đẩy, ông tĩnh tọa, lại
kiêng ăn thịt. Ông hỏi han đám dân Đàng Trong, thấy
mang tiếng đã rửa tội mà ai cũng dốt nát, chẳng hiểu
gì về tín lý. Thì ra ai muốn rửa tội là giáo sĩ rửa
liền hôm đó hay hôm sau cho có số đông chớ chẳng
huấn luyện gì. Lambert có lý do để quật lại phe Bồ.
Tháng bảy năm 1663, ông viết thư mách giáo hoàng
nhiều điều bê-bối của giáo-sĩ Bồ, rồi mấy ngày sau,
ông cùng Deydier xuống thuyền sang Trung-quốc.
Thuyền bị bão phá hỏng, dạt vào đất Cao-miên, cả bọn
đành lội bộ quay lại Xiêm.
Ignace Cotolendi khởi hành bên Pháp năm 1661 với
Louis Chevreuil và Antoine Hainques, ông ngả bệnh
rồi tháng 8 năm 1662 qua đời tại Masulipatam. Hai
người còn lại gặp nhóm Pallu, nhập chung với nhau.
Họ cùng tới kinh đô Xiêm tháng giêng năm 1664. Người
Xiêm không chịu đổi đạo, bọn Lambert chẳng có việc
mà làm, bây giờ có thêm nhóm Pallu nữa. Đương lúc
Đàng Trong, Đàng Ngoài đều đang cấm gắt đạo Giê-su,
họ muốn đưa giáo sĩ sang Việt-nam cũng không được.
Tính đi tính lại, thấy đất Xiêm yên ổn, tự do, là
nơi nên xây dựng trụ sở chính để từ đó đến các nước
lân cận làm ăn, Pallu quyết định trở về Âu-châu để
xin chuẩn y các dự tính của mình, nhân thể cũng muốn
đòi thêm quyền hành. Tháng giêng năm 1665 ông xuống
tàu.
Phạm
vi Lambert được cử làm giám mục không có đất Xiêm,
đang thèm nắm quyền ở đấy ông mừng thấy cơ hội đã
đến. Xiêm thuộc địa phận giám mục Malacca. Khi bị
Hòa-lan chiếm, Malacca thiếu giám mục, chỉ có người
quyền giám-mục (gouverneur) là cha đạo già yếu Paul
d’Acosta, ông này chạy trốn sang Cao-miên ẩn náu với
mấy gia đình Bồ. Lambert cho Louis Chevreuil đến bẻ
ông về tội bỏ bê phận sự và ngỏ ý rằng Lambert sẵn
sàng gánh vác. Ông sợ hãi nhường quyền.
Tháng 5 năm 1666, Lambert đòi cấm hành nghề một giáo
sĩ Bồ đại diện tòa án đạo Goa là Fragoso, dòng
Đa-minh. Fragoso đòi ông trình giấy tờ để chứng minh
thẩm quyền, ông đưa thư của Acosta ra, Fragoso cho
là vô giá trị, trục xuất ông khỏi đạo, lại viết thư
báo cho các tín đồ ở Xiêm biết và cấm họ giao dịch
với ông, người giáo sĩ Bồ còn cho niêm yết thư ở nhà
thờ dòng Đa-minh, dòng Tên tại khu vực dân Bồ sinh
sống. Dẫu vậy, ông sống trong xóm dân Đàng Trong,
được họ che chở, chẳng sợ Fragoso tí nào.
Lambert viết thư về Paris vạch tội giáo sĩ dòng Tên,
lời lẽ phũ phàng nhưng nội dung vẫn là đã hốt của
làm giầu lại sống buông tuồng, không có gì mới hơn
những thư ông đã viết từ năm 1663.
Tiền
cấp cho không đủ sống, các giáo sĩ ở Viễn đông cần
kiếm thêm. Họ không cày cấy, chỉ nhằm vào buôn bán.
Giáo-sĩ dòng Tên phụ trách địa-phận Nhật hàng năm
mua lụa ở Macao, nhờ thương gia Bồ đem sang Nhật
bán, lời lãi chia nhau. Vì Alexandre Valignano,
trưởng dòng Tên, vận động, chính phủ Macao ban cho
bọn ấy đặc ân là hàng năm được hưởng lời lãi của 50
tạ lụa bán ra đầu tiên. Valignano dò ý giáo-hoàng
Gré- goire XIII, ông này cho Aquaviva trả lời là ông
chấp thuận, lại nói thẳng rằng đó là nhu cầu cần
thiết. Năm 1611, Philip III, vua kiêm hai nước
Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, cấp môn bài chấp-thuận đặc
quyền kể trên. Tháng chín năm 1666, chính phủ Macao
công bố rằng buôn bán là nhu cầu cần thiết của giáo
sĩ dòng Tên địa phận Nhật, tòa thánh và vua đều cho
phép. Đế quốc thế quyền cấu kết với đế quốc giáo
quyền chặt chẽ như vậy.
Lambert vạch ra rằng chẳng tàu nào nhổ neo ở Macao
đi Xiêm, Cao-miên hay nhiều miền khác không có những
khối hàng lớn của dòng Tên. Tháng 10 năm 1667, ông
cho dán lên cửa nhà thờ xóm Đàng Trong ở kinh-đô
Xiêm một thư tố cáo bằng tiếng La-tinh kèm với bản
dịch thành tiếng Bồ. Ông phàn nàn là giáo sĩ dòng
Tên lầm-lỗi, không biết liêm sỉ. Phe Bồ phản công.
Valguarnera tố cáo với Vatican rằng ông phạm nhiều
lỗi, một lỗi là làm lễ khi chưa được Acosta ủy
quyền. Ông bẻ lại rằng dòng Tên đã cho phép con
chiên cúng giỗ, còn đút lót vua chúa để được sủng
ái. Ông bèn bị bẻ là buôn vàng và gửi một thuyền đầy
hoa quả sang bán bên Quảng-đông.
Dòng
Tên ở Xiêm vận động các giáo sĩ đòi Lambert xuất
trình giấy tờ. Tháng 8 năm 1669, họ ra lệnh bắt ông
trình nội trong ba ngày, nếu không sẽ bị trục xuất
khỏi giáo hội, lại bị phạt hai trăm đồng bạc kim
loại. Ông nhượng bộ, trình sắc lệnh giáo hoàng cùng
các giấy tờ khác. Phe Bồ công nhận giấy tờ của ông
là thật cả, nhưng ông đã đi lén vua Bồ nên họ vẫn
coi ông là kẻ hành nghề cha đạo bất hợp pháp.
Một
người Bồ quyền quí mới đến Xiêm muốn hạch tội
Lambert bèn cùng một đoàn hộ tống đi thuyền treo cờ
Bồ tới đòi ông trình giấy phép của vua Bồ. Sợ mấy
người Pháp lâm nguy, độ trên chục người Đàng Trong
vội vàng cầm gươm dao chạy đến. Người Bồ thấy họ
hung hăng bèn rút lui. Sáng sau, dân Đàng Trong võ
trang ngồi trên hai chiến thuyền vua Xiêm ban cho từ
trước, diễu đi diễu lại qua xóm Bồ, chẳng ai dám
phản ứng gì.
Vua
Narai gửi mười thần dân đến học khoa học với các
giáo sĩ Pháp, cho phép những người này tự do đi
tuyên truyền, lại tặng đất cho họ xây nhà thờ. Bọn
giáo sĩ không biết điều, hí hửng lên chân quá trớn.
Một ông hoàng bị bệnh, tay chân liệt đã trên mười
năm, chẳng thuốc men gì chữa khỏi, họ nhận chữa bằng
phép lạ. Họ cầu nguyện rồi họ nói bệnh đã bớt nhưng
nếu muốn bệnh khỏi hẳn, ông hoàng phải theo đạo
Ca-tô. Vua Narai thông minh nhận ra sự thật, vẫn nhã
nhặn ban cho bọn họ nhiều đặc ân nhưng tuyệt đối
không để họ nói chuyện đạo Ca-tô trong chốn triều
đình nữa. Lambert mở trường đào tạo giáo sĩ. Năm
1668, ông phong cho một người Đàng Trong làm cha đạo
lấy tên là Joseph.
Bourges đi Âu-châu vận-động
Lambert tới kinh đô Xiêm tháng tám 1662, ông sớm
thấy cần phải có quyền để kiềm chế giáo-sĩ phe Bồ.
Ông nóng lòng muốn nắm ưu-thế nên chăm gửi thư về
Vatican, tháng mười gửi một chuyến theo đường thủy,
tháng chạp một chuyến theo đường bộ, rồi tháng ba
năm sau một chuyến theo cả hai đường. Nghi ngờ vẩn
vơ rằng thư có thể bị phe Bồ nẫng mất, ông quyết
định gửi người về Âu-châu liên lạc.
Người ra đi là Jacques de Bourges, trước thuộc nhóm
Bạn Tốt, ông xuống Tàu rời Xiêm tháng mười 1663. Tới
Malacca ông thấy sáu trăm dân Ca-tô bị chánh quyền
Hòa-lan ngược đãi, chẳng cho phép đến một cha đạo
hành nghề. Tháng giêng 1664, đến Masulipatam, ông
được tin giám mục Cotolendi đã chết dọc đường đi
nhận chức. Ông xuống tàu Anh, đi qua Tích-lan, vượt
mũi Hảo-vọng, ghé đảo Saint Hélène, đảo Ascension,
tháng bảy tới Anh, tháng tám đặt chân lên đất Roma.
