●   Bản rời    

Ngô Đình Diệm - bảy nguyên nhân thất bại (Bùi Kha)

NGÔ ĐÌNH DIỆM

TẠI SAO ÔNG THẤT BẠI ?

http://www.sachhiem.net/BUIKHA/BuiKha4.php

Bùi Kha

14 tháng 9, 2007

Ngô Đình Diệm - Bảy Nguyên Nhân Thất Bại

Sinh ra trong mộtgia đình theo đạo công Giáo nhiều đời và lớn lêntrong hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm, hai yếu tố cơ bản và then chốt đó đã tá c động sâu đậmlên con người và cuộ c đời của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Làm quan dưới thời Nguyễn mạt, Ngô Đình Diệm thất bại trong việc tranh dành ảnh hưởng với Phạm Quỳnhnên từ chức Thượng Thư bộ Lại năm 1933. Từ đó ông có một cuộ c sống không cố định mà phần nhiều làở ngọai Quốc.

Từ sau nửanăm 1950, ông Diệm đi Nhật bản gặp Kỳ Ngoại Hầu cường Để là một chuyện phụ nhưng thực ra là để gặp một cựu sĩ quan tình báo Mỹ là ông WesleyFishel, rồi đến Vati can yết kiến Giáo Hoàng PiusXII, người nỗi tiếng vì đã từng Thúc đẩy chínhphủ Hoa Kỳ thả từ 1 đến 6 quả bom nguyên tử xuống bắc Việt để giải cứu quân Pháp bị quânViệt Minh bao vây tại Điện biên Phủ năm 1954. Sau đó ông Diệm đến Hoa Kỳ rồi đi Thụy Sỹ, bỉ,Pháp, đến Vati can lần thứ hai, và trạm cuối làtrở lại và ngừng chân lâu dài tại Mỹ từ năm1951. Trong khoảng thời gian hai năm, ông sốngtrong hai tu viện Maryknoll, vùng Lakewood, bangNew Jersey và Ossining, bang New York. Nhờ sựgởi gắm của người anh ruột là Giám mụ c Ngô ĐìnhThục, ông Diệm được Hồng y Spellman tiếp nhận,nâng đỡ và tạo cơ hội giao tiếp với dư luận địaphương qua cá c buổi nói chuyện tại một vài đạihọc cũng như tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, rồi cuối cùng được lọt vào mắt xanh của một vài chínhkhá ch thời đó như Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield,John Kennedy, Dân biểu Walter Judd, chánh ánWilliams Douglas.... Tháng 5 năm 1953, ông qua bỉ và sống trong tu viện benidi ctine de St.André-les-Purges, năm sau qua Pháp chờ thờitrong khi quân Pháp đang bị bại trận tại Điện biên Phủ.

Pháp thất bại tại Điện biên Phủ năm1954, chính sá ch thuộ cđịa của Pháp tại Đông Dương qua bao năm xươngmáu đã đến hồi chung cuộ c. Thay chân Pháp, HoaKỳ tiếp tụ c con đường chính trị mới ở Đông Dươngmà điểm nóng và then chốt là Việt Nam. Với áplự c của chính phủ Mỹ, nhờ sự can thiệp tí ch cự c của Hồng-y Spellman mà đàng sau là Vati can vàsứ c ép của Phong trào cộng hòa bình dân thânVati can, chính phủ Pháp và Quốc trưởng bảo Đại buộ c lòng phải cử Ngô Đình Diệm làm Thủ tướngtrên nửa phần đất phía Nam bằng sắ c lệnh 38/ QTdo bảo Đại ký ngày 16. 6. 1954.

Điểm lạimột vài dấu tí ch trên hoạn lộ chính trị của NgôĐình Diệm, chúng ta sẽ thấy hoạn lộ đó nỗi bậthai điểm đã quyết định cuộ c đời chính trị thăngtrầm của ông. Thứ nhất, Ngô Đình Diệm là một con chiên ngoan ngoãn của Vati can. Thứ hai, Ngô ĐìnhDiệm là con người được lựa chọn để thừa hành chương trình của Mỹ ở Đông Dương sau khi Phápthất bại.

bài viếtnầy chỉ giới hạn trong phạm vi truy tầm một sốnguyên nhân đưa đến sự thất bại của cố Tổngthống Ngô Đình Diệm, trướ c là để góp phần vàoviệc soi sáng lị ch sử và định vị trí của ôngtrong dòng sử Việt, sau là để giảm thiểu tìnhtrạng đánh bóng cho nhau hoặ c bôi bẩn người khá cvì lý do tín ngưỡng.

bàinghiên cứu nầy cũng không nhằm so sánh Tổngthống Diệm với chủ tị ch Hồ chí Minh vì tính bất cân xứng và những dị biệt lớn giữa hai nhân vật.Nhưng vì muốn làm sáng tỏ luận điểm bảy NguyênNhân Thất bại của Ngô Đình Diệm, chúng tôi khôngthể tránh khỏi một vài đối chiếu lú c nghiên cứu.Do đó, trướ c lú c đi vào chủ điểm chính của bàiviết, tôi xin trình bày vài nét về quan điểm củamình trong những nghiên cứu.

Sau 1975,nhiều người Việt ở nước ngoài phải sống giữa hai“lằn đạn”: bên nầy chụp mũ cộng sản, bên kia vukhống CIA, mà cá nhân tôi là một. Nhưng khôngphải vì vậy mà tôi lại méo mó trong việc nghiên cứu và viết lá ch của mình, mặ c dầu tôi thấy córất nhiều cây bút đã bị uốn rất cong. Lại nữa,tôi chỉ là một người nghiên cứu chứ không phảilà người hơn thua nhau trong một trận chiếntuyên truyền nào, nên tôi sẽ cố tránh những danhtừ xem ra thiếu ái ngữ hay hạ cấp.

Nếu trong bài nầy có những luận điểm mà quí vị không đồngý hoặ c cá ch xưng hô mà quí vị không hài lòng,thì cũng xin thông cảm rằng, để cho tôi có cáiquyền và cái cá ch được phát biểu quan điểm củamình, dẫu quan điểm đó không hợp với quí vị.Kính mời độ c giả cùng tôi tìm hiểu 7 nguyên nhân căn bản đưa đến sự thất bại của Tổng Thống NgôĐình Diệm.

MỘT: Tính Truyền Thống.

Đối vớiphong tụ c và tập quán Việt Nam, một người xuấtthân từ một gia đình có truyền thống cá ch mạnghay một gia đình thuộ c giai cấp “thế gia vọngtộ c” thì dễ được xã hội chấp nhận và dễ thành công hơn là những người xuất thân từ một giađình gố c gá c mù mờ. Ngô Đình Diệm (1901-1963) ralàm quan dưới thời Nguyễn mạt, vua chỉ là kẻ bùnhìn sống xa hoa lộng lẫy trên xương máu củanhững người dân bị trị trong một Quốc gia bịPháp đô hộ. “Tam cương Ngũ Thường, Lễ Nghĩa LiêmSĩ ” không còn là những khuôn mẫu dẫu là khuônmẫu thô sơ của nhân thế. Xã hội tiêu điều đếnnhư vậy, mà Ngô Đình Diệm lại còn xuất thân từmột gia đình vượt qua cá c lằn mứ c đó nữa thì làmthế nào mà có thể thành tựu được sự nghiệp cá chmạng, dù ông có muốn đi nữa. bứ c thư (viết tay)được tìm thấy trong thư khố Pháp, do Giám Mụ cNgô Đình Thục, anh ruột của Ngô Đình Diệm chứkhông phải do “ cộng sản ngụy tạo”, gởi cho ToànQuyền De coux đã cho chúng ta biết gia thế củaông như sau:

BẢN DỊCH THƯ VIẾT TAY BẰNG PHÁP NGỮ CỦA GIÁM MỤC NGÔ ĐÌNH THỤC GỞI ĐÔ ĐỐC JEAN DE COUX, TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG (1)

Tòa Truyền Giáo Vĩnh Long ngày 21/8/1944

Thưa Đô Đốc,

Một linh mụ c từ bổn Tòa được phái điSài Gòn để lo việc cho chủng viện vừa cho tôi biết rằng hai người em của tôi đang bị truy tốtại Huế. Vì đã lâu không nhận được tin tứ c gì từHuế, tôi không biết là điều tôi vừa được báo cáo có đúng sự thực hay không.

Tuy nhiên, nghĩ đến nỗi đau đớn và sự bấtnhẫn rất đúng mà chắ c là Đô Đốc đã cảm thấy –nếu sự truy tố cá c em tôi là có thật, tôi vộiviết thư này để bày tỏ với Đô Đốc nỗi đau đớnlớn lao của tôi về việc này.

Nếu hoạt động của hai em tôi được chứng tỏlà có hại cho quyền lợi nước Pháp thì – với tư cá ch của một Giám mụ c, của một người An-nam, vàvới tư cá ch là người con của một gia đình màthân phụ tôi đã phụ c vụ nước Pháp ngay từ khiPháp mới đến An-nam, và đã nhiều lần đưa mạngsống cho nước Pháp trong cá c cuộ c hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chốnglại cá c kẻ nổi loạn do Phan Đình Phùng chỉ huy,tại Nghệ-an và Hà-tịnh – tôi, tự đáy lòng, không chấp nhận [hoạt động của cá c em tôi].

Thưa Đô Đốc, tôi tuyên bố như vậykhông phải với mụ c đí ch bảo toàn địa vị cá nhân của tôi: bởi vì nếu xét rằng cá nhân hèn mọn củatôi có thể phương hại đến quyền lợi của đạo[Thiên chúa], tôi sẽ vui vẻ rời khỏi Tòa Giámmụ c nầy ngay.

Lời tuyên bố của tôi chỉ có mụ c đí chlà tỏ cho Đô Đốc thấy rằng lòng tin tưởng trìumến của Đô Đốc [đối với tôi] đã không bị đặt vàomột kẻ bất xứng hay vô ơn.

Thưa Đô Đốc, tôi chưa bao giờ tiế c là đã xa Huếnhư thế nầy. Giá có mặt ở đấy thì tôi đã có thểkhuyên răn cá c em tôi tốt hơn, và khi chuyện xẩyđến tôi đã có thể chống lại cá c chủ đí ch của cá cem tôi, nếu quả thật cá c em tôi có nghĩ đếnnhững dự định có thể gây hại cho quyền lợi nướcPháp.

có thể tôi lầm, tuy nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xinthúù thực là không tin – cho đến khi được chứngminh ngượ c lại – rằng cá c em tôi đã phản lạitruyền thống của gia đình chúng tôi đến như thế,một gia đình đã tự mình gắn liền với nước Pháptừ lú c ban đầu, trong khi ông cha của những quanlại bây giờ hầu hết đều chống lại Pháp và chỉquyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi.

Ngay chính cá c em tôi đã từng liêntụ c đưa mạng sống ra vì nước Pháp, trong cuộ cnổi loạn của cộng Sản. Diệm, người em kế tôi,suýt đã phải ngã gụ c dưới những phát súng củamột Hoa kiều chợ Lớn được phái đến Phan-rang vớimụ c đí ch hại Diệm, Phan-rang là nơi mà Diệm đãmãnh liệt chống giữ lối xâm nhập vào An-nam của cá c cán bộ cộng Sản từ Nam Kỳ phái đến.

Lẽ tất nhiên, sự tận tụy của cá c em tôitrong quá khứ không phải là điều nêu ra để làm cớ mà biện hộ cho hoạt động bất cẩn của họ ngàyhôm nay, nếu sự bất cẩn nầy được chứng tỏ làđiều đã gây nên tội. Tuy nhiên, tôi không nghĩlà tôi đã làm chuyện vô í ch khi kêu gọi đến sựkhoan hồng đầy xót thương của Đô Đốc hầu xét vớihảo ý trường hợp cá c em tôi. Đô Đốc không phảilà người chỉ xét đến hiện tại mà lại bỏ quên điquá khứ. Tôi nêu ra điều nầy khi xét thấy rằngthân phụ tôi là Ngô Đình Khả đã từng được vinhdự phụ c vụ nước Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy,và khi xét đến quá trình lâu dài của cá c em tôi,một quá trình được hình thành bằng lòng tận tụyvô bờ của cá c em tôi đối với nước Pháp, mà khôngsợ phải hy sinh mạng sống của mình cho nướcPháp.

Thưa Đô Đốc, một lần nữa bày tỏ với Đô Đốctất cả niềm đau đớn của tôi trong vụ nầy, tôi xin Đô Đốc vui lòng nhận nơi đây lời kính chàotrân trọng nhất của tôi.

NGÔ ĐÌNH THỤC

Vi cariat Apostolique de Vinh Long

( co chin chine)

Nguyên bản tiếngPháp:

Vinh Long, le 21 Aout 1944

Amiral,

Je viens d’apprendre par un prêtrede ma Mission, envoyé à Saigon pour les affairesdu séminaire, que deux de mes frères ont étél’o bjet de poursuites judi CIAires à Hué. N’ayantre cu de Hué depuis longtemps au cune nouvelle, jene sais si ce qu’on m’a rapporté corespondait àla vérité.

