●   Bản rời    

Phút Thăng Hoa - CH 2: Việt Nam như một miếng mồi hai con sói giành ăn

PHÚT THĂNG HOA

- tiểu thuyết -

Nguyễn Văn Thịnh

 

CHƯƠNG HAI

Chiều thứ bẩy nào ông Phán cũng xách túi gạo và lạc, vừng, dầu, mỡ… mang vào cho mẹ và các cháu ở trong làng. Mẹ ông người gốc ở đây: Hương Thể thôn, Lạc Trung xã, Thanh Nhàn tổng, Hoàn Long đại lý – ở phía đông-nam ngoại thành Hà Nội, đầu cửa Ô Đống Mác.       

Người ta kể rằng con đê La Thành bao quanh kinh đô vừa là bức tường thành ngăn giặc, vừa là con đê bao ngăn lũ. Trên đê có mở những lối ra vào gọi là “cửa ô”. Người bên trong thành gọi là “kẻ chợ”. Người bên ngoài thành gọi là “kẻ” kèm với địa danh: kẻ Mơ, kẻ Lủ, kẻ Mọc, kẻ Noi… Người vùng đây được gọi là kẻ Đông chăng? Ngày xưa có nhiều cửa ô lắm nhưng thành phố ngày mở rộng ra, các cửa ô hoá phố phường, dần rồi người ta lãng quên đi, đến nay chỉ còn mấy cửa ô người ta thường nhắc tới: Ô Đống Mác, Ô Cầu Rền, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Giấy, Ô Yên Phụ, Ô Quan Chưởng… Con đường chạy thẳng từ đầu ô này vào kinh có còn lò đúc nào khác nữa không ngoài lò đúc tiền ở gần phủ Chúa nay là phố Tràng Tiền? Nơi đầu ô này là chỗ những người đi thu mua rong đồ phế thải, đồng nát… về chất đống ngổn ngang đủ loại: mác, giáo, gươm, đao… gẫy rỉ, nồi chảo đồng, gang cũ nát, dao mẻ, cuốc cùn… làm nguyên liệu cung cấp cho các lò đúc đưa vào tái chế? Nhưng lại có người nói nó được nói trại ra bởi cặp từ “ông Mặc”, vốn là một ông tướng có công đánh giặc thuở nào, về trụ ở đây.

Con sông Tô Lịch khởi nguồn từ đầm Trâu – nơi đầm ẩn chín con trâu vàng từ bên Tàu chạy lạc qua, rồi nó kéo nhau chạy ra sông Cái. Sông chảy theo hướng tây bắc – đông nam, có nhiều nhánh và một nhánh chẩy dọc qua Lạc Trung, xuống Vĩnh Tuy, Thanh Trì… dưới ấy có đầm Sét lớn lắm, là quê thầy Chu Văn An ở đó. Sông Tô chẩy ngoài bờ đê La thành, tương truyền rằng ngày xưa sông rộng và thơ mộng lắm. Các vương tôn công tử nơi cung đình thả thuyền dạo chơi vào những đêm gió mát trăng thanh, xuôi ra sông Cái, qua bên tỉnh Đông trêu hoa ghẹo nguyệt. Từ ngày người Pháp qua đây, thành phố mở rộng ra nhanh chóng. Hệ thống thoát nước thải theo các miệng cống đổ ra sông Tô. Nước sông trở nên đen đặc và rất nặng mùi. Vào mùa mưa, nước chậm thoát ra sông lớn, ứ lại, tràn vào ngập các ao, hồ, vườn, ruộng. Khi nước rút đi để lại một lớp mùn đen dầy tới nửa ống chân. Nó là lớp màu tự nhiên quí giá cho cây cối. Người ta dần bỏ nghề trồng lúa, chuyển qua trồng rau màu. Rau muống Vĩnh Tuy, ổi Thanh Nhàn dân Hà thành ai cũng biết. Từ sáng sớm, các bà các chị áo dài tứ thân thắt gọn ra phía trước, kĩu kịt gánh rau, gánh quả qua cửa ô toả vào khắp các phố phường. Ngọn rau muống giải dài mấy tấc đầy đặn mỡ màng, lơ thơ mấy búp lá non, luộc lên ăn thật ngọt và mềm! Mấy quả sấu hấp dầm vào nước rau muống luộc một màu xanh đục, ngày hè có trong bữa cơm thật hả hê, mát ruột… Những quả doiđường trắng xanh, doicơm trắng hồng, doi đỏ rực tươi roi rói. Những trái ổi chín vàng tươi, lòng trắng, nghệ, đào, mỡ gà… toả ngát hương thơm theo gánh hàng như níu mời người qua lại. Nhưng cũng vì thế lòng sông ngày một cạn, bờ sông hẹp lại dần, người ta có thể lội hoặc có nơi nhảy được qua bờ. Lớp người sau nghĩ tới một nhánh sông Tô này chỉ coi như một con ngòi, con lạch thoát nước dơ dáy mà thôi! Rồi nó sẽ chìm sâu trong lòng đất như một cái cống ngầm giống số phận bao nhiêu sông ngòi khác khi phố xá ngày một mở mang ra. Âu cũng là cuộc bể dâu muôn thuở!

Kinh thành Thăng Long nguyên là Kinh phủ Đại La thuở trước. Thời thuộc Đường, xứ An Nam đô hộ phủ, chia thành mười hai Châu từ Lạng Sơn tới Nghệ An. Hà Nội là một trong tám huyện của Châu Giao. Thời ấy có họa giặc bể, dân tình khốn khổ lắm mới cùng nhau đắp La thành bên bờ sông Tô Lịch để ngăn giặc vào cướp phá. Hết nạn giặc bể dân Giao Châu lại phải đương đầu với họa quân Nam Chiếu. Từ phía tây-bắc, suốt mười năm ròng chúng tràn qua quấy phá và hai lần chiếm được phủ thành, giết hại không biết bao nhiêu sinh linh. Dân tình điêu đứng lắm.

Cao Biền là quan đô hộ có công dẹp được quân Nam Chiếu, xưng là Cao Vương, sửa sang lại và mở rộng thành Đại La chứa tới bốn mươi vạn nóc gia trong đó. Tương truyền Cao Biền là thầy phù thủy cao tay, nhìn địa thế Giao Châu có lắm đất phát nghiệp đế vương, vào những lúc gió lớn mưa to, sấm chớp nổi lên, rồng đất xuất hiện, y thường cưỡi kỳ lân đi “yểm” đất, phá những chỗ sơn thuỷ đẹp và hại  nhiều long mạch để cho người Nam muôn đời không thể làm lung lay ngôi Thiên tử đất Trung Nguyên!

Thời Ngũ Quí, nước Tàu rối loạn suy yếu đi nhiều. Thừa cơ hội ấy Ngô Quyền trong thì dẹp được bọn nghịch thần phản loạn, ngoài thì phá được quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, bắt giết Thái tử Hoàng Thao. Gặp lúc thiên thời – địa lợi – nhân hòa, Ngô Quyền xưng vương vào năm 939, đóng đô ở Cổ Loa, chấm dứt ách Bắc thuộc hàng ngàn năm, mở đầu cho nền độc lập tự chủ của nước nhà.

Sau này Đinh Bộ Lĩnh dẹp được loạn mười hai Sứ quân, lên ngôi Đinh tiên Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.

Vào mùa thu năm Canh Tuất – 1010, Vua Lý Thái Tổ ra chiếu dời đô về Đại La, thấy có rồng bay lên  thì đổi tên là Thăng Long thành từ đó. Đến đời vua Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt. Tuy nhiên với thiên triều phương bắc, các triều vua ta đều chịu nhún nhận ấn phong là An Nam quốc vương, đến triều vua Nguyễn Gia Long đổi là Việt Nam quốc vương. Vua Minh Mệnh lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Nam nhưng ấn phong không đổi. Sau này người Pháp quen gọi dân mình là Annamite với ý miệt thị hạng người nô lệ!  

Kinh đô Thăng Long trụ bên bờ tây một đầm nước lớn quanh năm mây mù bao phủ nên gọi Dâm đàm, rừng rú rậm rạp và mênh mang sông nước. Trải bao thế sự thăng trầm, kinh đô lấn dần về phía đông. Đến đời nhà Lê thì người ta quen gọi Tây hồ là thế. Mỗi khi vận nước suy vi, triều đình thất thủ, kinh thành lại bị triệt phá! Khi Nguyễn Phúc Ánh dựng nghiệp, kinh đô triều Lê mạt đã hoang tàn. Nhà Nguyễn biết lòng dân Bắc Hà không phục nên dời đô về Huế là nơi cố tổ chín đời khởi nghiệp.

Năm 1805, Gia Long muốn xóa đi dấu ấn của các vương triều cũ, sửa lại chữ Long=Rồng thành chữ Long=Vượng đồng thời phá bỏ đi nhiều di tích để xây dựng Bắc thành. Tuy nhiên Điện Kính Thiên là công trình đồ sộ nguy nga nhất, khởi công từ khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi, liên tục tô điểm dựng xây qua các triều Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông đến triều vua Lê Thánh Tông – trải gần 60 năm mới hoàn thành, dùng làm nơi thiết đại triều thì vẫn được giữ nguyên. Các vua đầu triều Nguyễn thường phải xa giá từ kinh đô Huế ra cố đô Thăng Long, lấy Điện Kính Thiên làm nơi tiếp đón các quỉ sứ con trời! Địa danh Hà Nội có từ thời vua Minh Mạng – nghĩa là nó ở phía trong sông Cái.    

Điện Kính Thiên. Nguồn ảnh chimviet.free.fr

Khi giặc Pháp ra đánh Đàng ngoài, hai lần Hà thành thất thủ nhưng chí khí lẫm liệt vị quốc vong thân của Khâm sai Nguyễn Tri Phương, Phò mã Nguyễn Lâm, Tổng đốc Hoàng Diệu, ông Cai Trí… vẫn được hậu thế tôn thờ. Điện Kính Thiên từng chứng kiến những tấm gương tử tiết của các bậc trung thần nghĩa sỹ. Mãi tới những năm cuối thế kỷ XIX đến lượt nó làm nạn nhân cuối cùng của nền văn minh đất Việt bị giặc Tây phương nhân danh một nền văn minh đến đây tàn phá!

Công việc phá huỷ Bắc thành kéo dài suốt mấy năm và nó gắn liền với tên tuổi một người đàn bà tội nghiệp. Ngày 1 tháng 2 năm 1894, tại Cửa Đông thành, đúng vào giờ thìn, trước sự chứng kiến của các quan tây, quan ta đủ hàng phẩm trật, dưới bầu trời phủ rợp cờ tam tài mẫu quốc, sau một hồi trống lệnh nổi lên, viên chánh Đốc lý người Tây cầm cuốc bổ xuống tường thành mấy nhát khơi mào rồi hắn trao cái cuốc lại cho nhà thầu – Đó là một người đàn bà nhan sắc, chưa hết tuổi thanh xuân, vấn khăn nhiễu tím bỏ đuôi gà, áo the, quần lĩnh tía, giầy cườm mõm nhái bước lên nhận chiếc cuốc từ tay quan đô hộ và giơ cao nó lên rồi bổ mạnh xuống ba nhát. Viên gạch vỡ ra và bật ngửa lên!

tường thành cổng phía Đông

Tường thành phía cổng Đông sụp đổ

Người đàn bà đó tên gọi Tư Hồng và cái tên ấy đã thành bia miệng mặc sức cho người đời phỉ báng. Thật ra, nếu Tư Hồng không được nhận thầu ắt sẽ có ngay kẻ khác không Tây thì ta càng hí hửng được vơ vào món bở. Vậy sao người ta không réo tên viên Thống sứ Bắc kỳ, viên Đốc lý Hà thành mắt xanh mũi lõ cùng với mấy viên Khâm sai, Tổng đốc Nam triều để tạc vào bia miệng mà cứ nhắm vào thân phận đa đoan chìm nổi của một kiếp gái quê nghèo?!