Đang khi ấy, vua chúa các nước Ca-tô hục hặc với
nhau vì nhiều vấn đề. Vua Tây-ban-nha dựa vào quyền
thừa hưởng cơ-nghiệp đã tới cai trị Bồ-đào-nha, cho
đến năm 1640 là khi dân Bồ nổi dậy giành lại tự-do
độc-lập. Pháp về phe với Bồ, viện trợ cho vua Bồ
Alphonse VI nào người ngựa, nào tiền của.
Quyền hành của Vatican một phần nằm trong tay giáo
hoàng, một phần nằm tản mát trong tay các hồng-y. Ý
những người này tùy thuộc vào cái gì lợi cho họ, cái
gì không, tùy theo nước nào thuộc phe họ, nước nào
thuộc phe đối lập. Thời thế biến chuyển không ngừng;
món lợi, điều hại, khuynh hướng ngả phe của mỗi
người biến đổi theo.
Giáo-hoàng Alexandre VII lúng túng sợ mất lòng
Tây-ban-nha, dùng dằng lơ đi việc công nhận nền độc
lập của dân Bồ. Vatican dè dặt đối với cuộc tranh
quyền giữa giáo sĩ Pháp với giáo sĩ Bồ ở Viễn-đông
tuy phe Pháp là gà nhà. Mặc dù Lambert sơ suất không
ủy quyền rõ ràng cho Bourges, một ủy ban gồm mấy
hồng y vẫn họp để xét các vấn đề được nêu ra. Tháng
giêng 1665, ủy-ban chiều ý Lambert, đặt Cao-miên và
Chiêm-thành dưới quyền ông. Giáo hoàng cũng cho ông
cùng với Pallu quyền cử người thay Cotolendi, cho họ
có quyền trong thời hạn bảy năm cử người gốc
Viễn-đông không biết chữ La-tinh làm cha đạo. Hai
điều ông bị thất bại là không được làm giám mục cai
quản những đất thuộc quyền Đỡ Đầu, không có quyền
hành gì trên đất Xiêm, đất Pégou (Miến-điện) trừ
quyền trông coi người Đàng Trong ở Xiêm.
Lúc
ấy, cha đạo dòng Tên là Philippe Marini, người đã
phải trốn khỏi Bắc-hà, cũng đang vận động ở Roma.
Marini là người chịu khó viết lách về Viễn-đông. Năm
1663 ông cho xuất bản tại Roma một tác phẩm kể thành
tích của dòng Tên trên đất Việt. Ông cũng viết một
bài luận về việc dùng tiếng Việt để làm phép
bí-tích; năm 1680, bài đó bị Vatican liệt vào sổ
đen, nghĩa là dân Ca-tô bị cấm đọc.
Marini được giáo-hoàng Alexandre VII giao cho một
thư bảo con chiên Đàng Ngoài rằng phải ngoan ngoãn
tuân lời cha đạo. Khi trở lại Viễn-đông, ông đem
theo một toán giáo sĩ, phe Pháp khó chịu lắm vì cả
toán chẳng có ai là người Pháp cả.
Pháp
phái giáo-sĩ tới Đàng Trong
Các
giáo sĩ ước lượng rằng năm 1645 Đàng Trong có độ năm
vạn tín đồ. Tháng bảy năm ấy, hơn ba tuần lễ sau khi
Rhodes xuống thuyền đi Macao, Thượng-vương cấm đạo,
phạt tử hình một người dân trong nước, cắt một ngón
tay bảy người. Cuối năm sau, ba người nữa bị xử tử.
Tuy vậy cứ nhận được quà quí như ngọc trai, vàng
ròng của giáo-sĩ là chúa mềm lòng, cho nên Saccano,
Charles della Rocca vẫn được ở lại hành nghề.
Hiền-vương lên ngôi năm 1648. Biên giới phía Nam
đang ở đèo Cả, chúa mở xuống Phan-rang; biên giới
phía Bắc đang ở Lũy Đồng-hới, chúa mở lên Nghệ-an.
Chúa cần giáo sĩ dòng Tên làm môi giới với người Bồ
để mua đại bác nên chỉ cấm đạo nửa vời. Hai giáo sĩ
trên mang tiếng bị cấm ra khỏi Hội-an, bị cấm tuyên
truyền, vẫn dễ dàng lén ra ngoài hành nghề. Pierre
Marquez cùng Francois Rivas sang thay họ, được làm
ăn khá dễ dãi. Nhiều thương thuyền Nhật đến buôn bán
đem cho chúa lợi tức to lớn. Chúa thấy cần duy trì
mối giao hảo với chính phủ tướng quân lại biết họ
diệt đạo Ca-tô gắt gao nên Chúa gửi sứ thần sang báo
rằng chúa cũng đang trừ khử đạo ấy như họ.
Cần
mua đại-bác, chúa Hiền nhờ Marquez đem món tiền
tương-đương với 10,000 đồng écu của Pháp [đồng tiền
bằng bạc hay vàng có giá trị lớn] đi trả trước cho
người Bồ, họ muốn quịt nên cứ lờ đi không giao hàng.
Chúa nhờ ông sang Macao điều đình, ông ra đi đúng
lúc Dominique Fuciti đến. Năm 1658, một tàu Bồ từ
Xiêm đi Macao đã gặp bão còn bị tàu Hòa-lan rượt
theo, bí quá phải ghé vào Đàng Trong ẩn núp. Chúa
tịch thu tàu, cầm giữ thủy thủ, hành khách, dọa giết
những người Bồ bị bắt. Marquez vô phúc có mặt trên
tàu ấy nhưng may mắn là có một tàu Trung-quốc tạt
qua trên đường tới Hải-nam. Ông lén nhờ chuyển hộ
thư cho người Bồ. Người Bồ đành chịu đem súng tới
Hội-an trả cho chúa. Chúa vui mừng, cho phép giáo sĩ
dựng một nhà thờ mới ở đấy, cũng không quên gửi quà
tặng đám Macao để làm hòa. Năm 1661 chúa Trịnh thu
lại Bố-chính, Nghệ-an và chúa Nguyễn ngược đãi phe
Ca-tô, hành hình bốn người.
Lambert cử Chevreuil, người vùng Rennes, đến Đàng
Trong hoạt động. Tháng 6 năm 1664 ông này đem theo
thư từ, tiền nong từ Xiêm xuống thuyền ra đi với sứ
mệnh là tỏ cho giáo-sĩ thuộc quyền Bồ ở đất chúa
Nguyễn biết phải phục tùng Lambert, kẻ đại-diện
Vatican.
Chevreuil cùng một người thông ngôn Nhật lên bến
Hội-an. Tuy cha đạo Bồ Marquez tiếp đón lịch sự, ông
vẫn sợ bị đồng nghiệp này tống đi. Ông bèn lén lên
Huế, liên lạc với Jean de la Croix, một vị quan
triều chúa Nguyễn. Croix là người lai da trắng,
dường như sinh ở Phi-luật-tân, chuyên nghề đúc đại
bác, Hiền vương bắt được khi đánh chiếm Cao-miên.
Croix trông coi xưởng đúc Thợ Đúc; lương bổng hậu,
xe võng xênh xang, chẳng vì theo đạo Ca-tô mà bị vua
hắt hủi. Croix đưa ông đến tá túc trong nhà giáo-sĩ
Fuciti. Chevreuil lợi dụng một buổi lễ, khi có đông
tín đồ, công bố rằng mình là đại-diện của Lambert,
tức đại diện Vatican, ý nghĩa là ông vượt trên các
giáo sĩ Bồ và là người cai quản con chiên khắp nước
Đàng Trong. Ông không báo trước cho Croix hay Fuciti
việc công bố ấy khiến Croix bất bình. Sinh ra e
ngại, ông vội thuê thuyền trốn vào Đà-nẵng, lúc nào
cũng có người thông ngôn Nhật đi kèm. Gặp Marquez,
ông cùng đi về Hội-an. Ông trình giấy tờ chứng tỏ
mình là đại diện của Lambert ra cho Marquez và
Baudet thấy. Hai người, sau này cả Fuciti nữa, đều
nhũn nhặn tỏ ra rằng lúc nào họ cũng tuân lệnh
Vatican nhưng họ phải chờ cấp chỉ huy của họ ở Macao
cho phép.
Chúa
Nguyễn truyền lệnh cấm đạo. Bốn giáo sĩ Bồ, Pháp
không được phép ra khỏi nhà. Tại Hội-an, nhà nước
bày một cây thập ác ở giữa đường, ai đi qua cũng
phải giẵm lên, dù là người ngoại quốc. Thương nhân
Nhật sợ Giê-hô-va không nhiều bằng tiếc nhà tan, của
hết, đành lìa đạo. Một người Việt chịu chết, ba đứa
trẻ bắt chước người ấy. Quảng nghĩa có cả thảy độ
bốn ngàn con chiên, hầu hết vội bỏ rơi Giê-su. Tổng
cộng trong năm 1665, 43 người bị giết.