Mais, en pensant a la peine immenseet à la juste indignation que vous avez duéprouvées, si ce qu’on leur imposait étaitfondé, je m’empresse de vous é crire, pour vousexprimer, Amiral, ma grande douleur enl’o c curen ce.

S’il était prouvé que leur a ctivitéa pu nuire aux intérêts de la Fran ce, je ladésapprouve du fond du coeur, comme évêque, comme annamite, et comme mem bre d’une familledont le père a servi la Fran ce dès sa premièrevenue en Annam et a exposé maintes fois sa viepour elle dans les expéditions memées, commelieutenant de Nguyễn Thân, contre les re belles commandés par Phan Đình Phùng à Nghệ An et HàTịnh.

cette dé claration n’a pas pour but,Amiral, de sauvegarder ma situation personnelle: car ce sera ave c joie que je quitterai monévê ché si tôt qu’il sera constaté que mon hum blepersonne pourrait porter préjudi ce aux intérêtsde la Religion.

Elle n’a pour o bjet que de vousmontrer que vous n’avez pas a c cordé votre bienveillante confian ce à un indigne ou à uningrat. Amiral, je n’ai jamais tant regrettémon éloignement de Hué. Là j’aurais pu mieux conseiller mes frères et, à, l’o c casion,m’opposer à leur desseins, si vraiment ils enont con cu de nuisi bles aux intérêts de laFran ce.

Je puis hélas me tromper, mais je vous confesse, Amiral, que je ne puis croire, jusqu’àpreuve du contraire, qu’ils se sont montrés sire belles aus traditions de notre famille, quis’était atta chée à la Fran ce dès le dé but,tandis que les aieux et les pères des mandarinsa ctuels, presque tous, com battaient contre elle,et ne s’étaient dé cidés pour elle que lorsqu’iln’avait plus que profit à le faire.

Mes frères eux-mêmes ont exposé leurvie continuellement pour la Fran ce lors de larévolte communiste. Mon cadet Diệm a faillitom ber sous les coups de révolver d’un chinoisde cholon envoyé à cet effet à Phan Rang où Diệmdéfendait énergiquement l’entrée de l’Annam auxémissaires communistes envoyés de la co chin chine.

certes, leur dévouement dans le passé n’estpas l’ex cuse de leur impruden ces a ctuelles; s’ilest prouvé qu’elle est coupa ble. Mais je croisne pas faire en vain appel à votremiséri cordieuse clémen ce en leur faveur, quijuge du présent sans pourtant ou blier le passé. celà en considération des servi ces que mon pèreNgô Đình Khả a eu l’honneur de rendre à laFran ce au péril de sa vie, et de la longue conduite de mes frères faite d’un dévouementsans bornes à la Fran ce, sans peur de sa crifierleur vie pour elle.

En vous exprimant de nouveau, Amiral, toutela douleur que je ressens dans cette affaire, jevous prie d’agréer mes hommages les plusrespe ctueux.

NGO DINH THU c

Ngoài việclàm tay sai cho Pháp đã được Giám Mụ c Ngô Đình Thục thuật lại khá rõ trong lá thư nói trên,lị ch sử còn cho thấy rằng ông Ngô Đình Khả, thânsinh ông Diệm, đã cùng với tên Việt-gian NguyễnThân đào mã và đốt xá c vị anh hùng ái Quốc PhanĐình Phùng, rồi lấy tro trộn với thuố c súng mà bắn cho hả giận. Về sự kiện nầy, thời đó cán bộ của ông Diệm có cho phổ biến tại Huế một câu vừa bào chữa vừa xá c nhận hành động á c đứ c vàViệt-gian của ông Ngô Đình Khả : “Đày vua khôngKhả, đào mã không bài”. có nghĩa là, ông NgôĐình Khả không dính đến việc đày vua Thành Tháinhưng ngầm hiểu là có đào mã ( cụ Phan), cònNguyễn Hữu bài không liên hệ vào việc đào mã nhưng lại chủ xướng việc đày vua.

Trong bàiviết cẩu thả vô căn cứ với tựa đề “Ông Ngô Đình Diệm Dưới Nhãn Quan của Tinh Thần Nho Học” đăng trên báo Người Việt ngày 22. 8. 2003, mục “Ông Ngô Đình Diệm Người Thừa Hưởng Tiếng Tăm của Gia Đình”, tác giả Nguyễn Lý Tưởng viết:

“Người ta nói rằng vua Thành Thái có tư tưởng chống Pháp một phần chịu ảnh hưởng của ông NgôĐình Khả vì ông là thầy dạy và là Thượng Thư,rất gần vua...Tất cả cá c quan trong triều đìnhtrong đó có người là bà con ruột thịt của vuađều ngoan ngoãn đặt bút ký, ngoại trừ ông NgôĐình Khả, vị Thượng Thư duy nhất và là người công Giáo duy nhất trong nội cá c đã không chịuký tên đồng ý đày vua”.

Đoạn văn của ông Nguyễn Lý Tưởng cho thấy 2 điểm sai.Như thư viết tay của Ngô đình Thục nêu trên đã cho thấy, ông Ngô Đình Khả không bao giờ có tưtưởng chống Pháp như ông Nguyễn Lý Tưởng nhận bừa mà thật sự đã là một tên Việt-gian tận tụy:“đã phụ c vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đếnAnnam và đã nhiều lần đưa mạng sống vì nướcPháp”. Thật ra thì chính ông Khả đã tình nguyệnđể cho thực dân Pháp gài vào dạy, cho làm ThượngThư, và rất gần vua nên mới biết tư tưởng chốngPháp của nhà vua, rồi thông báo cho Pháp. Pháptránh tiếng, nên bắt buộ c mấy ông Thượng Thưkhông thân cận vua ký giấy đày, còn Ngô ĐìnhKhả, một người Pháp tay trong, phải giả vờ phảnđối để che dấu việc làm nội gián của mình, nhưngthực sự ông là vai chính trong việc đày vuaThành Thái.

cũng vìmuốn đánh bóng mà sử liệu thì không bao giờ có,nên ông Nguyễn Lý Tưởng đã sơ hở làm lộ thêm một chi tiết quan trọng khá c: chức Thượng Thư củaNgô Đình Diệm là do thực dân Pháp ban phát:“Pháp muốn trả ghế Thượng Thư lại cho gia đìnhhọ Ngô nên đưa ông Ngô Đình Diệm vào Nội cá c”(tr. b6). Là một gia đình Việt-gian, cong lưngxin chức và quì gối nhận quyền nên dân chúngthời bấy giờ tóm lượ c hành động bán nước đó bằnghai câu thơ khinh miệt:

“Vây cánh Ngô Đình ghê gớm thật

Mềm lưng dẻo gối chóng lên cao.”

Một điểm khá c cầnnói là ông Ngô Đình Khả, một giáo sĩ tu xuất đãtừng được huấn luyện ở Pénang (Mã Lai) để làmlinh mụ c nhưng hoàn tụ c, ông ta chưa bao giờ “làngười đã đưa ra chương trình xây dựng trườngQuốc Học ở Huế vào năm 1896” và chưa bao giờ “làhiệu trưởng” trường nầy, mong ông Nguyễn LýTưởng nên thận trọng trong lú c viết và báo NgườiViệt cũng nên dè dặt khi đăng những bài không cósử liệu.

bài củaông Nguyễn Lý Tưởng còn rất nhiều sự kiện sailầm khá c, nhưng bài viết nầy của tôi không nhắmvào việc biện chính cá c sai lầm có hậu ý đó củaông nên xin hẹn một dịp khá c.

Rõ ràng làkhông bắt nguồn từ những hoạt động cá ch mạng vàsống trong lòng dân tộ c để lên nắm chính quyềnnhư bao nhiêu chính khá ch khá c, ngượ c lại, ôngNgô Đình Diệm, như trên đã cho thấy, xuất thântừ một gia đình mà một số sử gia cáo buộ c là “Việt Gian ba Đời” (xem Việt Nam cộng Hòa ToànThư của nhà nghiên cứu Sử Nguyễn Mạnh Quang,Seatle) và được “ bồng” lên làm thủ tướng rồitổng thống nhờ áp lự c và nhu cầu bảo vệ quyềnlợi của ngoại bang mà thôi.

Trong lú cđó, đối chính của Tổng thống Ngô Đình Diệm(1901-1963) là chủ tị ch Hồ chí Minh (1890-1969)thì xuất thân từ một gia đình hàn Nho, khoa bảng. Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắ c đỗ Phó bảng(Se condary Ph.D) năm 1901, làm tri huyện mộtthời gian, sau bị cá ch chức vì tuyên truyền chủnghĩa Quốc gia và từ chối không chịu học tiếngPháp.

Năm 21tuổi, ông Hồø chí Minh làm bồi bếp, giúp nấu ănhay phụ thợ máy trên tàu buôn Latou che Treville của Pháp để trốn khỏi Việt Nam năm 1911. Ông đếnPháp, rồi đến cá c thương cảng Tây ban Nha, bồĐào Nha, Địa Trung Hải, bắ c Phi, congo và NữuƯớ c. Lú c sống ở Paris, ông xuất bản tờ báo “LeParia” nhằm vạ ch rõ chính sá ch bó c lột và dã man của thực dân và chủ nghĩa Đế Quốc Pháp (Fren chImperialism), và kêu gọi cá c dân tộ c bị trị nổidậy. Năm 1945-46, thất bại trong nỗ lự c yêu cầuHoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc giúp để đuổi thực dânPháp ra khỏi nước, ông gia nhập Đệ Tam Cộng Sản Quốc Tế. Tháng 9, 1945 ông tuyên bố Việt Nam độ clập. Sau đó lại vào rừng tiếp tụ c công cuộ ckháng chiến chống Pháp.

Năm 1954,Pháp bại trận tại Điện biên Phủ, và hiệp địnhGenève chia đôi đất nước, ông làm chủ tị ch nướcViệt Nam Dân chủ Cộng Hòa từ vĩ tuyến 17 trở ra, còn ông Ngô Đình Diệm thì từ vĩ tuyến 17 trởvào.

HAI: chính Nghĩa

Sau khi bạitrận tại Điện biên Phủ, theo thỏa ướ c Genève,Pháp phải rút về nước, trao trả chủ quyền và độ clập cho Việt Nam. Mỹ thay chân Pháp với sá chlượ c chận đứng làn sóng xâm lăng của Cộng SảnQuốc tế mà đứng đầu là Nga Sô. Ông Diệm được Mỹđưa về làm Thủ tướng rồi Tổng thống một nửa nướcViệt Nam với Quốc hiệu Việt Nam Cộng Hòa. Dẫu biện minh hoặ c giải thí ch thế nào chăng nữa,nhưng đối với tâm cảm và truyền thống của ngườidân Việt bình thường, thì người Mỹ lại chỉ làmột loại thực dân mới trên quê hương của dònggiống Việt không khá c gì người Pháp, người Nhật,người Tàu trướ c đó. chương trình viện trợ ồ ạtvà sự hiện diện của cá c cố vấn và chuyên viênngười Mỹ trên mãnh đất miền Nam đã làm cho ôngDiệm mất thêm uy tín và dễ tạo sự tuyên truyềnhữu hiệu cho chính quyền miền bắ c: “Mỹ là một đếQuốc thực dân mới” chẳng khá c nào thực dân Pháptrướ c đây.

Miền bắ c, dưới sự lãnh đạo của chủ Tị ch Hồ chí Minh, chính phủ ông cũng nhận viện trợ của Trung Quốcvà Nga để đánh Pháp rồi đánh Mỹ, nhưng thànhphần nhân sự của hai Quốc gia nầy không hiệndiện trên đất bắ c, nên bộ máy tuyên truyền củamiền bắ c đã tiến hành được một đòn tâm lý chiếnvô cùng lợi hại cho việc vận động nhân dân thamgia cuộ c chiến gọi là “ chống Mỹ Ngụy cứu nước”.

bA: Lự c Lượng chủ chốt của cá ch Mạng.

Thời kỳPháp chiếm và đô hộ Việt Nam, hầu hết nhữngngười công Giáo đều hỗ trợ đắ c lự c cho thực dânPháp. câu nói thời danh của Giám Mụ c Puginiersau đây đã mô tả trọn vẹn tâm chất và hành động của một thành phần người Pháp tay trong:“ Không có giáo sĩ và giáo dân, thì người Pháp cũng như cua bị bẻ gãy hết càng” (Sans les missionnaireset les chrétiens, é crit Mgr. Puginier, lesFran cais seraient comme les cra bes auxquels onaurait cassé toutes les pattes).

cũng trong cái nhìn “ cua phải có càng”, viên tình báo cao cấp của Hoa Kỳ là Đại tá Edward G.Lansdale đãvận dụng cá c kế họa ch nhằm di cư trên bảy trămngàn giáo dân từ bắ c vào Nam năm 1954, để cùngvới số giáo dân sống ở miền Nam, hậu thuẫn vàlàm lự c lượng nòng cốt cho ông Diệm.