Gốc cái tên Tư Hồng đã là một sự gán ghép éo le của hai đời chồng thế sự là một khách chú tên Hồng phải đợ vợ vì vỡ nợ với một viên quan tư tây dương đương chức. Người đời quên bẵng đi luôn cái tên của cô gái quê xinh đẹp, lam lũ cần cù ở đồng chiêm trũng Bình Lục–Hà Nam. Một kiếp hồng nhan ba chìm bẩy nổi biến cô thành gái thập thành tăm tiếng để vua biết mặt chúa cũng biết tên. Cô từng được diện kiến Đức vua Thành Thái tại chốn cung đình và được Hoàng thượng đặc ân cho bốn chữ “Lạc quyên nghĩa phụ” sơn son thiếp vàng cùng sắc phong hàm “Chánh ngũ phẩm nghi nhân”. Dân Hà thành có câu truyền khẩu: Đĩ có tàn có tán, có hương án thờ vua, không mấy người không biết.

Từ một đời nghèo kiết xác đến một người giàu nứt đố đổ vách, lạc quyên biết bao nhiêu, cúng hiến biết bao nhiêu để mong tròn quả phúc mà hậu vận vẫn bạc như vôi. Mối duyên nợ với viên cố đạo tây phá giới cũng nửa đời nửa đoạn và cô chết âm thầm trong một Viện tế bần!

Gạch đá do sự phá huỷ Bắc thành còn làm cho khối kẻ biết dựa dẫm bon chen nhờ đó ngoi lên…  

Ông Phán mở cái cổng tre. Con vàng, con vện từ trong nhà nhận ra dáng quen, chạy tới ve vẩy cái đuôi, liếm vào đôi chân của chủ. Những con chó gầy giơ xương. Con vàng thân hình dài ngoẵng, bụng lép xẹp, hai dãy vú lòng thòng lúc lắc vậy mà đàn con chạy lông nhông cứ chúi vào bụng mẹ mà nhay!

Bà cụ Hai đang quét sân. Ông Phán cầm lấy chổi:

- U để cho con!        

Khi có mặt vợ, con hay cháu, ông gọi mẹ là bà. Nhưng khi chỉ có hai mẹ con thôi, ông thường gọi mẹ là u như gợi lại một thời có u phải có thầy, và luôn nhớ rằng cho dù mình có là gì đi chăng nữa thì vẫn là con của mẹ.

Bà Hai lưng còng, chân tay run rẩy ngồi trên thềm hè. Ông Phán nhìn vào mắt mẹ: hai cục cườm trắng ngày càng mờ đục che khuất bóng con trong mắt mẹ! Lòng ông se sắt. Ông phẩy bụi bám trên vai mẹ:

- Trời ơi! Quần áo u có thiếu gì đâu! Mặc vậy người ta cười con cái bất  hiếu để cho mẹ già đói rách!

- Ai cười hở mười cái răng, kệ họ! Quần áo tôi lành chớ có rách đâu? Tôi có đi đâu mà phải mặc rõ đẹp vào?

Mấy miếng vá trên áo quần là bà rị mọ lần mò tự vá lấy, chẳng cần phiền ai.

Gái là con ông anh cả đi chợ về, đặt quang gánh giữa sân, mách:

- Chú ơi, dạo này bà yếu mà ít chịu ăn!

Ông Phán hỏi cả cháu lẫn bà:     

- Bà không chịu ăn hay ăn không được? Nhà mình ăn uống ê hề thì không dám chớ cơm no ngày ba bữa thì chú lo được cho bà. Bà ăn được đấy nhưng cái gì cũng chắt chiu bóp bụng!

- Ôi dào, tích cốc phòng cơ. tích y phòng hàn! Làm người phải biết lo xa. Người ta đói rách đầy đường mà mình ngoảnh mặt ăn cho đầy bụng, xúng xính áo quần là có tội!

Bà lảng qua chuyện khác: 

- Thế sao thằng Nghĩa bấy lâu nay không về? Nó học hành vất vả lại còn lấn bấn cửa hàng cửa họ thì tội nghiệp nó quá!

Ông Phán hơi bực mình:   

- U ơi! Chuyện của cháu u để con lo. Con không lo thì làm sao nó đi học được đến hôm nay? Nhưng nó cũng phải đỡ đần một tay cho con chớ! U đừng có nghe ai.        

- Ừ, là tôi nói vậy thôi chớ một giọt máu đào vẫn hơn ao nước lã!     

Con trai hiểu ý mẹ nói gì rồi. Ông thấy khó nói sao cho mẹ hiểu. Chẳng qua cũng là cái nợ đồng lần của người đàn bà Việt Nam phải trả lẫn cho nhau. Cơ đồ nhà ông đây: nhà cửa đề huề, ruộng vườn làm không hết còn cho thuê mướn. Nhưng ai có thể nói được chỉ một tay cha hay mẹ dựng nên? Chẳng qua vợ chồng phải đấu cật chung lòng mới nên được cơ đồ như vậy. Ai cũng biết nó là của chồng công vợ. Người phụ nữ nào cũng từng làm con trong một nhà có anh-chị-em, rồi ra đi làm dâu người ta, rồi lại làm mẹ các con, làm mẹ chồng người khác. Thế nhưng khi đứng ở chỗ nào thì họ lại quên mình đi để làm tròn phận sự. Nên nó mới sinh ra những chuyện rắc rối: mẹ chồng-nàng dâu, chị dâu-em chồng đã thành muôn thuở. Chung quy bởi tại tình thương của người đàn bà nó bao la quá mà lại chi li quá nên thành nhỏ nhặt! Tuy có giận lại thấy thương và dù có thương bao nhiêu vẫn thấy phiền lòng! Làm người đàn ông trong gia đình nhiều khi cũng rối. Làm trọn phận con, phận chồng, phận cha, phận anh, phận em không đơn giản chút nào. Bịt tai nhắm mắt quay đi thì ra người bất hiếu, bất nghĩa, phụ tình mà muốn rạch ròi thì không đặng. Ông nghiệm ra rằng đối với đàn bà dù ai cũng vậy: Thôi thì một sự nhịn là chín sự lành!          

Ông thương mẹ lắm. Lúc còn nhỏ chưa biết thì thôi chớ từ ngày lớn lên ông thấy mẹ lúc nào cũng khổ. Lúc khó khăn mẹ chịu khổ đã đành nhưng lúc có chút đỉnh chung mẹ cũng không dám hưởng. Là để phòng xa cho chồng con lúc thất cơ lỡ vận. Là để cho trong họ ngoài làng nhìn vào vẫn thấy gia đình mình giữ được cái nền…           

Gái đưa ra cái hầu bao lòng thòng, bạc phếch có một cục gồ lên nút chặt hai đầu:         

- Chú xem này: Tiền đi chợ về ngoài việc chi hàng ngày cháu đưa hết cho bà. Cả tiền chú cho cũng thế. Bà bọc một cục thế này, lúc cột chặt thắt lưng, lúc quên đây quên đó, lại lọ mọ đi tìm. Có khi còn nghi cho cháu! 

Gái ra chiều giận lẩy.        

- Thì con đã nói rồi, bà cứ để cho cháu gái nó cầm đi. Con cháu mình đã biết rõ tính nết từng đứa rồi!

Ông thương Gái. Năm nay tuổi nó ngoài hai mươi rồi nhưng chú cháu từ nhỏ sống với nhau dưới mái nhà này. Nó mồ côi mẹ từ khi còn ẵm ngửa. Một lần nằm ru cháu trên chiếc võng mắc ở rặng ổi ngoài kia, chú nhún chân đạp thật mạnh cho võng bay vổng lên, nào ngờ tuột đầu dây võng hất tùm cả hai chú cháu xuống ruộng rau. Tưởng con bé chết vì ngợp nước! Cha nó vợ nọ con kia, ba bốn bà đều… vô tự! Là trưởng tộc mà vậylà phạm một tội trong tứ đại bất hiếu rồi. Ông sớm nặng nợ với cái bàn đèn nên kiếm cớ đi tìm qúy tử, càng bê trễ việc nhà! Một mụ bên tỉnh Đông trốn cảnh bé mọn bỏ xứ theo ông. Tuy chẳng ưa gì hạng người chốn chúa lộn chồng nhưng lại được đích danh mụn cháu đích tôn nối dõi tông đường thì lòng bà cũng dần khuây khỏa, cũng là lúc ông con trưởng đa mang vào nghiện ngập ngày càng thêm nặng cho nên vắn số! Gái lại lâm vào cảnh dì ghẻ con chồng! Một bà một cháu dựa dẫm vào nhau, cháu dù non nớt cũng phải lớn mau lên đảm trách việc nhà. Thật sự công việc nhà này lâu nay nó một tay cáng đáng.          

- Bà không tin cháu gái lo cho bà đâu! Nhưng bà giữ để lo cho con gái! – Gái nói vẻ tủi thân.     

Con gái đây là cô Út Hoa. Cô buôn bán hàng khô ở chợ đầu ô. Cô đa mang con cái đùm đề. Chồng làm thày giáo dậy lớp Đồng ấu nhưng có máu lăng nhăng, mồm mép bẻo lẻo, biết đàn hát nên bạn bè thường rủ rê đi hát xướng. Cũng biết làm thơ, có mấy bài đăng báo với bút danh ghép cả tên chồng tên vợ: Qúy Hoa! – Thế cũng đủ gọi là nhà thơ! Nhà thơ, ca sỹ, nhạc công… mấy người ấy thì nhân tình, nhân ngãi đùm đề. Cô em buồn giận lắm nhưng cũng tự hào được làm vợ một nhà thơ nên bấm bụng chịu nhịn, có khi còn phải chiều lòng cung phụng kẻo để nó lột cái áo nghệ sỹ cho lộ ra bản tính cộc cằn, nó phá tan hoang! Nó than thân trách phận hẩm hiu, tài hoa như vậy mà vớ phải vợ nghèo! Ông anh cũng bực lắm có lần phát bẳn lên:

- Nó ham giàu sao không bảo nó xin vào làm rể nhà ông Năm Diệm?

Ông Năm Diệm là cai thầu tiêu thụ hệ thống chất thải tư gia ở Hà thành. Cứ mỗi tối từ lúc trời bắt đầu về khuya tức là lúc canh hai, giờ Hợi cho tới lúc trời tảng sáng khoảng canh năm, giờ Dần, hàng đoàn xe bò đen do người kéo, từ căn cứ của ông ở làng Đồng Nhân tủa đi khắp phố phường, thình thình đập cửa từng nhà, đùng đùng tiến vào thay đổi các thùng phế thải. Ông giàu sụ lên bởi cái nghề ấy nhưng với khẩu khí của người Hà thành như vậy liệu những cậu ấm cô chiêu con cháu nhà ông có dễ kén được tân nương tân lang xứng hàng gia thế?!    

Nhưng em ông phận gái ván đã đóng thuyền. Đành rằng anh em kiến giả nhất phận nhưng làm ngơ đi sao đành. Lâu lâu ông đỡ cho em một chút. Bà Phán biết được có eo xèo chì chiết chồng. Bà mẹ thương con gái thường dấm dúi cho con.     

Bà Hai thấy cháu gái nó mếch lòng mình, nói xoa đi:

- Cha bố mày chớ ai bảo bà không tin mày? Bà không thương mày thì bà thương ai?

- Thế có bao giờ bà đưa cho cháu một xu không? Nhưng cháu trai thì bà xót lắm. Nữ nhân ngoại tộc mà! 

- Mày cầm tiền. Mày đưa cho bà bao nhiêu thì bà biết vậy. Mới lại bà thương nó mồ côi!

