 |
22 tháng 8, 2009 |
Chúng ta nhớ
lại, nhân dịp Đại Hội Đảng Toàn Quân từ ngày 3 đến 11.1.2001, Lê Đức Anh đã
đứng lên tố Lê Khả Phiêu 10 tội, trong đó có một tội rất quan trọng là “Bán
đất, bán biển cho Trung Quốc” trong chuyến đi Trung Quốc chầu Giang
Trạch Dân. Người đầu tiên đưa sự tố cáo này ra công luận là Đỗ Việt Sơn, một
đảng viên đảng CSVN về hưu và có lẽ là đàn em của Lê Đức Anh. Sau đó, Luật
sư Lê Chí Quang viết bài “Hãy cảnh giác Bắc Triều” nói rõ rằng phần
đất bị “bán” là 720 cây số vuông. Nguyễn Chí Trung, thư ký của Lê Khả Phiêu,
nói với báo chí rằng Lê Khả Phiêu là “nạn nhân của những âm mưu đánh phá
của 3 vị cố vấn là các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt.”
Dĩ nhiên, nhóm
Lê Khả Phiêu phải phản pháo. Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đã cho Thượng
Tướng Nguyễn Nam Khánh dùng tài liệu vụ án chính trị T-4 tại Tổng Cục II
thuộc Bộ Quốc Phòng để chơi lại nhóm Lê Đức Anh.
Khởi sự từ đó,
một phong trào tố đảng CSVN làm mất đất mất biển được phát động ở hải ngoại,
nhưng người Việt chống Cộng không dùng những chữ “Bán đất, bán
biển cho Trung Quốc” của Lê Đức Anh, mà đổi thành “Dâng
đất dâng biển cho Trung Quốc”. Chiến dịch này đã trở nên rầm rộ khi
Trung Quốc thành lập huyện Tam Sa thưộc tỉnh Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa, sau đó phong toả Biển Đông.
Thật ra, người
Việt đã bị Tàu cướp đất dài dài trong tiến trình lịch sử, bắt đầu từ thời
mới lập quốc cho đến ngày nay, do đó người Việt phải tiến dần xuống phía
Nam. Tuy nhiên, cha ông chúng ta cũng đã chiếm đất của Lâm Ấp, Chiêm Thành
và Chân Lạp để lập thành một nước mới.
Trong bài này
chúng tôi chỉ nói về tiến trình bị mất đất trong lịch sử. Trong bài sau,
chúng tôi sẽ bàn đến chuyện đòi đất của tiền nhân để rút kinh nghiệm.
BÀI HỌC LỊCH SỬ?
Chúng tôi xin
nhắc lại, trong cuộc phỏng vấn của đài RFA ngày 24.7.2009 về đề tài “Việt
Nam cần làm gì trước thái độ lấn lướt của Trung Quốc?”, Giáo sư Trần Văn
Đoàn dạy học ỏ Đại Học Quốc Lập Đài Loan có nêu lên hai đề nghị: (1) Đọc lại
bài học của tất cả những triều đại Việt Nam. Cái gì đã mất rồi thì không bao
giờ đòi lại được. (2) Cách hay nhất, cái chiến lược của mình là làm thế nào
để không mất đất nữa mà thôi.
Ông nói rõ:
“Tôi không nói để bảo vệ nhà nước Việt Nam…”
Nhưng với
nhiều người Việt chống cộng ở hải ngoại, đề nghị này rất khó nghe. Lý do thứ
nhất: Người Tàu có “Tam thập lục kế” (với người Tàu, con số 36 có
nghĩa là nhiều lắm), nhưng một số người Việt đấu tranh ở hải ngoại chủ
trương chỉ có “biểu dương khí thế” là thượng sách, không cần
biết kết quả như thế nào. Mọi kế khác gần như không được chấp nhận. Như vậy
học sử để làm gì? Lý do thứ hai: Sử đâu mà học?
Trong bài Tựa
của bộ “Việt Nam Sử Lược”, cụ Trần Trọng Kim (1882 – 1953) có than
phiền: “Sử mình đã không hay, mà người mình lại không mấy người biết
sử. Là vì cách học tập của mình làm cho người mình không có thể biết được sử
của mình”.