Các
giáo-sĩ ở Đàng Trong bị trục-xuất. Ba người phe Bồ
xuống thuyền đi Macao. Tháng ba năm 1665, Chevreuil
xuống thuyền, mang theo một "di vật quí báu", đầu
Lucie, cô gái bé độc nhất trong ba thiếu niên bị
giết. Tội nghiệp em bé Lucie tưởng người ta cứ lớn
là khôn, em không biết mê muội cuồng tín là gì, đã
dại dột bắt chước và chết với hoang tưởng hiến thân
cho một thiên chúa thương người, hoàn toàn không ngờ
vực đã dâng mạng cho một thần dâm ác.
Tháng tám năm 1665, Chevreuil ở Xiêm lại theo lệnh
Lambert đáp thuyền sang ĐàngTrong, lần này đi với
một cha đạo Pháp trẻ tuổi là Antoine Hainques. Tới
Phan-rí, Chevreuil bị sốt, mệt mỏi rút lui. Một mình
Hainques mặc trá hình là lái buôn, đi lần lần lên
Huế, vào nhà Croix tá túc mấy bữa. Năm 1666, giáo-sĩ
phe Bồ là Rivas và Barthélemy Acosta cặp bến Hội-an;
Acosta lai Nhật như Marquez. Hai người được Croix
đón lên Huế nhưng mặc dù Croix quyền thế, ba tháng
sau hai người vẫn bị chúa Nguyễn đuổi đi. Hainques
trở thành cha đạo Tây-phương độc nhất hành nghề tại
Đàng Trong cho tới năm 1668, khi Dominique Fuciti từ
Macao quay lại để làm đại-diện cho giáo-sĩ phe Bồ.
Mures, người chỉ huy giáo-sĩ phe Bồ ở Macao đã bắt
Pierre Brindeau gửi đi Goa cho tòa án đạo xét xem có
phạm tội hành nghề cha đạo lậu không; Brindeau là
người đã được Lambert gửi tới Macao để điều đình về
vấn đề phe Pháp đòi chỉ huy phe Bồ. Tình thế khó
khăn, Fuciti sớm bỏ Đàng Trong ra đi.
Hainques ở Đàng Trong gửi hai phụ-giáo-sĩ Việt là
Joseph Trang, Luc Ben, sang Xiêm học nghề cha đạo.
Năm 1669 Ignace Baudet, từ Ma-cao đến Đàng Trong,
gặp Brindeau đang phụ việc cho Hainques, thì ra tòa
án đạo ở Goa đã tha bổng Brindeau. Năm 1670 Mar-
quez cũng ghé Đàng Trong. Cả Baudet lẫn Marquez đều
gặp Joseph Trang, Luc Ben, bấy giờ đã thành hai cha
đạo. Trong một bức thư viết năm đó, Tissanier than
rằng cả hai đều dốt đặc (Chappoulie, tome I, trang
183).
Các
giáo sĩ khoe mộ được hàng vạn tín đồ ở Đàng Trong,
thế mà khi tuyển có hai người để dẫn dắt con chiên,
họ cũng chỉ kiếm được kẻ ngu si. Nếu những người
theo họ thuộc giới khá giả, ắt có nhiều người thông
minh lỗi lạc, học vấn uyên thâm chớ đâu đến nỗi ấy.
Sĩ phu thời đó nhận xét không sai khi nói rằng giáo
sĩ chỉ quyến dũ được những người khờ khạo, mê muội.
Giới trí thức La-mã cũng nhận thấy y như thế về
phong trào đạo Giê-su trong vài thế kỷ đầu dương
lịch.
Hainques mắc bệnh sốt chết tháng chạp năm 1670, một
tháng sau Brindeau lâm cùng bệnh chết theo. Đàng
Trong chẳng còn giáo-sĩ Tây-phương nào cả.
Louis Chevreuil tới Phan-rí chùn bước như nói trên.
Lambert cử ông sang Cao-miên để gặp Paul d’Acosta.
Ông thấy Nam-vang có một xóm dân Bồ-đào-nha. Ông
cũng thấy dân Đàng Trong sống ở đó độ bốn năm trăm
người, khoảng năm chục theo đạo Ca-tô; Udong, kinh
đô nước Cao-miên khi ấy, có độ năm sáu trăm người
Đàng Trong, có một giáo-sĩ dòng Tên là Charles della
Costa sống với họ. Chevreuil chịu thua người Miên
trên đất Miên; họ cũng như người Thái, ông dụ cách
nào họ cũng vẫn chê Giê-hô-va, chê Giê-su. Ông cũng
được chứng kiến cảnh dòng Tên buôn bán. Một thuyền
dòng đó từ Macao ghé bến kinh đô, gỡ xuống toàn hàng
Trung-hoa có giá, hàng ấy bán đi mua thành hàng
Cao-miên nhiều quá, một thuyền chứa không hết, phải
dùng tới hai chiếc.
Chevreuil bị người Bồ đòi phải trình diện tòa án
đạo. Năm 1670 ông bỏ Miên sang Macao rồi đến Goa ra
tòa nhưng cũng như Brindeau, ông được thả. Năm sau,
Pallu qua đấy trên đường trở lại Viễn-đông, đón ông
đi luôn.
Pháp
phái giáo-sĩ tới Đàng Ngoài
Năm
1630, trước khi vĩnh viễn từ giã Đàng Ngoài, Rhodes
đem mọi việc dặn dò ba người Việt phụ-giáo-sĩ là
Francois, André, Ignace. Không kém các giáo-sĩ dòng
Tên ở Cửu-châu bên Nhật, ông khéo dạy tín đồ phải
trung với giáo-hoàng. Ông kiếm được để đem đến Roma
một thư năm ngàn người tỏ lòng thành với Urbain
VIII. Ông đi rồi, một điều xảy ra, "đáng quí"
(Chappoulie, tome I, trang 38) cho bọn giáo sĩ thờ
thần Giê-hô-va dâm ác, là đất Bắc-hà đã có người tử
đạo đầu tiên. Nạn nhân khư khư với niềm tin là thiên
chúa Giê-hô-va quá tốt, bị chủ, một người hoàng tộc,
chém chết.
Tháng ba năm 1631, ba giáo sĩ dòng Tên từ Macao vào
đất vua Lê, chúa Trịnh làm ăn, dẫn đầu là Gaspard
d’Amaral, một người Bồ trước đã có lần đưa Rhodes
quay lại đó. Tuy cần kẻ trung gian liên lạc với
thương gia Bồ, chúa Trịnh Tráng vẫn chỉ cho hai
người ở lại thôi.
Các
giáo sĩ nói là năm 1640 Đàng Ngoài có độ mười vạn
người theo đạo. Nhiều trường hợp con chiên ngoan đạo
quá, thi-hành đúng lệnh Giê-hô-va đã đập phá tượng
đạo khác (Chappoulie, tome I, trang 39). Majorica kể
rằng chúa Trịnh bất bình vì hành động của họ. Năm
1643, chúa ra lệnh cấm đạo, kể tội bọn giáo sĩ là đã
dạy dân điều sai lầm, lại còn gian dối.
Tháng hai năm 1646, bảy giáo sĩ từ Macao xuống
thuyền, ba người đi Hải-nam, bốn người đi Bắc-hà.
Bốn người này thạo tiếng Việt bậc nhất trong các
giáo sĩ. Tàu đắm, quỉ sứ hay Giê-hô-va bắt đi mất
sáu người, trong có Gaspard d’Amaral; một người
thuộc nhóm đi Hải-nam sống sót.
Chúa
Trịnh không gắt với đạo Ca-tô, giáo sĩ Marini kể
rằng các vụ ngược đãi đều nhỏ, chẳng qua chỉ đáng
coi là ruỗi muỗi quấy rầy. Nhiều người Ca-tô làm
việc cho vua chúa; bà nấu bếp cho chúa Trịnh Tráng
là một. Những người Việt làm phụ-giáo-sĩ đi lại tự
do, họ có vài sách kinh bằng tiếng Việt do Majorica
dịch từ tiếng Âu-châu sang. Giáo sĩ giỏi tổ chức
tình báo nên chúa Trịnh định làm gì họ cũng biết
trước.
Năm
1656, một tàu Bồ bị đắm ở cửa Hồng-hà, quan khám phá
ra là tàu đem chì, lưu-hoàng cung cấp cho chúa
Nguyễn Đàng Trong. Rangel, trưởng dòng Tên cãi rằng
ông không buôn bán nên chẳng biết gì, lại khéo vận
động lén với mấy bà quyền thế trong phủ chúa làm cho
hai người bị bắt trên tàu được thả hết. Năm 1657,
chúa Trịnh Tùng thọ 81 tuổi mọc thêm răng, phủ chúa
ăn mừng; Rangel đem lễ vật đến chúc thọ, được chúa
thân ái há miệng cho xem. Chúa qua đời mấy ngày sau,
con lên thay.
Chúa
Trịnh Tạc nhận thấy đạo Ca-tô là một mối nguy cho
đất nước, vấn đề đạo ấy ở Nhật, ở Đàng Trong càng
làm chúa Trịnh thấy mình lo là phải. Tháng sáu năm
1658, chúa báo cho Onuphre Borgès, trưởng đoàn giáo
sĩ, lệnh trục xuất cả bọn. Borgès van nài, chúa cho
ông và Tissanier ở lại. Sáu người là Francois
Rangel, Philippe Marini, Joseph Agnese, Charles
della Rocca, Barnabé d’Oliveira, Pierre kéo nhau
xuống thuyền về Macao. Hai người ở lại cố mua chuộc
lòng chúa. Tháng hai năm 1660, nhân ngày Nguyên-đán,
họ đến phủ chúc tết, lạy chúa bốn vái, lạy mẹ chúa
bốn vái. Bị cấm không được ra khỏi thành Hà-nội, họ
đành hành nghề vụng trộm qua trung gian của những
người Việt phụ-giáo-sĩ, một người Việt gốc Đàng
Trong là Raphael Rhodes và một thương gia Nhật giàu
có là Paul de Vada. Giáo sĩ Pierre Albier ở Macao
sang được chúa cho phép ở lại hành nghề.