Bà cười xoà. Gái bật khóc lên:       

- Thế cháu không mồ côi à? Cần gì thì cháu xin chớ cháu không ăn bớt một chinh đâu. Chẳng qua cháu là phận gái!

- Tại mày lớn rồi. Phúc như người ta thì đã con bồng con mang rồi đó!

Bà kịp chữa sự lỡ lời.        

Ngồi xử kiện chuyện đàn bà con gái trong nhà thì đến như ông Bao Công sống lại cũng bất lực thôi! Ông Phán lắc đầu thở dài, càng thương cháu gái. Ông biết tính nó mà. Nó thật thà, com cóp nhặt nhạnh chi li nhưng không phải là cho nó. Mai mốt có lấy chồng lại ra đi hai bàn tay trắng! Thân phận người đàn bà khổ từ tấm bé cho đến khi nằm xuống! Cũng từ lòng mẹ sinh ra mà con trai, con gái khác nhau! Lúc nhỏ, có miếng ngon là để dành cho đứa con trai! Lớn lên đi học, cũng ưu ái cho con trai trước! Con gái học ít thôi, mai mốt nhờ chồng! Khi lập gia đình, của giả cũng giữ cho thằng con trai nhiều nhất! Nhưng lúc cùng quẫn cơ hàn phải bán con đi thì đứa con gái bị đem đi bán trước để cứu cả nhà! Ở làng quê, người ta cưới vợ cho thằng cu con mới năm, mười tuổi mà nàng dâu thì mười tám, đôi mươi! Lấy chồng không phải để hưởng hạnh phúc mà là đi làm đầy tớ không công cho người! Cái cảnh bồng bồng cõng chồng đi chơi nghe nó chua cay nghịch lý mà lại là sự thật. Cớ sao người phụ nữ vẫn tự dấn thân vào chốn bị đầy ải đã biết trước rồi? Ôi! Phải chăng vì nghèo? Hay vì cái tập quán man rợ có tự bao giờ? Khi một nếp sống đã thành tập quán nó trở thành luật lệ bất thành văn còn hà khắc hơn nhiều những lề luật vua chúa ban ra!

Ông Phán thấy lòng nặng nề, quay qua không thấy mẹ đâu, ông đứng dậy đi ra đầu hồi. Bà cụ đang lọm cọm quét đi quét lại cỗ áo quan hương mộc dành sẵn cho bà. Đấy là chiếc áo đời cuối cùng bà mặc về hoà vào với những người xưa sau bao năm lăn lóc một đời người. Bà hài lòng về nó.

Chu đi hái quả về, hai vai hai bị doi và ổi, cây bồng cũng đầy những trái. Chưa kịp chào, Chu vội hỏi ngay như đang trông đợi điều gì:  

- Cậu ơi! Anh Nghĩa có nhà không?    

- Có việc gì cần lắm không? – Ông nhìn cháu.  

- Cháu cần mấy cuốn sách cháu đang học tới!  

- Nếu cần gấp thì cháu cứ ra ngoài nhà hoặc lên Chợ mà tìm đi. Nghĩa nó không có nhà! – Ông buột miệng.

Bà cụ dừng tay quay ngay lại:    

- Thằng Nghĩa nó đi đâu mà các anh các chị không nói cho tôi biết?   

Ông Phán chột dạ lúng túng:         

- Dạ… nó… đi… thi!        

- Thi với cử gì thì cũng phải về nhà chớ!

Bà cụ trách và lên mặt giận.

Bà gần đất xa trời, về theo tiên tổ bất kỳ. Bà muốn thằng cháu đầu bà thương nhất lúc nào cũng ở bên bà để được nhìn nó lúc bà phải ra đi.

Ông Phán lảng đi, vừa sợ mẹ biết, vừa lo cho cháu.

Chu là con bà chị ông. Ông chồng bỏ vợ và con nhỏ đi theo đám mộ phu đồn điền vào Nam biệt xứ. Bà chị chạy vạy nuôi con vất vả cực nhọc rồi mang bệnh thận, người cứ phù thũng lên. Bà chết lặng lẽ khi đứa con gái bốn tuổi cứ lê la bên mẹ. Đứa con trai mười tuổi đi chơi về thấy mẹ nằm cứng đơ ra mới sợ hãi chạy đi gọi cậu. Một người hiếm muộn ở trong quê xin bé gái làm con nuôi. Đứa con trai lại nhập vào đám cháu mồ côi của bà. Chu 14 – 15 tuổi rồi nhưng nhát lắm. Cu cậu hay sợ ma. Trời tối, chong đèn đứng trên hè chõ vòi ra sân mà đái. Bị ăn đòn nhiều lần vẫn không chừa được. Chu đang theo học lớp đầu hệ Thành Chung. Nghĩa thường về kềm cập cho em. Mấy chị em bà cháu nuôi nhau trên rau quả ruộng vườn. Cậu chu cấp thêm việc học hành cho cháu.       

Ông vẫn trông tin Nghĩa hàng ngày. Bây giờ mẹ ông nóng ruột đợi chờ, ông lại càng lo. Mà cháu thì vẫn đi biền biệt!               

Ông Phán Thanh ngồi suy ngẫm sự đời. 

Kéo cái điếu bát lại gần, tay vê vê điếu thuốc, ấn nó trên miệng nõ, tay cầm cây se điếu đặt vào giữa hai môi chúm lại nhấp từ từ một hơi… hai hơi… ba hơi… rồi rít liền một mạch… lọc xọc!… lọc xọc!… lọc xọc!… lọc xọc! lọc xọc! lọc xọc!… xọc! xọc! xọc! xọc! xọc!… xọc!… xọc!… xọc! Ông ngậm khói trong miệng một lúc, ngả đầu ra, phả khói lên trần. Khói lúc đầu quánh đặc rồi phai nhạt dần toả ra khắp nhà. Từ ngày có việc làm, có bạn bè, vui chơi ông hút thuốc điếu thơm. Lâu dần ông tập hút thuốc lào rồi thành quen. Khói thuốc được hoà trong nước bốc lên nó trở nên quánh đặc quyện lại nơi đầu lưỡi tê tê thấm vào gan ruột. Chỉ khi tiếp khách ông mới đưa bao thuốc điếu ra. Mỗi sáng sớm, pha một ấm trà, chưa đánh răng xúc miệng, ruột gan chay tịnh, làm một hơi thuốc lào, nhấp thêm ngụm trà chiêu khói thuốc, lúc ấy mới phê. Ông ngả người ra ghế, mắt đờ đẫn, hàm cứng lại, ai hỏi chỉ ú ớ không đáp  được. Ông không hút thuốc phiện nhưng hút thuốc lào như thế cũng mê ly lắm rồi. Có lần sơ sẩy, ông ngã bịch xuống nền nhà, vỡ đầu chẩy máu. Cả nhà cuống quýt vực ông dậy, lấy thuốc lào rịt vào vết thương, băng chặt lại. Khi tỉnh, ngồi dậy, chờ hồi một lúc, ông lại làm thêm điếu nữa! Vợ ông cằn nhằn hoài mà ông không bỏ được. Coi như cố tật rồi. Ông không cô đầu, nhà chứa, không cờ bạc, rượu chè. Chỉ một tật ấy, thôi thì cũng được! Lâu dần bà cũng quen đi.    

Tối nay ông làm liền mấy điếu. Ông càng tỉnh táo nghĩ lại sự đời. Quê nội ông phát tích từ làng Phượng Dực, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam nhưng nội ông về ở dể dưới quê mẹ làng Yên Cốc nơi nổi tiếng có nghề giấy và sinh cha ông ở đó. Từ ngày Tây sang, nho học thất vận, những bức tranh dân dã Đông Hồ không còn được các nhà giàu ưa chuộng nữa thì nghề làm giấy ta cũng lụn bại dần đi. Có ít chữ nghĩa, anh con trai cần cù có chí không chịu để mình lún ngập xuống dưới những vết chân trâu. Khăn gói gió đưa, anh lên tỉnh thành tìm đất sống. Nhưng ở chốn đô hội văn vật này, chữ nghĩa lưng ống quyển, lại túi lép, gói nhẹ, chỉ có thể loanh quanh ở chốn nửa quê nửa tỉnh đầu ô thôi. Lúc đầu dạy học dăm ba đứa trẻ con nhưng chữ nho ngày một lỗi thời, học trò thưa vắng và nản chí học dần đi. Thày xem sách và xoay qua nghề bốc thuốc. Dân tình đa phần là  nghèo, bệnh tật còn quen với mấy thứ lá lảu, chưa hợp với mấy thứ thuốc viên, thuốc ống nên thày lang vẫn được người dân quý nể. Làm giàu thì khó chứ để đủ ăn thì tạm được, cuộc sống cũng không đến nỗi nào. Cô gái tên Phiếu trong làng ngày ngày quảy  gánh hàng qua cửa nhà thày. Em cô cũng cắp sách tới thày ê a mấy chữ. Dần dà quen người, quen nết, làng xóm đưa nay mối mai, nên duyên nên phận. Mải mê lặn lội vì chồng vì con, dần dà ngay cái tên của mình cũng không cần nhớ nữa, cô chấp nhận ẩn danh dưới tên chồng với một chữ bà (bà Hai Mùi) đã làm lòng cô toại nguyện. Ông bà tằn tiện căn cơ, làm nhiều tiêu ít, dư dả chút nào là bỏ ra tậu ruộng. Lần hồi cũng vườn trước ruộng sau vào hàng có máu mặt trong làng. Mẹ ông tơí chín mười lần vượt cạn mà giờ chỉ còn ông và cô em gái! Người chết lúc mới lọt lòng, lúc ấu nhi, lúc còn thơ bé. Lọt được mấy người đến thành gia thất thì đều mệnh yểu. Các cụ buồn nghĩ mình bạc phước. Cụ ông lẳng lặng bỏ đi không trối một lời. Gánh nặng gia đình đè lên vai ông Phán lúc vừa bước vào tuổi biết lập thân. Ông phải bỏ dở dang sự học. Những ngày thất nghiệp ông làm đủ nghề. Cũng may nhà còn có phúc. Bạn của cha ông là người có nghĩa, giúp đỡ con bạn tận tình. Gia đình ông Phát Đạt giàu có mà gia phong lắm, thấy ông hiền lành, hiếu thảo mới bắn tiếng gả con gái cho. Nhưng hiềm một nỗi ông là Trùm đạo, muốn hợp duyên phải cải đạo, theo đằng vợ. Không thiếu gì điều nọ tiếng kia, dèm pha bỉ báng. Nhưng không nhờ cái thần quyền thì ông không được thế này. Rồi vì nghĩa nặng mà nên duyên. Nhờ ơn trên, được vợ ông con nhà nền nếp, khéo xử nên dù hai nhà gia cảnh, gia đạo khác nhau cũng không để xảy ra chuyện bất hoà trầm trọng. Vào ngày giỗ kỵ bà lo chu toàn, ông chỉ việc chén nước nén nhang, chắp tay đứng trước bàn thờ khấn rước ông bà về chứng giám lòng thành của con cháu. Ông được lương hậu hỹ. Vợ ông xoay xỏa có được một cửa hàng vải ở chợ Chùa Vua. Bà về với ông năm năm, sinh liền ba đứa: bé Cẩm Nhung, thằng Nhân Trí và thằng Nhân Tín. Nhìn bầy con nếp tẻ đủ cả, thơ ngoan, ông cho là mãn nguyện.

công sở, ông là một viên chức cần mẫn, chu đáo, không luồn cúi cũng không nhìn ngó công việc của ai nên các chef yên tâm, đồng nghiệp tin tưởng. Chuyện chính trường ông biết gì để đó không bàn bạc tranh cãi làm gì, ai cũng nghĩ ông là người không chính kiến. Báo chí ông xem biết vậy, không bao giờ ông cầm tờ báo cấm – thậm thụt làm gì! Chuyện quốc gia đại sự là việc của vua chúa, của các nhà chức trách cầm quyền, của những người có mộng công-hầu-khanh-tướng mưu bá đồ vương. Gây nên sóng gió phải là những bậc anh hùng cái thế tài ba mới dám xoay vần con tạo. Chớ thân ký phán quèn, thư sinh trói gà không chặt làm sao dám vác nạng chống trời? Không phải là ông không động lòng trước nhân tình thế sự, nhưng biết làm sao? Chẳng lẽ làm như bà Nữ Oa đội đá vá trời! Vả lại con người ta có số, quốc gia có vận. Ông chấp nhận số phận của ông mặc dầu ông thấy chạnh lòng đã không làm được tích sự gì lúc quốc gia vong biến! Ngày hai buổi ông đi về với chiếc xe đạp trên một con đường trải nhựa phẳng lì che dưới bóng cây dâm mát như bao ông công chức tân thời lúc đó.