Hầu hết cá c chức vụ quan trọng trong chính phủ như bộtrưởng, tỉnh trưởng, quận trưởng và cá c tướnglãnh, cá c chức trọng yếu trong quân đội, Tổngthống Diệm đều sử dụng người công giáo. Nếukhông thể kiếm được người công giáo ông mới sửdụng đến thành phần cá c tôn giáo khá c, nhưng sauđó đem bả công danh vật chất dụ họ cải đạo nhưNguyễn Văn Thiệu là một trường hợp điển hình màai cũng biết. Những người không chịu cải đạo thìkhó được thăng cấp và bổ nhiệm mặ c dầu họ có đầyđủ khả năng và thâm niên công vụ. Trái lại,nhiều người không có khả năng nhưng vì họ là con chiên thì ông Diệm giao phó những trọng trá ch màhọ thực sự không có khả năng.

Thật vậy, sựthảm bại tại trận Aáp bắ c (tỉnh Mỹ Tho) vàotháng 1, năm 1963 do Đại tá Bùi Đình Đạm (Tưlệnh sư đoàn 7) và Tướng Huỳnh Văn cao (Tư lệnhquân khu 4) chỉ huy. Sự thảm bại nầy là hậu quảdo hai người chỉ huy nầy không có tài nhưng đượ cgiao phó trọng trá ch quá lớn vì họ là người cùngmột tín ngưỡng với ông Diệm..

Để gia tăngsố lượng tín đồ, mà mụ c tiêu chính là để làm hậuthuẫn cho chế độ và bành trướng nước chúa; mởmang biên cương cho Vati can, ông Diệm và chínhphủ ông một mặt thì dùng cá c linh mụ c và bà sơdụ người vào đạo qua cá c chương trình giáo dụ c, cô nhi, ký nhi, và từ thiện. Vì thế mới có câu“Vào đạo có gạo mà ăn”. Mặt khá c qua mạng lưới công an mật vụ, chính phủ Ngô Đình Diệm tìm cá ch chụp mũ Cộng sản lên đầu tín đồ cá c tôn giáokhá c, tra tấn hoặ c bỏ tù họ cho đến lú c họ chịutheo đạo mới thả ra.

Tóm lại, lự clượng chủ chốt trong việc đối đầu với miền bắ clà thành phần công giáo, chiếm 7 % dân số miềnNam. Ngoại trừ một số rất ít thuộ c thành phần cá c tôn giáo khá c, còn số người công giáo làmnòng cốt cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm là thuộ cthành phần đã từng theo hay Cộng tá c đắ c lự c vớiPháp, nay Pháp thua bỏ về nước, họ theo chân Mỹ chạy vào Nam dưới sự hướng dẫn của Đại tá tình báo Lansdale với khẩu hiệu “Đứ c Mẹ đã vào Nam”.

Trong lú cđó, tại miền bắ c, chủ Tị ch Hồ chí Minh nhậnthứ c lự c lượng cá ch mạng trong mối tương quan của giai cấp nông dân và thợ thuyền khởi đi từ bản tuyên ngôn của Karl Marx (và Engels) năm1848. Trong đó, dưới cái nhìn của Marx-Engels,lự c lượng chủ chốt của cá ch mạng là thợ thuyềnvì Aâu châu thời bấy giờ kỹ nghệ đang pháttriển. Lú c đến Trung Quốc là một nước nôngnghiệp chiếm đa số, và kỹ nghệ còn thô sơ, lạitrọng nam khinh nữ, nên khẩu hiệu của Mao Trạ chĐông là ‘nông dân và thợ thuyền là chủ chốt của cá ch mạng’, nhưng đã không nhắ c gì đến vai trò của người phụ nữ trong xã hội.

Tại ViệtNam, chủ Tị ch Hồ chí Minh nhận định rằng Việt Nam vẫn còn là một Quốc gia nông nghiệp lạc hậu,nhưng số nhân công thợ thuyền trong cá c đồn điền cao su, trong cá c hãng dệt, biến chế... cũng đóng một vai trò quan trọng trong cuộ c cá ch mạng. Và đặ c biệt hơn, là trong xã hội số lượng người đàn bà chiếm 50 % dân số. Đàn bà có thể vận tải lương thực, súng đạn, đào hầm...Như thế, chủ Tị ch Hồ chí Minh đã vượt qua tầm nhận thứ c của Mao Trạ ch Đông về lự c lượng cá ch mạng, ông viết ‘không có nông dân, không có thợ thuyền thì không có cá ch mạng. Từ bỏ nông dân, từ bỏ thợ thuyền là từ bỏ cá ch mạng. Và từ bỏ nữ giới là từ bỏ nửa công trình cá ch mạng’. còn lự c lượng cá ch mạng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là 7 %người công Giáo, như đã nói ở trên thì làm saotránh khỏi sự thất bại?

bỐN: Gia Đình Trị

Ngô ĐìnhDiệm làm Tổng thống nhưng hoàn toàn thiếu thựcquyền. Ông lại tâm đắ c với quan niệm “ cái dù che cái cán” hay “Một người làm quan cả họ đượ cnhờ”. Vì thế, ông Ngô Đình Khôi, anh ruột ôngDiệm, bị Việt Minh giết vì Cộng tá c với chínhphủ bảo hộ thân Pháp thối nát và bù nhìn, thế màTổng Thống Diệm bắt dân miền Nam xem ông như mộtngười ái Quốc đã hi sinh vì nước, tang lễ lạinâng lên hàng Quốc táng.

Giám Mụ cNgô Đình Thục, anh ông Diệm và là người con traithứ nhì trong gia đình, lợi dụng chức quyền củangười em làm Tổng thổng để bắt cá c sĩ quan, quậntrưởng, tỉnh trưởng và bộ trưởng đi học cá c lớpnhân vị tổ chức tại Tòa Giám mụ c Vĩnh Long. LễNgân Khánh ngày 29. 6. 1963 (kỷ niệm 25 năm làmGiám mụ c) được tổ chức như Quốc lễ. cá c bộ hạthân tín của Giám mụ c Thục thành lập một Uûy banmừng lễ Ngân Khánh gồm cá c nhân vật như TrươngVĩnh Lễ, chủ tị ch Quốc hội kiêm chủ tị ch lễ NgânKhánh, bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương, bộ trưởngGiáo dụ c Nguyễn Quang Trình, Viện trưởng việnĐại-học Sài Gòn Lê Văn Thới, Viện trưởng việnĐại Học Huế cao Văn Luận, và tỉnh trưởng cá c nơidĩ nhiên là phải tham gia. Tại cá c bộ, cá c nha,ty, sở, đại học, quân nhân, công, tư chức khắp43 tỉnh và thị xã toàn miền Nam đều thành lập cá c tiểu ban để bán vé, và ép công chức và quânnhân cấp úy trở lên mua vé “Mừng Lễ Ngân Khánh”.Mỗi vé từ 2.500 đồng đến 5.000 đồng (hối suấtlú c đó :1 Mỹ Kim tương đương khoảng 25 đồng tiềnViệt Nam). có người ra sứ c đóng góp nhiều hơn đểlấy lòng “Đứ c” Giám Mụ c. Với hành động dĩ côngvi tư và bó c lột trắng trợn nầy, Giám mụ c NgôĐình Thục thu lượm được bạ c tỷ (Vũ Văn Mẫu SáuTháng Pháp Nạn 1963, tr. 9, và Hoành Linh Đỗ MậuViệt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, california, HoaKỳ 1986, tr. 512 & 513).

Giám mụ c,và em là Ngô Đình Nhu, độ c quyền khai thá c gỗquí vùng Long Khánh và dọc đường từ Định Quánđến Lâm Đồng, làm chủ đại thương xá Tax đườngNguyễn Huệ, nhà sá ch Xuân Thu đồ sộ trên đườngTự Do, cư xá cho thuê ở đường Trần Hưng Đạo, biệt thự sang trọng trên bờ sông Thị Nghè...Từthượng vàng đến hạ cám, Giám mụ c Ngô Đình Thụcđã không từ bỏ bất cứ một cơ hội nào để làmtiền. Lấy ngân sá ch Quốc gia để xây cất trungtâm Nhân Vị Vĩnh Long, cất nhà cho thuê, xâydựng quán ăn, tiệm giải khát chung quanh trungtâm nầy để kiếm lợi nhuận. Lợi dụng cơ hội trùngtu nhà thờ La Vang để hốt bạ c. Ngay cả việc nhờ“Tổng Thống Diệm ra lệnh cho Đại Tá Phùng NgọcTrưng (hiện ở Pháp), đang chỉ huy ngành Quân Nhuở Quân Khu I, phải mua nước mắm thối của cá c bàsơ ở Phan Thiết, để bán cho cá c gia đình binhsĩ” (Hoành Linh Đỗ Mậu Việt Nam Máu Lửa QuêHương Tôi, tr. 511).

Ngô ĐìnhNhu. Tại Sài Gòn, vợ chồng Ngô Đình Nhu có hai biệt thự đồ sộ, một ở đường Phùng Khắ c Khoan vàmột ở gó c Pasteur và Hiền Vương. Hai biệt thựnầy thuộ c loại sang trọng nhất nhì Sài Gòn. TạiĐà Lạt, biệt thự nghỉ mát của vợ chồng bà Nhunguy nga đồ sộ hơn, “gồm có sân vũ cầu, hồ tắm,và nhiều loại kiến trú c sang trọng khá c, đã xâydựng nhiều năm nhưng cho đến trứơ c lú c bị lậtđổ, năm 1963, mà vẫn chưa hoàn thành”(The building of this huge complex, consisting oftennis courts, swimming pool, and severalluxurious stru ctures, took several years andhad not really been completed before the coupd’état in 1963. Tran Van Đon, Our Endless War,Presidio Press, San Rafael, ca. 1978, p. 64).

Ngoài ra, cùng với người anh là Ngô Đình Thục, vợ chồngông Nhu khai thá c rừng gỗ quí ở Định Quán và dọcđường Định Quán – Đà Lạt. Khai thá c nước suốiVĩnh Hảo, lông vịt ở chợ Lớn, phân chim ở cá cđảo Trường Sa, Hoàng Sa, nhà thuố c Tây O.V.P. Đólà chưa kể thủ lợi qua cá c chương trình viện trợ của Mỹ, tổ chức cá c sòng bạ c kín và vĩ đại, buôn bán thuố c phiện.

Trong cuốn“ chính Trị Thuố c Phiện Tại Đông Nam Á”: ThePoliti cs Of Heroin In Southeast Asia, tiến sĩAlfred W. M c coy, một chuyên viên bài trừ buônlậu thế giới và đã từng là cố vấn tại Nha TổngGiám Đốc cảnh Sát công An miền Nam Việt Nam,viết như sau dưới tiểu mụ c:

“Triều ĐạiDiệm và Đảng cướp Nhu

Sau khi băngđảng bình Xuyên bị đuổi khỏi Sài Gòn vào tháng5. 1955, Tổng thống Diệm, một người công giáo rất mộ đạo, nhất quyết bài trừ nạn thuốc phiện bằng chiến dịch công khai đốt các bàn đèn, và đóng cửa các tiệm bán thuốc phiện...Nhưng chỉ banăm sau, chính phủ Diệm đột nhiên thay đổi chủ trương lành mạnh xã hội nầy bằng việc cho buôn bán thuốc phiện trở lại. Ông Ngô Đình Nhu, emông Diệm và là giám đốc ngành mật vụ viện cớ thiếu tiền trang trải cho các chương trình tình báo. Mặc dù, gần ba năm qua, chương trình viện trợ của Hoa Kỳ và CIA đã cung cấp nhiều tiền cho cá c hoạt động tình báo của ông, nhưng vì trở ngại về nhân sự và các khó khăn nội bộ nên tòa Đại Sứ Hoa Kỳ chỉ từ chối khoản tăng viện do ông Nhu yêu cầu mà thôi.

Nhưng ông Nhu vẫn quyết định cho các bang Trưởng người Hoa chợ Lớn mở lại các tiệm bán thuốc phiện và các bàn đèn đã bị dập tắt trong ba năm qua...rồi thành lập đường dây chuyên chở thuốc phiện từ Lào về, cho nhân viên rải khắp nước Lào để mua thuốc phiện sống và dùng hệ thống hàng không quân sự để chở nhân viên và thuốc phiện đi lạigiữa Việt nam và Lào.

Trong khi Nhu trực tiếp giao thiệp với nhóm corsi cans,thì những điệp vụ tình báo khác được điều khiển bởi trưởng phòng mật vụ, bác Sĩ Trần KimTuyến...”(Sách đã dẫn ở trên, tr.159-161).