Năm
1663, chúa cấm đạo, đuổi giáo sĩ. Vua chúa, sĩ phu
phiền muộn vì thấy họ đem những điều nực cười, vô
căn cứ ra dụ dỗ khiến các kẻ thô lỗ, ngu dốt và đàn
bà, con gái, mù quáng cắm đầu cắm cổ tin theo
(Chappoulie, tome I, trang 211). Bấy giờ Macao bị
thời cuộc Trung-quốc đảy vào cảnh gian nan, các
giáo-sĩ bị đuổi ấy không muốn quay lại đó nên tính
kiếm chỗ khác nương tựa. Tissanier, Albier chạy đi
Xiêm ở với Valguarneira, Borgès đáp tàu Hòa-lan sang
Batavia.
Năm
1644, quân Mãn châu đánh bại nhà Minh, lập nên nhà
Thanh. Năm 1660, Trịnh Thành Công trung thành với
nhà Minh, giựt đảo Đài-loan của Hòa-lan dùng làm căn
cứ chống lại triều đình mới. Quân Mãn-châu áp dụng
chiến thuật vườn không nhà trống để quân Đài-loan
không trà trộn được với dân trên lục-địa. Vua
Khang-hi bắt dân dọc duyên hải bỏ ruộng vườn, di cư
hết vào sâu trong đất liền; đất Macao trông ra biển
nên dân Tàu ở đó phải chịu cùng số phận. Tháng 5 năm
1662, 22 chiến thuyền Mãn Thanh đến vây quanh Macao,
bắt dân Tàu thi hành lệnh. Năm 1663, hai giáo sĩ
dòng Tên là Jacques Le Faure, người Pháp và Jean
Adam Schall von Bell, người Đức, dâng cống vật xin
nhà Thanh đặc biệt miễn cho dân Tàu ở Macao khỏi
phải dọn đi; Adam Schall quen lớn trong Thanh triều
vì ông từng là quan dạy Khang-hi khi vua còn nhỏ.
Nhà Thanh nhẹ tay một thời rồi đến năm 1666 đốt tàu
Bồ, ngăn trở việc hàng hải, khiến cho Macao xuống
dốc, chính phủ phải bán đồ bằng bạc trong nhà thờ đi
mà tiêu.
Tháng sáu năm 1666, Francois Deydier đại diện
Lambert từ Xiêm đáp thuyền buồm Tàu sang Bắc-hà tiến
hành chương trình tranh quyền điều khiển con chiên
đang nằm trong tay phe Bồ. Pallu luôn luôn nhắc nhở
giáo sĩ nói cho dân Việt biết rằng nước Pháp ở xa
trên bốn ngàn dặm, lại không sở hữu đến một tấc đất
ở Ấn-độ, chẳng có gì đáng làm họ e ngại. Tới cửa
sông Hồng, Deydier liên lạc với Raphael Rhodes.
Người này báo cho ông rằng có một giáo sĩ dòng
Franciscain (Phan-xi-cô) từ Phi-luật-tân đến, lấy tư
cách là đại diện Vatican để điều khiển con chiên
nhưng vừa bị chúa Trịnh đuổi đi. Deydier xuống tàu ở
Hà-nội, đến nhà Raphael trong khu xóm Hòa-lan tá túc
rồi nhờ một người Việt phụ-giáo-sĩ đưa đến gặp Paul
de Vada. Ông đưa giấy tờ ra chứng minh, cố thuyết
phục Vada công nhận mình có quyền chỉ huy giáo-sĩ
phe Bồ nhưng Vada thấy ông không được dòng Tên giới
thiệu nên một mực hững hờ.
Deydier bỏ tiền ra cho Raphael vay mua một chiếc
tàu, vừa cho mấy người học nghề giáo sĩ đánh cá làm
kế sinh nhai, vừa làm nơi cho ông ẩn trốn. Ông mặc
trá hình là công nhân. Tuy phần nhiều những người
học làm giáo sĩ ngày trước đã bỏ cả, ông vẫn kiếm
được tám người phụ-giáo-sĩ họp mặt một buổi trong
thuyền của ông vào tháng mười, xúi họ rồi được họ
nghe theo ký tên vào một thư gửi cho Lambert tỏ lòng
quí mến ông.
Tháng hai năm 1688, Deydier gửi Benoit Hiên và Jean
Huê sang Xiêm học nghề cầu lễ. Hai tháng sau,
Lambert phong họ làm cha đạo. Nhiều con chiên đã bỏ
đạo, Deydier cho là tại Borgès ngày trước cẩu thả,
mới hướng dẫn qua loa vài ngày người muốn nhập đạo
đã đem họ ra rửa tội. Năm 1667, chúa Trịnh xuất quân
đánh Mạc Kính Vũ ở Cao-bằng, quan quân tuần phòng
cẩn mật, Deydier sợ bị bắt, ít dám đi lại. Tháng sáu
năm 1668, hai tàu Hòa-lan đến, ông nhận được thư từ
Xiêm gửi cho sau hai năm xa cách. Hai cha đạo Việt
về nước hành nghề; Benoit Hiền dốt nát, không thuộc
lòng nổi đôi điều căn bản.
Lambert vào Việt-nam
Tháng sáu năm 1669 một tàu Macao cặp bến Phố Hiến,
trên có ba giáo sĩ phe Bồ, người đứng đầu là
Dominique Fuciti, hai người kia là Balthasar de
Rocha, người Bồ và Philippe Fieschi, người Gênois.
Sau sáu năm vắng mặt ở Bắc-hà, bây giờ phe Ca-tô
Macao mới trở lại. Fuciti vừa xuống bờ đã được con
chiên bí mật đưa ngay lên Hà-nội sống lén lút. Đúng
lúc đất Bắc đang mở một đợt cấm ngặt đạo Giê-su,
quan lại khám xét gắt gao, hai người kia thấy không
yên, vội lẩn trốn. Dân chúng ai thờ Giê-su bị đòn
năm mươi roi. Raphael Rhodes biết phòng bị, quan-lại
khám nhà chẳng tìm được tang vật gì. Deydier đóng
vai thợ như đã nói, bỏ Hà-nội xuống phố Hiến là nơi
dễ trà trộn với thường dân Da Trắng.
Tháng bảy cùng năm ấy, một giám mục Pháp bước vào
sân khâu Bắc-hà chơi trò hề như các giáo-sĩ đã tới
trước, vừa trổ ngón dành giựt quyền lợi với cha đạo
Bồ vừa giảng lẽ yêu thương. Một tàu buôn nhổ neo ở
Xiêm đem ông với hai cha đạo nữa là Jacques de
Bourges, Gabriel Bouchard đến Đàng Ngoài. Đây là con
tàu Pháp đầu tiên xuất hiện ở Bắc-hà. Tàu lướt trên
sông Hồng treo cờ rất lạ đối với dân địa phương,
thuyền trưởng cho người dùng tiếng Bồ đi liên lạc
với quan phụ trách ngoại thương. Cha đạo Deydier dối
trá đã quen dặn viên thuyền trưởng Bourguignon Junet
rằng phải khai gian về số giáo-sĩ, Junet bèn nói dối
là tàu chỉ có mỗi một cha đạo thôi để theo tập quán
Pháp phục vụ thủy thủ. Trên tàu, một mình giám mục
Lambert mặc áo giáo-sĩ, hai cha đạo kia mặc trá hình
làm lái buôn.
Junet trình bày cho quan ta rằng công-ti Đông Ấn-độ
của Pháp mới ra đời năm 1664, phái ông đi tìm thương
cảng để buôn bán. Tuy nhóm Hòa-lan đã tung tin ra là
Pháp đem cha đạo lậu vào trong nước, chúa
Trịnh vẫn lờ đi. Chúa thỏa thuận cho Pháp mở thương
điếm ở phố Hiến, lại còn ngỏ ý mong mỏi họ đem súng
đại bác sang bán cho.
Fuciti tự nhận là người cầm đầu giáo-hội Ca-tô ở
Bắc-hà, ông có hẳn hoi giấy chứng nhận cấp bởi
Michel de Angeli, giáo sĩ dòng Augustin, tòa giám
mục Macao. Theo ông biết thì tháng 11 năm 1664 hội
Tuyên-truyền ở Roma đã quyết-định cho trưởng dòng
Tên toàn quyền bổ nhiệm các giáo sĩ thuộc quyền
dòng. Ông cũng được Piccolomini, trưởng dòng Tên,
giảng rằng chiếu theo quyết-định ấy, giáo sĩ dòng
Tên không phải phục tòng những kẻ khác dù những kẻ
này đại diện hội Tuyên-truyền. Ông bảo con chiên
Bắc-hà phải tuân theo ông, chớ có nghe lời phe Pháp.
Deydier muốn bắt con chiên công nhận giám mục
Lambert là kẻ có quyền cao nhất trong đám người
Ca-tô ở Bắc-hà, bèn mời Fuciti họp với vài phụ
giáo-sĩ cùng vài con chiên hạng khá. Ông đưa ra sắc
lệnh cử Lambert làm đại diện Vatican. Fuciti vẫn
không chịu, viện cớ rằng miền Viễn-đông thuộc quyền
Đỡ Đầu của Bồ, Lambert chưa được vua Bồ chấp nhận
tức là vẫn chưa có chức vị hợp pháp.
Bắc-hà đã có hai cha đạo người Việt, Lambert phong
chức ấy cho bảy người nữa. Tháng hai năm 1670, ba
cha đạo Pháp họp với chín cha đạo Việt trong một
cuộc hội-nghị (synode) để bàn về việc tổ chức
giáo-hội Bắc-hà và nhất là để tôn Lambert lên làm
chủ giáo hội ấy. Lambert cùng Bouchard lên tàu Pháp
quay về Xiêm để Bourges ở lại giúp Deydier. Hai cha
đạo này giả làm thợ đêm đêm tiếp tục lẩn đi giảng
cho người ta nên ăn ở thẳng thắng đường hoàng như
mình, hiền lành như Giê-hô-va.
Lambert mang danh là giám-mục Đàng Trong mà chưa bao
giờ tới đấy nên các giáo-sĩ Pháp muốn ông đi một
chuyến, mặt nữa hai cha đạo Việt là Joseph Trang và
Luc Ben tự thấy không đủ sức lèo lái tín đồ trong
nước nên cần người ngoại quốc đến cầm quyền, ông bèn
quyết định đến đất chúa Nguyễn. Tháng bảy năm 1671,
ông cùng hai cha đạo Việt ấy và hai cha đạo Pháp là
Bénigne Vachet, Guillaume Mahot, kín đáo xuống tàu
dời Xiêm. Tàu nhỏ, bốn thủy thủ đều là người Đàng
Trong, ban đêm năm người đổ bộ lên một chỗ ở Bình
thuận giáp giới Chiêm-thành. Ông lần mò tới Hội-an,
sống lén lút trên một đảo nhỏ. Ngày 19 tháng giêng
năm sau ông hội-nghị với Guiart, Vachet, Trang và
vài người phụ-giáo-sĩ, cốt đặt quyền ông lên trên
các giáo-sĩ dòng Tên trong nước. Hội nghị một chiều,
chẳng có giáo sĩ phe Bồ nào dự cả.
Cuối
tháng ba, Lambert cùng Vachet xuống tàu quay về
Xiêm. Tàu đang ngược sông Chao Phraya thì du thuyền
của sứ-thần chúa Nguyễn xuôi dòng trờ tới, sứ thần
dừng lại hỏi han. Trong tàu có mười hai đứa trẻ Việt
ông đem trộm sang Xiêm cho học đạo, ông hết hồn, sợ
bị bẻ về tội bắt cóc trẻ con, nhưng ông ngọt ngào
nói quanh, chuyện cũng êm qua.
Hòa-lan muốn có độc quyền buôn bán ở Xiêm, cậy có
hải lực mạnh, vây kinh thành Ayouthia, khiến năm
1664 vua Narai phải nhường cho họ nhiều quyền lợi.
Năm 1673, nhà vua dùng bọn Pallu, Lambert nối liên
lạc ngoại giao với Pháp để tìm đường cầm chân họ.
Hiền-vương thấy thế, biết cần thay đổi chính sách,
năm 1674 mời Lambert sang, rồi năm sau mời nữa.
Tháng bảy năm 1675 Lambert đáp tàu của người Đàng
Trong từ Xiêm đến thẳng Hội-an. Ra Huế ông không
được chúa tiếp kiến vì chúa vừa mới có người con
trai thứ nhì qua đời, nhưng ông được chúa cho phép
tự do đi lại. Ông trở xuống Hội-an chơi trò tranh
quyền với phe Bồ. Màn kịch diễn ra trong một chiếc
thuyền; ông đưa giấy tờ chứng minh quyền hành ra,
hai người phe Bồ, Candone đứng đầu, có Acosta hậu
thuẫn, không công nhận. Giấy tờ bay xuống sông. Ba
ngày sau Lambert trục xuất hai người phe Bồ khỏi
giáo-hội.
Candone không vừa, đã trục xuất Lambert về tội hành
nghề cha đạo trong địa phận của ông mà không được
chính ông cho phép, ông còn thông báo quyết định của
mình cho tín đồ nữa. Lambert viết thư mách hội
Tuyên-truyền ở Roma. Tháng 5 năm 1676, Lambert quay
lại Xiêm. Vatican ra lệnh bắt các giáo sĩ phe Bồ
phải rút lui, nhường đất Việt-nam cho giáo sĩ Pháp
đến làm ăn.
Pallu rồi Sévin sang Âu-châu vận-động
Pallu thấy cần phải có quyền chỉ huy phe Bồ mới dễ
làm ăn ở Xiêm, vả lại ông cũng muốn xin phép Vatican
cho ông lập một hội thánh riêng, thành ra tháng
giêng năm 1664 đến Xiêm thì tháng giêng năm sau ông
lại quay về Âu-châu. Ông đi đường bộ, tháng tư năm
1667 tới Roma. Giáo-hoàng Alexandre VII hấp hối,
tháng sau mất, một hồng y thân Pháp lên thay lấy tên
là Clement IX. Ngôi giáo-hoàng là địa vị cao nhất
trong xã hội Ca-tô, thời đó những người bầu đều thèm
đến lượt mình được lên ngôi, thường ngắm xem kẻ nào
coi bộ sắp về chầu chúa thì chọn, nên không ai ngạc
nhiên khi bộ mặt chủ chăn ở Vatican thay đổi luôn.
Trong khi chờ đợi ủy ban bốn hồng y do giáo-hoàng
giao cho xét những đòi hỏi của ông, Pallu dời Roma
sang Pháp. Tháng giêng năm 1668, ông được gặp vua
Pháp, tháng 11 quay lại Roma. Ông gặt hái được nhiều
thắng lợi. Giáo-hoàng cho phe hội Tuyên-truyền tức
phe Pháp quyền cai quản giáo sĩ làm ăn ở địa phận
Xiêm, giáo sĩ phe Bồ phải chịu ở dưới quyền phe
Pháp.
Tháng 12 năm 1669, giáo-hoàng lại chết, ban bầu cử
lựa người kế vị rất gay go, mãi tháng tư năm sau mới
xong. Nhưng họ chọn được một người thật vừa ý, một
ông cụ 76 tuổi lên ngôi thành giáo-hoàng Clement X.
Pallu về Pháp tháng tư năm 1670 rồi cùng sáu giáo-sĩ
xuống tàu thuộc Công-ti Đông Ấn-độ của Pháp đi
Đông-phương. Họ chia nhau ngồi tản mác trong cả ba
tàu của công ti là Phénix (Phượng-hoàng), Vautour
(Chim Ưng), Dauphin (Cá Heo). Pallu ngồi trong tàu
Phượng hoàng. Tuy không được phép lập giáo-hội
riêng, lại còn phải nhận lệnh cần chỉ bảo cho
Lambert bỏ thói gây hấn với phe Bồ, chuyến vận động
vừa qua ở Âu-châu của ông vẫn là thành công. Phe
Pháp đã lấn được thêm quyền hành của phe Bồ.
Tháng 3 năm 1671, Pallu đặt chân lên Surate. Đọc
xong một đống thư từ đã chờ sẵn ông ở đấy, thấy cần
nhiều quyền hành nữa, ông vội cử giáo-sĩ Charles
Sévin, một cha đạo đồng hành với ông, quay lại
Âu-châu công cán.
Rhodes chết sớm mất 12 năm thành thử không được như
Pallu, chứng kiến hậu quả cuộc vận động ở Paris của
ông. Năm 1672 chẳng những Pháp sang Á-châu truyền
đạo, buôn bán, còn cho cả một đoàn thuyền gọi là
Hạm-đội Ba-tư gồm 6 tàu chiến và một số tàu khác đi
xâm-lăng. Ngày 25 tháng bảy, hạm đội Pháp chiếm
Méliapour thuộc xứ Golconde. Tháng 2 năm 1672 tàu
Vautour đưa Pallu đến Bantam ở miền Tây đảo Java.
Tháng 5 năm sau ông tới Xiêm. Ông không được tận mắt
thấy giai đoạn cuối của cuộc chiến ở miền Đông bán
đảo Ấn. Vua Louis XIV gây dựng Pháp thành một nước
binh lực mạnh, văn-hiến rực rỡ bực nhất lục địa
Âu-châu nhưng hải quân Pháp vẫn không địch nổi
liên-quân Hòa-lan Golconde. Tháng 7 năm 1774, quân
Pháp ở Méliapour thua trận, đầu hàng, hạm đội chỉ
còn hai chiếc tàu chạy về nước.
Tháng 5 năm 1672 Sévin tới Pháp. Nước Pháp đang ở
tình-trạng chiến tranh với Hòa-lan nên muốn hòa-hoãn
với Bồ-đào-nha. Đầu năm 1673 vừa tới Roma, ông nghe
tin Fragoso đã bị tòa thánh bắt lập tức dời khỏi đất
Xiêm, phe Pháp thắng thêm một keo. Tháng 12 năm ấy
giáo-hoàng xác định rằng các đại diện tòa thánh cùng
những kẻ dưới quyền họ không phải đến Bồ để xuống
tàu đi các xứ ngoài Âu-châu. Đầu năm sau Sévin quay
lại Pháp để đi Xiêm. Tháng 6 giáo hoàng ra lệnh thêm
rằng các giám mục cùng các giáo sĩ ở vùng Ấn-độ phải
tuân lệnh của hội Tuyên-truyền. Phe Pháp thắng to.
Vì Pháp xung đột với Hòa-lan, Sévin tránh đường hàng
hải, ông cùng bốn giáo-sĩ nữa đi đường bộ, tháng năm
1676 tới Xiêm. Lúc này Pallu đang âu sầu lội bộ từ
bờ Thái-bình-dương băng ngang đất Mễ-tây-cơ sang bờ
đại-dương bên kia.
Pallu trôi dạt
Tới
Xiêm chưa được ba tháng, tháng 8 năm 1673 Pallu đáp
một tàu Pháp đi Bắc-hà. Tàu gặp bão dạt vào
Phi-luật-tân, ông liền bị người Tây-ban-nha bắt giữ.
Đương khi ấy Pháp với Tây-ban-nha bất hòa với nhau.
Họ cho ông tạm trú trong nhà của mấy giáo-sĩ dòng
Tên ở Manille. Họ nghi ông là người Pháp lấy tư cách
cha đạo để đi tranh thương, bẻ ông tội là cha đạo mà
lọt bất hợp-pháp vào đất dưới quyền Đỡ Đầu của họ
rồi họ gửi ông sang Madrid cho chính quốc xét xử.
Tháng 6 năm 1675 chính phủ Manille gửi Pallu xuống
tàu đi Âu-châu theo ngả Mễ-tây-cơ. Tháng giêng năm
sau, vừa tới Acapulco bên bờ Thái-bình-dương ông
liền viết thư khiếu nại với phó-vương Mễ. Người
Ca-tô cai trị đất Tân-thế-giới dễ dàng nên trắng
trợn phô-bày sự cấu kết giữa đế-quốc giáo-quyền vớí
đế-quốc thế-quyền, phó-vương Mễ lại chính là
tổng-giám-mục xứ ấy. Ông này đã nhận được báo-cáo
của cha đạo dòng Tên ở Manille về người đồng nghiệp
Pháp của họ rồi, họ cảnh giác rằng phải coi chừng vì
đây là một kẻ nguy hiểm, một tên gián điệp, đồng
thời là một tay buôn lậu (Chappoulie, tome II, trang
3). Phó-vương, hay tổng-giám-mục cũng thế, xứ Mễ lơ
đi không trả lời thơ khiếu nại của đồng nghiệp người
Pháp. Ông này được dẫn tới Vera Cruz , đưa xuống tàu
của hạm-đội Tây-ban-nha, vượt Đại-tây-dương sang
Âu-châu. Lên bến Cadix tháng 11 năm 1676, ông được
đưa tới Ma- drid rồi được thả, thì ra những thư ông
gửi dọc đường cho Roma đã có hiệu quả, tòa thánh đã
đòi chính phủ Tây-ban-nha giải phóng ông.
Tháng 6 năm 1677 Pallu sang tới Roma gặp giáo-hoàng,
lại một giáo hoàng mới nữa rồi, ông này tên là
Innocent XI. Tháng 10 năm sau, chủ chăn ký lệnh
triệt hồi những giáo sĩ phe Bồ đã cản trở việc làm
của "đại diện tòa thánh" (danh từ chỉ phe Pháp), ông
bắt mọi giáo sĩ bất cứ thuộc phe nào, cứ ở khu vực
ông giao cho phe Pháp là phải thề trung thành với
họ. Tháng 8 năm 1680, ông phong cho Pallu và Lambert
quyền bao trùm giáo sĩ khắp Viễn-đông. Pallu có
nhiệm vụ thứ nhì là cai quản toàn cõi Trung-quốc và
nhiệm vụ thứ ba là một mình coi riêng chín tỉnh miền
Nam Trung-quốc. Lambert có nhiệm vụ thứ nhì là cai
quản toàn cõi bán đảo Đông-dương và nhiệm vụ thứ ba
là một mình coi riêng Đàng Trong. Dédier và Bourges
cùng coi Bắc-hà, cả hai đều được thăng chức giám
mục. Laneau coi Xiêm.
Năm
1679, Pallu sang Paris tiếp-xúc với giáo-hội và
triều đình Pháp. Sự thành công của ông ở Roma chỉ là
một cuộc đánh đổ phe dòng Tên thân Bồ. Phe này hùn
hạp bao sức lực gây dựng sản nghiệp ở Viễn-đông, nay
bọn Pháp phỗng mất, cha đạo trong phe còn bị giáo
hoàng hạ nhục ra lệnh đuổi khỏi Đàng Trong, Đàng
Ngoài. Nhưng vua Louis XIV đối lập với Tây-ban-nha,
mới chiếm một phần đất Hòa-lan, vẫn muốn duy trì mối
giao hảo với đồng minh là Bồ; thêm vào đấy, linh mục
riêng của vua là cha Chaize rất thân với dòng Tên.
Vua muốn Vatican nhẹ tay trong việc thực thi lệnh
giáo-hoàng đối với dòng ấy. Vua được chiều ý. Sau
khi Pallu triều kiến vua, vua ân tứ cho các cha đạo
Pháp ở đất chúa Trịnh, chúa Nguyễn và Trung-quốc
được làm công-chứng-viên (notaire) hoàng triều,
nghĩa là làm nghề nhận thực chữ ký. Thế là bọn
giáo-sĩ Pháp kiêm hai chức vụ, một cho đế-quốc
giáo-quyền, một cho đế-quốc thế-quyền. Vua Pháp coi
thường bọn giáo-sĩ như Pallu, cho họ một chức nhỏ tí
teo như vậy mà giám mục Chappoulie hân hạnh ca tụng
là họ được một vinh dự (honneur) vua ban
(Chappoulie, tome II, trang 80). Về tiền nong, Pallu
chỉ được vua hứa sẽ cho một món nhỏ thôi nhưng được
bà Montespan tặng một mớ quà "khá đẹp". Ông xuống
tàu rời Pháp tháng 3 năm 1681, tới Xiêm tháng 7 năm
sau.
Lòng
tin của trưởng nữ đạo Ca-tô
Vua
Louis XIV anh hùng bá-chủ Âu-châu nên Vatican phải
chiều chuộng. Gần như vua luôn luôn có tình nhân,
hết bà La Vallière đến bà Hầu-tước Montespan, rồi bà
Maintenon, giáo-sĩ trông thấy sờ sờ trước mắt nhưng
vẫn sợ một phép, lúc nào cũng phải tâng làm Đức Vua
Rất Mộ Đạo Ki-tô (le Roi Très Chrétien). Trong các
nước đạo Ca-tô, nước Pháp mạnh nhất nên được nịnh là
trưởng nữ của giáo-hội, người Pháp hãnh diện tự coi
nước họ là vương quốc mộ đạo nhất thế gian.
Con
gái hầu tước Mortemart lấy hầu tước Montespan năm
1663, năm sau được tuyển làm người hầu cận hoàng hậu
Marie-Thérèse, con vua Tây-ban-nha, vợ vua Louis
XIV, rồi sau ba năm nữa trở thành tình nhân của ông
vua Rất Mộ Đạo Ki-tô này. Trong 13 năm dan díu hai
người có với nhau sáu con sống tới tuổi trưởng
thành.
Hoàng hậu đã cho chồng ở với tình nhân như không còn
mặc chồng lợi dụng địa vị của mình để xâm lăng. Mối
liên hệ thông-gia làm cho Hòa-lan thuộc vua Áo rồi
sang tay vua Tây-ban-nha. Để phòng hờ rắc-rối về
sau, vị vua này quyết định tặng con gái một món của
hồi môn rất lớn, với điều kiện con chịu nhận mất
quyền thừa hưởng đất đai. Vua Louis lấy cớ là vợ
không được trả tiền hồi môn sòng phẳng nên vẫn có
quyền về đất, đem quân chiếm một phần Hòa-lan. Vua
lo vơ vét của cải, tình nhân của vua, dù là tình
nhân cũ, tha hồ vung vãi đi. Khi Pallu tạt qua
Paris, vua xỉa cho tí tiền nhưng bà Montespan tặng
hậu hĩ hơn nhiều. Có một điều khi ấy bà không biết:
bà đang bị bí mật điều tra trong một vụ án lịch sử
gọi là vụ Phòng Nóng Bỏng (Chambre Ardente).
Khoảng năm 1673, hai cha đạo nhà thờ Nôtre Dame ở
Paris tố cáo với cảnh sát là một số tín đồ thú nhận
trong lúc xưng tội rằng đã giết người vì cảnh tình
yêu tay ba. Cảnh sát trưởng Paris là Nicholas de la
Reynie cho điều tra. Năm 1677, ông khám phá ra một
đường dây buôn lậu thuốc độc rộng tới Anh, Bồ, Ý
nhưng chỉ tìm được một kẻ tình nghi không quan trọng
là Vanens.