Nhưng thế sự xoay vần chóng mặt. Mấy năm nay lòng ông luôn thấp thỏm bất yên. Bao nhiêu kẻ lạ nhâu đến đất nước này! Cuộc tranh giành xâu xé này rồi ra sẽ thế nào? Tiếng súng đã ùng oàng từ Nam ra Bắc. Tưởng là đất Thăng Long phi chiến địa nhưng bom đạn đã dội xuống ầm ầm, đêm ngày nghe tiếng gươm khua mà thót ruột! Làm việc cho người Pháp ông biết chớ. Họ chịu lép đó nhưng lòng dạ họ bất trắc. Làm sao họ chịu để yên với kẻ đến giật miếng ăn của họ. Người Nhật thâm hiểm chớ đâu có dại khờ. Và chuyện phải đến bây giờ đã đến!              

Chỉ mấy tháng nay mà bao nhiêu biến đổi. Ông lo vậy nhưng đầu ông lại dần sáng ra. Bác Trịnh Huy là người học rộng và từng trải, là người khả kính. Những lời bác nói làm cho ông rõ ra con đường trước mắt. Bác thật là chính nhân quân tử. Nhưng thằng Nghĩa cháu ông cũng nói như bác ấy. Trước đây nó đâu dám dậy khôn ông. Nhưng bây giờ nó nói đúng quá. Sao bấy lâu nay mình không nghĩ được như nó nhỉ? Ai dậy khôn cho nó? Từ mình đến nó, vào lớp đều nhai nhải học: “Les Gaulois sont nos ancêtres” (Người Gô loa là tổ tiên của chúng ta), dầu ấm ức trong lòng mà vẫn phải lơ đi. Còn nó nói toạc ra: Tổ tiên của chúng tôi là người Giao Chỉ! Chẳng lẽ nó là người của bác Trịnh Huy? Nó nói phải can đảm lên để tự trấn an hay nó khích lệ mình? Nó có can đảm mới dám dấn thân làm những việc ấy chớ. Vậy ra là mình nhát? mình hèn? Nhát thì mình có nhát thật. Cả một gánh nặng trên vai, làm gì phải suy tính chớ. Nhưng hèn thì không! Đã có lần ông từng đá đít một thằng agent(nhân viên) mũi lõ khi nó chửi gã planton (loong toong) người mình là cochon Annamite! (con lợn An-Nam!). Lão Debue trông thấy không bênh nó, chỉ cười xòa. Lão cũng biết tỏng mình là người nhẹ dạ cả tin, an phận! Suy cho cùng cũng chỉ là phường giá áo túi cơm thôi! Hèn là không còn nhân cách, là nhục lắm! Công danh ai bằng Hàn Tín mà người đời vẫn không quên cho cái nhục xin ăn Phiếu mẫu, luồn trôn giữa chợ! Dân tình đang đói rã ra kia, khéo là chết hết. Mình cứ sống chết mặc bay, bèo trôi nước chẩy là bất nhẫn lắm, không được đâu!    

Từ trong nhà nhìn lên con đường đầu ô đây, sáng chiều đều thấy những xe bò lọc cọc đi ra phía nghĩa trang. Người ta không cần phủ lên manh chiếu rách che đậy nữa. Những mớ tóc rối bù, bê bết rũ xuống quét lê trên mặt đường rải đá xanh gồ ghề. Cháu ông nói đúng: dù có được nhường sẻ bát cơm chén canh thì họ cũng chỉ sống thêm được vài ngày. Những người nằm cửa nhà ông đây cứ mỗi ngày lại khác. Những thằng sỹ quan Nhật kiếm dài lê thê ngông nghênh phóng ngựa ào ào rối rít đi về cái nhà thổ Hồng-Nga. Tiếng mấy con đĩ choe choé vang ra chói tai  nhức óc suốt đêm ngày. Chị em nó ông không lạ gì, tứ cố vô thân. Nó đến đây từ lúc còn bé xíu, không ai biết nó từ đâu đến, cũng không ai hỏi tên nó là gì. Người ta gọi chúng là con Đen, con Đủi, xin ăn xó chợ đầu đường. Bà Phán nhiều lúc cũng thương tình cho chúng vài xu, lon gạo. Chúng lớn lên thế nào không ai để ý. Rồi chợt người ta nhận ra chúng làm chị một bầy. Rồi một cái nhà tầng đỏ loét nhô lên nghênh ngang lù lù chướng mắt đêm ngày mà chủ nhân là hai con bé ấy! Rồi người ta cũng quen đi, không ai tìm hiểu xem con Hồng con Nga này có liên hệ gì với con Đen, con Đủi ngày xưa. Nhưng hai chị em nó mỗi khi gặp ông bà Phán đều lễ phép cúi đầu: Chào cậu ạ! Chào mợ ạ!

Hàng ngày lên Sở, không có việc gì làm. Ai cũng loanh quanh vào ra, đứng ngồi mà không dám hé răng. Bọn Kempeitai này xem chừng còn tàn độc lạnh lùng hơn bọn Phòng Nhì dạo trước. Trong bụng ai cũng ngóng đến kỳ cấp tiền, cấp sổ gạo bông (bon=gạo bán theo phiếu). Những tin tức hàng ngày trên báo, trên radio vẫn lọt vào mắt, vào tai các ông ký lục. Họ xì xầm nhau: ngày 6 tháng 4 quân đỏ Nga Xô đã tiến vào Berlin ở phía Đông rồi. Ở phía tây, quân Anh, Mỹ đang áp sát bờ sông Enbe. Hitler mất tích! Số phận y không hơn gì Moussolini đâu. Cả phe Đồng minh dồn vào đánh Nhật. Số phận thằng lùn này còn được bao lâu? Vậy mà cụ Cử Trần Trọng Kim đứng ra lập Chính phủ đế quốc Việt Nam với lời tuyên cáo: “Quốc dân phải cố gắng sức làm việc, chịu nhiều hy sinh hơn nữa và phải thành thật hợp tác với nước Đại Nhật Bản”! Người ta ghé tai nhau thì thào: Đồng minh bắt đươc thư của Hoàng tử, Thủ tướng Nhật Bản gửi cho Hoàng đế Hirohito: “Nhi thần rất tiếc phải kính bẩm với Đức Kim Thượng rằng thất bại của Nhật Bản là không thể tránh khỏi”! Chẳng lẽ nội các gồm toàn những vị cựu học uyên thâm và các vị tân học tiếng tăm: cử nhân, giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sỹ, người Bắc-Trung-Nam đủ cả, lại có thể mụ mẫm tự dắt nhau chui đầu vào rọ hay sao? Liệu có độc lập thật sự hay không? Họ theo ai? Đồng minh hay Nhật? Nhưng Việt minh tẩy chay họ! Dân tình ít người nói đến nhà Vua hay Chính phủ, chỉ nói nhiều đến Việt minh thôi. Từ đồng quê cho đến thị thành, đâu đâu cũng thấy người của Việt minh. Họ kêu gọi dân chúng nổi lên phá kho thóc cứu đói và họ dẫn đầu. Khắp nơi hưởng ứng rầm rầm. Ông Phán Thanh nghĩ bụng: Chẳng lẽ ngồi chờ chết hay sao?

Cái nắng tháng năm để lại một chiều oi nồng. Ông Phán đi về qua quảng trường Nhà Hát Lớn. Dẫy cây trên Đại lộ Phan Chu Trinh (Boulevard Rialand) đứng im lìm như chưa qua cơn say nắng. Trước SởCông Chính, một đám lính Nhật trần truồng tồng ngỗng đứng tắm giữa đường dưới những vòi nước tưới ra ào ào từ mấy chiếc xe cứu hoả. Chúng nhảy nhót, hò la hây… hô… hấy… hố… Mấy đứa trẻ con ngấp nghé ở xa cười. Mấy người qua đường nhăn mặt đi thật nhanh cho khuất cảnh chướng tai gai mắt. Mỗi khi có đàn bà con gái đi qua, đám lính Nhật càng cười to hô hố giở những trò đểu cáng ra trêu ghẹo như muốn bắt người đi qua phải nhìn vào chúng. Các bà, các cô che nón, che khăn chạy mau cho thoát khỏi đám ôn dịch này, mặt đỏ nhừ lên, thở hổn hển, có người nước mắt vòng quanh, có người khóc lên thành tiếng. Hai viên sỹ quan Nhật đeo kiếm dài lòng thòng đứng nhìn cảnh ấy cười thoả mãn như động viên đám lính dở thêm những trò khả ố ra trêu chọc mọi người. Ông Phán cảm thấy như chính mình bị xúc phạm. Ông xuống xe, hầm hầm đi thẳng tới trước mặt hai viên sỹ quan Nhật, với giọng gay gắt , ông nói tiếng Pháp:     

- N ‘êtes vous pas honteux? (Các anh không xấu hổ à?).

Một tên hiểu được, cất giọng cười lớn, khoát tay xua đuổi cùng thốt lên giọng mỉa mai khinh miệt:

- Oh… Non ! Nu ne l’est pas. C’est plutôt sans patrie! (Ô… Không! Ở truồng không xấu hổ. Mất nước mới xấu hổ!)

Tay nó chống vào đốc kiếm, ngửa mặt lên trời cười khà khà.

Ông Phán như bị cái tát choáng người! Ông nhảy lên xe và dồn mọi sự phẫn uất xuống đôi chân. Cái vòi rồng nước còn kịp xối lên người ông ướt sũng.

Chưa bao giờ ông Phán thấy nhục như thế này! Ông ngồi thừ ra, miệng đắng ngắt không thèm hút thuốc. Nó chửi thẳng vào mặt mình là thằng mất nước! Nó nói rằng nó trao lại quyền độc lập cho mình nhưng mấy thằng sỹ quan binh lính quèn của nó coi nền độc lập ấy đâu có ra gì.

Lúc này ông mới cảm thấy vận mệnh của một người phụ thuộc vào vận mệnh của cả quốc gia dân tộc là như thế nào. Quốc phá gia vong! Nước đã mất thì nhà cũng tan. Thân phận người dân chỉ như bèo bọt! Trước đây cũng có lúc ông suy nghĩ về Tổ quốc. Ông thấy nó mơ hồ thực thực hư hư thế nào. Có đấy mà hóa không! Nói không mà thành có! Nó chẳng của riêng ai, là của chung mọi người. Hay dở mọi người cùng chịu. Của riêng ông suy đến cùng là cái gia đình lớn nhỏ này. Ông ráng làm đứa con hiếu thảo biết uống nước nhớ nguồn, người chồng chung thủy, người cha chú gương mẫu và trách nhiệm, giữ nghĩa tình với anh em họ tộc bạn bè, làm nhiều điều thiện, không làm điều gì hại cho người khác. Nhưng lúc này ông thấy nó rõ hơn, cụ thể hơn là phải có lòng tự trọng, phải biết giữ gìn phẩm giá và danh dự của mình trước kẻ ngoại bang. Nói rằng cha chung không ai khóc nhưng có người khóc cha thật sự thiết tha da diết lắm! 

Tiếng chuông leng keng. Có ai ở ngoài cổng ông cũng chẳng buồn đứng lên. Thằng Nhỏ chạy ra, lúc trở vào tay xách một bọc gì:

- Cậu ơi, ai để bọc này trước cửa nhà mình!

Một bọc vuông vức, cột dây gai. Ông bảo nó mở ra: Truyền đơn! Toàn là truyền đơn! Mặt ông tái đi và người ông run bắn lên. Ông bảo Nhỏ chạy ra cửa nhìn thật kỹ xem có ai rình mò quanh đây không. Ông lập cập nhấc vội lên xem qua từng tờ: Lời hiệu triệu của Mặt trận Việt minh, các khẩu hiệu in chữ lớn: Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim! Ủng hộ Việt minh! Việt Nam độc lập muôn năm!

Khi Nhỏ quay vào thì ông đã gói lại cẩn thận rồi. Ông bảo nó đem cất trong xó bếp.

Lòng ông bồn chồn. Những khẩu hiệu kia cứ hiện lên trước mắt và vang lên trong đầu ông. Ông giữ lại một tờ hiệu triệu và đọc nó nhiều lần. Lời lẽ ngắn gọn:

  Hỡi đồng bào!

Chỉ trong năm năm, thực dân Pháp đã hai lần để nước ta lọt dần vào tay phát xít Nhật! Nhân dân ta đang đứng trước hai cơ hội lớn: Hoặc là bị diệt vong! Hoặc là tự cứu lấy mình!

Mặt trận Việt minh kêu gọi những ai là con cháu Lạc Hồng hãy đồng một lòng, tay nắm chặt tay cùng nhau đứng dậy:

- Phá kho thóc Nhật cứu đói!

- Ủng hộ và hợp tác với Đồng minh đánh đuổi phát xít Nhật!       

- Giành chính quyền về tay nhân dân!     

Cơ hội để giành độc lập tự do trăm năm chỉ có một lần.

Hỡi đồng bào

Hãy xiết chặt tay lại tiến lên!          

Việt Nam độc lập muôn năm!

Ông không cố ý học thuộc nhưng những dòng chữ ấy như tự lòng ông viết ra. Ông đi lại trong nhà, lẩm nhẩm không biết bao nhiêu lần.

Bà Phán ở chợ về kéo ngay ông vào nhà trong, giúi vào tay ông tờ giấy nhỏ. Ông lập cập giở ra. Dòng chữ viết vội: Anh Nghĩa bị bắt ở Phủ Từ Sơn! Ông để rơi tờ giấy xuống, một hồi lâu không nói được gì. Bà Phán thuật lại với ông:

- Có một người lạ tôi chưa kịp nhận mặt, ghé vào cửa hàng xem vải rồi lựa  lúc không ai để ý tuồn mẩu giấy này bên cạnh tôi rồi đi thẳng!

Vậy đây có thể là bạn bè của cháu trong Đoàn thể về báo cho nhà. Ông kéo bà ra nhà ngoài, lôi từ dưới bàn lên mấy tờ giấy ông để chừa ra. Bà run lên:

- Trời ơi! Toàn là giấy tờ quốc cấm! Mà làm sao nó lọt vào đây?           

- Có ai đó đặt nó ở cửa nhà mình, giật chuông báo rồi bỏ đấy!           

- Trời ơi! Mình có nhớ dạo nào bọn ác nó thảy thuốc phiện, rượu lậu để rồi vu oan giáng họa vào các nhà lành đó sao? Những ai biết chuyện này?

Bà kêu Nhỏ lên hỏi, nó bảo:          

- Thưa mợ! Lúc xế chiều con thấy người ta lôi mấy người nằm đầu hè ra thảy lên xe bò kéo đi! Có người còn rên è è, phân, nước thải chảy ra bừa bãi. Con phải dội mấy gánh nước mà vẫn chưa hết mùi hôi. Lúc nghe chuông, con chạy ra thì trước nhà mình vắng tanh. Trên đường cũng không thấy có ai qua lại.

Bà hồi nhớ lại:                  

- Có thể cùng là một người. Người dúi mảnh thư này ở cửa hàng tôi nhớ hình như trên vai có đeo cái bị. Chắc là ở đấy đông người nên họ không dám đưa ra và quay về để ở đây nhưng người ta giấu mặt. Vậy là người của anh Nghĩa đây!      

Ông đắn đo một hồi rồi bao kỹ lại, bảo thằng Nhỏ đem cái bọc ra dúi vào bụi cỏ bên miệng cống bờ đường phía sau nhà.          

Cả đêm ông bà Phán không ngủ được, vừa nghĩ kế chạy lo cho cháu, vừa phân vân không biết xử lý mớ truyền đơn kia như thế nào? Cháu nó làm việc nghĩa vì thế mà tù tội. Mình thay cha nó mà chẳng giúp gì được cho cháu hay sao? Và ông đã gỡ rối được một điều.

Ông Tham Phú cùng Sở làm, cũng là bạn với bác Hai – cha thằng Nghĩa. Nghe như ông có quan hệ họ hàng thân thích với cụ Thượng làm Tuần Phủ bên đó. Bà Phán và bà Tham là bạn học thời con gái nên hai nhà với nhau rất thân tình. Hương Giang – con gái ông Tham đang học lớp Thành Chung trườngCon gái nhưng hai đứa cũng là bạn với nhau. Nói chuyện này ra chắc ông Tham không nỡ chối từ.

Còn như gói truyền đơn kia ôm vào thì nguy hiểm thật nhưng mà nó nói đúng lòng ông. Người ta chết như rạ. Số người phè phỡn chẳng là bao. Ngay cả bản thân số phận gia đình ông cũng như đang đứng trên đống bùng nhùng. Phải thay đổi! Nhưng ông có dám làm không? Cháu ông nó bảo phải dũng cảm lên. Nhưng nhìn vợ nhìn con ông ái ngại. Bà Phán bày cho ông kế hoãn binh:

- Cứ để đó ít ngày xem. Nếu không thấy động tĩnh gì sẽ tính!

Ông đến nhà ông Tham dò ý:

- Tình hình này bác thấy làm sao? 

Ông Tham gật gù:

- Thằng Nhật ngoẻo thôi! Nhưng thằng Pháp sẽ quay trở lại! Thằng nào cũng phải  cần mình!   

Ông Phán thở dài nhưng việc của ông không dừng lại được:      

- Ở thôn quê người ta hô hào đánh đuổi Nhật, phá kho thóc cứu đói, bác có biết không?

- Ôi chà! Mấy thằng đói ăn vụng, túng làm càn. Thằng Nhật có nơi bỏ chạy, có nơi nó bắn chết đầy!  

Ông Phán lo sợ lộ ra nét mặt:     

- Bác ơi! Thằng Nghĩa… con anh Hai Nhàn…

- Nó sắp xong Bac complet (Tú tài toàn phần) rồi chứ?

- Không! Nó bỏ học gần năm nay rồi!

- Sao?

- Nghe nói nó bị bắt ở phủ… Từ Sơn!

- Nó làm loạn hả?!

- Không! Nó theo người ta đi… phá kho thóc!

- Toa có để cho lúy đói không?

- Thanh niên bây giờ mình không hiểu nổi chúng nó đâu!

Hương Giang loanh quanh nơi phòng khách lo trà nước, nghe lọt chuyện này, bộ đĩa chén trên tay rơi xuống… xoảng! Cô hớt hải chạy đến bên ông Phán:

- Chú ơi… Anh Nghĩa làm sao?

- Nó bị Nhật bắt rồi! – Giọng ông Phán run run.

Hương Giang chạy lại ôm lấy cha:

- Ba ơi! Làm sao bây giờ?!         

Ông Phán đứng lên nói thật ra ý của mình:

- Anh Tham! Em nghe nói ông Tuần phủ bên Bắc là nơi thân tộc với anh?     

Hương Giang hối giục cha:            

- Ba ơi! Làm sao ba có thể bỏ qua được chuyện này?

Ông Tham ngồi xuống nói chậm dãi:      

- Có! Ông Tuần với “moa là anh em hàng thúc bá!  

Rồi ông đứng lên đi lại đăm chiêu. Hương Giang lẵng nhẵng bám theo. Cuối cùng ông dừng lại nhìn con gái mắng:      

- Thằng hai thứ tóc trên đầu còn đành phải nhắm mắt đưa chân huống chi mấy đứa nhãi ranh chưa ráo máu đầu, miệng còn hôi sữa đã tưởng đom đóm sáng hơn đèn!                                               

Từ sáng sớm, Ông Tham Phú và ông Phán Thanh đi xe kéo qua bên Bắc. Ông Tham ấn vào tay ông Phán một lá cờ Nhật:

- Cầm lấy! Được khối việc!

Cầu Long Biên vắng tanh. Gặp những tên lính Nhật đứng phất phơ trên cầu, mỗi ông đều giơ lá cờ mặt trời lên huơ huơ. Tụi nó cũng dửng dưng nhưng không động tới hoạnh họe làm gì. Tới khúc trống, anh phu xe quay lại nhắc:

- Các thầy giấu lá cờ này đi kẻo Việt minh thấy họ tưởng mình là Việt gian tay sai của Nhật là bỏ mạng hết thôi!

Các ông bảo nhau dúi lá cờ xuống dưới nệm, ngồi lên!

Đồng ruộng hai bên chỉ là những đám đay gai xanh ngát xen lẫn đám thầu dầu hoe hoe xanh đỏ. Vài thửa ruộng còn trơ những gốc rạ loe ngoe. Người ta đã gặt hết ăn lúa non rồi. Mấy thẻo ngô xác xơ gãy ngọn. Lác đác vài người thất thểu đào bới cái gì đó bên bờ ruộng. Có người nằm vật vắt ngang trên bờ như  xác chết. Hai chiếc xe vẫn chạy song hành:     

- Thế này thì chết hết! – ông Phán chép miệng thở dài.

Ông Tham hưởng ứng:

- Khốn nạn là từ cái Chương trình kinh tế chỉ huy của thằng Nhật! Nó bắt người ta phải gia tăng diện tích trồng bông, đay, gai, thầu dầu, vừng, lạc dành cho công nghiệp chiến tranh trong khi đội quân khổng lồ của nó vét hết lúa ngô của mình!

- Năm nào vào dịp giáp hạt tháng ba ngày tám dân quê Bắc kỳ mình không nhiều thì ít cũng lâm cảnh thiếu ăn! Mấy năm nay tai ương dồn dập, giặc người giặc trời điêu đứng. Có ai lo việc cai quản đê điều đâu? Không chỗ này thì chỗ khác đê năm nào cũng vỡ! Mấy tỉnh trong sông, mấy tỉnh ngoài sông ngập úng, ngập mặn tràn đồng. Vụ mùa trước thêm nạn hoàng trùng. Lại càng túng đói! Từ năm ngoái, quân Đồng minh tràn sang Á Châu đánh Nhật, tàu chiến, máy bay phong tỏa mọi đường vận chuyển. Gạo ở Nam kỳ, ở Cao Miên ê hề mà đường giao thương thủy bộ đều ách tắc.

Giọng buồn thảm, ông Phán hỏi ông Tham: 

- Bác xem thằng Nhật có thật lòng với mình không? Cái nền độc lập này cùng với cái thuyết Đại Đông Á ấy!      

- Dù nó thật hay giả thì cũng sắp đi đời rồi! Ngày 9 tháng 5, Đức quốc xã đã đầu hàng Đồng minh không điều kiện! Nước Đức đang bị xâu xé và chia cắt! Thằng này đang sa lầy ở Tàu và Cao Ly! Ở mặt trận Thái Bình Dương nó đang thua liểng xiểng! Bây giờ là lúc người Mỹ tính sổ với nó về vụ Trân Chân Cảng đây. Phe Trục còn lại mỗi thằng lùn. Cả phe Đồng minh a thần phù vào đánh thì nó chịu sao nổi? Mãnh hổ nan địch quần hồ huống chi một con hổ què trước bầy hùm beo, lang sói còn sung sức hau háu hận thù! – Ông Tham thoả mãn với nhận định của mình.            