“Mặc dù với hệ thống buôn lậu thuốc phiện quy mô cộng với các hình thức tham nhũng to lớn khác đã tạo cho Ngô Đình Nhu một tài sản khổng lồ nhưng chính phủ Diệm không thể tồn tại nếu chính phủ Hoa Kỳ trở mặt chống lại... Tháng 3. 1961, cơ quan tình báo Hoa Kỳ gởi bản phú c trình cho chính phủ Hoa Thịnh Đốn và phê phán ông Diệm như sau:

 

“Nhiều người nhận thấy ông Diệm không thể đương đầu được với Cộng Sản vì cai trị độ c đoán, nuôi dưỡng tham nhũng ngay cả với những người thân và từ chối dẹp bỏ chế độ kềm kẹp của ông” (VNMLQHT,tr. 523).

(Diem’s Dynasty and Nhu bandits

Shortly after binh Xuyen gangsters were driving out of Saigonin May 1955, President Diem, a rigidly pious catholi c, ki cked off a determined antiopium campaign by burning opium-smoking paraphernaliain adramati c pu bli c ceremony. Opium dens wereshut down...However, only three years later, thegovernment suddently a bandoned its moralisti c crusade and took step to revive the illi citopium traffi c... Ngo Dinh Nhu, President Diem’s brother and head of the se cret poli ce, that heneeded more money to expand the s cope of hisintelligen ce work and politi cal repression.Although the CIA and the foreign aid division ofthe State Department had provided generousfunding for those a ctivities over the previousthree years, personel pro blems and internaldiffi culties for ced the U.S. Em bassy to deny hisrequest for in crease aid.

butNhu was determined to go ahead, and de cided torevive the opium traffi c to provide thene cessary funding. Although most of Saigon’sopium dens had been shut for three years...Nhuused his conta cts with powerful cholon chinesesyndi cate leaders to reopen the dens and set upa distri bution network for smuggled opium...

To keepthese outlets supplied, Nhu esta blished twopipelines from the Laotian poppy field to SouthVietnam...

Nhusupplemented these shipments by dispat chingintelligen ce agents to Laos with orders to send back raw opium on Vietnamese Air For cetransports that shuttled back and forth carryingagents and supplies.

WhileNhu seems to have dealt with the corsi canspersonally, the intelligen ce missions to Laoswere managed by the head of his se cret poli ceapparatus, Dr. Tran Kim Tuyen...(p.160-161).

Trong cuốn“Lửa Trong Hồ”, tá c giả Fran ces Fitzgeraldviết:

“Ngô Đình cẩn và vợ chồng Ngô Đình Nhu tỵ hiềm ghìm nhau canh giữ cá c nguồn lợi - nhân viên của haiphía thường có những cuộ c chém giết lẫn nhauvượt khỏi lằn mứ c thù hằn truyền kiếp. Tánh haylo xa, nên bà Nhu đã chuyển tài sản sang cá cnước Âu châu. Ngoài ra, bà còn là chủ Nhà Háttrên đường champs Elysées (Paris), một dị ch vụđầu tư lẻ cho những kẻ tự quảng cáo mình làngười công Giáo.”

(The two brothersjealously guarded their sour ces of revenue fromea ch other – their agents o c casionally killingea ch other in an ex cess of zeal...she owned alarge theatre on the champs Elysées – an oddinvestment for this most self-advertised of catholi cs (Fran ces Fitzgerald, “Fire In TheLake”, NY. 1972, pp. 169 & 170).

Trong cuốn “ KẻThù Xấu Nhất của chúng Ta”: Our Own WorstEnnemy, tá c giả William J. Lederer viết:

“ cá cmật báo người Hoa và Thụy Sĩ của tôi cho biết,khoảng 18 tỉ Mỹ Kim do một số tư nhân người Việtgởi vào cá c chương mụ c ngân hàng ngoại Quốc từnăm 1956. Gần đây một người cộng tá c kín cho biết bà Nhu đã mua đứt bằng tiền mặt một ngânhàng lớn thứ nhì tại Paris” (trang 139). Nhưthế, số tiền 18 triệu Mỹ Kim ắt hẳn là của vợ chồng bà Nhu, hoặ c tiền chung của anh em ôngDiệm (Dẫn theo VNMLQHT, tr. 519 & 520).

Sử liệu cho thấy rõ như thế, nhưng những người bênh vự cnhà Ngô cố ngụy tạo sử liệu để tô son điểm phấn cho vợ chồng ông Ngô Đình Nhu và cá c anh em củaông.

Thật vậy, bài“ chuyện Trò Với bà Ngô Đình Nhu” của Trương PhúThứ (không biết tên thật hay giả) đăng trên PhụNữ Diễn Đàn, số 228 tháng 3. 2003, và được đănglại trên Indianapolis Việt báo, tháng 4. 2003(và báo Người Việt Illinois, tháng 5. 2003). ÔngTrương Phú Thứ viết rằng ông có đến thăm và chuyện trò với bà Nhu tại một trong hai căn chung cư (apartments) của bà mua ở một vùng rấtđắt tiền gần tháp Eiffel ở Paris, Pháp:

“Rất nhiềungười biết qua báo chí chuyện một người Phápgiàu có biếu Đứ c Tổng Giám Mụ c Ngô Đình Thục mộtmón tiền lớn và Đứ c cha Thục đã cho bà Nhu đểmua một đơn vị gia cư trong tòa nhà cao tầng nầyvà sau đó bà giành dụm mua thêm được một đơn vịnữa. Sự thật không phải như vậy. bà Nhu trự ctiếp nhận được một số tiền rất lớn từ một vị ânnhân ẩn danh. có tiền trong tay, bà đã nhờ một cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mualiền một lú c hai đơn vị gia cư nầy...” bà Nhu cho một nhà ngoại giao Nhật bản mướn một căn đểlấy tiền sinh sống. “Vị ân nhân tặng bà Nhu sốtiền kế ch sù đó là bà capa ci, một cư dân thànhMilan nước Ý và cũng là một trong bảy người phụnữ giàu nhất thế giới. bà Nhu chưa một lần gặpmặt vị ân nhân nầy mãi đến bốn năm sau khi bà capa ci tạ thế bà Nhu mới được biết tên cũng nhưthanh thế và sự nghiệp của người đã gia ân chomình.” (Trang 28 & 29).

Qua đoạn trích dẫnnguyên văn của bài báo như trên, chúng ta thấysao mà dòng họ Nhà Ngô may mắn đến thế! Một ôngGiám Mụ c tham nhũng nhất nhì Việt Nam, của chìm của nỗi cất dấu trong nhiều ngân hàng Aâu châulại còn được một người Pháp giàu có biếu cho mộtmón tiền rất lớn! Rồi đến lượt bà Nhu, có cảhàng tỷ Mỹ Kim trong nhà băng, như sử liệu chothấy, vậy mà còn được một người trong số 7người phụ nữ giàu nhất thế giới, dù chưa từnggặp mặt, cũng biếu cho một số tiền vĩ đại ! Độ cgiả nào tin được câu chuyện đó thì cứ tin. Riêngtôi, bài “ chuyện Trò Với bà Ngô Đình Nhu” là hưdối viết để gỡ xấu cho nhau. Với một người khéttiếng và bí ẩn như bà Nhu trong 40 năm qua, màlú c ông Thứ có “ cơ may” chuyện trò với bà lạikhông có được một tấm hình chụp chung, hay hìnhmột mình bà để có thể thuyết phụ c độ c giả vìtrong bài viết ông Thứ cho biết bà là một ngườirất đẹp lão chứ có xấu xa gì mà ngại người khá cthấy hình ? Hoặ c chụp một cái hình tổng quátphía ngoài chung cư hay tổng thể của khu vự ctrong đó có chung cư của bà. Đàng nầy, tá c giảTrương Phú Thứ lại đăng một tấm hình của bà Nhumà nhiều báo tại Việt Nam đã đăng năm 1963: đangđứng và giơ cả hai tay lên, miệng lại chu hú nhưđang nguyền rủa người nào (trang 7). Hình thứ 2là bà đang tươi cười, vẫy tay chào và đứng chungvới cô con gái, Ngô Đình Lệ Thủy, cũng chụp vàonăm 1963 (tr. 29). Hình cuối là Dinh Độ c Lập, chụp năm 1968 do tá c giả chú thí ch như thế(tr.36).

cũng nằm trong chiều hướng chạy tội cho nhau, gần đây, cuốn“Những Sự Thật chiến Tranh Việt Nam 1954-1975”,không thấy ghi ngày tháng và năm xuất bản, nhưngđược biết sá ch ra đời vào mùa Hè 2003 tại Nam california, Hoa Kỳ. Tá c giả “ chính” là Tiến SĩNguyễn Văn. Tá c phẩm nầy cũng thuộ c loại viết cẩu thả vô trá ch nhiệm. bài viết của tôi chủđí ch là nhắm vào việc tìm hiểu Tại Sao TổngThống Ngô Đình Diệm Thất bại, mà một trong nhữngnguyên nhân đưa đến sự thất bại đó là chính sá chtôn giáo, trong đó có Phật Giáo. Trong cuốnNhững Sự Thật Về chiến Tranh Việt Nam 1954-1975nêu trên, tá c giả giành một số trang để đề cậpđến biến cố Phật Giáo 1963 liên hệ đến việc ôngNgô Đình Diệm bị lật đỗ. Vì thế, tôi sẽ nêu lênmột số sai lầm của tá c giả lú c đề cập đến biến cố Phật Giáo 1963 để lị ch sử được sáng tỏ:

Sai ngàytháng: Lễ Phật Đản tại Huế là ngày 8. 5. 1963(đúng). Nhưng lễ Ngân Khánh của Giám Mụ c NgôĐình Thục là ngày 29. 6. 1963, chứ không phảiđược “tổ chức vài tuần trướ c đó” (tr. 157). Sởdĩ tôi nêu lên sự nhầm lẫn về ngày tháng để thấyrằng sau biến cố Phật Đản ngày 8. 5. 63, hầu nhưtoàn dân bất mãn chế độ và dư luận Quốc tế cũngkhông thuận lợi cho chính quyền Ngô Đình Diệm,nhưng Giám Mụ c Ngô Đình Thục vẫn xem thường dưluận nên ông vẫn tổ chức ngày kỷ niệm 25 năm làmGiám Mụ c của mình lên hàng Quốc lễ; bắt ép dân chúng, trong đó đa số là Phật-tử, mua vé để kiếmtiền.

Sai sựkiện: Phật-tử tập trung trướ c đài phát thanh Huếđêm 8.5.63 là để muốn biết lý do tại sao khôngphát thanh như thường lệ hằng năm, chương trìnhPhật Đản tổ chức tại chùa Từ Đàm vào buổi sáng cùng ngày. Để giải tán đám đông, chính quyềnThừa Thiên Huế đã ném lựu đạn làm chết 8 PhậtTử và sau đó một số còn bị xe tăng cán xá c.

Sá ch viết: “Theoông cao Xuân Vỹ, chính Tổng thống Diệm Thúc đẩyviệc thành lập Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và chính ông Diệm giúp tiền xây chùa XáLợi”(tr.162). Tên cuốn sá ch là “Những SựThật...” nhưng lại trích dẫn chứng liệu trong cuốn “Những Huyền Thoại và Sự Thật...” của VĩnhPhú c. Vì là Huyền Thoại nên ông Nguyễn Văn cứnhắm mắt trích đại không cần biết đúng hay sai.Thật vậy, Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đờisau năm 1963, nghĩa là sau khi ông Diệm đã chếtkhoảng nửa năm thì không thể nói rằng: “ chínhTổng Thống Diệm Thúc đẩy việc thành lập PhậtGiáo Việt Nam Thống Nhất”?

chất nổgiết Phật-tử: Theo cá c nhân chứng và bá c sĩ giảiphẫu Wulff (người Đứ c theo đạo Tin Lành) thì xetăng đã cán xá c cá c Phật-tử và loại lựu đạn giết chết 8 người và một số bị thương tại đài phátthanh Huế đêm 8. 5 .63 là của chính phủ. Trướ cđây, những người viết sử để bênh vự c nhà Ngô thìnói rằng đây là lựu đạn của Việt Cộng. Nay ôngNguyễn Văn trích lời của ông cao Thế Dung và ôngNguyễn Trân thì lại cho rằng “ chất nổ giết ngườilà plasti c của CIA mà người ném là James S cottvà được James S cott xá c nhận với Đại úy bửu (nàokhông biết, BK) năm 1965”(tr.158).