Bài Tựa này
được viết vào năm 1919, khi bộ “Việt Nam Sử Lược” lần đầu tiên được
xuất bản, nhưng đến nay vẫn còn đúng. Không những thế, một số “sử gia” đời
nay khi viết sử, thường không dựa theo chính sử như cụ Trần Trọng Kim, mà
chỉ ghi lại những phần mình thích, bỏ đi những phần bị coi là mất “khí
thế” hay không oai hùng, biến hoá nhiều đoạn và thêm huyền thoại vào
làm cho sử không còn là thực sử nữa! Một vài thí dụ cụ thể:
(1) Khi viết
về vua Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, các “sử gia” ta chỉ ghi lại “Bình Ngô
Đại Cáo” và giấu đi tờ biểu thê thảm mà Lê Lợi dưng lên vua Minh xin
phong vương. Trong vụ Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, các “sử gia” ta cũng
chỉ ghi lại “Hịch Đánh Trịnh” của Nguyễn Hữu Chỉnh và “Hịch Gọi
Đò” của Nguyễn Huệ, còn tờ biểu được Nguyễn Huệ dưng lên vua Thanh năn
nỉ xin ban sắc phong được coi như không có. Họ cho rằng những tở biểu đó làm
mất “khí thế” nên phải loại ra khỏi sử, không nên cho con cháu đọc.
(2) Thiền sư
Lê Mạnh Thát đã sửa lại sử, cho rằng không có chuyện Bắc Thuộc lần thứ nhất
và Mã Viện đem quân đánh hai Bà Trưng. Trái lại, các đời vua Hùng Vương đã
kéo dài ra đến sau Công Nguyên, tức đến khi Phật giáo được truyền vào đất
Việt! Việc sửa sử này nhắm mục tiêu chứng minh: “Phật giáo là dân tộc”
vì đã du nhập vào Việt Nam từ đời Hùng Vương!
Pháp nạn kinh
hoàng (gần như làm cỏ) mà Nguyễn Huệ đã gây ra cho Phật Giáo để có phương
tiện tiến đánh quân Thanh, không được ai ghi lại một vài dòng, kể cả các “sử
gia” Phật Giáo! Họ chỉ nói đến “Pháp nạn” dưới thời Ngô Đình Diệm!
(3) Tàu xây Ải
Nam Quan như thế nào và các diễn biến về sau ra sao, đã được ghi rất tỉ mỉ
trong chính sử của Tàu cũng như của ta. Công Ước Thiên Tân ngày 9.6.1885
giữa Pháp và Trung Hoa và các văn kiện đính theo đã gọi Ải Nam Quan là
“Porte de Chine” (cửa của Trung Hoa) và vẽ nó nằm trên đất Trung
Hoa. Ấy thế mà để “tố cộng”, các “sử gia” và các chiến sĩ chống cộng đã coi
những văn kiện lịch sử và pháp lý đó như không có, cũng nhau ngồi “khóc Nam
Quan”! Có “đại sử gia” còn biến hoá Ải Nam Quan ra hai phần, một phần nói là
của Tàu và một phần nói là của ta, để cho “hợp với lòng dân”!
Bây giờ người
Việt ở trong cũng như ngoài nước, gần như nhà nào cũng xem phim Đại Hàn,
trong đó có nhiều phim lịch sử, chẳng hạn như Thời Đại Anh Hùng, Những Ngày
Đen Tối, Jumong, Bài Ca Sơ Đông, Đại Hiệp Sĩ, v.v. Qua các bộ phim này,
chúng ta thấy người Đại Hàn đã diễn tả rất trung thực lịch sử của họ: thời
kỳ nào cường, thời kỳ nào nhược, những sự rối loại trong cung đình, những
thủ đoạn gian ác áp chế dân lành của các quan lại phong kiến, những phương
thức mà cha ông họ đã dùng để chống ngoại xâm… Nhờ diễn tả lịch sử một cách
trung thực như vậy, người Đại Hàn ngày nay đã rút được kinh nghiệm lịch sử
để xây dựng một đất nước Đại Hàn tốt đẹp hơn. Trái lại, sử của người Việt đã
bị hai bên đối nghịch biến chế theo sở thích và theo nhu cầu chính trị, làm
sao có thể dựa vào đó để rút kinh nghiệm của cha ông được?
NƯỚC TA KHỞI TỪ BÊN TÀU?
Theo truyền
thuyết và dã sử, thời kỳ Hồng Bàng bắt đầu từ năm 2879 trước Tây lịch, thuộc
niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của Việt Nam
dưới thời Kinh Dương Vương nằm ở tận bên Tàu, rất rộng lớn: Phía bắc giáp
Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía đông là Đông Hải, phía tây là Ba Thục (Tứ
Xuyên), và phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành).
Nước Chiêm
Thành lúc đó nằm ở đâu? Bộ “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn
Siêu đã ghi lại như sau:
“Chiêm
Thành: phiá đông giáp bể, phía Tây đến Vân Nam, phía nam giáp Chân Lạp, phía
bắc liền Annam, phía đông bắc đến Quảng Đông...”
Thật ra, phải
đến thế kỷ thứ 13, nước ta mới có quan viết sử, nên những điều xẩy ra trước
đó đều được chép lại theo tục truyền, không biết đúng được bao nhiêu phần
trăm. Nhưng chắc chắn người Việt ngày xưa ở tận bên Tàu, sau đó trụt dần
xuống phía nam. Tại sao như vậy? Cụ Trần Trọng Kim giải thích:
“Người nòi
gióng Việt Nam ta mỗi ngày một nẩy nở ra nhiều, mà ở phía bắc đã có nước Tàu
cường thịnh, phía tây thì lắm núi nhiều rừng, đường đi lại không tiện, cho
nên mới theo bờ biển lấn xuống phía nam, đánh Lâm Ấp, dứt Chiêm
Thành, chiếm đất Chân Lạp, mở ra bờ cỏi bây giờ.”
Đây là kiểu “Dùi
đánh đục thì đục đánh săng (gỗ)” hay “Cá lớn nuốt cá bé”.
ĐỒNG TRỤ
NẰM Ở ĐÂU?
Nước ta có
ranh giới đầu tiên với nước Tàu là do Mã Viện ấn định. Lịch sử kể lại rằng
dưới thời Đông Hán, năm 41 sau Tây lịch, vua Quang Vũ của Tàu sai Mã Viện
làm Phục Ba Tướng Quân, sang đánh Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về lại cho
nhà Hán (Thiền sư Lê Mạnh Thát nói chuyện này không có!). Mã Viện dời phủ
trị về Mê Linh và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ:
“Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ gãy thì
người Giao Chỉ mất. Người Giao Chỉ đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá
bồi đắp lên mãi thành gò đống cao, vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy.
Nhưng cột đồng
này đã được dựng ở đâu?
Theo “Lĩnh
Ngoại Đại Đáp” của Tàu (đời Đường) và “An Nam Chí Lược” của Lê
Tắc, cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm.
Khâm Châu là
một châu của Tàu nằm sát biên giới với Giao Chỉ, còn Cổ Sâm là một động của
ta nằm sát biên giới Tàu.
Sách “Vân
Đài Loại Ngữ” của Lê Quế Đường (tức Lê Qúy Đôn) có ghi: “Giữa đỉnh
núi Phân Mao ở Khâm Châu có cột đồng to độ hai thuớc. Có lẽ đây là Mã Tống
dựng lên.”
Núi Phân Mao
(Phân Mao lĩnh) ở đâu?
Sách “Dư
Địa Chí” của Nguyễn Trãi viết:
“Vân Cừ,
Kim Tiêu, Phân Mao ở về Yên Bang (sau tránh húy đổi làm Yên Quảng). Vân Cừ
là tên sông, tên khác của sông Bạch Đằng, Tiền Ngô Vương bắt Hoằng Tháo,
Hưng Đạo Vương bắt Ô Mã Nhi đều ở đây. Phân Mao là tên núi, Kim Tiêu là
cột đồng. Ở phía Tây lộ Hải Đông 300 dặm có đèo Phân Mao, ở nửa đèo có cột
đồng của Mã Viện dựng, lớn chừng ba thước.”
(Dư Địa Chí,
Nguyễn Trãi toàn tập, bản dịch của NXB KHXH – Hà Nội, tr. 202)
Sách “Gia
Khánh Trùng Tu Nhất Thống Chí” của Nhà Thanh cho biết: Núi Phân Mao ở
phía Tây Khâm Châu (nay là đất tỉnh Quảng Đông). Năm Tuyên Đức thứ 2 (1427)
thời Minh, núi ấy thuộc vào châu Tân An của Giao Chỉ. Đến năm Gia Tĩnh thứ
21 (1542) Mạc Đăng Dung hàng, mới thuộc về nước Tàu.
Đồng trụ nếu
to 2 thước ta (theo Lê Qúy Đôn) hay 3 thước ta (theo Nguyễn Trải) thì cũng
rất lớn. Mỗi thước ta bằng 0,425 mét. Như vậy 2 thước là 0,850 mét và 3
thước là 1,275 mét.
Về sau, cả
người Tàu lẫn người Việt đều không biết rõ đồng trụ nói trên nằm ở đâu. Sách
“Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục” có cho biết năm 1272, nhà
Nguyên đã sai Ngột Lương sang Việt Nam hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước ở
đâu. Vua Trần Thánh Tôn đã sai viên phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét.
Lê Kính Phu tâu với Nhà Nguyên: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu
ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được”. Việc đó sau
cũng thôi. (Quyển VII, tr. 219).
Thật ra, Mã
Viện không phải chỉ dựng một đồng trụ ở Cổ Sơn. Ông đã mở mang bờ cỏi của
nhà Hán, dựng lên một đồng trụ ở Đèo Ngang (giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình) và
hai đồng trụ ở Bình Định. “Phương Đình Dư Địa Chí” của Nguyễn Văn
Siêu cho biết: Sách Tần Thư Điạ Lý Chí ghi: Ở quận Nhật Nam có cột đồng từ
đời Hán dựng làm địa giới. Sách Lâm Ấp Ký chép: Phía tây quận Nhật Nam có
nước Tây Đồ Di, Mã Viện qua đất này dựng hai cột đồng nêu bờ cỏi nhà Hán.
Quận Nhật Nam
lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay (có tài liệu
cho là đến tận cửa Đại Lãnh, Phú Yên). Vùng này là bắc Chiêm Thành.
Nhìn lại, nếu
đồng trụ do Mã Viện dựng để phân ranh giới Việt – Trung mà còn thì nó cũng
đã nằm trên đất Tàu, vì năm 1540 Mạc Đăng Dung đã giao vùng đất Cổ Sơn, nơi
có đồng trụ, cho Trung Hoa rồi.
MẤT ĐẤT
DƯỚI THỜI PHONG KIẾN
Nhiều người
tưởng rằng, trong lịch sử, cha ông chúng ta luôn kiên cường dựng nước và giữ
nước, không để mất một tấc đất nào. Thực tế không phải như vậy. Ngoài việc
bỏ Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây chạy xuống Bắc Việt hiện nay, cha ông
chúng ta còn phải chịu bị mất đất rất nhiều lần.
Mặc dầu Mã
Viện đã dựng đồng trụ ở Phân Mao để đáng dấu ranh giới giữa Giao Chỉ và nước
Tàu, những việc phân định ranh giới giữa hai nước không dễ dàng vì biên giới
rất rộng lớn. Mỗi lần có tranh chấp, vua hay quan Tàu đều giàng quyền quyết
định phần nào thuộc Tàu và phần nào thuộc ta.. Thí dụï năm 1442, nhà Minh
gởi dụ cho vua Lê Thái Tông, nói rằng Chiêm Lãnh và Như Tích là thuộc Châu
Khâm của Trung Quốc, do Hoàng Khoan cai quản, nên phải trả lại cho Trung
Quốc. Năm 1547, Đô Đốc Mã của nhà Thanh gởi thư cho Chúa Trịnh và nói: “Từ
Sa Châu trở ra ngoài đến Phân Mao - Đồng Trụ là đất của quý quốc cày cấy
chăn nuôi từ lâu, cho về An Nam”.
Ngoài chuyện
tranh chấp về vùng biên giới, các vua và quan Tàu luôn tìm cách chiếm thêm
đất của nước ta. Tạm bỏ qua “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đi, chúng ta thấy
từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 18, dưới các triều đại của Trung Quốc từ
Tống, Nguyên, Minh đến Thanh đều đem quân xâm lấn Đại Việt. Nhà Tống xâm
chiếm 2 lần, nhà Nguyên 3 lần, nhà Minh và nhà Thanh mỗi vương triều một
lần. Ngoài những cuộc xâm chiếm đại quy mô như thế, các triều đại Trung Quốc
cũng thường tìm cách cướp đất của người Việt ở vùng biên giới. Sau đây là
một số thí dụ cụ thể:
1.- Mất hai
động Vật Ác và Vật Dương.
Dưới thời nhà
Tống, Quách Quỳ đã chiếm 4 châu và một huyện của Đại Việt là Quảng Nguyên,
Quang Lang, Tô Mậu, Môn, và Thuận châu. Sau đó, năm 1057 Nùng Tôn Đàn nộp
động Vật Ác và năm 1064 Nùng Trí Hội nộp thêm động Vật. Dương. Vua Lý Nhân
Tông phái sứ qua thương lượng nhiều lần, vua Tống chỉ chịu trả cho 4 châu và
một huyện, nhưng không trả hai động Vật Ác và Vật Dương.
2.- Mất 59
thôn ở Cổ Lâu
Năm 1401, khi
Hồ Hán Thương được Hồ Quý Ly nhường ngôi, đã sai sứ sang xin vua nhà Minh
phong vương. Vua Thánh Tổ nhà Minh nghe tin ở An Nam đang có chuyện lộn xộn
nên cho điều tra và biết được Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần. Nhà Minh muốn
nhân cơ hội này đem quân sang chiếm nước An Nam, lấy lý do là để hạch tội Hồ
Quý Ly. Khởi đầu, vào năm 1405 nhà Minh sai sứ sang đòi lại đất Lộc châu,
tức Lộc Bình thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay, viện lý do đất này trước đây
thuộc châu Tự Minh của tỉnh Quảng Tây. Lúc đầu Hồ Quý Ly không chịu, nhưng
thấy áp lực của nhà Minh quá nặng nên Hồ đã sai quan hành khiển là Hoàng Hối
Khanh đến dàn xếp. Hoàng Hối Khanh quyết định cắt 59 thôn ở Cổ Lâu nhường
cho Tàu. Hồ Quý Ly thấy cắt nhiều quá, có mắng Hoàng Hối Khanh. Tuy đã nhún
nhường như thế, nhà Minh vẫn không chịu, đem binh qua chiếm nước ta.
3.- Mạc
Đăng Dung giao hai châu và 4 động cho Tàu
Theo cuốn
“Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú, năm 1540 khi Mạc Đăng
Dung đầu hàng nhà Minh, đã trao trả 2 châu và 4 động cho nhà Minh. Hai châu
là Như Tích và Chiêm Lãng, và 4 động là Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Sâm và Liêu Cát.
Các lãnh thổ này được sát nhập vào châu Khâm của Tàu. Nhưng Mạc Đăng Dung
không được nhà Minh phong vương mà chỉ phong làm Đô Thống Sứ.
4.- Mất 13
châu và 3 động.
Năm 1684, thổ
quan huyện Khai Hóa của tỉnh Vân Nam đem quân chiếm ba động Vị Xuyên, Bảo
Lạc và Thủy Vĩ thuộc tỉnh Tuyên Hưng của ta. Chúa Trịnh Thuận Đức cho sứ qua
đòi lại nhưng nhà Thanh không trả.
Năm 1698 thổ
quan tỉnh Vân Nam lại chiếm thêm ba động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên
thuộc tỉnh Tuyên Quang. Sứ thần Nguyễn Đăng Đạo đến Trung Quốc xin vua Khang
Hy trả lại, nhưng vua từ chối. Chúa Trịnh Bính lại phái sứ khác qua nhà
Thanh xin xem lại vụ này, nhưng quan Tuần Phủ Quảng Tây không cho đi. Từ đó,
ba động này kể như mất luôn.
Năm 1781, dưới
thời Tây Sơn do Nguyễn Nhạc lãnh đạo, Hoàng Công Thư đã đem 10 châu của nước
Việt nộp cho Tổng Đốc tỉnh Vân Nam. Triều đình ta gởi thư yêu cầu Tổng Đốc
Vân Nam xét lại biên giới. Tổng Đốc Vân Nam trả lại thư và nói rằng biên
giới tự nhiên không cần vạch lại.
Trên đây là
một số vụ mất đất điển hình trong thời phong kiến.
MẤT ĐẤT
DƯỚI THỜI XHCN
Có thể nói,
nếu không có Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, khó mà ấn định được đường ranh
giới hợp lý và khoa học trên bộ và trên biển giữa Việt Nam và Trung Hoa.
Sau nhiều lần
thương lượng rất gay cấn, kể cả dùng sức mạnh quân sự, ngày 9.6.1885 nhà cầm
quyền Pháp và Trung Hoa đã ký Công Ước Thiên Tân về biên giới Việt – Trung
được gọi là “Hiệp Ước Hòa Bình, Hữu Nghị và Thương Mại” (Traité de
Paix, d'Amitié, et de Commerce). Công ước này đã được bổ túc do công ước
ngày 26.6.1887 và công ước ngày 20.6.1895.
Mặc dầu có
những hiệp ước ấn định ranh giới một cách rõ ràng nói trên, kể từ năm 1954,
sau khi Pháp rút khỏi miền Bắc, Trung Quốc bắt đầu xâm phạm biên giới Việt
Nam. Những vụ xâm phạm này đã được nhà cầm quyền Hà Nội ghi rõ trong tập “Vấn
đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc”, do nhà xuất bản Sự Thật
của Hà Nội xuất bản năm 1979, sau khi Trung Quốc đem quân “dạy cho Việt Nam
một bài học.” Trong “Lời Nhà Xuất Bản”, nhà xuất bản Sự Thật nói rõ đây là
toàn bộ “Bị vong lục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc
nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lăng lãnh thổ Việt Nam ở vùng
biên giới”.
Vì tập sách
khá dài, chúng tôi chỉ ghi lại những điểm chính. Trong phần “Tình hình
Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay”, nhà cầm
quyền Hà Nội cho biết thủ đoạn lấn chiếm đất của Trung Quốc như sau:
(1) Từ xâm
canh, xâm cư, đến xâm chiếm đất (tr. 8).
(2) Lợi dụng
việc xây dựng các công trình hữa nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh thổ
Việt Nam (tr. 10).
(3) Đơn phương
xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam (tr. 11).
(4) Từ mượn
đất của Việt Nam đến biến thành lãnh thổ của Trung Quốc (tr. 12).
(5) Lợi dụng
việc vẽ bản đồ giúp Việt Nam để chuyển dịch đường biên giới, điển hình là đã
sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53), nơi chúng định chiếm một phần
thác Bản Giốc và cồn Pò Thông (tr.14)...
Sau đây là một
số trích đoạn được trích dẫn:
1.- Từ xâm
canh, xâm cư đến xâm chiếm đất.
Tài liệu cho
biết:
“Lợi dụng đặc
điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên
giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào
những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương rồi định cư những người
dân đó ở luôn chỗ có ruộng nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang
ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.”
Một thí dụ cụ
thể: Từ năm 1956 phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân Trung Quốc sang làm ăn
ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải
và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Đồng Tâm thuộc huyện Đông Hưng, khu
tự trị Choang-Quảng Tây. (tr. 8 và 9)
2.- Lợi
dụng việc xây dựng các công trình hữu nghị để đẩy lùi biên giới sâu vào lãnh
thổ Việt Nam.
“Năm 1955, tại
khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên
giới Việt-Trung đến Yên Viên gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam,
phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ
Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm
mà đường biên giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính
phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã đề nghị Chính phủ hai nước giao cho ngành
đường sắt hai bên điều chỉnh lại điểm nối ray cho phù hợp với đường biên
giới lịch sử nhưng họ một mực khước từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn
toàn bộ vấn đề biên giới thì sẽ xem xét...” (tr.10)
3.- Đơn
phương xây dựng các công trình ở biên giới lấn sang đất Việt Nam.
“Trên đoạn
biên giới đất liền cũng như ở các đoạn biên giới đi theo sông suối, tại
nhiều nơi, phía Trung Quốc đã tự tiện mở rộng xây dựng các công trình để
từng bước xâm lấn đất.
“Tại khu vực
mốc 53 (xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Quy Thuận
có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã
công nhận sự thật đó. Ngày 20.2.1970 phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000
người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh
toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc
xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên
giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò
Thoong, và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc... (tr.11 và 12).
Trên đây chỉ
là một vài thí dụ cụ thể. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.
LỆNH PHẢI
GIỮ ĐẤT
Năm 1473 khi
Lê Duy Cảnh, Thái bảo kiến dương bá, đi trấn giữ ở vùng biên giới giáp với
tỉnh Quảng Tây, vua Lê Thánh Tông đã trao cho ông một sắc dụ, trong đó viết:
“Một
thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ
cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày
tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút
mồi cho giặc thì tội phải tru di.”
Lữ Giang
(Ngày
11.8.2009)