- Vậy là ta đương nhiên được hưởng quyền độc lập! – Ông Phán thở ra nhẹ nhõm.         

- Thằng Pháp không dễ gì nhả miếng mồi này đâu! – Ông Tham vẻ rất thản nhiên.

Hai ông đang mải mê bình luận về thế cuộc, chợt nhìn ra phía xa xa thấy đám đông người nhốn nháo, tiếng hò reo, tiếng trống giục liên hồi. Phất phới lá cờ đỏ sao vàng di chuyển liên tục đây đó.

Có hai anh lính lệ nón chóp, chân quấn sà cạp tất tả chạy ngược đường về phía xe đang đi tới. Ông Tham nhảy phốc xuống chặn đường, vẫy tay gọi lại:    

- Ê! Ê! Mấy chú lính ơi! Có chuyện gì đó?

Hai chú lính dừng lại, thấy người ăn vận sang trọng thì dớn dác nhìn thăm dò rồi trả lời muốn đứt hơi:

- Dân chúng hùa nhau theo Việt minh đi cướp phá kho thóc cứu đói! Mấy thằng Nhật nổ súng chống cự bị họ ùa tới tay không, tay gậy… nện thừa sống thiếu chết rồi bắt trói gô lại. Thằng nào còn, chạy tháo thân! Mấy ông đi qua coi chừng mất mạng!

Nói rồi các chú lại cắm đầu chạy thục mạng vào đám ruộng ngô…                 

Ông Tham chặc lưỡi:        

- Cứ đi… Mau lên!            

Hai người phu xe gò lưng tăng tốc. Dọc đường gặp mấy người đầu đội thúng gạo, tay xách thúng không vừa chạy vừa ngoái lại phía kho xem chừng tiếc rẻ. Ông Tham nhanh trí nhẩy xuống xe gọi lớn:      

- Ơi… Đồng bào! Xếp lên đây mau!

Không cần biết lạ hay quen, mấy người ào tới thảy thúng thóc lên xe rồi cầm chiếc thúng không chạy quay trở lại. Ông Phán cũng làm theo ông Tham. Chỉ một loáng thôi, hai chiếc xe chất đầy những thúng thóc. Tớ kéo, chủ đẩy lặc lè… Qua một khúc đường xa, xe dừng lại, chủ tớ mồ hôi đầm đìa. Đám người le te chạy tới, ông Tham hô lên:    

- Thóc gạo đây! Chuyển đi mau lên đồng bào! 

Người ta xô tới. Hai chiếc xe lại trống tuyềnh toàng còn vương đầy đất cát. Hai anh em lại nhẩy lên xe. Chung quanh râm ran tiếng hô hào hứng:      

- Ủng hộ Việt minh!                   

- Ủng hộ Đồng minh đánh đuổi phát xít Nhật!          

Xe chạy vào phố thị.        

Cũng vẫn là dinh quan Tuần phủ ấy mà giờ đây nó không còn vẻ uy nghi lẫm liệt như ngày nào. Mấy chú lính lệ ngáp dài ngơ ngáo. Bóng mấy thầy ký lục quan nha quần trắng, áo the, giày tây, khăn xếp phất phơ thấp thoáng như ở chốn cửa chùa. Ông Tham Phú đường bệ đi thẳng tới chú lính lệ đang đứng đuổi ruồi, giọng rất oai quyền:

- Ê… Chú lính! Vào bẩm với quan Tuần phủ có ông Tham Phú ở Phủ Toàn Quyền về có việc. Nghe chưa?!

Chú lính khúm núm cúi đầu cun cút chạy thẳng vào phía công đường, một lúc chạy ra: 

- Thưa, kính mời quan Tham vào. Cụ Tuần trong phủ!

Ông Tham phẩy tay, hai anh em đi thẳng vào phòng khách.              

Quan Tuần phủ Phan Lê Tuấn mới chớm tuổi già nhưng từ lâu mọi người vẫn quen gọi là cụ Thượng, cụ Tuần bởi cái chức sắc hàm trật của cụ không ai dám vô lễ gọi bằng ông như người dân dã. Ngay cả bà Tuần tuy vẫn còn phơi phới lại chăm son phấn vậy mà cũng một hai điều cụ Tuần, cụ Thượng nhà tôi nghe cao sang xa cách lắm. Vậy mà ông Tham Phú xông xông đi thẳng tới, giơ tay ra trước cụ, mặt tươi hơn hớn, bô bô đặc giọng tây:   

- Oh! Bon jour mon chère frère! (Ô! Chào ông anh thân mến!)           

Ông anh nắm tay chú em thân tình cảm động:  

- Đang thời buổi nhiễu nhương mà chú về xứ đồng quê hoang vắng tiêu điều này làm gì? Nguy hiểm lắm!

Ông Tham quay qua ông Phán:     

- Thưa anh! Đây là chú Phán Thanh, anh em cùng Sở làm với em!     

Ông Phán hai tay chắp trước ngực, nghiêng mình cúi đầu lễ phép:         

- Dạ! Thưa quan Tuần!     

Không ngờ quan Tuần lại dễ dãi xuề xoà đến thế:      

- Ôi dào! Quan sắp vào quách tới nơi rồi còn gì mà thưa với gửi!

Và quan Tuần kéo hai ông em ngồi xuống ghế:

- Ôi! Dân tình bây giờ bất trị! Họ đang làm loạn! – cụ Tuần than thở.

- Trên đường về đây em thấy cảnh họ cướp phá kho thóc ghê quá!     

- Có nơi thằng Nhật nó thẳng tay đấy. Nhưng chết họ cứ xông vào! Tức nước vỡ bờ rồi! –  Cụ Tuần tỏ ra bất lực.  

Ông Tham trợn mắt, hất hàm:    

- Vậy kỷ cương phép nước ở đâu?

- Còn gì nữa đâu mà kỷ với cương? Hoàng thượng ta do người Pháp nuôi dậy và đặt lên ngai vàng mà chỉ có hai ngày sau đảo chính, Ngài đã tuyên bố xoá bỏ mọi Hiệp ước Nam triều đã ký kết với Pháp từ trước đến nay rồi!  

Ông Phán rụt rè góp lời:   

- Nhưng thật sự là người Nhật đã trao trả cho ta quyền độc lập và Đức vua đã trao cho cụ Cử Trần lập Chính phủ mới rồi và Chính phủ đã tiếp nhận cả xứ Nam kỳ trước đây là thuộc Pháp!

Cụ Tuần chán nản:           

- Độc lập cái nỗi gì?! Bên cạnh Hoàng thượng giờ là viên Cố vấn Nhật cũng không khác gì viên Toàn quyền tây thuở trước! Rồi một mớ những Thống sứ, Công sứ… nữa! Tôi làm quan tôi biết. Dân tình bất tuân thượng lệnh! Suy cho cùng cũng phải thôi. Mình chỉ được lệnh làm theo thằng Nhật. Mà nó thì đang rãy đành đạch lên như cá nằm trên thớt. Theo nó mình cũng chết!

Ông Tham cười, kháy thơ La Fontaine:   

- Combien de grands peigneus sont bustes en ce point! (Nhiều đại thần giống như tượng rỗng!)

Rồi ông kết luận:

- Mấy thằng da vàng không qua được mấy thằng da trắng đâu!

Ông Phán đã mạnh dạn hơn:         

- Nhưng thằng Pháp có còn gì mặc dù là nó đã dựa vào Đồng minh để được giải phóng rồi? Họp Hội nghị thượng đỉnh ở Cairo vừa rồi, tứ cường là: Hoa Kỳ, Anh, Nga và Trung Hoa Dân Quốc!            

Ông Tham quả quyết:       

- Rồi chú xem! Chánh tổng, Lý trưởng dù có hầm hè hãm hại nhau nhưng không bao giờ chịu để cho mấy thằng khố rách áo ôm xâu xé chúng nó đâu! Từ xưa đến nay luật đời vẫn thế. Bọn quan chức quyền thế giàu có dù luôn ganh ăn ghét ở với nhau nhưng khi cần chúng vẫn bao che bênh vực cho nhau. Để thành tiền lệ thì có khác chi xúi bẩy đám dân đen con đỏ hùa nhau hại mình!    

Ba ông đang mải mê những điều dấm dứt về thế cuộc thì một thanh niên mặc bộ đồ nửa lính tây, nửa lính Nhật, chân xỏ ghệt xăm xăm bước vào, hỏi lớn:     

- Thầy ơi! – Anh kịp dừng lại khi nhận ra có khách trong phòng và cúi đầu:   

- Cháu chào chú Tham!

Rồi nghiêng nhẹ về phía khách.     

- Anh Đội Tôn, anh cả nhà tôi! – Ông Tuần chỉ con.

Biết đều là người nhà, Đội Tôn hỏi cha:  

- Thầy ơi, số người bọn Nhật bắt giao cho mình, con thả ra hết nhé!  

Ông Phán bật đứng lên. Ông Tham đỡ lời:        

- Hôm nay em qua đây cũng để nhờ anh một việc. Số là thằng cháu chú này – tay chỉ ông Phán, bị bắt ở bên đây! Em chưa biết đầu đuôi xuôi ngược thế nào nên qua trình với anh tra xét cụ thể, xem liệu có thể nới tay?

- Nó tên gì? – ông Tuần hỏi.

Ông Phán nhanh nhẩu:       

- Dạ! Thưa… cháu tên là Nguyễn Hữu Nghĩa, đang học Tú tài năm cuối!

Đội Tôn chau mày:

- Trong số những người này không có ai tên Nghĩa!

Ông Phán toát mồ hôi. Ông Tuần giải thích:

- Đám này cầm đầu cướp kho thóc Nhật. Một số bị nó bắn chết ngay tại trận. Số còn lại nó chưa khử kịp thì bên kia cũng tóm được mấy thằng lính Nhật. Họ bắn tin trao đổi tù binh. Bọn Nhật lánh mặt, giao lại số người bị bắt và nhờ mình bắt mối!

Đội Tôn tiếp lời:

- Có một tên lính Nhật phản chiến xin ở lại theo Việt minh!

Ông Tham trừng mắt:

- Việt minh nào ở đây?

- Chú không biết gì về Việt minh à? – ông Tuần lộ vẻ ngạc nhiên.      

Đội Tôn lấy ra từ trong túi mấy tờ truyền đơn của Việt minh. Ông Tham chăm chú đọc Lời hiệu triệu. Ông Phán liếc nhìn chợt nhớ tới bọc truyền đơn ở nhà. Đọc xong, ông Tham nhìn dò ý ông Tuần. Ông anh cười gượng:

- Họ hô hào: Phá kho thóc Nhật cứu đói! Đánh đuổi phát xít Nhật! Đánh đổ chính quyền bù nhìn tay sai của Nhật! Đòi chính quyền về tay nhân dân và Ủng hộ Việt minh!

Ông Tham bực dọc:          

- Loại giấy nhảm nhí này tôi có thấy mà không thèm xem! – Và ông tỏ ý bất bình:… Nó lật đổ anh! Vậy mà anh để yên được sao? 

Đội Tôn hăng hái trả lời thay cha: 

- Họ nói đúng đó chứ! Chú không thấy ngoài đường dân chết như rạ sao? Trong khi chúng nó mang bao nhiêu lúa ngô của mình ra đốt thay than! Không phá kho lấy thóc để chết hết à? Các chính thể phát xít đang tan thành mây khói! Ngay dân chúng bên nước họ cũng bất bình vì những ý tưởng ngông cuồng ấy!

Anh nhìn cha. Ông Tuần tỏ ý đồng tình: 

- Họ nói chính quyền bù nhìn là thật đó! Chính phủ của cụ Cử Trần thành lập được ít ngày đã rã đám rồi! Quân vương bất lực! Nói là cầm quyền mà tôi có được cầm cái gì đâu? Thằng bù nhìn còn có cái cọc để dựa vào nhưng tôi biết dựa vào ai? Mang tiếng làm quan phụ mẫu chi dân mà chỉ biết giương mắt nhìn bầy con khô héo chết mòn dần đi thì còn có ra gì phận làm cha mẹ? Dân chúng coi khinh là phải lắm!          

Ông Phán không thể chờ lâu được nữa. Ông bồn chồn lo cho số phận cháu ông:     

- Thưa cụ Tuần! Xin cụ vui lòng cho phép tôi đến nơi nhận diện hoặc là thăm dò tin tức của cháu!

Cụ Tuần nhìn về phía con trai:

- Đúng rồi! Anh Đội đưa ông đây xuống gặp họ xem sao!

Dọc đường ông đi lập cập. Đội Tôn nói cho ông bớt lo:

- Những người bị bắt không mấy ai khai tên thật ra đâu. Trong số này có mấy cậu trông có vẻ học sinh thành phố, đường hoàng đĩnh đạc lắm! 

Ông Phán nhẹ lòng vì còn hy vọng, hỏi thăm dò: 

- Thầy Đội nghĩ về họ thế nào? 

- Tôi có cảm tình với họ! Cả đám lính của tôi cũng vậy! Dân mình dù ở đâu ai mà không có gốc rễ ở quê. Tình cảnh này làm sao không xót ruột!

- Thầy ủng hộ Việt minh? 

- Có còn ai hơn họ lúc này? 

- Cậu là quan của lính, là con quan Tuần phủ?

- Ông đã nghe thầy tôi nói? Cụ thường bảo: «Thiên hạ đa năng ưu hoạn thủy »! Cụ chán cái cảnh thầy không ra thầy, tớ không ra tớ này lắm và muốn treo ấn từ quan nhưng lúc này đang hỗn loạn, cụ không muốn bị mang tiếng là người đào nhiệm!

- Nhưng anh làm quan võ kia mà? 

- Ông muốn hỏi tôi về phận sự của người lính chứ gì? Bây giờ tôi đem quân bắn vào bà con mình đang đi đòi miếng ăn à? Cả ông, cả tôi, cả dân tộc này có được làm người thực sự hay không? Người hiền như ông Phạm Tất Đắc mà cũng phải thốt lên: Vạch trời thét một tiếng vang / Cho thân tan với giang san nước nhà…Trước đây mình đành phải chịu. Nhưng bây giờ thời thế đổi thay rồi. Đã đến lúc phải tỏ rõ chí nam nhi!

Tới gần trại lính, vọng ra những tiếng ồn ào. Hai người đi dài bước hơn. Rõ là hợp âm nhiều người cùng hát. Dường như họ đang tập hát một bài hành khúc. Hai người cùng bước lên thềm. Tiếng hát đồng thanh lọt ra vừa đủ nghe:

Đoàn quân Việt Nam đi… chung lòng cứu quốc / Bước chân dồn vang trên đường gập gềnh xa / Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước / Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca…

Ông Phán đứng ngây người ra. Những lời hát chất chứa bao hờn căm uất ức được phát ra từ đáy lòng làm cho ông có cảm giác rần rần tê tái: Thề phanh thây uống máu quân thù / Tiến mau ra sa trường… Họ cùng cao giọng gọi nhau: Tiến lên, cùng thét lên / Chí trai là đây nơi ước nguyền…

Đôi chân ông muốn giậm giật… Đi lên! Đi lên!… theo đoàn quân ấy:

Đoàn quân Việt Nam đi… Sao vàng phấp phới / Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than…

Ông lặng người đi. Chưa bao giờ có nhiều người dám nói chung một ý chí quyết tâm sục sôi, giục giã như thế:

Cùng chung sức chiến đấu xây đời mới / Đứng đều lên gông xích ta đập tan / Từ bao lâu ta nuốt căm hờn / Võ trang đây lên đường…

Và họ nhắc đến những chiến khu đang hội tụ những dòng người yêu nước:

Hỡi ai, lòng chớ quên / Bắc Sơn cùng Đô Lương… Thái Nguyên!

Anh Đội mở toang cánh cửa ra. Ông Phán vẫn đứng nguyên: hai tay trên ngực, đôi mắt long lanh, vẻ mặt ông đầy xúc động tưởng như cái chí làm trai một thuở trở về…

Chàng thanh niên đứng giữa nhà bắt nhịp cho mọi người cùng hát ngạc nhiên quay ra rồi anh chạy bổ tới: 

- Ôi!... Chú!

Hai chú cháu ôm chầm lấy nhau. Nước mắt ông giàn giụa. Không hiểu là ông khóc vì cháu ông thoát chết hay vì một sự tình cờ ông nhận ra còn rất nhiều người có cùng ước nguyện như ông cho giống nòi quê hương qua nơi lầm than và họ đang hội tụ thành một đội quân trẻ trung gan góc ở khắp đó đây.  Nghĩa đứng giữa nhà giới thiệu với chú tất cả anh em đây đồng tình, tự nguyện đứng vào hàng ngũ Việt minh. Hàng chục người – những anh quê mùa rách rưới, những anh dáng phu phen thợ thuyền thất nghiệp, những anh dáng dấp học sinh như cháu của ông, những anh lính cơ lính lệ, cả anh Đội con quan Tuần phủ và cả một anh lính Nhật ngây ngô: 

- Đây là anh Hashimoto – Thiếu uý quân đội Nhật hoàng, phản chiến đứng vào hàng ngũ của ta!  

Anh sỹ quan Nhật nói tiếng ta bập bẹ, chỗ nào khó diễn đạt anh dùng tiếng Pháp hoặc ra dấu cả chân lẫn tay: 

- Mon père est député communiste de Chambre basse du Japan! (Cha tôi là nghị sỹ cộng sản của Hạ nghị viện Nhật Bản)

Anh giơ hai ngón tay làm hiệu bóp cò súng, giọng xúc động:

- Chính phủ phát xít… pàng… pàng!

Đầu anh cúi xuống: 

- Tôi bị bắt vào lính đi đánh chiếm nước các ông! Tôi phản đối chiến tranh phát xít! Tôi xin đi theo các ông! Tôi rất… xấu hổ vì binh lính Nhật làm nhiều điều… tàn ác ở Việt Nam! Tôi muốn được góp sức tôi.

Nghĩa quay qua chờ nghe ý chú. 

- Tôi đồng tình với  các anh! – ông Phán gật đầu.

Nghĩa xin với chú  cho ở lại ít ngày. 

Hai anh em ông Tham, ông Phán quay về thành phố.

Ông Phán nhìn ra chung quanh, tất cả với ông có khác! Từ  những mảnh ruộng xơ xác tiêu điều, các mái nhà tranh xiêu vẹo, rách nát và lạnh lẽo, những con người tiều tụy run rẩy và đói khát kia không xa lạ nữa. Ông cảm thấy lòng day dứt  nôn nao.

Ông Tham thì hậm hực, tỏ ra cáu kỉnh và hay quát nạt anh phu xe:

- Bước dài chân ra! Đi cà rệch cà tang như cái con… tiều! 

Sự cáu kỉnh của ông vô lối. Ông cảm thấy sắp mất đi những gì ông có. Ông sẵng giọng hỏi ông Phán:

- Tại sao toa để cho thằng Nghĩa nó đi theo Việt minh? Còn anh Thương tá chắc đâu đến nỗi này! 

- Nào em có biết! Tuổi trẻ bây giờ mình không theo kịp nó!

Ông chợt nhận ra mình nói lỡ lời. Ông Tham trợn mắt nhìn ông:

- Toa bảo chúng mình phải đi theo mấy thằng nhãi nhép ấy à? Mới học được một dúm chữ nghĩa đã ti toe! Phải tay moa, lôi cổ nó về, giần cho một trận giập xương ra!

Ông Phán lơ đễnh nhìn đi đâu, không dám nói năng gì.

Về gần đến cầu Long Biên, ông Tham nói thao thao:

- Dân Annamite mình trong huyết  quản đặc sệt máu Giao Chỉ pha lẫn với máu Tàu! Cổ lỗ! Hủ lậu! Ngu xi! Bảo thủ! Quen thói ăn gian nói dối! Lại hay sỹ diện huyênh hoang! Bị người làm nhục vẫn nhơn nhơn nói rằng mình khinh nó! Thằng nào có ít chữ nghĩa thì khoa trương, vênh mặt lên trời mà đi không biết rằng đang sa xuống hố! Khi hứng lên vỗ đùi đen đét tung ra mấy câu thơ vờn hoa ghẹo nguyệt hoặc mượn tiếu lâm xỏ lá, cứ tưởng như mình là sỹ phu trí thức không ai bằng! Nhưng khi thằng trùm nó trừng mắt thì sợ run lên bần bật, ngoan ngoãn cúi đầu, đái ra quần mà bụng vẫn chửi thầm! Được lúc hỉ hả thì lại chành chọe, bới móc, kìm hãm, ngáng dò bẻ cẳng lẫn nhau. Có mà muôn đời cũng không ngóc đầu lên được!

Gần tới dốc cầu, xe chạy chậm hơn, ông càng nói khỏe:

- Cần phải có người dạy khôn ra! “toa” xem, nếu không có thằng Paul Doumère cho làm cây cầu này thì chắc là muôn đời dân mình cứ đứng hai bên bờ sông hò gọi “Đò ơi”! như réo gọi cô hồn! Bao nhiêu là thứ nó đã làm: đường sắt, đường nhựa, đường sông, đường biển, tàu thủy, tàu hỏa, ô tô, xe đạp, nhà thương, trường học, thành phố dọc ngang những là boulevard (đại lộ), route (đường lớn), rue(phố nhỏ), villa (biệt thự), palais (dinh thự), điện, nước fontain… sướng mê đi… Vậy mà còn muốn làm loạn nữa?

Ông Phán không chịu được nữa nhưng vẫn từ tốn:     

- Thế hàng triệu người đang chết đói đây là lỗi của ai?

- Là thằng Nhật! Là mấy thằng lùn!        

- Thằng lùn, thằng lõ đều coi dân mình là tôi mọi. Để được việc chúng sẵn sàng thí mạng! Xem như vụ gây hấn ở Lạng Sơn thì rõ. Chính thằng Nhật gây sự để nắn gân thằng Pháp. Đám Phục quốc Trần Trung Lập thừa cơ nhảy ra a tòng. Nào ngờ khi thằng Pháp chịu nhượng bộ rồi, để tỏ ra thiện chí, thằng Nhật bán đứng ngay bạn đồng chủng cho thằng dị chủng. Giận cá chém thớt, nó lôi ra làm cỏ sạch! Loài sài lang dư biết bụng dạ của nhau nhưng cũng nhân nhượng nhau mặc sức tàn phá đất nước xác xơ nghèo khổ này nên mới đến nông nỗi kiệt quệ khốn cùng đến thế!

Ông Tham giảm bớt đi lòng phấn chấn:  

- Moa không ưa mấy thằng colonistes Francais (Pháp thực dân). Tụi nó với bọn fascistes Japonais (phát xít Nhật) đều cùng một giuộc. Ils sont come corbeau et le hibou! (Chúng nó là loài cú quạ!)

Ông chồm người qua xe ông Phán:

- Moa làm ở bộ phận tổng hợp. Moa đã xem tờ Rapport récaputitaire (Báo cáo tổng kết) của thằng Decoux. Bây giờ nhìn cảnh này mới thấy giật mình.

Ông Phán nhìn qua chăm chú.   

- Toa biết không? Chỉ trong bốn năm, từ 1941 đến 1944, bọn Pháp ở đây đã cung cấp cho thằng Nhật: riêng gạo là 3 triệu 600 ngàn tấn! Các khoản dịch vụ khác tính ra tương đương với hơn 32 tấn rưỡi vàng, trị giá tiền là 22 tỷ Franc!   

- Ông Phán xuýt xoa:       

- Với số dân toàn Bắc kỳ này, cứ cho là 10 triệu người đi, mỗi năm chỉ cần một triệu tấn gạo thôi là đủ bình quân mỗi người lớn bé được một tạ, chia ra mỗi tháng được non một yến. Thiếu thì có ngô-khoai-sắn bù vào. Làm sao đói được?!

Ông Tham đang đà nhớ lại:           

- Ngoài ra Banque de l’Indochine (Ngân Hàng Đông Dương) đã nộp tiền mặt cho nó vay khống hơn một tỷ rưỡi PIASTRE, tương đương với 14 tỷ rưỡi Franc nữa! – Và ông ngao ngán kết luận:

- Với đà này sẽ là sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ và Đông Dương sẽ tắt thở về kinh tế!     

- Đó là chưa kể còn phải cung cấp cho toàn bộ hệ thống cai trị của Pháp ở Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn và phục vụ cho “Kế hoạch phòng thủ Đông Dương” của chúng nó. Hàng mấy vạn kiều dân và binh lính Pháp chờ thời vẫn nhởn nhơ phè phỡn ăn bám ở đây! – ông Phán bổ ý thêm và kết:            

- Vậy thì dân mình làm sao không chết? Đành phải đứng lên thôi!    

Ông Tham giẫy nẩy lên:         

- Đứng lên! Ai đứng lên? Theo mấy thằng Việt minh cộng sản ấy đứng lên à? Rồi để nó sẽ đứng lên đầu mình luôn chắc!        

- Vậy theo bác thì phải làm gì? – ông Phán vặn lại.

Ông Tham huơ tay lên nhưng rồi hạ tay xuống, ừ ừ trong họng, trả lời nhát gừng:     

- Làm… Làm gì à? Cũng đành phải… chờ… đợi! Chờ đợi thôi! Thằng Nhật sắp bỏ mẹ rồi! Nước Pháp đã gượng dậy rồi! Ngay ở xứ Đông Dương này đã có những Comité d’action (Ủy ban hành động) ngấm ngầm. Đó là những nhóm của Comité de Libération de l’Indochine (Ủy ban giải phóng Đông Dương) có Sở chỉ huy đóng ở Trùng Khánh, Côn Minh. Nhất định người Pháp không chịu bỏ xứ Đông Dương này đâu!     

Ông Phán đành nói thẳng ra ý mình:

- Người Pháp không chịu nhả Đông Dương để họ tha hồ vơ vét. Nhưng khi nguy khốn thì bỏ mặc, chạy tháo thân! Nước Việt Nam mình như một miếng mồi mà hai con sói giành ăn. Con sói già Pháp đang nhai thì con sói non Nhật chồm tới. Sói già Pháp yếu phải nhả ra. Sói non Nhật háu ăn vồ nhai ngấu nghiến. Nhưng khi sói Nhật bị đánh hội đồng cúp đuôi bỏ chạy thì sói Pháp vội quay lại cuỗm ngay, rồi tha hồ cắn xé bù vào cơn đói! Thật khốn khổ cho đất nước mình! Chẳng lẽ ta cam chịu mãi vậy sao?

Ông nhìn ông Tham bằng đôi mắt chân thật, thân tình như nói với người anh:

- Anh Tham ạ! Họ đứng lên là đúng đấy!

Ông Tham trợn mắt, há mồm ngạc nhiên nhìn người đồng sự đàn em.

Với ông Phán, ông Tham có nhiều tình cảm. Ông hiểu gốc gác gia đình và những cá tính người đàn em. Ông là bạn ông Hai Nhàn từ thời học Brevet Élémentaire (Tiểu học) cùng chơi bi, chơi đáo; biết chú em này từ lúc còn mặc quần thủng đáy. Chú ta là người hiền lành, hiếu nghĩa. Ở Sở làm, chú ấy sống khiêm nhường, cần mẫn, không xu phụ đam mê, tròn trịa. Lại thêm mối quan hệ cố cựu giữa hai bà nên hai ông đối xử với nhau thân tình như anh em. Công việc ngày hôm nay ông coi như việc của mình mới cất công đi.   

Vậy mà chỉ một ngày đường, biết bao nhiêu chuyện.

(trang 101)

 

Link http://sachhiem.net/VANHOC/N/NguyenvThinh_PTHa.php

ngày 24-Dec-2016

Trang Văn Học




Đó đây


2017-04-25 - Ngày 25/04/1983: Andropov viết thư cho một học sinh người Mỹ - Lá thư của Andropov nói rằng người Nga muốn “sống trong hòa bình, thương mại và hợp tác với tất cả các nước láng giềng của chúng tôi trên toàn cầu, cho dù họ ở gần hay ở xa

2017-04-25 - Hai học sinh THCS mưu trí bắt kẻ trộm vàng - Vào ngày 11-2, hai học sinh Lộc và Thạch đang cùng gia đình đi phát bánh, nước suối miễn phí cho du khách tại khu vực chùa Bà thì phát hiện bà Nguyễn Thị Minh An

2017-04-25 - Choáng với “thành tích” ngoại tình của bà Trần Lệ Xuân - Sau khi đi Paris về, mặc dù biết Trần Văn Đôn đã bị thuyên chuyển ra Huế và nằm trong vòng giám sát chặt chẽ bởi lãnh chúa miền Trung - Ngô Đình Cẩn nhưng bà cố vấn

2017-04-25 - Bà Trần Lệ Xuân “giao du” từ vua xuống tướng - Không phải từ ngày “xuất giá theo chồng” về Đà Lạt, Lệ Xuân mới giao du với Bảo Đại thắm thiết mà ngay khi còn ở Huế, Lệ Xuân đã thường xuyên ra vào cung cấm một cách

2017-04-25 - Cuộc “mây mưa” của vợ cố vấn Ngô Đình Nhu với một viên tướng -

2017-04-24 - Một vạn xe máy không ai nhận ở TP.HCM chờ bán sắt vụn - tại ấp 3, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh là kho lớn nhất với khoảng 4.600 xe máy đang chờ bàn giao cho Sở tài chính bán tổ chức đấu giá thanh lý dưới dạng sắt vụn

2017-04-24 - Một vạn xe máy không ai nhận ở TP.HCM chờ bán sắt vụn - tại ấp 3, xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh là kho lớn nhất với khoảng 4.600 xe máy đang chờ bàn giao cho Sở tài chính bán tổ chức đấu giá thanh lý dưới dạng sắt vụn

2017-04-24 - Nga bị cáo buộc “nhúng tay” vào bầu cử Tổng thống Pháp - Tác giả của bài báo viết rằng các nhà chức trách Pháp" đã học được kinh nghiệm từ cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ" và đặc biệt chú ý đến vấn đề an ninh mạng. Tuy nhiên



▪ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 >>>




Thư, ý kiến ngắn
● 2017-04-25 - Những điều ít biết về di dân bất hợp pháp - Phạm Thái -

● 2017-04-25 - Chuyện nhặt rác đường phố của ông (Ted Osius) chỉ là chuyện tào lao - Việt Dân -

● 2017-04-24 - Đã Hình Thành Mạng Lưới Biểu Tình Ăn Vạ Chuyên Nghiệp Tại Giáo Phận Vinh - FB Nguyễn T Lý -

● 2017-04-22 - Đúng là bọn Việt gian vong nô - mất gốc và nô dịch ngoại bang - Trần Quang Diệu -

● 2017-04-22 - Vatican Đã Thú Tội Buôn Bán Nô Lệ 179 năm trước - Nguyễn Quốc Nguyên -

● 2017-04-22 - Thơ Trạng Móc v/v LM Nguyễn Công Bình chỉ đạo con chiên bắn vào truyền thống dân tộc - Trạng Móc -

● 2017-04-22 - Ai nói Cộng sản nhúng tay vào “Coup d’Etat" (Lật đổ chính phủ cầm quyền) mà tuyệt diệt dòng họ Ngô - Trần Quang Diệu + PHGV -

● 2017-04-16 - Đừng hòng mà rinh cái bung xung "CS" ra để chạy tội - Trần Quang Diệu -

● 2017-04-13 - Ba đời làm tay sai cho rợ Tây, giặc Pháp, phản chúa, loạn luân, tàn hại quốc dân VN thì bảo ca ngợi cá - Diễn Đàn -

● 2017-04-13 - Không phải viết chữ Việt theo mẫu tự Latin là thoát Hán. - Huy Thái vs Vũ Linh Châu -

● 2017-04-13 - Gửi qúy ngài Thần Học hay Tiến sĩ với bằng cấp tự cho mình là được mặc khải - Diễn Đàn -

● 2017-04-13 - Bản chất NỔI LOẠN từ xưa: Khi thành số đông, cừu biến thành cọp – muốn làm Chúa Sơn Lâm - Trần Quang Diệu sưu tầm -

● 2017-04-13 - Assad: Vụ bom hóa học ở Idlib là 100% bịa đặt của Mỹ và Donald Trump - AFP - Trạng Móc -

● 2017-04-13 - Bài "Tát nước đầu đình" trong tờ nhạc dưới đây là sáng tác của Y Vân - Nhạc sĩ -

● 2017-04-13 - Bác sĩ David Đào - người bị kéo ra khỏi máy bay hãng United Airlines - là nhạc sĩ Đào Duy Anh - Youtube -

● 2017-04-12 - Nếu Jesus sống lại, Ngài bay về đâu, khi GH John Paul II đã tuyên bố không có Thiên Đàng và ̣Địa Ng - Ri Nguyen -

● 2017-04-11 - Đưa tài liệu dẫn chứng hẳn hoi, thì ông bảo tôi che dấu - vậy tôi che dấu cái tin vịt của ông? - Huy Thái vs Khai Võ -

● 2017-04-11 - Mả cha cả lũ chúng mày, theo quân cướp nước từ ngày chúng sang - Thơ Trạng Móc -

● 2017-04-11 - Tại sao tranh tượng của Bồ-đề-đạt-ma được vẽ vai vác gậy mang một chiếc dép? - Huy Thái -

● 2017-04-08 - Trong ngắn hạn, dân Mỹ sẽ đứng sau lưng Trump, vì tự ái và thể diện quốc gia - Mike Wilson -

● 2017-04-08 - Tài NỊNH của con chiên đạo Chúa - Từ cái "Rắm" đến cái "Ngai" bên Vatican - Dr. Đào Nguyên -

● 2017-04-08 - Từ cái "rắm - -

● 2017-04-06 - Lời cảnh báo của GS Nguyễn Mạnh Quang (từ năm 2009) gởi đến nhà cầm quyền VN đã trở thành sự thật - FB Hậu Duệ GS Trần Chung Ngọc -

● 2017-04-06 - Tranh luận nóng về 30 tháng 4 - Tản mạn nhiều đề mục - Diễn Đàn -

● 2017-04-06 - Dân tộc và Tôn giáo.- Gửi những người Việt Nam có tôn giáo, - Hồ Tấn Minh Nguyệt -

● 2017-04-05 - Thân gửi đồng bào Công Giáo ở Lộc Hà (Hà Tĩnh) đã hạ cờ Tổ Quốc - Nguyễn Thị An Liên -

● 2017-04-01 - Cựu TT George W. Bush lượng giá Lễ Nhậm Chức của TT D. Trump - Mike Wilson - Stephanie Petit/ People -

● 2017-04-01 - Cuối tháng ba bàn qua cuối tháng tư - Bảo Quốc An Dân - Huy Thái - Bắc Hà - Khai Vo -


▪ 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71 72 73 74 75 >>>