Lúc đọc đến đoạn nầy, tôi muốn kiểm lại cho chắc, nên tôi phone hỏi Đại Tá L BK: “ các nhân viên tình báo ( CIA)sống trên lãnh thổ Việt Nam cũng có quyền mang khí giới sao?" Ông bạn trả lời: “Không, nhưng nếu muốn thì phải được phép chính phủ”. Qua câu trả lời nầy tôi thấy ông Diệm chết là phải vì quá khờ, thiếu thông minh. chính phủ Mỹ muốn hại mình nên đã cho CIA ném lựu đạn giết tín đồ Phật-giáo để tạo mâu thuẫn giữa chính quyền và Phật Giáo để đưa mình đến chỗ chết. Ông Diệm, tình báo VNCH, ngay cả những tay chân, bộ hạ và cả những người muốn đánh bóng cho ông Diệm cũng không tố cáo sự ma giáo của ông chủ Mỹ. Thiếu thông minh đến thế, chết là vừa, không nên trá chai! Trong thực tế, cho đến nay chúng ta không thấy CIA nói đến ông James Scott, ngành tình báo của VNCH cũng không và các sử gia cũng thế, mà chỉ thấy cá công cao Thế Dung, Nguyễn Trân và nay có sự đồng tình của ông Nguyễn Văn. Giả thiết vụ ném lựu đạn là do Mỹ tạo sự chia rẽ giữa Phật Giáo và chính quyền, thì tại sao chính quyền không đưa xe cứu thương đến cứu mà lại đưa xe tăng, rồi lại cán lên xác những người đã chết làm gì cho mang tiếng? Do đó, việc cố ngụy tạo sử liệu của ba ông rất thiếu thông minh.

Về Thượng Tọa Trí Quang, ông Nguyễn Văn liệt kê mấy vấn đề từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau như sau: “Ông Hoàng Hữu Khác, chánh Án Tòa Án Huế ”đồng thời“ giữ chức thư ký trong ban Trị Sự Hội Phật Học Trung Việt mà Thí ch Trí Quang là bí Thư hay Tổng bí Thư gì đó. Một hôm, ông Khá c đọc được một bức thư của Thích Trí Độ từ Hà Nội gởi cho Thích TríQuang, bảo phải tổ chức phong trào Phật Giáo chống chế độ Ngô Đìmh Diệm” ( tr.159).

Nhận xét: có ai tin được một ông chánh án Tòa Án lại làm chức thư ký quèn cho ban Trị Sự Hội Phật Học Trung Việt? Trong Phật Giáo không có chức bí Thư hay Tổng bí Thư. cơ quan công an mật vụ và tình báo thời ông Diệm ngủ đâu hết mà đến nỗi một bức thư thuộc loại tội tử hình như thế, và lại được gởi ngơ ngơ từ Hà Nội vào Huế mà không biết? Và Thích Trí Độ, thầy của nhiều bậc thầy lỗi lạc, lại khờ đến nỗi gởi thư đi ngơ ngơ như vậy nhưng cơ quan tình báo chính phủ Diệm cũng không bắt được, tình báo gì mà “giỏi” đến thế ? Do đó, anh em ông Diệm chết là phải.

“Marguarite Higgins có được Trí Quang mời đến chùa Xá Lợi để nói chuyện và được Trí Quang cho biết một cách công khai: chúng tôi không thể thương thảo với Miền bắc cho tới khi hạ được Diệm Nhu” (tr.160).

Nhận xét: Trong giai đoạn tranh đấu Phật Giáo tôi mới học lớp đệ tứ nhưng cũng biết được rằng, thời gian đó, nếu có một vấn đề gì quan trọng hay tối mật thì mấy thầy như cở Thượng tọa Trí Quang không dám nói chuyện trong phòng mà phải đi ra ngoài sân chùa hay một nơi khác vì sợ các cơ quan tình báo đặt máy nghe lén hay máy thu băng. Thế mà T.T. Thích Trí Quang lại dám nói đến việc hạ bệ Diệm Nhu với một người Mỹ rất có cảm tình với anh em ông Diệm ? Hơn nữa đoạn trích dẫn trên có câu: “ chúng tôi không thể thương thảo với Miền Bắc...”: Nếu sử dụng một loại ngôn ngữ thiếu lịch sự và thiếu bình tĩnh thì có thể nói rằng“Thích Trí Quang là cái gì mà dám nói đến việc thương thảo với Miền bắ c, và thương thảo cái gì,mấy hủ chao và mấy chai nước tương chăng?”. Do đó câu chuyện của bà Higgins thuộc loại ngụy tạo.

Cuối trang 160 và đầu trang 161, ông Nguyễn Văn trích trong cuốn Huyền Thoại... của Vĩnh Phúc, câu chuyện T. T.Trí Quang đối đáp với ông Hà Thúc Ký:

“...Thượng Tọa Trí Quang quắc mắt bảo: Anh nên nhớ rằng bên cạnh Phật Giáo còn có khối cộng Sản Quốc Tế yểm trợ!”.

Nhận xét: Thượng Tọa Trí Quang, một người đã từng “làm rung động Mỹ Quốc” lại có thể nói một câu vừa thiếu thông minh vừa không đúng với thực tế như vậy sao? Lịch sử đã từng chứng minh rằng sau lưng Phật Giáo chỉ có dân tộc mà không hề có một đảng phái chính trị nào. Huống hồ là có đảng Cộng Sản QuốcTế? Giả sử có, thì một người thông minh như T.T. Trí Quang không bao giờ tiết lộ sự bí mật nguy hiểm như thế cho một ông chính khách.

Mới điểm qua 4 trang mà đã thấy tác giả phạm đến 12 sai lầm nghiên trọng. Có lẽ chúng ta không nên mất thì giờ để chỉ cho ông Nguyễn Văn thấy sách của ông chỉ thuộc loại tạp nhạp, cẩu thả, vô trách nhiệm và chỉ là một tập sách tuyên truyền có hại cho chính ông Ngô Đình Diệm mà thôi. Một người viết sử cần qua một số tiến trình trong việc sử dụng tài liệu: Thu thập, phân tích, so sánh, kiểm chứng, tổng hợp, kết luận.

Rất buồn để nói rằng tác phẩm của ông Văn rất kém giá trị. Ông thu lượm rất nhiều tài liệu thuộc loại huyền thoại và ngụy tạo, trích chỗ nầy một đoạn, chỗ khác vài câu rồi nhắm mắt bỏ đại vào trong một thùng hổ lốn chứ không cần kiểm chứng, so sánh, phân tích... Do đó, sách ông chứa đựng vô số sai lầm và cho thấy khả năng viết của ông cần phải được bổ túc rất nhiều; để những độc giả như tôi khỏi mất thì giờ đọc một cuốn sá ch thuộc loại tạp nhạp đến như thế. Tiếp tục về anh em gia đình ông Diệm.

Ở miền Trung, Ngô Đình cẩn, em út của ông Diệm, là một lãnh chúa. Vì ít học nên sự tham nhũng và tàn bạo của ông Cẩn thuộc loại ngoại hạng. Ông Cẩn cho người ném lựu đạn vào tiệm thuốc Tây của dược sĩ Nguyễn Cao Thăng đường Trần Hưng Đạo,Huế, để lấy 200 ngàn đồng ( bằng 200 triệu thời ông Thiệu). Ông cùng với bà Cả Lễ (chị ruột ông Cẩn) buôn bán gạo với chính phủ miền bắc. Dưới trướng có các đảng viên Cần Lao Công Giáo và Đoàn Công Tác Đặc biệt Miền Trung bủa ra khắp nơi nên Ngô Đình Cẩn tha hồ kinh tài, buôn lậuvà nắm trọn vẹn nền kinh tế quốc gia trên toàn lãnh thổ miền Trung và Cao Nguyên. Ông Cẩn còncho tay chân thân tín đứng đấu thầu các công trình xây cất lớn như khách sạn, cầu cống, phi trường. Ông làm chủ nhiều khách sạn ở các thành phố lớn và các nơi du lịch như Huế, Đà Nẵng, NhaTrang, Sài Gòn, có nhà bào chế thuốc Tây, cóhãng kỹ nghệ bông vải lớn nhất miền Nam,Vinatexco. Ngoài ra, ông còn buôn bán thuốcphiện từ Lào về. Không có một dịch vụ nào kiếm ra tiền mà ông Cẩn bỏ qua. Từ việc giết nhữngngười giàu có để cướp của, vu khống bắt giam và tra tấn cho đến lúc nào nạn nhân dâng hết tài sản cho ông mới được tha mạng (VNMLQHT, tr.526-530).

Phát họa lại một vài nét tiêu biểu về chính sách gia đình trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm, chúng ta thấy rằng anh em ông Diệm, từ ông Giám Mục đến mấy người em, đã chia nhau quyền hành và quyền lợi để bòn rút tài sản và lũng đoạn quốc gia. Họ không bỏ lỡ bất cứ một cơ hội nào để có được nhiều tiền, không do dự bất cứ một tội ác nào kể cả giết người để làm giàu.

Trái lại, về phía miền bắc, Chủ Tịch Hồ Chí Minh không có thân nhân bà con bên cạnh, không có xe hơi, nhà lầu, không có của chìm của nổi. Lối sống ấy dễ gây được cảm tình của toàn dân, dễ lôi cuốn những người khác hy sinh cho nghĩa vụ cho chương trình cách mạng của ông.

NĂM: Diệt Các Đảng Phái Và Giáo Phái

Ông Diệm người Quảng bình, được xem như là người miền Bắc (vì ở bên kia vĩ tuyến 17) vào làm “vua” miền Nam. Với óc địa phương “Nam Kỳ Quốc”, nhiều người miền Nam không ưa. Đã thế, chính phủ Ngô Đình Diệm lại có chính sách đàn áp và tiêu diệt các đảng phái quốc gia, tiêu diệt Cao Đài, Hòa Hảo vốn là hai giáo phái mạnh và được nhiều người miền Nam mến mộ. Tướng Trình Minh Thế của Cao Đài bị giết mờ ám, tướng ba Cụt Lê Quang Vinh của Hòa Hảo bị lừa rồi bị hành quyết, giáo chủ Phạm Công Tắc bị bôi bẩn để triệt tiêu, phải chạy trốn sang Nam Vang. Hành động thiếu sáng suốt biến bạn thành thù đã tạo thành những thế lực chống đối nhà Ngô lúc ngấm ngầm, lúc công khai ầm ỹ làm lung lay gốc rễ của chế độ.

Trong lúcđó, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã có chủ trương tôn giáo khôn khéo. Năm 1946 tại Paris, ông đề nghị chương trình Tam Tự với các bà con người Công Giáo: Tự Dưỡng, Tự Quản và Tự Truyền; tách rời khỏi sự khống chế quá mức của Vatican. Tại miền Bắc, ông mời Giám mục Lê Hữu Từ làm cố vấn, Nguyễn Mạnh Hà (người Công Giáo) làm bộ trưởng kinh tế trong chính phủ VNDCCH đầu tiên.

SÁU: Kỳ Thị Tôn Giáo Để bành Trướng Nước Chúa

Ngô Đình Diệm là một con người có đến hai nhiệm vụ. Là một chính khách do Mỹ đưa về, ông phải thỏa mãn đường lối của chủ. Là một tín đồ ngoan đạo, ông có bổn phận bành trướng nước Chúa. Đây là lý do chính để giải thích tại sao ông Diệm và anh em ông ta kỳ thị và đàn áp Phật Giáo, một tôn giáo có gốc rễ lâu đời và có số lượng tín đồ đông nhất ViệtNam.

Khôngriêng gì ở Việt Nam, mà hầu hết bất cứ quốc gianào, nhất là các nước kém mở mang, lúc trở thành một tín đồ của đạo thờ ngài Giê-Su thì họ có khuynh hướng vọng ngoại, trọng ngoại và thường muốn ly khai với tổ quốc của chính họ. Gần Hoa Kỳ thì có nước Mễ Tây Cơ. Giáo hội Công giáo của quốc gia nầy thường chống lại tổ quốc của họ và làm lợi cho ngoại bang là Tây ban Nha. Vì thế, Hiến Pháp 1917 của Mễ đã ngăn cấm giáo hội Công giáo mở trường học và sở hữu bất động sản. Các tu sĩ lúc ra đường thì bị cấm không cho mặc đồ tu, không có quyền bỏ phiếu...

Gần Việt Nam, nước Phi Luật Tân bị người Bồ Đào Nha chiếm từ thế kỷ 15, cưỡng bách dân Phi trên 80% cải đạo qua Công giáo. Vua Philip của Tây ban Nha lấy tên mình đặt tên cho quốc gia nầy là Philippines, có nghĩa là những hòn đảo của vua Philip. Cái nhục quốc thể nầy không bao giờ gỡ ra được vì hầu hết dân Phi là Công giáo. Ngày nay, tại một vài đảo xa thủ đô Manila, quân thiểu số Hồi Giáo chống lại quân chính phủ và đòi lập một nước độc lập tự trị cũng do những nguyên nhân lịch sử nầy.