Tình
cờ lời khoe khoang của bà thày bói Marie Bosse lọt
vào tai cảnh sát. Bà đã thốt ra: "Nghề tôi làm thật
đáng say mê! Khách sang nhất hạng! Công, hầu, vương,
chúa, chẳng ai địa vị thấp hơn. Ba vụ đầu độc nữa
thôi, rồi tôi nghỉ việc, thế là của cải đủ rồi!" Một
điều-tra-viên giả bộ đến nhờ bà giúp cho chị giết
chồng, bà đưa ra một chai thuốc độc. Cảnh sát ập vào
nhà bà thu được nhiều tang vật. Bà Bosse góa chồng,
ở chung với một con gái, hai con trai và bà
Vigoreux; bà này cũng làm thày bói. Cả năm người ngủ
chung một giường. Bà Bosse có hai đời chồng và bà đã
để cho bà Vigoreux làm tình nhân với cả hai người
chồng.
Cảnh
sát tra hỏi năm người đó, phanh phui ra tên những kẻ
mua thuốc độc. Một bà tên là Pou- laillon lấy thuốc
hại chồng, chồng thấy hành động của bà đáng nghi,
chạy thoát vào tu viện sống. Cách các bà hại người
thường là rắc thuốc độc lên áo, nạn nhân mặc vào bị
phỏng lở loét, rồi các bà lấy cớ chữa chạy, thoa
thuốc độc lên các vết thương, độ vài tháng thì nạn
nhân chết. Tháng 3 năm 1679 vua cho lập một ủy-ban
điều tra kín. Phòng tra-vấn thắp nến, treo màn đen,
người ta gọi nôm na là Phòng Nóng Bỏng.
Một
góa phụ là bà La Voisin bị bắt vì bị tình nghi dính
líu vào nhiều vụ đầu độc. Bà khai rằng bà chẳng làm
gì ngoài nghề coi chỉ tay và xem tướng nhưng bà lại
xưng rằng bạn bà là bà mụ đỡ đẻ La Lepère chuyên phá
thai. Bà này khai là chỉ chữa bệnh cho phụ nữ thấy
kinh-nguyệt muộn, tuy nhiên gái ăn sương bị chửa thì
bà cũng ra tay cứu giúp. Một người chứng khai rằng
nhóm bà La Voisin đã giết hại 2500 thai nhi của
những người mẹ chót lỡ mang bầu.
Tháng 5 năm 1678, hai bà La Bosse, Vigo- reux bị
hành hình đốt sống, một con trai bà La Bosse bị treo
cổ. Tiếp tục điều tra, cảnh sát thấy các bà phù thủy
trộn nhân-ngôn, lưu-hoàng, acide sulfurique,
tinh-trùng, máu kinh-nguyệt, cóc khô, dơi khô làm
thuốc.
Càng
điều tra, cảnh sát càng thấy những người danh vọng
dính líu. Jean Racine, một nhà viết kịch lừng danh,
bị tình nghi đầu độc tình nhân nhưng họ không bắt.
Tháng giêng năm 1680, họ ra lệnh bắt nhiều người có
địa-vị như viên sĩ-quan chỉ huy lính thị vệ nhà vua
là Công-tước Luxembourg, một bà được vua quí mến là
Madame de Polignac, các bà quí tộc như bà Công-tước
Soissons, bà Hầu-tước Alluye, v.v.. Giới quyền quí
xôn-xao.
Cảnh
sát dùng nhiều phương pháp tra tấn từ bắt ngồi lên
ghế lởm chởm những đinh sắt, đóng nêm vào cổ một thứ
giầy ống cho nêm siết chặt xương cẳng lại, đến đổ
nước vào mồm cho bụng chướng lên, kéo căng thân thể
cho các khớp xương lỏng ra. Bà La Voisin khai thế
nào vẫn không vừa lòng họ, bà bị đóng nêm mấy lần.
Tháng 2 năm 1680 bà bị đem ra đốt tươi. Ai hâm mộ
văn chương Pháp đọc Les Lettres (Những Bức Thư) của
Madame de Sévigné, một nữ sĩ đương thời, có thể thấy
bà La Voisin "bị xiềng xích. Bà không ngừng nguyền
rủa, bà bị phủ rơm lên người, năm sáu lần bà hắt rơm
đi, rồi cuối cùng ngọn lửa mỗi lúc một cao, không
thấy bà đâu nữa."
Một
người là Lesage khai hai cha đạo Mari-ette và Davot
làm lễ mi-sa đen, nghĩa là lễ theo kiểu đạo Ca-tô
nhưng để cầu khẩn quỉ Sa-tăng. Cha xứ Mariette bị
điệu từ Toulouse lên Paris. Các cha đạo Deshayes,
Cotton, Davot, Tournet, Guibourg bị tố cáo.
Cha
Davot bị tố là dùng thân thể một cô gái trần truồng
làm bàn lễ mi-sa, trong khi hành lễ ông không ngừng
hôn những chỗ kín của cô. Cha Tournet bị tố ngủ với
một cô gái ngay trên bàn thờ. Cha xứ Guibourg gù, 66
tuổi tự khai là giết một đứa trẻ trong một lễ mi-sa;
con gái bà La Voisin xác nhận lời ông khai là đúng;
bà Jeanne Chaufrain cũng xác nhận thế, bà là một
trong ba tình nhân của người cha đạo này và có bảy
con với ông. Có người xưng rằng ông cắt cổ một đứa
bé trong một buổi lễ, rót máu vào chén thánh, xác
thì cất đi vì còn lấy tim, ruột để làm một lễ khác.
Lời
khai của nhiều người có vẻ là bịa đặt dựa theo những
chuyện hoang đường trong dân gian. Trước khi bước
lên dàn thiêu, bà thày bói La Fi- lastre thú thực
rằng đã khai liều vì không chịu nổi tra tấn. Cảnh
sát lại tin rằng bà phạm tội thật vì trong nhà bà có
chứa thuốc độc, hình tượng nặn bằng sáp, những bùa
chú để phá thai, những cây nến đen, những sách ma
thuật. Cha Guibourg có nhiều giấy biên-lai nhận đã
lấy những món tiền lớn. Bằng chứng cho thấy các bà
quyền quí đã cầu khấn Satan.
Tháng 8 năm 1780 vua ra lệnh chấm dứt cuộc điều tra
nhưng vì cảnh sát thấy có dấu tích bà Montespan can
dự nên vua cho tiếp tục mà phải thật bí mật. Thì ra
Đức Vua Rất Mộ Đạo Ki-tô bạc bẽo bỏ rơi bà để đi
theo cô Fontanges, bà muốn đánh thuốc độc giết kẻ
tình phụ cùng người địch thủ đương tuổi xuân xanh và
bà đã cầu xin Satan giúp sức.
Năm
1782 vụ án chấm dứt, tổng cộng 319 người bị bắt, 36
người bị giết, 4 người bị khổ sai, 34 người bị đi
đày, không một người quí tộc nào bị tra tấn hay bị
hành hình. Vua sợ sau khi mình nằm xuống, người đời
lôi vụ án ra xoi bói, năm 1709 ban lệnh đốt hết
hồ-sơ (Robbins, trang 80), nhưng một số bản sao và
giấy tạp ghi đã lọt lại cho hậu thế soi gương.
Vụ
án Phòng Nóng Bỏng phơi bày sự thật rằng ở nước
Pháp, từ bình dân tới quí tộc đều cầu khấn quỉ Satan
khi Giê-hô-va, Giê-su không được việc. Vua bắt cảnh
sát giữ bí mật cuộc điều tra cốt để bảo vệ danh dự
cho hoàng triều, song nhờ sự bí mật ấy các bị-can
quyền quí đã không mất mạng. Nếu công khai điều tra,
lòng tin Satan của quí tộc Pháp phơi ra ánh sáng trở
thành một điều xỉ-nhục cho giáo hội Ca-tô, tòa thánh
ắt đòi vua không được nương tay với họ.
Đó
là một trong những vụ án cuối cùng của mấy trăm năm
diệt phù thủy ở Âu-châu và cũng là mặt thật xã-hội
của vương quốc mộ đạo nhất thế gian, trưởng nữ của
giáo-hội Ca-tô thời Đức Vua Rất Mộ Đạo Ki-tô.
Giáo-sĩ Tachard đưa quân đội Pháp vào Xiêm, Pháp làm
chủ giáo hội Ca-tô Việt-nam
Vua
Narai nhiệt tình muốn đón luồng gió văn minh từ Tây
phương thổi tới, bọn giáo sĩ Pháp ở Xiêm biết lắm
nên họ cố dùng mọi mánh lới đem xứ ấy làm quà tặng
nước họ. Giám mục Chappoulie viết tập nhì bộ sách kể
trên trong thời giáo sĩ Pháp đày lòng tin tưởng vào
sức mạnh của chế độ đế quốc, đã kiêu hãnh nói toạc
ra rằng khuynh hướng tự nhiên của giáo sĩ Pháp là
làm bộ hạ cho vua Pháp và vua Pháp chẳng thể có bộ
hạ nào được việc hơn họ trong cuộc bành trướng thế
lực chính trị sang Đông-phương (Chappoulie tập II,
trang 99-100).
Bọn
giáo sĩ Pháp dùng Phaulcon thúc đảy cho vua Narai tự
nói ra việc cầu Pháp đến, quả nhiên vua làm như họ
muốn, cử ba vị quan sang Âu-châu công cán. Tháng 8
năm 1681 đoàn sứ thần cùng giáo-sĩ Gayme xuống tàu
Soleil d’Orient ở Bantam để vượt trùng dương. Chẳng
biết nên nói là may hay rủi cho Lambert, ông nuôi
mộng đích thân đưa sứ thần Xiêm đến Pháp nhưng ông
qua đời ba tháng trước khi đoàn khởi hành, còn đoàn
thì không bao giờ tới nơi tới chốn. Tàu mất tích ở
ngoài khơi Madagascar. Người Pháp nghi ngờ rằng bàn
tay phá hoại của Hòa-lan đã gây nên nông nỗi.
Vua
Xiêm gửi một đoàn sứ thần nữa gồm hai vị quan sang
Pháp công cán. Họ cùng với giáo sĩ Vachet xuống tàu
tháng giêng năm 1684, tháng 11 tới Pháp. Vachet đưa
họ đến cung điện Versailles ra mắt vua Louis đúng
lúc vua đi qua Phòng Gương, một phòng khách lớn.
Lambert đã giục giã triều đình Pháp từ trước, triều
đình này đáp ứng, đã chuẩn bị đưa một toán giáo sĩ
sang Xiêm và toán này sắp lên đường nên đoàn sứ thần
Xiêm có tự nguyện mời người Pháp sang nước họ hay
không thì cũng thế thôi. Giáo-sĩ Pháp ở Xiêm đã biết
vua Narai coi rẻ đạo Giê-su, chỉ nhằm mục đích chính
trị nhưng họ đã đem cho triều đình Pháp cảm tưởng
sai lầm rằng nhà vua sẵn sàng bỏ đạo Phật để theo
đạo họ. Triều đình Pháp bèn lấy việc đổi đạo vua
Xiêm làm mục tiêu thứ nhất, vì họ tin rằng đầu xuôi
ắt đuôi lọt, sau đó họ sẽ dễ dàng cầm đầu dân Xiêm.
Tháng ba năm 1685 sứ thần Pháp Chaumont dẫn một phái
đoàn xuống tàu sang Xiêm, đoàn có sáu giáo sĩ chuyên
về thiên văn, toán học và có năm giáo sĩ tuyên
truyền; trong năm người này, một người là cha xứ
Choisy, một người nữa rất lanh lợi là Guy Tachard,
trước làm ăn ở Mỹ-châu. Vachet và hai sứ thần Xiêm
cũng xuống tàu theo để về nước. Pháp gửi các nhà
thiên văn dòng Tên đem theo dụng cụ cần thiết sang
Viễn-đông để ganh đua với các nhà thiên văn cũng
dòng Tên của các nước Tây-phương khác đã ở đó, như
Adam Schall, một người Đức, ông này rất thành công
tại Bắc-kinh.
Tàu
cặp bến Cap ở Phi-châu, đoàn người được trưởng
công-ti thương mại Hòa-lan tiếp đãi lịch sự. Tàu tới
Batavia, họ gặp cha đạo Fuciti, ông này cũng như
Ferreira bị hội Tuyên truyền đuổi khỏi đất Việt vì
tội không chịu phục tùng phe Pháp, bơ vơ chưa tìm ra
chỗ làm ăn. Chaumont thương tình cho ông lên tàu đi
Xiêm. Tới Xiêm, Chaumont đưa lệnh vua Louis cho cha
đạo Laneau biết là không được phép đòi các giáo sĩ
dòng Tên cùng đi với ông thề theo sự đòi hỏi của hội
Tuyên-truyền. Laneau yêu nước Pháp thế-gian hơn yêu
thiên đàng, nể vua Louis hơn sợ giáo-hoàng, chịu
tuân theo. Ngoảnh mặt sang Sở thì Tề giận, cuối năm
1686 ông bị hồng y Altieri hội Tuyên-truyền quở
trách về lỗi miễn thề cho giáo sĩ.
Tới
Ayouthia, Chaumont vỡ lẽ rằng việc vận động cho vua
Narai đổi đạo là đáy biển mò kim, ông chán nản quay
về nước. Trong thời gian ngắn ngủi ở Xiêm, giáo sĩ
Tachard trở thành thân thiết với Phaulcon, nghĩa là
trở thành có vai vế trong triều đình Xiêm. Nhân
chuyến tàu Chaumont về nước, vua Narai gửi đoàn
ngoại giao thứ ba sang Âu-châu công cán. Đoàn này
khá đông và do Ta- chard làm hướng đạo. Tháng 6 năm
1686 tàu cặp bến Brest bên Pháp.
Tháng 9, vua Louis tiếp các sứ thần Xiêm trong một
buổi lễ long trọng tại phòng Hòa-bình điện
Versailles. Ở Paris, người ta trơ trẽn lôi mười hai
thanh niên Xiêm trong phái đoàn ngoại-giao ra rửa
tội mặc dù họ vùng vằng. Tachard thương thảo, triều
đình Pháp quyết định gửi sang Xiêm một đội quân và
12 giáo sĩ dòng Tên chuyên về thiên văn, toán học.
Vấn đề giáo sĩ thề hay không được đặt ra. Cuối cùng,
tháng 2 năm 1687, trước khi xuống tàu ra đi, các
giáo sĩ thề theo kiểu hội Tuyên-truyền, đồng thời
Tachard và cả bọn ký một thư tỏ lòng trung thành với
vua Pháp, luôn luôn tôn trọng quyền lợi của vua và
tuân lệnh vua.
Trên
tàu sang Xiêm có Simon de La Loubère là trưởng đoàn,
có một giám đốc công-ti Đông Ấn-độ, có phái đoàn
Xiêm trở về nước. Trong số 636 người trên tàu, 492
người là binh sĩ. Cuộc hành trình dài 6 tháng 27
ngày. Tới Xiêm, mười hai nhà thiên văn liền bắt tay
vào việc vì sáu người trong nhóm trước đã sang
Bắc-kinh.
Tháng giêng năm 1688, Tachard lại dẫn đầu một phái
đoàn Xiêm nữa sang Pháp công cán, La Loubère cũng về
nước, Phaulcon gửi theo hai người Việt phụ-giáo-sĩ
do chính ông đài thọ phí tổn sang Roma, tất cả xuống
tàu Gaillard. Tháng bảy, tàu tới Pháp. Tháng chín,
khi Tachard cùng phái đoàn dời Paris sang Roma thì ở
Viễn-đông Phaulcon bị người Xiêm giết.
Quân
Pháp đến đóng ở Bangkok và Mergui khiến dân Xiêm bất
bình phản đối. Một vị quan là Pitra-cha đứng lên đảo
chính, bắt vua, gia đình vua và giết Phaulcon.Vua
cũng chết mà không ai rõ vì sao chết. Quân Pháp
chiếm toàn thể thành phố Bangkok nhưng quân Xiêm
được quân Hòa-lan trợ lực đã thắng họ (Phan Phát
Huồn, quyển I, trang 162). Kể từ đấy trở đi, nước
Xiêm ngặt nghèo chống đạo Ca-tô trong một thế kỷ
rưỡi.
Ngày
23 tháng 12 năm 1688 giáo hoàng Inno- cent XI long
trọng tiếp phái đoàn Xiêm. Ông chưa biết vua Narai
đã qua đời nên mừng phát khóc khi Tachard khoe rằng
vị vua ấy đã cho dựng nhiều bàn thờ, nhiều nhà thờ
Giê-hô-va. Trong một buổi ông tiếp riêng, Tachard
thuật cảnh vô chủ của giáo hội Bắc-hà sau khi giáo
sĩ phe Bồ bị hội Tuyên-truyền đuổi ra khỏi vùng ấy.
Tachard dẫn hai người phụ-giáo-sĩ Việt đến trình ông
bức thư của một số tín đồ Đàng Ngoài gửi cho ông.
Ông gửi quà đáp lễ Phaulcon, vua Xiêm là những người
đã tặng quà ông.
Tháng giêng năm 1689 ủy ban hồng-y ra sắc-lệnh hủy
bỏ thể thức thề của hội Tuyên-truyền ngày trước,
đồng thời cho phép trưởng dòng Tên gửi bốn giáo sĩ
đến Việt-nam. Vụ bỏ lời thề thật vừa lòng vua Louis
XIV. Tachard sang Pháp được triều đình cũng như các
viên chức giáo hội niềm nở chào đón. Ông cùng những
người có chức quyền ở Pháp ký kết với nhau một qui
ước về cách cộng-tác giữa dòng Tên và hội Paris
Truyền-giáo Quốc-ngoại. Dòng và hội này sẽ nhờ
tổng-giám-mục Paris hòa giải khi có đụng độ, không
xong thì mới tính nhờ tới Roma. Tàu Pháp nhận chở
giáo sĩ đi làm ăn ở nơi xa.
Thế
là dòng Tên không đếm xỉa tới Bồ-đào-nha, phe Pháp
cũng chẳng cần đến hội Tuyên-truyền nữa, tòa
tổng-giám-mục Paris nắm quyền của cả hai, Pháp đại
thắng. Hội Paris Truyền-giáo Quốc-ngoại trở thành
một thứ chủ trên đất Việt, lèo lái giáo hội Ca-tô ở
đấy mãi đến thế kỷ 20 mới thôi.
nguồn:
https://www.giaodiemonline.com/thuvien/sach/sachtqphanmot.htm