Trong kế hoạch cưỡng bách đổi đạo, các chính quyền Công giáo đã không từ bỏ bất cứ một hành động tàn ác nào. Chính phủ Ustashi của Ante Pavalic là một thí dụ. Quốc gia Nam Tư (Yugoslavia) nằm trên bán đảo Balkan thuộc khối Đông Âu, phía Nam giáp nước Ý. Nam Tư có đến 6 bộ tộc khác nhau. Chủng tộc Serbia có khoảng 8. 5 triệu dân, theo Chính Thống giáo. Bộ tộc Croatia có khoảng 4. 5 triệu, theo Công giáo La Mã. Bốn bộ tộc còn lại dân số khoảng 7. 5 triệu theo Hồi Giáo. Tháng 4.1941, Hitler chiếm Nam Tư rồi biến bộ tộc Croatia thành một quốc gia riêng biệt, lập chính phủ mới có tên là Ustashi do một giáo dân cuồng nhiệt, Ante Palavic, làm Tổng thống với sự hỗ trợ của giáo hội Vatican La Mã. Quân đội Đức Quốc Xã và những đội quân của các linh mục chỉ huy đi lùng bắt và khủng bố để cưỡng bách tín đồ Chính Thống giáo đổi đạo. Chỉ một thời gian khoảng 8 tháng mà có đến 30 % dân Serbia bị đổi đạo, và khoảng 1. 2 triệu bị giết vì không chịu theo Công giáo La Mã.

Ngô Đình Diệm, một con chiên Việt Nam ngoan đạo, và dòng họ ông ta, không còn nằm trong thành phần vọng ngoại và trọng ngoại nữa mà đã biến thành những người Việt-gian đắc lực. Hành động nầy được Giám mục Ngô Đình Thục, anh ruột của chính Tổng Tthống Ngô Đình Diệm chứ không phải người nào khác, cho biết trong một bức thư gởi cho Toàn Quyền Decoux năm 1944 như đã trình bày ở đoạn trước.

Nói như Linh Mục Hoàng Quỳnh “Thà mất nước không thà mất Chúa”. Nhưng Chúa (nếu có) thì ở tận mãi trên trời xanh không ai thấy, không ai biết. Do đó,câu nói trên phải được hiểu “Thà mất nước, chứ không thà mất Vatican”, vì Vatican theo tín lý là cơ quan đại diện cho Chúa ở trần gian. Vì thế, Pháp đã gài cô Nguyễn Thị Lan, một tín đồ đạo gốc, làm vợ Vua bảo Đại với hy vọng biến ông vua Việt Nam tương lai, Bảo Long, thành một tín đồ của Vatican làm vua trong một quốc gia cótrên 80 % là Phật Giáo. Cũng vậy, hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, người dân miền Nam Việt Nam không có tự do dân chủ, họ không có quyền chọn lựa người đại diện họ. Hai Tổng Thống đều là người Công Giáo trong số dân mà họ chỉ có 7%. Đây cũng là một trong những lý do làm cho dân chúng bất mãn chế độ.

Như đã trình bày ở phần đầu, những chức vụ quan trọng trong quân đội, trong các bộ các ngành, tỉnh trưởng, quận trưởng, viện trưởng, giám đốc, trưởng phòng v.v. đều do người Công Giáo nắm giữ. Nếu thiếu không kiếm được người cùng tôngiáo mới bổ nhiệm người các tôn giáo khác. Sauđó, ông Diệm dùng miếng mồi thăng chức, thăngquyền nhanh chóng cho những ai bằng lòng cải đạo. Thí dụ: Ông Trần Văn Lắm cũng nhờ đổi đạo mà giữ đựơc chức Đại biểu Chính phủ tại Nam Phần, về sau làm đại sứ. Nhờ theo Thiên Chúa giáo mà Nguyễn Đình Thuần từ chức Đổng lý Vănphòng bộ Quốc Phòng được thăng lên chức bộ trưởng Phủ Tổng Thống. Đại tá Nguyễn Văn Y nhờrửa tội nên được bổ nhiệm chức Tổng Giám đốc NhaCảnh Sát Công An. Nguyễn Văn Thiệu cũng nhờ rửatội mà lên cấp tá dưới thời ông Diệm, và về sau được Mỹ cho làm Tổng thống Đệ Nhị Cộng Hòa (SáuTháng Pháp Nạn 1963, Vũ Văn Mẫu, Giao Điểm 2003,trang 53). Thật là nhục nhã cho một số người có học mà chạy theo chức quyền.

Tại các thôn làng, các vùng kinh tế mới, Ấp Chiến Lược,công an mật vụ của ông Diệm, Nhu và Cẩn vu khống, chụp mũ Cộng sản lên đầu dân lành rồi bắthọ bỏ tù. Sau đó, các bà sơ và linh mục, giám mục tìm cách móc nối với gia đình nạn nhân vàkhuyên họ cải đạo để được thả về còn không thì bị tù rục xương. Có nhiều người thà chết khôngchịu bỏ đạo nên bị chết trong tù do thương tích tra tấn, hoặc do đổ nước lạnh hay nước xà bong vào miệng, sau đó cai tù đứng lên bụng đạp cho nước tràn ra, và tiếp tục làm như vậy cho đến lúc nạn nhân chỉ còn thoi thóp chờ chết.

Những đơn khiếu nại, rên siết của các khuôn hội Phật Giáo mà nhiều nhất là ở các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, gởi trong các năm 1961-1962 kêu cứu giáo hội Phật Giáo Trung Phần để xin can thiệp. Một đoạn trích dưới đây được T. T. Thích Trí Quang tóm lược đăng trong Nguyệt san Liên Hoanăm thứ 7, phát hành vào tháng 8 năm 1964 (trang38) cho chúng ta thấy một phần nhỏ trong toàn bức tranh to lớn về chính sách Công Giáo trị củachính phủ Ngô Đình Diệm:

“Aáp ChiếnLược thực là chiến lược và chiến thuật vĩ đạicủa các chính sách “giáo trị một chiều”. Từ sựdụng ý đến sự dùng người, từ sự đặt để đến sựquản trị, từ sự bố trí đến sự tổ chức, Aáp ChiếnLược như những cái nơm sắt lớn và chắc, chụpxuống tất cả tư tưởng, nhất là tín ngưỡng củadân tộc Việt Nam. Lợi dụng danh từ “dân chủ pháptrị”, người sáng lập quốc sách ấp chiến lược làmmột việc thay đổi toàn diện bộ máy cai trị hạtầng thôn quê không bằng một cuộc cải cách nào khác hơn là đưa thêm người cùng tín ngưỡng ThiênChúa Giáo vào, đổi bỏ những người cộng tác ngày trước, cứng rắn đến tột độ cái chính sách giáotrị dung hòa bởi gia trị và đảng trị. Và dĩnhiên, các nạn nhân đại đa số Phật Giáo đến đây,càng là nạn nhân. Hàng rào ấp chiến lược cố ýtìm cách bỏ ra ngoài nào chùa Phật Giáo, nào nhàPhật tử và dĩ nhiên ngoài hàng rào thì bị xem là Việt Cộng rồi. Hàng rào ấy gần như rào chùa vàrào cả sự đi lễ chùa của Phật-tử, nhất là trongnhững ngày và những giờ đại lễ Phật Giáo thìhàng rào ấy trong không ra, ngoài không vàođược. Sống trong chiếc nơm sắt ấp chiến lược đó,Phật-tử tuy nói “liên gia tương bảo” nhưng kỳthực đó là một hệ thống kiểm soát của thiểu sốtín ngưỡng đối với tuyệt đại đa số tín ngưỡngkhác.” (Dẫn theo Vũ Văn Mẫu, SĐD, trang 65).

Tuy nhiên, một cách công bằng hơn, đây chưa hẳn là chính sách trực tiếp của Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhưng tay chân bộ hạ của ông. Dẫu gì đi nữa thì ông là người phải chịu trách nhiệm các hành động phi pháp của anh em trong gia đình và thuộc hạ. Để được rõ ràng hơn về luận điểm nầy, dưới đây là lời của một nhân viên trong ủy ban Liên Phái phát biểu trước ủy ban điều tra của Liên Hiệp Quốc:

“Để ngài có một ý niệm rõ ràng về hình thức, tôi phải thưa với ngài rằng, về phương diện chính thức không có kỳ thị trong chính sách của chính phủ, nhưng chính phủ đã dung thứ những hành vi đàn áp, những sách nhiễu và những sự ngược đãi. Đã nhiều lần, chúng tôi gởi khuyến cáo đến chính quyền địa phương,Tổng thống Cộng Hòa và Quốc Hội. Song le điều ấy không có ích gì và đều bị bỏ qua cả. Năm 1961,Tổng thống có tiếp tôi trong hai giờ mười lăm phút. Tôi có nhắc lại nguyện vọng và có báo cáo với ông rằng: Thưa Tổng thống, nếu Tổng thống không chú trọng đến nguyện vọng của Phật Giáo đồ thì Tổng thống sẽ gặp một phong trào toàn diện trong hàng Phật Giáo đồ với nhiều vụ rắc rối lôi thôi, điều ấy không thể tránh được. Tôi biết rằng Tổng thống không bao giờ có ý định đàn áp Phật Giáo, nhưng nếu Ngài cứ tiếp tục làm ngơ trước những hành vi của cấp dưới trong chính phủthì Phật Giáo đồ sẽ cho rằng chính Ngài phảichịu trách nhiệm những hành động ấy. Mà những kẻgây ra những sự bất công ấy là ai? Đó là nhữngcán bộ, những quân nhân, những nhân viên công anmật vụ, những người nầy đều là Công Giáo. Ngườita bảo sở dĩ những kẻ chịu trách nhiệm nầy không bị bãi chức, hay họ không bị điều tra nữa vì họlà Công Giáo. Thưa Tổng thống, Ngài là một ngườiCông Giáo, người ta sợ làm phật ý Tổng thống nếudùng biện pháp trừng trị kẻ đó, vì thế họ khôngcho Tổng thống thấy những điều gì xẩy đến. Tổngthống phải chịu trách nhiệm về phương diện tinhthần đối với những điều ấy.” (Trích mục “ThẩmVấn Các Nhân Chứng – Vi Phạm Nhân Quyền Tại Việt Nam”, trong “ bẢN bÁO CÁO CỦA PHÁI ĐÒAN ĐIỀU TRALIÊN HIỆP QUỐC VỀ VỤ ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO 1963”. VõĐình Cường dịch, Hùng Khanh Xuất bản, Sài Gòn,1966, in ronéo, khổ lớn trang 110).

Qua đoạn văn nầy, chúng ta đã thấy rõ ông Ngô Đình Diệm chủ trương bành trướng nước Chúa, nên đã khôngcó một hành động nào để ngăn chận những hành visai trái và phạm pháp diễn ra thường xuyên docác thuộc cấp của chính phủ ông gây ra cho đồng bào Phật Giáo.

Đối với toàn thể dân chúng miền Nam, trong 9 năm cai trị, chính quyền Ngô Đình Diệm đã giết và tù đày dân chúng như thế nào? Trang 89 trong cuốn “TạiSao Chúng Ta Đến Đó ?, Chuyện bàng Hoàng Về VaiTrò Của Giáo Hội Công Giáo Trong Việc Gây ChiếnTranh Việt Nam”, ông Avro Manhattan, một cựu bình luận gia chính trị của đài BBC Luân Đôn, người đã viết nhiều cuốn sách thuộc loại bán chạy nhất, tường thuật về chế độ Ngô Đình Diệm như sau:

“...Từ năm 1955-1960 ít nhất có 24 ngàn người bị thương tích, 80 ngàn bị xử tử hay bị giết, 275 ngàn bị giam giữ, điều tra hoặc tra tấn, và khoảng 500 ngàn bị đưa vào trại tập trung hay trại giam”.

(...From 1955-1960at least 24,000 were wounded, 80,000 wereexcuted or otherwise murdered, 275,000 had beendetained, interrogated with or without physicaltorture, and a bout 500,000 were sent toconcentration or detention camps. Avro Manhattan, Vietnam Why Did We Go ? The Shocking Story of the Catholic “Church” Role in Startingthe Vietnam War, Chino, Ca. 1984, p. 89). Các con số trên còn cao hơn nữa nếu tính đến ngày chế độ nhà Ngô sụp đổ năm 1963. Và danh từ trại tập trung hay trại giam nói trên, có lẽ là nói đến các vùng rừng thiêng nước độc mệnh danh là Khu Dinh Điền và Ấp Chiến Lược.

BẢY: Không Đáp Ứng Nhu Cầu và Quyền Lợi Của Ngoại bang

Những ai có sống trên đất Mỹ nhiều năm hoặc có tìm hiểuvề chính sách của chính phủ Hoa Kỳ thì sẽ thấyrằng, họ không có bạn cũng chẳng có thù nhưngchỉ vì quyền lợi mà thôi. Thực vậy, lúc cần phải bang giao với Việt Nam, (một quốc gia thù địchsố một vì trong suốt chiều dài lịch sử của Mỹ họchưa bao giờ thua trận tại một nước nào ngoạitrừ Việt Nam), thì mặc cho cộng đồng người Việtnước ngoài (nhất là tại Hoa Kỳ) vận động, biểutình, chống đối, gởi kiến nghị, dâng thỉnhnguyện thư, nhưng chính phủ Hoa Kỳ sau khi bỏlệnh phong tỏa kinh tế họ lại ký giao thương vớichính phủ Việt Nam, họ có bao giờ quan tâm đếnnhững thành phần mang thù hận ngút ngàn hoặcnhững kẻ Việt Nam vong bản tha hương!

Ông Ngô Đình Diệm sau bao năm hết đến Vatican thì trở lại Mỹ, thôi ở tu viện nầy lại đến trú tại tu viện khác. Lúc tình hình chín muồi vì Pháp đã bại trận sau gần 100 năm đô hộ Việt Nam, ông Diệm được Hoa Kỳ đưa về và cho làm Thủ Tướng rồiTổng Thống trên một phần đất có hơn 80 % dânchúng khác tín ngưỡng với ông. Nhưng lúc ông Diệm vụng về và lộ liễu trong vấn đề kỳ thị tôn giáo làm cho chính phủ Hoa Kỳ khó ăn nói với thế giới, và nhất là lúc họ biết được ông liên lạc với miền bắc để kiếm một thế đứng khác, thì chính phủ Hoa Kỳ bỏ rơi ông. Do đó, biến cố Phật Giáo năm 1963 chỉ là một phụ lực đẩy thêm cái cánh cửa mục nát đã sút hết bản lề. Đây cũng là một bài học mà những người làm chính trị cần lưu ý.

Lúc chính phủ Pháp bại trận tại Điện biên Phủ cũng có nghĩa là lúc Chủ nghĩa Thực-dân và phong trào đi chiếm thuộc địa toàn thế giới bị cáo chung. Và sự chiến thắng của quân đội Việt Minh tại Điện biên Phủ ở miền bắc Việt Nam cũng có nghĩa là sự thắng lợi của chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế. Vì thế, Hoa kỳ thay chân Pháp mà một trong nhữngmục đích chính là chận đứng sự bành trướng của Cộng Sản quốc tế ở vùng Đông Nam Á, nếu không thì thế ngọai giao của Hoa kỳ trên chính trường quốc tế bị thu hẹp, các đồng minh khinh thường hoặc dần dần xa lánh, và thị trường của Mỹ sẽ bị giới hạn. Điều đó cũng có nghĩa là quyền lợi của giới tư bản trong chính quyền Hoa Kỳ bị thương tổn, kéo theo sự lung lay thị trường chứng khóan thế giới mà các cổ phần của giới tư bản và cổ phần của các tổ chức tôn giáo Tây Phương cũng bị ảnh hưởng theo.

Thực vậy,mặc dầu nói là dân chủ tự do, nhưng không giàu có thì không thể trở thành Tổng thống hay nghị sĩ dân biểu trên đất Hoa Kỳ. Bằng chứng là bộ trưởng Quốc phòng McNamara từng là giám đốc công ty hãng xe hơi Ford, và ngoại trưởng Dean Rusk từng là giám đốc công ty khí giới. (Cũng như cuộc chiếm đóng Iraq hiện nay, chính phủ Hoa Kỳgọi đó là cuộc “Giải Phóng Iraq” (For IraqiLi beration), nhưng những đoàn biểu tình tại Mỹ lại cho là hành động “Lấy Máu Đổi Dầu” (Blood For Oil ) vì Iraq là quốc gia có sản lượng dầu hỏa đứng hàng thứ nhì (?) thế giới. Báo Washington Post số ra ngày 28. 8. 03 cho biết rằng công ty Halli Burton, do phó Tổng Thống DickCheney làm giám đốc trước đây, nhận được hợp đồng 1.7 tỉ Mỹ-kim và một số các hợp đồng khác trị giá hằng trăm triệu Mỹ-kim mà tất cả đều không thông qua một thủ tục đấu thầu bình thường nào.

Được đắc cử mà không phục vụ quyền lợi của giới tư bản thì cũng khó sống. Cái giá đó nhiều khi phải trả bằng chính mạng sống của mình như trường hợp Tổng Thống Kennedy, người có dự định rút quân ra khỏi Việt Nam sau khi tái đắc cử nhiệm kỳ 2, trong lúc số khí giới và các sản vật cung ứng cho Thế Chiến Thứ 2 còn tồn đọng quá nhiều chưa có cơ hội tiêu thụ hết để thu lợi nhuận.

Cũng thế, Giáo Hoàng Pius XII vận động và đề nghị chính phủ Hoa Kỳ thả từ 1 đến 6 quả bom nguyên tử bậc trung xuống bắc Việt (2) để giải cứu cho quân đội Pháp bị bao vây tại trận Điện biên Phủ, cũng nhắm đến hai mục đích chính: Một là Vatican có rất nhiều cổ phần trong tất cả các công ty sản xuất khí giới chiến tranh, mà khí giới chiến tranh chỉ có thể tiêu thụ bằng chiến tranh khí giới. Do đó, nếu cuộc chiến Việt Nam chấm dứtthì Vatican và các nhà tư bản có nhiều cổ phầntrong các công ty dĩ nhiên là không muốn. Lý dothứ hai là cần cuộc chiến và mượn tay thực dânđế quốc để biến dân Việt Nam thành một quốc gia toàn tòng Công Giáo (và sau nầy có thêm Tin Lành) để dễ thống trị : Hình ảnh con cua gảy càng là một thí dụ rất chính xác của Giám Mục Puginier mà chúng ta nên nhớ làm lòng để giữ gìn quốc gia xứ sở.

Ngô Đình Diệm không thể sống vì ông là một người làm công không đáp ứng được quyền lợi của chủ. Nói như thế không có nghĩa là tôi chê bai ông Diệm, mà nếu giả sử chúng ta là ông Diệm thì cũng bị giếtchết nếu chúng ta không chuẩn bị cho mình cáithế dân tộc và nhân dân hậu thuẫn từ ban đầu. Nhưng rất tiếc, vì cái thế dân tộc, nếu có, của Ngô Đình Diệm là tập đòan giáo sĩ và hơn một triệu con chiên ít học và cuồng tín thì làm sao đứng vững được? Lý do khác mà người ta bỏ ông Diệm vào hòm cũng chẳng phải vì ông Diệm có tinh thần quốc gia dân tộc và độc lập tự cường như một số người bênh vực nhầm, nhưng vì ông Diệm quên rằng khi người ta dẫn ông về thì ông phải biết cái mà người ta thích, và phải làm cái mà người ta muốn. Điều đó tổ tiên đã dạy rất kỹ nhưng chúng ta có lẽ vì học quá thuộc nên quên chăng: “Ta về ta tắm ao ta”.

Thêm vào đó, ông Diệm lại ngầm liên lạc với Chủ tịch Hồ Chí Minh để được “ bảo đảm” cái ghế “Thủ Trưởng Miền Nam trong Liên Bang Việt Nam sau nầy”, chứ cũng chẳng phải ông Diệm muốn hai miền thống nhất để tiết kiệm xương máu của nhân dân như một vài taychân bộ hạ bênh vực thiếu cơ sở.

Có người lại không biết sự hứa hẹn cái ghế “Thủ Trưởng Miền Nam” nên lớn tiếng nói rằng “Cụ Còn Thì Miền Nam Không Rơi Vào Tay Cộng Sản”. Để làm sáng rõ vấn đề nầy và tránh bị chụp mũ “Cộng Sản”, tôi trích một đoạn của Giáo sư Tôn Thất Thiện, tiến sĩchính trị học, từng là bộ Trưởng Thông Tin chínhphủ Việt Nam Cộng Hòa trước 1975, và cũng là mộttrong những người bênh vực ông Diệm hết mình vàchống Cộng “chết bỏ” ở hải ngoại, đăng trên Nhật báo Người Việt, một tờ báo cũng thuộc loại chống Cộng hung hãn. báo Người Việt, mục Diễn Đàn,California ngày 19. 8. 2003, bài viết có tựa đề“Một Quan Điểm Mới Về Vụ Đảo Chánh Tháng 11,1963”, giáo sư Tôn Thất Thiện viết:

Nhìn từ một khía cạnh Á-đông, “thảm kịch Việt Nam” được thấy nhưsau. Ông Ngô Đình Diệm đã thực hiện được một kỳcông lớn: ông đã dành được một danh vị mà tất cảnhững người Việt có nguyện vọng làm lãnh tụ quốcgia đều mơ mộng: được công nhận ngang hàng vớiHồ Chí Minh. Điều nầy rõ ràng khi Hồ Chí Minhnói với ký giả Cộng sản trứ danh Úùc, Wilfred burchett, rằng: “Ông Diệm là một nhà ái quốc theo kiểu của Ông ấy”, và “khi nào anh gặp Ông ấy, anh bắt tay Ông ấy hộ tôi”.

Nhân dịp Tết, ông Hồ nhờ Ủy Hội Quốc Tế chuyển cho Ông Diệm một cành đào nở hoa. Ông Diệm cho chưng cành đào nầy trong phòng khách dinh Gia Long cho ngoại giao đoàn thấy. Các nhà ngoại giao lấy việc nầy làm lạ, vì họ không hiểu rằng dữ kiện nầy có một ý nghĩa biểu tượng: đó là một biểu lộ sự tôn kính của Hồ Chí Minh đối với ông Ngô Đình Diệm! (Tôi cho xuống dòng, BK).

“Thêm nữa, qua trung gian Ông M. Manelli, đại diện Poland ở UHQT, Ông Hồ nhắn Ông Diệm rằng, trong liên bang Việt Nam sau nầy, địa vị thủ trưởng Miền Nam của ông sẽ được tôn trọng.” (Các chữ ông trong đoạn trích ở trên có chỗ viết hoa, chỗ không, tôi ghi lại nguyên văn. Và những chữ in đậm là tôi muốn nhấn mạnh,BK).

Nhận xét:

1. Mặc dầu thuộcthành phần chống Cộng chết bỏ, nhưng giáo sư TônThất Thiện cũng xác nhận danh vị của Hồ Chí Minhlà “một danh vị mà tất cả những người Việt cónguyện vọng làm lãnh tụ quốc gia đều mơ mộng”.Nhưng rất tiếc là một người có học vị tiến sĩchính trị, kinh nghiệm trường đời và trên 70tuổi lại không biết lời ca ngợi Tổng Thống NgôĐình Diệm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong giaiđoạn nầy là nhằm mục đích gì? Và phải chăng đólà một sự ca ngợi thật, hay là một đòn tâm lýsâu sắc của một chính khách lão luyện lúc thấyông Diệm đã đổi chiều?

Đoạn 2, trong lúc biết được ông Ngô Đình Diệm, Tổng thống miềnNam, đang muốn về với “ta” nên Chủ tịch Hồ ChíMinh tặng cho một cành hoa là để gây cảm tìnhthêm và dụ về cho nhanh, chứchưa hẳn là ngườitặng tỏ ra có sự kính trọng người được tặng nhưgiáo sư Tôn Thất Thiện hiểu lầm. Một cành đào màcó thể tiết kiệm được sức lực và xương máu củanhân dân, thì thật là tuyệt chiêu.

Đoạn 3, cho thấyChủ Tịch Hồ Chí Minh hứa tôn trọng (hứa cho thì đúng hơn, BK) “chức thủ trưởng Miền Nam” củaTổng Thống Ngô Đình Diệm “trong liên bang Việt Nam sau này.”

Giáo sư Tôn Thất Thiện, trong lúc cặm cụi đánh bóng, đã phơi bày sự giả dối của ông Diệm, và làm cho những ai đã từng ca tụng ông vô cùng thất vọng và choáng váng mặt mày vì lời lẽ và ý tứ, trong đoạn 2 và đoạn 3 nêu trên. Vì bài viết của ông Tôn Thất Thiện đã tố cáo ông Ngô Đình Diệm như sau:

NÓ đang ở bụi nầy, mặt mũi NÓ là thế đó. NÓ cổ xúy quân dân hi sinh xương máu chống miền bắc để nó và anh em nó lấy tiền viện trợ chống Cộng của Mỹ ! Nhưng thực tế, NÓ đã đi đêm với Bắc Việt từ lâu!

Những thành phần cố xuyên tạc lịch sử, chống Cộng hung hãn trả lời thế nào về chiến dịch chụp mũ và vu khống các giáo phái, đảng phái, các thương gia, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, công tư chức... và Phật Tử là Cộng sản để tra tấn, bỏ tù hay thủ tiêu họ dưới thời Ngô Đình Diệm? Hành động ông Diệm đi đêm với Cộng sản để kiếm cái chức Thủ Trưởng, một lần nữa đã được xác nhận bởi ông TônThất Thiện, một người có học vị cao và liên tục suốt đời không ngớt viết bài ca tụng Ngô Đình Diệm và được các báo chống Cộng và các báo có khuynh hướng Công Giáo hớn hở đăng tải. Chúng ta cũng nên nhớ thêm rằng, hành động đi đêm với miền bắc của ông Diệm là vì cái chức thủ trưởng Miền Nam chứ không phải vì muốn thống nhất đất nước và tiết kiệm xương máu của nhân dân.

Về hành động đi đêm của Diệm, tuần báo Newsweek ngày24.12. 2001 cũng viết: “Năm 1963, Chính phủ Kennedy nhận thấy Ngô Đình Diệm Tổng thống miềnNam Việt Nam như là một công cụ của Cộng sản vàquyết định ‘Diệm phải ra đi’. Nhân viên tình báo Hoa Kỳ phối trí nỗ lực đảo chánh và đưa đến cái chết của ông ta vào tháng 11.” ( 1963 TheKennedy Administration begins to see SouthVienamese President Ngô Đình Diệm as acommunisttool and decides that “Diem must go”. The CIAengineers coup attempt that eventually lead tohis assassination in November.”

Đoạn cuối bài viết nói trên, giáo sư Tôn Thất Thiện tiếp tục:

Đáng lẽ người Mỹ phải cho rằng họ may mắn được một người đồng minh cở lớn như Ông Diệm, đem lại được hòa bình cho Việt Nam mà đồng thời duy trì được mộtquốc gia Miền Nam Việt Nam riêng biệt và không Cộng sản – và như vậy Hoa Kỳ có thể hãnh diện tuyên bố là họ đã “làm trọn sứ mạng”và rút lui trong danh dự. Đáng lẽ họ phải tuyên dương ÔngDiệm là anh hùng và cứu tinh của họ. Thay vì vậy, họ đã chủ mưu lật đổ và ám sát Ông. “Thảm kịch Việt Nam” là ở đó.

Vì ơn mưa móc, nên giáo sư Tôn Thất Thiện dùng những lời rất đẹp để ca tụng Ngô Đình Diệm nhưng hoàn toàn không có chứng cớ. Sau đây là thêm một số dẫn chứng:

a. Tài liệu mật của bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ (The PentagonPapers) bản in năm 1971, từ trang 8 đến trang 26viết :

“Năm1948 và 1949, mối quan tâm càng được gia tăng tại Hoa Kỳ về sự bành trướng của Liên bang SôViết tại Đông Aâu, chính phủ Hoa Thịnh Đốn trở nên lo âu việc liên hệ của Hồ Chí Minh với CộngSản. Tuy nhiên, một bản điều tra của cơ quanTình báo và Nghiên Cứu của bộ Ngoại Giao vào mùaThu 1948 kết luận rằng cơ quan nầy đã không tìm được một chứng cứ chắc chắn nào cho thấy Hồ Chí Minh thực sự làm theo chỉ thị của Mác Cơ Va”( In1948 and 1949, as concern a bout the SovietUnion’s expansion in Eastern Europe grew in theUnited States, Washington became increasinglyanxious a bout Ho Chi Minh’s Communistaffiliations. Nevertheless, the accountdisclosed, a survey by the State DepartmentOffice of Intelligence and Research in the Fallof 1948 concluded that it could not find anyhard evidence that Ho Chi Minh actually took hisorders from Moscow) có nghĩa là cho đến mùa Thunăm 1948, Hồ Chí Minh chưa hẳn là Cộng Sản. TàiLiệu Mật cho biết thêm:

“Từ tháng10. 1945, đến tháng 2 năm sau, Hồ Chí Minh viết ít nhất là tám bức thư gởi cho Tổng Thống Trumanhọăc cho bộ Ngọai Giao, kêu gọi Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc can thiệp chống lại chủ nghĩa thựcdân.

Tài liệu cho thấy, tất cả các bức thư đó không được trả lời.”(From Octo ber, 1945, until the followingFe bruary, the account continue, Ho Chi Minhwrote at least eight letters to PresidentTruman or to the Secretary of State, formallyappealing for United States and United Nationsintervention against French colonialism.

There is norecord, the analyst says, that any appealingswere answered. P. 8).

Nội dung của 2trong 8 bức thư đó có mấy điểm chính, Hồ ChíMinh kêu gọi:

(1)Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc,(2) giúp Việt Nam độc lập như mẫu Phi Luật Tân,(3) thừa nhận chính phủ lâm thời Việt Nam, (4)có những hành động cần thiết để duy trì hòa bìnhthế giới, nền hòa bình nầy đang bị nguy hiểm vìcác nỗ lực của Pháp để chiếm lại Đông Dương.”

(In 2 letters, Ho Chi Minh request USA as one of United Nations to support idea of Annameseindependence according to Philippines example,to examine the case of the Annamese, and to takesteps necessary to maintenance of world peace which is being endangered by French efforts toreconquer Indochina, P. 26).

Tàiliệu mật nêu trên mới thật sự cho chúng ta thấycái “Thảm kịch Việt Nam” chứ không phải “Thảmkịch Việt Nam” là vì Mỹ giết ông Diệm như giáosư Tôn Thất Thiện nhận lầm. Thật vậy, như tôi đãnói trong một đọan trước, “Hoa Kỳ không có bạn,không có thù mà chỉ vì quyền lợi mà thôi” Tàiliệu cho thấy, cho đến mùa Thu 1948, Hồ Chí Minhchưa hẳn là Cộng sản, mà Hoa Kỳ là một quốc gia chống Cộng nhưng đâu có ủng hộ các đề nghị chính đáng của Hồ Chí Minh. Vì sao vậy? Vì họ không thể không biết rằng người có tinh thần ái quốc và không thể sai bảo như Hồ Chí Minh thì làm sao mà chính phủ Truman ủng hộ được. Vì vậy mà Hoa Thịnh Đốn và ngay cả Liên Hiệp Quốc do các cường quốc khống chế nên cũng không trả lời thư của Hồ Chí Minh. Thực tế, nói thẳng thì mất lòng nhưng rất đúng, vấn đề mấu chốt nằm trong câu nói thời danh của Giám Mục Puginier nhưng cần phải được bổ túc thêm để có được tính phổ quát: “Không có giáo sĩ, mục sư và giáo dân thì người Pháp rồi đến người Mỹ ...như cua bị bẻ gảy hết càng”. Vì thế, chúng ta không lấy làm lạ, Đại Tá Lansdale được chỉ thị phải đem gần 1 triệu ngườiCông giáo từ bắc di cư vào Nam để làm hậu thuẫncho ông Diệm, và hai thời kỳ Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam, tổng thống là người Công giáo vì dễ sai dễ bảo. Và lúc không vừa lòng thì cũng bị giết. Do đó, mới thấy chúng ta vẫn còn ngây thơ chưa tiêu hóa được câu tổ tiên dạy “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục aonhà vẫn hơn”. Một điểm then chốt khác, Giáo sư Tôn Thất Thiện có học vị tiến sĩ chính trị lại tin rằng ông Ngô Đình Diệm có khả năng “đem lạiđược hòa bình cho Việt Nam mà đồng thời duy trì được một quốc gia Miền Nam Việt Nam riêng biệt và không Cộng sản.” là một nhận định rất sai lầm khác.

Đúng thế, Ngô Đình Diệm xuất thân từ một gia đình ba đời Việt gian, phụ tá nòng cốt là mấy anh em tham nhũng trong gia đình, cậy chức cậy quyền, lực lượng chính qui là giáo hội Công Giáo Việt Nam và trên một triệu con chiên vừa di cư ngoài Bắc vào, cộng với thành phần đã mai phục sẵn trong Nam. 80 % dân chúng miền Nam còn lại bị đặt trong tình trạng báo động thường trực vì họ không cùng một tín ngưỡng và lưng không mềm như người đồng đạo của ông Diệm. Thành phần đông đảo nầy bị chính phủ ông kỳ thị, dụ dỗ rửa tội hoặc vu khống chụp mũ, bỏ tù, tra tấn, giết chết thì lấy ai làm nòng cốt để có được “Một quốc gia Miền Nam riêng biệt không cộng sản”. Hơn nữa,lúc Hồ Chí Minh chưa là cộng sản, mà Hoa Kỳ là quốc gia lãnh đạo chống Cộng nhưng có ủng hộ ông Hồ không? Và sau 1975,Việt Nam theo chủ nghĩa nào thì chúng ta đều đã biết. Nhưng người Mỹ có bang giao và bắt tay với họ để làm ăn không? Chúng ta cũng đã thấy. Do đó, xin đừng ngây thơ.Họ theo quyền lợi của họ, ta nên tắm nước ao ta.Nói như vậy không có nghĩa là tôi chống hay chỉtrích ai mà chỉ muốn nói rằng không nên ngâythơ, trọng ngoại và vọng ngoại. Vì bất cứ chínhphủ nào cũng phải vì quyền lợi quốc gia củachính phủ ấy. Nếu chúng ta làm Tổng Thống hayThủ Tướng thì cũng không thể hy sinh quyền lợicủa quốc gia mình, ngoại trừ mình là những tênViệt gian bán nước. Tuy nhiên sự khác biệt giữacác lãnh tụ là: Nội chính, biết đặt quyền lợiquốc gia trên quyền lợi cá nhân. Về ngọai giao,tôn trọng quyền lợi của các quốc gia khác đểchung sống hòa bình, hay sử dụng luật rừng: conngười là lang sói của nhau?

TÓM LƯỢC:

Nhữngsử liệu nêu trên cho thấy Tổng thống Ngô ĐìnhDiệm xuất thân từ một gia đình Công giáo ba Đời Việt Gian, không để lại được một tác phẩm hoặc một bài diễn văn, tự viết, để cho thấy tư tưởng chính trị và chương trình hành động của mình, không tranh đấu và khó nhọc trên chính trường, được thực dân Pháp cho chức Thượng Thư dưới thời Nguyễn mạt. Ông ra hải ngoại, sống từ tu viện nầy sang tu viện khác. Lúc thời cơ đến, ông được ngoại bang bồng về LÀM CÔNG dưới danh vị ThủTướng rồi Tổng Thống để thực hiện chính sách và bảo vệ quyền lợi của CHỦ.

Cộng sự viên thân tín và cũng là những người trực tiếp đẩy ông xuống huyệt là mấy anh em người nhà: tham nhũng, hối lộ, ham quyền, lạm chức.

Lựclượng hậu thuẫn trực tiếp là Giáo Hội Công GiáoViệt Nam và trên một triệu con chiên. Còn 80 %dân chúng khác tín ngưỡng thì bị đối xử bất công hoặc như kẻ thù, người thì bị tra tấn, tù đày, cưỡng bách cải đạo, kẻ thì bị giết.

Dối gạt dân chúng, nhất là thành phần quân nhân, để đấu thầu chống cộng thu lượm đô la Mỹ. Không thực hiện được những điều mà CHỦ muốn, lại còn ngầm liên lạc với miền bắc để kiếm ghế ThủTrưởng Miền Nam nên bị CHỦ giết. Con người và sự nghiệp của Ngô Đình Diệm giản dị và rõ ràng như thế.

Tuy nhiên, một cách khách quan hơn, chúng ta có thể thông cảm phần nào cố Tổng thống Ngô Đình Diệm vì trong các sử liệu không thấy có ai nói ông tham nhũng hối lộ và cáo buộc ông trực tiếp thi hành các chính sách độc ác bất công. Hầu hết các sử gia đều chỉ nói nhiều về, và nói một cách khinh miệt, anh em ông và chính phủ ông cũng như chính sách của cái tôn giáo mà ông là một tín đồ. Nhưng dẫu có thông cảm đến mức nào đi nữa, thì cố Tổng thống Ngô Đình Diệm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tất cả những sự thịnh suy của miền Nam trong giai đoạn ông cầm quyền. Ông là một người ngây thơ, đức mỏng nhưng ngôi cao, tài hèn mà làm việc lớn thì chắc chắn thất bại. Do đó, những danh từ như anh minh, chí sĩ, hoặc gán cho ông có tinh thần quốc gia, độc lập, chủ quyền, hoặc “Cụ còn thì miền Nam không mất” v.v., tất cả những cái đó đều hư dối, sai với thực tế, cần được bãi bỏ.

Nếu để khen ngợi một người không tham nhũng, thì tôi xin gởi đến cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm một nén hương lòng. Còn việc tổ chức lễ hàng năm để đánh bóng ông thì hoàn toàn nhảm nhí, cũng như có người muốn vận động làm đài kỷ niệm để tôn vinh một người bất xứng trong tất cả mọi lãnh vực, mà sử liệu đã cho thấy, thì không nên. Hai việc làm thiếu cân nhắc nầy cần được chấm dứt để khỏi nhục cho cộng đồng người Việt chúng ta.

Những khủng hoảng rối ren sau 1963 là lỗi của các vị tướng lãnh không lịch lãm trên trường chính trị. Những rối ren đó là điều bất hạnh cho các nước nhược tiểu, gồm có Việt Nam, bị làm con cờ thícho ý thức hệ và quyền lợi của các cường quốc. Và sự rối ren ấy cũng khó ngăn cản được nhất là dưới thời ông Diệm, vì giới tư bản, qua những danh từ hoa mỹ, nhưng không ngoài mục đích cần phải tiêu thụ hết các sản phẩm còn tồn đọng sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Do đó, tưtưởng và hành động của tất cả mọi người dân phải đặt trên nền tảng “Ta về ta tắm ao ta”. Ta thương ta là tình thương trung thành hơn cả. Nên “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” như ông Bụt đã khuyên.

9. 9. 2003

Phụ chú:

(1) Thư viết tay của Giám mục Ngô Đình Thục gởi Toàn Quyền Decoux >>>


Những bài viết về Ngô Đình Diệm: