PHÚT THĂNG HOA

- tiểu thuyết -

Nguyễn Văn Thịnh

 

CHƯƠNG KẾT

Theo Hiệp định, 80 ngày sau, Quân đội Liên hiệp Pháp rút khỏi địa bàn Hà Nội và Quân đội Nhân dân Việt Nam vào tiếp quản.

8 giờ sáng ngày 10 tháng 10 năm 1954 những tên lính xâm lược cuối cùng của đội quân viễn chinh Pháp chán chường uể oải bước trên cầu Long Biên về phía Gia Lâm, rời rạc lên xe theo hướng đông xuống Hải Phòng ra biển – con đường đi về quen thuộc mỗi khi chúng đem quân từ Nam ra chinh Bắc, chấm dứt non thế kỷ hoành hành ngạo ngược trên mảnh đất Đông Pháp xa xôi này!

Tháng 8 năm 1944, tướng Charle De Gaulle – người đứng đầu Chính phủ kháng chiến Pháp cùng đoàn quân lưu vong của ông theo quân đội Đồng minh tiến vào Paris trong tiếng hò reo của những người được giải phóng thì ngay sau đó ông đã hướng sang Viễn Đông tuyên bố hùng hồn: “Chúng ta sẽ trở lại Đông Dương vì chúng ta mạnh nhất”! Giá như  mười năm sau đó, vào buổi chiều hè oi bức, ông có mặt ở một thung lũng heo hút miền tây-bắc gần biên giới Việt-Lào, nhìn tận mắt hàng ngàn quan lính của ông từng đoàn lốc thốc lôi thôi tay cầm cờ trắng như lũ chuột ướt bò ra từ những boong ke trú ẩn sâu trong lòng đất, run rẩy cúi đầu trước những người lính Việt Nam yêu nước… Rồi vào buổi sáng mù sương thu và gió lạnh như hôm nay ông lại chứng kiến cảnh những sỹ quan và binh lính bị các ông đẩy sang Đông Dương từ dạo ấy ủ rũ cúi đầu lê bước lui quân!

Năm 1858, quân Pháp dưới sự chỉ huy của Rigault De Genouilly từ ngoài biển khơi nổ súng kéo vào đánh chiếm thành Đà Nẵng, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cậy có vũ khí tối tân áp đảo, chúng quay vào tiến đánh phía Nam. Năm 1862 Bonard chiếm ba tỉnh miền Đông và năm 1867 De la Grandière chiếm nốt ba tỉnh miền Tây!

Năm 1873, mượn cớ tìm đường thông thương sang Vân Nam buôn bán, Francis Garnier đem quân ra đánh chiếm Bắc thành lần thứ nhất và đã bỏ xác tại cửa ô Cầu Giấy.                  

Năm 1882 Henri Rivière kéo quân ra đánh Bắc thành lần thứ hai và cũng phơi thây trên mảnh đất này.

Tuy nhiên, năm 1884, triều đình nhà Nguyễn đầu hàng nhục nhã, thuận ký Hoà ước Patenôtre, chấp nhận việc chia nước Nam ra làm ba Kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau, dưới quyền điều hành trực tiếp của những Nhiếp chính quan người Pháp: Nam kỳ là xứ thuộc địa coi như một tỉnh của nước Pháp ở Viễn Đông, dưới quyền cai quản của viên Thống Đốc. Bắc kỳ là xứ bảo hộ do viên Thống Sứ trông coi. Trung kỳ gọi là xứ tự trị nhưng vẫn có viên Khâm Sứ ngồi trên cả Nam triều! Và cả xứ Đông Dương thuộc Pháp  đều chịu sự thống lĩnh của viên Toàn quyền không khác chi viên Thái thú thời xưa! Để vĩnh viễn chấm dứt truyền thống thần phục Bắc phương, bây giờ các quan đô hộ tây dương bắt đem cái ấn phong vương của vua nhà Thanh ra thụt bễ nấu cho chảy tan biến đi trước mặt văn quan võ tướng Nguyễn triều!

Lần thứ ba, năm 1946, viên Thủy sư Đô đốc D’Argenlieu hùng hổ kéo binh hùng tướng mạnh ra Bắc hòng duy trì một xứ thuộc địa béo bở ở Viễn Đông thì tám năm sau kết thúc bằng những bước chân thảm bại hôm nay trên dòng nước sông Hồng thao thiết chảy.

Cây cầu Doumère này từ hơn nửa thế kỷ nay đã là niềm tự hào của nền văn minh Đại Pháp nhưng không vì thế mà xóa đi được những vết ô nhục do chính những đứa con của nước Pháp gây ra trên đất nước này.

Tám năm về trước cũng dưới chân cây cầu này hàng ngàn chiến sỹ Vệ quốc quân và những người dân yêu nước âm thầm lặng lẽ đau đớn ra đi trong lòng mang nặng lời thề non nước, quyết trở về thành phố trong khúc khải hoàn ca.

Và ngày ấy đến đây.

Hà Nội ngây ngất tràn đầy niềm vui lẫn với những đau buồn.

Nước sông Hồng cuồn cuộn dâng cao như hoà chung vào dòng nước mắt của  ngày họp mặt. Dòng nước ấy đỏ quánh thêm bởi nó pha máu của những người vắng bóng hôm nay.

Hàng tháng nay trong nỗi thấp thỏm chờ mong, càng gần đến ngày này niềm vui lẫn nỗi lo càng trào lên rộn ràng phấp phỏng. Suốt một ngày, đoàn quân rầm rập tiến về giữa lòng thành phố qua các cửa ô: Yên Phụ, Cầu Giấy, Chợ Dừa, Vọng, Cầu Rền trong tiếng nhạc rộn ràng, lời hát hân hoan hòa nhịp bước quân hành vang lên từ các cửa ô tràn vào khắp phố phường ngõ nhỏ làm nôn nao náo nức lòng người:

Trùng trùng quân đi như song / Lớp lớp đoàn quân tiến về / Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng cờ ngày nào tung bay trên phố / Trùng trùng say trong câu hát / Lấp lánh lưỡi lê sáng ngời / Chúng ta đem vinh quang sức dân tộc trở về cả cuộc đời tươi vui về đây / Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về / Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh / Chúng ta ươm lại hoa sắc hương phai ngày xa / Ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu / Những bông hoa ngày mai đón tương lai vào tay / Những xuân đời mỉm cười vui hát lên / Khi đoàn quân tiến về là đêm tan dần / Như mùa xuân xuống cành được nghe gió về Hà Nội lừng tiếng quân ca… 

Bà Phán vẫn chưa thấy bóng chồng! Hai chị em Nhài và Cẩm Nhung chở nhau trên xe rong ruổi khắp các cửa ô Đông-Tây-Nam-Bắc chăm chắm nhìn những anh bộ đội, cán bộ trang phục khác với mọi người chỉ mong nhận ra một hình bóng thân yêu. Bà Phán trong lòng càng nóng như lửa đốt nghĩ tới một sự rủi ro: Liệu có còn không mà về? Bà nâng bé Bích Liên chưa tròn tuổi mụ, kết quả của ngày vào chiến khu gặp chồng dạo ấy:

- Tội nghiệp con tôi. Lỡ làm sao thì con không biết mặt cha và cha cũng chưa biết có con ở trên đời!

Nhiều lần bà quỳ dưới chân Đức Mẹ xin Người chở che. Bà thắp hương trước bàn thờ gia tiên cầu các bậc tiền nhân phù hộ chồng bà.               

Mấy ngày qua mà mắt bà thâm quầng, má bà xọm lại, không son phấn điểm trang khiến những ai tới thăm hỏi phải giật mình và ân hận vì càng làm cho bà thêm âu sầu lo lắng.

Vào một buổi chiều gần tối, một người đàn ông đi cùng một cô gái balô trên vai, xắc cốt bên hông dừng lại trước cửa nhà mà mấy đứa nhỏ cứ đứng lơ ngơ.

Cô gái cúi xuống run run hỏi:

- Bác Tham Phú có nhà không em?

Mấy đứa bé lắc đầu sợ sệt lùi sát lại với nhau.

Người đàn ông nắm chặt tay một đứa nhỏ, miệng ông líu lại:

- Mợ… có… nhà… không con?     

Cả ba đứa vuột chạy vào nhà hét lên:     

- Mợ… ơi! Có… ai… này!                       

Bà Phán quay ra. Bình sữa trong tay bà rơi xuống, mặt bà xanh ngắt, chân tay bà bủn rủn không đứng vững được nữa…

Hai người chạy vội tới xốc hai bên nách bà

- Mợ… nó!                                     

- Thím Phán ơi!                    

Bà hổn hển nói không ra hơi nữa: 

- Mình!

Bà gục vào lòng ông… Tiếng khóc bà to dần lên…

Mấy đứa bé vòng quanh ôm lấy cha mẹ khóc theo…

Hương Giang nhìn quanh quẩn ngôi nhà thân yêu mà không thấy bóng dáng mẹ cha đâu, cô cũng ôm mặt khóc nấc lên…

Nhài tủi thân chạy vào nhà trong thút thít…

Ông Tham Phú về thành, ông lo chạy vòng quanh tìm những người quen cũ để xin giấy tờ làm thủ tục cho ông sớm qua Paris thăm vợ. Nhưng bạn bè nhiều người nghi ngờ tránh né ông. Họ xì xầm với nhau

- Nếu vì thời thế thì người như lúy phải dinh từ sớm rồi. Bây giờ Việt minh đang đánh Pháp te tua, coi chừng Cộng sản cài lúy về trước đó. Dây dưa vào khéo bị vạ lây!

Ông buồn lắm nhưng lỡ trớn rồi. Gia đình ông bên đó phải chạy chọt vận động vất vả lắm mới bảo lãnh được cho ông. Nhà cầm quyền Pháp đang lúng túng trước phong trào đấu tranh phản chiến của nhân dân nước họ trong đó phong trào ủng hộ kháng chiến trong Việt kiều ở Pháp cũng sôi nổi lắm, họ không muốn chuốc thêm sự phiền hà. Nhưng vì lòng nhân đạo họ đành chấp nhận cho ông với điều kiện chỉ được lưu trú tại nơi bảo lãnh ở Paris có ba tháng thôi. Ông bước chân đi mà lòng cay đắng.

Ông qua lúc bệnh tình của bà trầm trọng lắm rồi. Vợ chồng nhìn được mặt nhau có mấy ngày thì bà ra đi! Bà chỉ ân hận không nhìn thấy mặt đứa con gái út. Bà căn dặn ông chăm lo cho con gái bà.

Ông sống ở Paris ba tháng như  người khách trú bị tình nghi giam lỏng. Bạn bè đồng hương cố cựu ít người tiếp xúc. Có người biết rõ sự tình lại đánh tiếng chê bai: Đã đi hành hương sắp tới đích rồi sao nỡ lòng bỏ cuộc! Ông sống trong tâm trạng u ẩn không muốn tiếp xúc với ai.    

Trở về nước ông dằn vặt lắm. Chẳng lẽ ông lại ngửa tay đi xin việc những thằng chó má trong khi ông có đói khổ đâu! Chỉ còn một mình ông sống vơ vẩn trên cõi đời này.

Ông bảo bà Phán:                          

- Cửa hàng, nhà cửa của tôi thím cứ sử dụng như hiện nay đi. Thời thế này chưa biết thế nào. Một mình tôi ở trên gác đủ rồi. Thím để các cháu ở đây cho tôi đỡ buồn.

Suốt ngày ông ngồi nhà đọc sách báo, nghe radio. Cô người làm giúp việc gia đình bữa bữa bưng mâm cơm lên gác để đấy cho ông. Lúc nào buồn ông xuống chơi với các cháu chốc lát hoặc đi dạo phố phường. Ông sống như người ẩn giật.       

Ông giáo Kiến là bạn học thời niên thiếu, hiện là Hiệu trưởng một trường Trung học tư thục mời ông:  

- Hay là anh đến giúp tôi giảng dậy môn Triết học hoặc là Văn chương, Lịch sử, Địa lý, Sinh ngữ gì cũng được. Ông Tham trầm ngâm, trả lời người bạn:         

- Bây giờ mọi thứ triết lý đều treo trên đầu họng súng cả! Văn chương chỉ dùng vào việc bới móc hay là tán tụng chứ không dám nói lên khát vọng của con người đòi chân lý! Các sử quan vì nhiều lý lẽ cũng không dám nói thật những suy nghĩ của mình! Mình ăn cơm tây, nói tiếng tây mãi chán lắm rồi! Muốn giữ được nhân cách chỉ một cách đi ở ẩn.

Ông bạn dốc bầu tâm sự:

- Thời nay muốn ở ẩn không dễ đâu anh ạ trong khi mình còn có bao nhiêu trách nhiệm và ràng buộc. Tôi chọn môn Hóa học để bước vào đời, lúc đầu nghĩ rằng là sự tình cờ, lâu dần nghiệm ra cũng là cơ trời dun dủi. Mọi phản ứng tạo nên là tự nhiên, dù có tác nhân nào đều nằm trong qui luật. Lâu dần rồi quen thành ra tất cả những gì dính dáng tới con người tôi đều sợ! Con người vừa là đơn thể vừa là hợp thể, không tài nào biết được nó sẽ phản ứng ra sao khi kết hợp lại với nhau và ngay cả khi đơn độc cũng không biết được nó sẽ chuyển động thế nào. Triết lý của các anh gọi là quy luật cuộc sống! Nhưng cuộc sống thiên hình vạn trạng cứ rối mù lên, đúng sai tùy lúc tùy nơi nên dễ oan gia lắm. Cái vòng tuần hoàn qui luật của nó vô biên!

- Thì ra bao lâu nay anh hờ hững đi bên cạnh cuộc đời được là nhờ vào đó! Thời nào anh cũng đủng đỉnh ung dung trong khi con anh thì khác?

Ông giáo thở dài:

- Tôi với anh hoàn cảnh giống nhau: cha một đường, con một nẻo! Chúng mình sinh ra nhằm lúc sao lu

Ông Tham chưa thoát được tâm trạng u ẩn dày vò, tuy nhiên ông cũng đỡ bà Phán lo được một số công việc đàng chồng: Anh Bình chồng chị Gái bị nó bắt giam mấy năm rôì định đầy đi Côn Đảo. Ông giúp lo lót chạy chọt cho được ở lại rồi cùng anh em vượt ngục trốn ra vùng tự do. Với Chu thì ông tạm thời chạy cho theo học lớp sỹ quan Công binh Đà Lạt đã, trước mắt khỏi phải ra trận mạc, chờ đến khi ra trường sẽ tính.

Sau ngày thắng lợi ở Điện Biên Phủ, rồi có Hội nghị Genève ông buồn lắm, lúc nào cũng đăm chiêu. Bà Phán cũng hoang mang vì nhiều tin đồn cứ phao lên không biết thực hư thế nào và cả gia đình bên ông Trùm cũng rục rịch ra đi tác động tới bà. Bà Phán chỉ còn biết hỏi ông.

- Thím nên ở lại gặp chú ấy đi. Còn những 300 ngày để mình suy nghĩ kia mà!                 

- Thế còn anh?                               

- Bây giờ trên đất nước này tôi chỉ còn cháu Hương Giang thôi. Nhưng con có phận của nó. Mình có phận của mình. Chẳng lẽ làm thân phận hàng thần lơ láo?

- Sao anh không ở lại gặp bạn bè ít bữa?

Ông lấy ra mảnh giấy được ông giữ kín và trân trọng. Đó là một giải truyền đơn nhỏ mà hôm Quatorze Juillet (14 tháng 7) vừa rồi ông thả bộ ra Bờ Hồ, tình cờ thấy đám lính tây mũ đỏ mũ đen bỏ chạy tháo thân dồn cục về Hà Nội mà còn lên gân hùng hổ diễu võ dương oai. Một cậu học sinh đứng bên ghé tai ông nói nhỏ: Diễu chạy chứ diễu binh gì! và nhanh tay đụng vào túi ông rồi lẩn đi mất dạng. Biết có sự lạ, ông thủng thẳng quay về. Tờ giấy đánh máy vẻn vẹn sáu chữ điệp khúc của ba từ: ĐIỆN BIÊN PHỦ! ĐIỆN BIÊN PHỦ! Lòng ông vui buồn lẫn lộn. Bây giờ ông đưa ra cho thím em xem và như tâm sự với chính mình:

- Cụ HỒ đã làm được điều như vua Lê Lợi thuở xưa: Rửa sạch làu vết nhục nhã ngàn năm cho quốc dân ta!

Ông trầm ngâm nhấn nhá:

- Càn khôn bỉ mà lại thái! Nhật nguyệt hối mà lại minh!

Ông thở dài buột  ra lời tự thán:

- Sỹ khí chỉ là tiểu quân tử thôi!

- Thì anh cứ ở lại xem sao đã! 

- Thương nhau thì có thương. Nhớ nhau thì có nhớ. Nhưng gặp nhau không biết nói chuyện gì… Cái tình thương nhớ ấy cứ để trong lòng lại bền lâu.

- Vào Sài Gòn anh cũng chỉ có một mình?       

- Nhưng ít ra cũng có thể sống ẩn giật như lâu nay được. Chứ phải nhập thế thì mình lạc lõng!

Ông lưỡng lự, chần chờ, lưu luyến mãi, không muốn dứt ra một cái gì bỏ thì thương mà không dám vương vào. Ông mới cất bước ra đi ngày hôm trước.

Ông hôn mấy cháu và nắm tay bà Phán, với giọng nghẹn ngào:

- Phải rời xa mảnh đất này tôi đau lòng lắm!

Ông quay mặt đi và bước nhanh như chạy.

Hương Giang nước mắt lã chã. Bây giờ cô mới giật mình nghĩ tới cảnh cô đơn. Cô gục đầu vào thím khao khát một tình thương ruột thịt. Cô hỏi ông Thanh:

- Sao ba cháu cứ tự làm khổ mình thế chú?

Ông không biết giải thích thế nào cho cô hiểu được.

Bà Thanh kéo mọi người trở về hiện tại: 

- Me cháu mất đi, còn lại ba căn nhà. Nhà ở phố Hàng Khoai ba cháu nhượng lại cho thím rồi, tiền ba cháu gửi nhà băng Pháp. Vào trong đó bác vẫn sống được. Bây giờ cháu về nhà đây ở đi, chú thím dọn về bên đó. Cửa hàng ở phố Hàng Đào từ nay thím sẽ gửi lại tiền thuê cho cháu. Cũng là ý của ba cháu đấy. Nhưng nếu cháu cần lấy chỗ làm ăn thì cũng giải quyết được ngay thôi vì thím có sạp hàng ở chợ rồi. Thời thế bây giờ chưa biết có buôn bán lâu dài được không?

- Cháu không quen với nghề buôn bán. Thím cứ tiếp tục đi!

 Bao nhiêu năm chờ đợi bây giờ Nhài mới chợt nhận ra tuổi xuân của mình sắp qua rồi. Cô không biết ngày sinh tháng đẻ khi nào. Theo mợ kể lại lúc người ta mang cô tới thì bé Cẩm Nhung còn ẵm ngửa mà nay con bé đã 14 tuổi. Mợ bảo: Lúc đó cháu còm nhom lem luốc lắm, đoán chừng cỡ 14-15 tuổi và người ta gọi là cái Thẻo! Vậy sắp bước sang tuổi… băm… là gái lỡ thì rồi! Hồi anh Nho về nhà, đứa nào cũng đòi làm anh, làm chị. Thi nhau về chiều cao thì Nhài thua nhưng thi nhau về số răng nhiều ít thì anh ta bị sún. Không ai chịu ai nên vẫn cứ mày tao chi tớ. Đến ngày lớn tướng hai đứa mới thẹn thùng cắp sách theo học lớp Bình dân ban đêm. Anh ấy sáng dạ hơn lại dám cả gan trốn việc nhà để học nên Nhài bị chê là dốt chữ. Đành phải làm em thôi! Mối tình đầu đến bây giờ Nhài vẫn thấy nó êm ái ngọt ngào. Cái túi kỷ niệm chứa chan hy vọng mà cũng suýt nữa gây nên điều oan khiên ấy bao lâu nay Nhài vẫn cất giấu kỹ càng cùng với những tài sản quý báu mà cô gom nhặt ky cóp được. Cô thầm ao ước ngày anh về hai đứa cưới nhau thì cô đã có món của cải riêng tư mà hồi trước cả hai đứa chưa bao giờ dám nghĩ tới.

Trong những ngày người đi kháng chiến xa vời nguy hiểm, cô cùng chia sẻ nỗi lo âu phấp phỏng chờ mong của mợ.        

Từ ngày giải phóng, cô lấy túi kỷ niệm ra, lúc nào cũng mang nó bên mình chờ dịp gặp anh ấy trong một sự tình cờ bất cứ ở đâu, cô cũng bày tỏ ngay được tấm lòng son sắt thủy chung với chàng trai tráng sỹ.

Cậu đã nhiều lần nói với cô:          

- Cậu đã gập anh ấy, tiến bộ lắm. Chắc là bận nhiều công việc quá. Nếu như còn thương yêu thì thế nào anh ấy cũng tìm được con thôi.          

Lòng cô khấp khởi. Những người Cách mạng dùng nhiều từ mới lạ lắm, lúc đầu không hiểu nhưng nghe quen rồi lại thấy hay hay. Tiến bộ, cô hiểu nghĩa theo những người sống ở trong thành bấy lâu thì nó là sự thăng quan tiến chức, tới mức nào cô chưa biết nhưng thấy cách cậu nói anh ấy có vẻ nể vì lắm. Chả lẽ anh ấy lại vượt hơn cả cậu?

Cô tin nhất định anh sẽ tìm về với cô vì anh cũng như cô, có còn ai thân thích ruột rà ở trên đời này nữa đâu. Cả tuổi thơ bơ vơ lưu lạc, có còn ai gần hơn hai đứa đã sống với nhau năm bẩy năm trời với bao nhiêu kỷ niệm hồn nhiên. Nếu không tin cô, nếu không yêu cô thì sao anh gửi lại cho cô cả số tiền lúc ấy với hai đứa là to lắm. Chợt nhớ tới bài thơ suýt nữa làm cô chết oan mà nước mắt cứ tuôn ra.

Cô sẽ được làm vợ – cái nỗi thèm khát nóng bỏng của người con gái từ thuở dậy thì. Cô sẽ được làm mẹ của một lũ con lít nhít suốt ngày cứ  léo nhéo réo gọi Mẹ ơi! – cái nỗi khao khát mỏi mòn một đời người phụ nữ. Cô sẽ có một gia đình ấm êm hạnh phúc không kém gì cậu mợ đây. Càng vui bao nhiêu vào niềm hy vọng cô càng thấy sợ hãi trước sự mong manh của nó.

Theo lời cậu kể thì anh ấy ở không xa đây đâu nhưng sao tin tức cứ bằn bặt thế. Những người cách mạng là có tình cảm tha thiết lắm nhưng họ cũng gan lỳ tướng quân mải mê công việc chứ không giống những người buôn bán làm ăn chỉ chăm chắm lo việc của mình. Như anh Nghĩa ấy, có khi anh đã theo bộ đội ra tập kết ngoài này rồi nhưng đến bây giờ vẫn chưa bắn lời về với gia đình. 

Tết Ất Mùi năm nay là cái Tết hòa bình đầu tiên sau hàng chục năm mong đợi. Tâm trạng người Hà Nội lạ lắm. Vui thì thật là vui vì bao nhiêu gia đình đoàn tụ trong cảnh thanh bình nhưng nỗi buồn vẫn ám ảnh dấm dứt trong lòng vì những người đi mãi mãi không về và bây giờ bao nhiêu người lại dứt áo ra đi không dám hẹn ngày trở lại. Nhưng khung cảnh tươi xanh rực rỡ của ngày xuân vẫn làm cho lòng người hớn hở tạm khuây đi những nỗi buồn. Người người nườm nượp đi sắm Tết.

Chợ Đồng Xuân rầm rập bước chân, hầm hập hơi người. Người mua chen chúc như nêm. Người bán khàn giọng mà vẫn dài cổ rao hàng. Bà Thanh nghỉ cửa hàng nhưng sạp chợ để cho Nhài và Cẩm Nhung đứng bán. Nhài đứng trên sạp hàng mãi tít trong sâu. Cẩm-Nhung đứng khuất phía dưới trông coi hàng hoá. Hết tốp người này đến tốp người kia chụm lại xem hàng.

- Mời ông bà anh chị mua đi, chuyến hàng vải ngoại cuối cùng từ Bom Bay mới nhập về. Vải soa bền nõn, màu sắc nền may áo dài đẹp lắm! Các anh bộ đội, các chị cán bộ mua đi. Vải pơpơlin pha cốt tông Pháp mịn màng may áo sơ mi mặc mùa hè thì mát, mùa đông thì ấm! Vải titso, titsuy Anh, gabadin, kaki Mỹ vừa đẹp vừa bền, may comlê mặc Tết hoặc may bộ đồ Tôn Trung Sơn rất đứng…

Hương Giang cùng với mấy bạn lúi húi xem hàng chợt ngước lên, nhận ra người quen cô vội cúi xuống tránh mặt dắt cô bạn bước đi. Mấy anh bạn nghe lời chào hàng quảng cáo thấy lạ cùng ngước lên nhìn. Nhài đứng trên cao nhễ nhãi mồ hôi, giọng khàn đặc mà nét mặt vẫn cố tươi lên. Cô nhìn xuống chỗ mấy anh chị mặc đồ bộ đội và cán bộ đứng chen lẫn lộn. Bốn mắt nhìn nhau như có luồng điện giật, cả hai đều ngẩn người ra. Nhài há miệng định kêu lên thì anh cán bộ ấy kịp giơ tay kéo mũ chụp xuống quay ra và bước đi thật nhanh. Sau phút bàng hoàng, Nhài bước lên xấp vải ló đầu ra lắp bắp mấy câu: 

- Anh Nhỏ… Anh Nho!                          

Mấy người đó lẫn ngay vào đám đông. Cô còn nhận ra một anh trong số đó chạy lên vỗ vỗ vào vai người ấy như nhắc rằng có người gọi kia nhưng không thấy anh ta ngoái lại. Nhài ngồi khụy xuống đống vải, người rũ ra. Mấy bạn hàng tưởng cô trúng phong xúm lại thoa dầu xức gió. Cô không gượng được nữa.

Hai chị em phải đóng sạp hàng về nhà. Cẩm Nhung lo lắng mách:

- Chị ấy bị cảm mợ ạ!                    

Nhài nằm vùi đầu trong đống chăn suốt ngày đêm bỏ ăn.

Bà Phán lo lắng chạy thuốc nhưng cô không chịu uống. Bà sốt ruột hỏi chồng:                 

- Tôi định nghỉ ở nhà vợ chồng vui cái Tết này nhưng con Nhài nó ốm đột ngột quá!

Bà nói chưa hết lời thì ông đã hiểu ý gạt đi liền:

- Thôi, mình ở nhà nghỉ ngơi cho khoẻ, con nó cũng được chơi. Đủ ăn đủ mặc là được rồi, giàu có để làm gì, của giữ  có được đâu.

Nể chồng, bà cũng phải theo nhưng trong dạ bà cồn cào xót ruột: Cả năm mới có một dịp này, làm mấy ngày ăn mấy tháng. Nhà con cái một đàn. Của do mình làm ra bằng mồ hôi công sức sao không giữ được? Bà thở dài nhìn ông.

Ngày đầu năm mới, ông bà Thanh đến chúc mừng anh chị giáo.

Vừa thấy hai người bà giáo chạy ra tận cổng mừng rỡ đón chào, vừa cầm tay em dâu dắt vào nhà vừa nói những lời chân tình cảm động:

- Ôi dào ôi, quí hoá quá! Đầu năm ăn cơm mới nói chuyện cũ, vợ chồng tôi nhắc tới chú thím luôn. Bao năm lao đao vất vả, ở nhà thì thím giúp đỡ tôi mấy đận khó khăn. Ở trên chiến khu thì những lúc ông ấy thập tử nhất sinh đều có chú. Nói là ơn nghĩa thành ra người khách khí nhưng cái tình ấy có gì quý bằng đâu – Bà nâng chén nước mời khách quý rồi lại xuýt xoa:

- Kể ra thì tôi không được như thím. Ấy là cái lỗi của tôi với chồng! Nhưng Trời Phật ông bà cũng thấu hiểu cho. Có nước thì phải có nhà, ông ấy tài ba thì lo toan việc nước, mình đàn bà kém cỏi thì gánh vác việc nhà. Bây giờ với ông ấy việc nước tuy chưa tròn nhưng đã có nhiều anh em gánh vác. Với tôi tuy phụ mẫu đều khuất bóng nhưng đã thay chồng làm tròn được đạo làm con, tất cả họ mạc xóm làng chứng giám, ông ấy không phải ân hận điều gì. Con cái bầy đàn, số sinh số tử bằng nhau! Ba đứa sống sót nay cũng bằng sào bằng gậy cả rồi, đường đi nước bước thế nào có ông ấy chỉ vẽ cho chúng nó. Tôi bây giờ là phải được gần gũi chăm lo hầu hạ ông ấy cho bù lại những ngày kẻ sau cánh cửa người ngoài chân mây. Vợ chồng khi ra khi vào sớm tối phải có nhau.

Chả là ông có tiêu chuẩn cán bộ cấp cao, được có người phục vụ riêng nhưng bà nhận lấy. Dù là con nuôi cha cũng không bằng bà chăm ông. Bà tự nguyện dâng hiến cho ông tất cả gần hết đời rồi, bà chẳng đòi hỏi gì nữa nhưng tổ chức cũng phải coi bà như một nhân viên có trong biên chế.

Hai ông chỉ biết ngồi nghe và chịu thua cái tài cái trí của người đàn bà ít học quê mùa chân chất mà lớn gan này. Ông giáo đem cây điếu cày ra, anh em cùng rít. Lâu ngày ông Thanh mới gặp lại người bạn tương tri nên ông mê mẩn với những tiếng rít nao lòng. Xưa kia ông đã lạnh nhạt với thuốc điếu để nặng lòng với cái điếu bát. Sau này ông lại phát hiện ra rằng hút thuốc điếu cày còn đậm đà, đằm thắm và khoái cảm hơn. Nhưng từ ngày về thành ông cũng nể vợ không dám rước nó về nhà. Lâu lắm hai anh em ông lại có dịp cùng nhau tương đắc, cái điếu cày càng hợp với tình cảm thắm thiết lúc này. Bà Phán  nhìn chồng: miệng ông ngập trong ống điếu, đôi má ông hóp lại hít hà mê mẩn không còn biết đến mọi người chung quanh rồi ông ngửa mặt lên trần dõi con mắt nhìn làn khói thuốc như hồn ông đang lửng lơ đâu đó trong khi cây điếu run run giữa lòng tay ông nắm chặt. Ông chợt nhận ra ánh mắt của vợ liếc nhìn mình trong cái dáng lả lơi buông thả, vội chỉnh lại tư thế ngồi lên ngay ngắn, dúi tay tiếc rẻ dấu cây điếu dưới bàn. Ông anh hiểu ý nói gỡ cho em

- Không sao, anh em chúng tôi tự nhiên như thế quen rồi!

Bà giáo đỡ lời thêm: 

- Thím chưa quen đấy thôi chứ nhiều khi các ông ấy mải mê vui chuyện là tôi cứ phải lau nhà xoành xoạch…

Bà Phán vẻ không hài lòng than thở:      

- Hôm đi với nhà em lên Sở Thương nghiệp hỏi về việc đăng ký môn bài kinh doanh thấy các ông ấy nhốn nháo người đứng người ngồi, cái điếu cày như khẩu súng thần công chễm chệ đặt giữa bàn, mọi người tự nhiên thay nhau hút thuốc, phà khói trong phòng, thấy tức ngực quá mà cứ phải nín thở chờ cho xong công việc.

Bà quay qua ông anh và cười:                 

- Hôm nhà em dẫn đi xem văn nghệ ở Nhà Hát Lớn cũng nghe thấy tiếng sòng sọc chói tai nhức đầu ấy!

Bà quay qua nhìn chồng than vãn:

- Bây giờ kiếm được một lời xin lỗi, cảm ơn của mấy ông khó lắm!

Ông Phán thanh minh:

- Nhiều lúc nhớ ra định nói nhưng thấy ngượng miệng lại thôi.

Vợ ông lắc đầu:

- Em may cho ông ấy mấy bộ com lê toàn hàng vải tốt mà nhà em không chịu mặc! Ngày Tết mà đi đâu cứ xù xù cái áo bông Tàu, sang lắm là bộ ka ki cổ đứng mà các ông gọi là đại cán hay là cái gì… Tôn Trung Sơn thế này.

Bà chỉ vào chồng rồi nhìn xuống chân ông: 

- Nói mãi ông ấy mới chịu xỏ chân vào đôi giầy nhưng xem ra có vẻ vướng cẳng lắm. Ngồi lâu thì phải tháo nó ra.

Ông Thanh lúng túng thọc chân vào giầy, phân trần:

- Bao lâu nay mình sống giản dị quen rồi, bây giờ mang mấy thứ ấy trên người thấy nó trang trọng quá.

Ông chép miệng:

- Anh em mấy người có điều kiện được như mình? Thành thử mặc vào trông không giống ai, thấy kỳ quái làm sao!

Bà Phán thở dài:

- Dần dà rồi thành phố này không khác cái chợ quê!

Bà giáo vốn là người của ruộng đồng, không giấu lòng mãn nguyện:               

- Cái dinh này trên chia cho hai nhà ở. Tôi nhận ở tầng dưới tiện có cái sân, bảo thằng cháu nó làm cho cái chuồng gà mình tăng gia sản xuất. Tết này cả nhà sum họp lại có mấy con gà sống thiến ngon đáo để, mời chú thím vui bữa cơm Tết với nhà tôi.

- Tiếc là nhà em không có cái sân !

Ông Thanh xuýt xoa.                    

Bà Phán nhìn chồng cười thương hại:

- Các ông tính toán theo kiểu tự túc tự cấp quen rồi, cuối cùng cũng lỗ hà ra lỗ hổng hết thôi!     

Chuyện ông giáo đa mang đèo bòng ngay cả với bà Phán ông Thanh cũng không hé răng nhưng không hiểu có ngọn gió nào lùa theo khe cửa mách tới tai bà giáo. Bà không trách cứ chồng một lời nào, có ai xì xào đưa chuyện thì bà gạt đi:   

- Ôi dào, cái chuyện đàn ông ham hố gió trăng xưa nay từ bậc vua quan cũng như các ông nghè, ông cống cho đến anh dân đen đầu đặc cán mai kể cả kẻ dở hơi dở hám, có ai dám nói là tránh được nó đâu nào? Nhất là trong cảnh tha hương lưu lạc càng dễ mủi lòng. Chấp làm chi, miễn là chồng mình vẫn thương mình, lo cho các con là được.

Ông giáo lựa lúc vợ chồng tình cảm cũng muốn đưa ra cảnh éo le lỡ trớn của mình để bà rộng lòng cho nhưng bà gạt phắt đi ngay:

- Tôi già rồi, con cái nếp tẻ đủ cả, giá có phước thì đã nên bà, không còn ham muốn gì nữa đâu. Nhưng tôi với ông nên nghĩa vợ chồng cũng là theo ý của tứ thân phụ mẫu. Đạo làm con phải lấy chữ hiếu làm đầu. Không có hiếu thì nói gì tới chữ trung. Khi các người sinh thời thì chăm lo phụng dưỡng, lúc các người khuất bóng thì con cháu còn lại phải giữ được nếp nhà, không làm gì trái điều luân lý. Ấy là lòng hiếu đạo đối với tổ tiên! Tôi ít học chỉ nghĩ được đến thế thôi, nếu sai quấy thì đã có chồng tôi chỉ bảo.

Là người học thức như ông mà cũng không biết ăn làm sao nói làm sao bây giờ. Ông đành để cho nước chảy bèo trôi! Tuy nhiên đôi lúc ông cũng đột kích tìm tới cố nhân và thăm quả phúc của mình. Loáng thoáng sớm chiều bà làm ngơ cho chứ mải vui lấn lứa thì hãy dè chừng.

Cô Bảo Ngọc trở về thành phố thì gia đình người chồng trước đã đem con cô vào Nam rồi, cô bế con nhỏ về nhà cha mẹ. Có lần bà thân chinh tới tận nhà đấy nhưng chỉ đáo qua đảo lại cho người biết bóng bà thôi. Cô Bảo Ngọc từ trong cửa hàng nhìn ra biết là có chuyện, bước ra lễ phép cúi chào:

- Thưa chị! Xin mời chị quá bộ vào nhà cho em thưa chuyện.                                    

Bà chị vẫn nhởn nhơ chân chất:              

- Thưa cô… tôi quê mùa vụng về lạ lẫm đâu dám bước vào chốn lầu xanh (!) gác tía. Tôi đi tìm chồng tôi để nhắc ông nhớ ngày kỵ chạp mà về.

Ông phải vội vã xuất đầu lộ diện dắt xe ra chở bà về.

Một người thuộc lớp chính nhân quân tử, ưu thời mẫn thế, xông pha từng trải mà phải thúc thủ trước người vợ quê mùa từ thuở hàn vi, công danh dang dở! Một tiểu thư sắc nước hương trời, lượt là nhung lụa, đa tình, đa cảm, đa đoan, đành lòng nhận phận đàn em mà không thể nói ra lời!

Chuyện tình ngang trái của hai người râm ran xầm xì trong giới mày râu quan chức ở thành phố nhiều người biết, những lúc vui chuyện kháo nhau, xuýt xoa tiếc rẻ vừa sợ vừa thèm.  

Bà Phán biết được cũng phải chép miệng ứng Kiều: Lạ gì thanh khí lẽ hằng / Một dây một buộc ai giằng cho ra! Rồi bà lục vấn chồng:

- Thế ông em có học được ông anh chút nào không?

Ông Thanh cười hiền lắc đầu tiếc rẻ:

- Bác ấy vừa có tài vừa có gan!                                                      

Nhà Hương Giang như  trạm dừng chân của các bạn bè từ các nơi về thành phố. Phần lớn là các bạn trẻ vui nhộn lắm. Họ mang theo đủ thứ: gạo, mắm, lạc, vừng, con gà, con vịt… cùng nhau nấu ăn như bếp tập thể. Lúc nào vắng bạn cô thấy buồn. Ngôi nhà mênh mông trống trải.

Ngày Tết lại càng buồn tênh. Cô thấy lòng dấm dứt bâng khuâng khao khát một tình cảm gia đình. Cô lấy ra vật kỷ niệm của người yêu: Cuốn sổ lưu niệm có tấm hình anh Vệ quốc quân mũ calô, áo trấn thủ đứng ngoài bìa rừng trên con đường mòn hun hút và một bài thơ chép tay với lời đề:       

“Anh chép tặng em bài thơ của Nguyễn Đình Thi và anh cũng tin rằng ánh sáng của tình yêu và niềm tin không bao giờ tắt:

Chúng ta như hai vì sao

       Hai đầu chân trời lấp lánh

       Trong không gian

mênh mông xa nhau

       Chiều chiều sáng lên ánh sáng

                          không tắt bao giờ

Xuân 1948

Nguyễn Hữu Nghĩa”

Hương Giang áp cuốn sổ trên ngực. Cô nhìn vẩn vơ lên trần nhà tưởng nhớ lại cảnh rừng chiều mờ gió hút. Cô đặt chiếc gối lên ghì chặt những vật kỷ niệm vô tri ấy vào ngực mắt lim dim miệng thì thầm:

- Anh ơi! Chẳng lẽ chúng ta cứ mãi mãi như hai vì sao lấp lánh trên trời mênh mông xa nhau? Em… sợ lắm!

Không hiểu sao nước mắt cô tuôn chảy đầm đìa. Cô ngồi dậy và chợt nhận ra kẹp giấy anh bạn Trần Quyết Tâm nhờ cô giữ hộ vì anh thường phải đi lưu động đó đây. Cô lật tấm bìa, thấy tờ lý lịch cá nhân, không kịp suy nghĩ, tự dưng cô tò mò đọc. Càng đọc, cô càng cảm thấy cuộc đời anh bạn thật phong trần và từng trải: Anh không biết rõ lai lịch gốc gác mình ở đâu nhưng từ lúc lớn lên, anh đã thấy cảnh cha mẹ phải trốn con vì không muốn nhìn thấy cảnh cả nhà đều chết đói! Anh một mình bơ vơ lăn lóc ở đất Hà thành. Anh làm đủ nghề để sống. Trong cảnh cơ cực ấy anh sớm nhận ra và căm ghét bọn thực dân, phát xít cướp nước cùng bọn vua quan, nhà giàu bán nước. Anh được các anh chị thợ thuyền dạy cho biết chữ và giác ngộ lòng yêu nước và yêu giai cấp cần lao. Anh không ngần ngại đi theo Cách mạng dù lúc đó anh còn nhỏ tuổi, anh nhận các công việc dễ che mắt địch như làm liên lạc hoặc cất giấu và rải truyền đơn. Đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công thì anh là một trong những người thuộc lớp đầu tiên xung phong Nam tiến trong Chi đội anh Quốc Dũng. Cái tên đang dùng chính là do người Bí thư Chi bộ ấy, đã kết nạp anh vào Đảng đặt cho với ý nghĩa: Không khó khăn nào mà người Cách mạng không vượt qua được một khi họ có Quyết Tâm! Sự hy sinh của những người như Tiểu đoàn trưởng Quốc Dũng, Trung đoàn trưởng Vi Dân luôn thôi thúc anh chiến đấu với tinh thần của người chiến sỹ Cộng sản không hề nao núng trước uy vũ của kẻ thù. Những năm lăn lóc ở chiến trường cho anh nhận ra sức mạnh to lớn của tình đoàn kết quân-dân cùng một lòng yêu nước thì khó khăn nào cũng vượt qua được và không kẻ thù nào thắng nổi. Anh đã có thời gian dài sống gần gũi với nhiều chiến sỹ cách mạng lão thành và những người trí thức yêu nước tiêu biểu và học được ở họ ý chí chiến đấu kiên cường, tính khiêm nhường trong sinh hoạt nhưng nghiêm khắc trong nguyên tắc. Đời anh nếu không có Đảng sẽ thật là tăm tối! Đảng đã cứu anh, đã chỉ cho anh rõ đâu là bạn và đâu là thù, chỉ cho anh con đường tranh đấu tới tương lai tươi sáng cho những người lao khổ trong đó có anh. Anh tự hào được đứng trong đội ngũ của giai cấp cần lao tiên tiến và anh đã thật sự thành NGƯỜI hữu ích cho Nhân Dân, cho Tổ Quốc!

Hương Giang thật không ngờ bấy lâu nay ở bên cô là một người bạn có cuộc sống từng trải, ly kỳ mà kín đáo như thế.        

Cô Hoa than thở với ông anh:

- Hòa bình yên ấm rồi mà thằng chồng em nó muốn bỏ đi!                    

Ông Thanh suy nghĩ rồi khuyên em:       

- Nếu cô còn thương yêu thì đi theo nó. Nếu cô muốn thoát cái gông trên cổ hãy để cho nó muốn đi đâu thì đi.     

- Nhưng em còn một đàn con.                 

- Trước đây nó có giúp cô nuôi được đứa nào không?

- Nó chưa nuôi nổi cái mồm của nó!

- Thế thì chuyện vợ chồng tùy cô định liệu!

Cô Hoa để mặc cho nhà thơ ăn tàn phá hại ấy ra đi tưởng như mình thoát nạn dù rằng trong lòng cô xót cho bầy trẻ không cha.  

Cô cũng đâu hiểu được những uẩn tình trong lòng anh chị.

Gần một năm trời vợ chồng đoàn tụ, lúc đầu là mừng nhưng dần rồi có những điều hai người không thể nói cho nhau hiểu được.

Ngày xưa đi làm ông nuôi cả nhà, còn bao đồng anh em con cháu được. Bây giờ là cán bộ tiếp quản, được cấp sinh hoạt phí, ông không dám nói ra với bà. Bà cũng không hỏi đến làm chi vì bà biết những ông công chức ở lại với chính quyền mới gọi là viên chức lưu dụng vẫn được bảo lưu lương cũ đến hết hai năm hiệp định, số lương ấy gấp chục lần lương của chồng bà. Những người kháng chiến chịu lắm thiệt thòi nhưng có điều là các ông ấy vẫn dửng dưng! Thật lạ đời,  từ cổ chí kim ông bà vẫn bảo thời nào quan càng ít thì dân càng sướng. Bây giờ không có vua, không có quan, chỉ có cán bộ thôi! Ai cũng là cán bộ, thật là nhiều! Họ đã nghèo nhưng không ai thích bươn trải suy tính xoay xở làm ăn, chỉ chờ Nhà nước lo cho! Ngày xưa được tiếng là ông Phán, ông Tham, ông Tuần, ông Phủ nhưng nếu không dựa vào của giả do ông bà cha mẹ để cho thì cũng phải có tay bà vợ tần tảo tháo vát mới mong được dư dả, có chút của ăn của để phòng thân. Bây giờ người ta không thích những ai có nhiều ruộng đất, có nhà máy, cửa hàng, cửa hiệu. Dường như họ cho việc buôn bán kinh doanh là xấu! Chồng là cán bộ, vợ là con buôn coi sao tiện! Xưa nay người làm ra thứ này thứ nọ giao cho người buôn bán đến tận tay người dùng rồi từ đó lại làm ra thứ này thứ khác. Cái vòng đời là thế. Mỗi người tùy hoàn cảnh của mình lo làm ăn xoay xỏa. Gian ngay là tùy theo tâm đức của mỗi người nhưng đều là tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ ! Bây giờ lúc nào người ta cũng hô hào mọi người phải lao động mà sống. Bà không hiểu cái nghĩa lao động ý sâu xa người ta định nói là gì, nhưng đời bà từ khi bước khỏi cửa nhà cha mẹ là đã phải làm lụng lo toan, lao tâm khổ tứ, nhiều khi mất ngủ quên ăn, đau đầu nhức óc mà cha mẹ chồng con cũng chẳng có hay. Vậy mà cơ ngơi sản nghiệp đâu đã là gì. Chỉ cần ngưng cái chân, nghỉ cái tay ít ngày là miệng ăn núi lở, những gì chi chút được bấy nay sẽ mọc cánh bay đi. Rồi chồng con lấy gì để sống? Chẳng lẽ kéo nhau lên ngàn cuốc đất đãi sỏi mà ăn! Như con bé Hương Giang này thật lạ lùng. Phố vải Hàng Đào xưa kia sầm uất lắm. Vải vóc tơ lụa nội ngoại Á Âu xấp đầy, màu sắc cứ rực lên vui mắt lắm. Trong số gần trăm cửa hàng có tới hai phần ba là của người Ấn Độ. Khi Hiệp định ký xong là họ bỏ đi Nam. Số cửa hàng của người Việt mình cũng hơn nửa bỏ đi. Lơ thơ còn hơn chục cửa hàng thôi mà bán chậm lắm. Người vãng lai thì nhiều, người mua thì ít, hàng hoá bán hết là không có nguồn cung cấp nữa, cứ tóp teo đi mà môn bài thuế má ngày càng là gánh nặng. Bà giao lại cửa hàng cho nó thì nó cứ nguẩy nguẩy, đến lúc bà phải đóng cửa hàng trả lại nhà thì nó bảo bà giao nhà cho Chính quyền quản lý! Ai cũng không thích làm ăn, cứ yên tâm làm cán bộ với đồng lương chưa đủ để nuôi thân thôi!

Đến lúc bà phải nói thật với ông : 

- Nghe người ta nói hết ba trăm ngày là không còn chuyện thông thương Nam Bắc nữa, chờ hết hai năm sẽ có Tổng tuyển cử thống nhất Bắc Nam. Tôi thấy năm nay buôn bán sa sút quá mà con cái thì đông, một mình tôi không kham nổi. Mình cho tôi vào trong ấy xem sao. Vợ chồng xa nhau cả chục năm còn được huống chi là một hai năm. Sau đó xem nơi nào dễ làm ăn thì gia đình mình hợp lại.

Thật là điều nan giải với ông. Gần chục năm đi kháng chiến, chỉ cần cái balô trên vai, thậm chí không mũ không giầy cũng được, một thân mình chẳng lo chi, sống chết chẳng cần gì, với gia đình chỉ là tình thương và nỗi nhớ. Bây giờ đoàn tụ thì ông bất lực, ông không thể làm người chủ gia đình được nữa vì ông không lo được cho ai. Đất nước hoà bình phát triển là chuyện tương lai, phải lo những chuyện hàng ngày thiết thực trong nhà do một tay bà cáng đáng nên bà phải tính và ông phụ thuộc vào bà. Ông thở dài:         

- Thế các con thì mợ nó tính sao?

- Tôi tính trước cả rồi. Hai đứa lớn cần sự dậy dỗ của cha, ở với cậu. Vả lại con gái đã lớn, nó thay tôi lo được cho mình. Hai đứa nhỏ còn cần mẹ, tôi lo được. Mấy năm nay tôi gom góp được ít vốn, vào trong đó có cơ sở làm ăn. Tôi đã chuẩn bị trước cho ba cha con rồi, sau này tôi sẽ phụ trợ thêm. Mấy súc vải kia cha con dùng chục năm chưa hết. Thời nào cũng thế, đồng lương viên chức khá lắm chỉ đủ ăn, không buôn bán tần tảo thêm thì vẫn là chật vật.

Dù không ai muốn cảnh chia ly nhưng phải đành lòng chấp nhận.

Ông bà âm thầm chuẩn bị không cho ai biết ngoài Hương Giang ra.

Nhài một mực đòi đi theo bà.

Cô vẫn giấu kín chuyện riêng ngày ấy vì nói ra càng tủi thân thêm. Những năm tháng đợi chờ, mấy bạn hàng thấy cô giỏi giang cũng đánh tiếng với bà Phán xin được làm thân cho con cháu họ nhưng cô đều từ chối. Bà Phán biết rõ uẩn tình nên ủng hộ cháu nói đỡ lời cho người ta khỏi sượng. Bây giờ đã thành gái già rồi, chẳng lẽ nói ra cái điều bị người phụ bạc thì còn ra thể thống gì, phải người hẹp hòi họ cười cho. Thôi, coi như người đi không bao giờ về nữa! Nhưng trong lòng cô đắng cay đau khổ dầy vò. Cô tin vào mắt mình không thể nào nhầm được. Cái phút giây ấy cô thấy run lên tưởng như được sa vào lòng anh ấy. Thế mà người ta lại giấu mặt và bỏ đi như chạy! Vì sao? Vì mình là con buôn, người ta là cán bộ. Họ đi với nhau một đoàn cả trai và gái. Mình không còn xứng với người ta nữa! Chỉ người con gái kiên gan bị vỡ mộng vàng mới thấu hiểu được lòng cô.                  

Bây giờ cô thật sự bơ vơ trên cõi đời này. Gia đình này đã thành gia đình của cô. Ở đây cô được sống, được lo nghĩ tới tương lai nhưng không được như mong muốn là vì cái số mình cô quả. Cô muốn tránh xa mảnh đất này cho quên đi nỗi buồn, lỡ gặp người ta lần nữa lòng lại vẩn lên. Chứ làm sao vứt bỏ nó đi! Nó nằm sâu mãi trong tâm khảm như vật gì cồm cộm, đụng vào là đau nhói. Cô thương mợ. Hạnh phúc của gia đình này là điều cô mơ ước khát khao. Sự hợp tan hôm nay là đau khổ lắm với cả hai người cô hằng kính trọng. Mợ ra đi là để mưu sinh. Cậu ở lại vì cái chí của mình.

Bà Phán thương Nhài. Từ ngày nó về quê rồi long đong đi tìm ông bà. Lúc về thành nó đỡ đần bà bao nhiêu việc, mợ cháu hiểu nhau, nó là người tin cẩn tay hòm chìa khoá vì các con bà còn bé. Bà nôn nóng cho nó lắm nhưng đến bây giờ thành con gái lỡ thì rồi. Bà than thở với ông:

- Khổ cho con bé chưa lấy chồng đã như goá bụa rồi!

Ông biết rõ chuyện này nhưng không tiện nói ra. Cô Thảo Tâm sau ngày bộ phận nuôi dưỡng tù binh giải thể, cô được trả về đơn vị gốc. Tổng Đội dân công hoả tuyến cũng tứ tán rồi, cô về quê cũ nhà xưa. Ở đấy đang rục rịch Cải cách ruộng đất nên người ta quản lý chặt chẽ những gia đình địa chủ không cho chạy trốn hay tẩu tán. Địa phương không biết cô Thảo Tâm bấy lâu đi đâu bây giờ tự dưng xuất hiện trở lại, thành ra người ta nghi kỵ. Cô Bảo Ngọc biết chuyện. Ông Trịnh bảo cô tìm đến chú Thanh.

Ông Thanh biết ông Bí thư Chi bộ Lý Qúy Dân hiện đứng trong cấp ủy địa phương và đang cùng với anh Trần Quyết Tâm trong Đoàn ủy Cải cách ruộng đất ở vùng ấy. Ông với Hương Giang lặn lội tới tận nơi lo cho cô. Tình cờ gặp cả cô Ngọt gan vàng với đứa con gái còn ẵm ngửa. Khi đơn vị giải thể thì kết quả của mối tình chiến binh bốc lửa ấy không còn giấu nổi ai! Dù là có gan vàng nhưng cô xấu hổ không dám về quê nữa. Cô tìm gặp Thảo Tâm khai thật tình cảnh của mình:

- Chị ơi! Tình cờ chúng em gặp nhau bên bờ suối. Anh ấy buồn lắm và nói đánh trận này chắc chết mà không nhắm mắt được vì nhà anh không còn người nối dõi! Bỗng dưng em thương qúa. Anh nắm chặt tay em. Chân em cứ bước theo mà không biết ai dắt mình đi đâu. Nào ngờ phút chốc mê mẩn hốt hoảng ấy mà thành sự! Em không kịp biết tên và quê anh ấy ở đâu. Nếu còn sống anh sẽ tìm em. Bây giờ cho em  đi theo chị!        

Ông Thanh hiểu điều gì đang chờ cô gái dạn dày sôi nổi ấy. Cái được thỏa mãn ồn ào chốc lát dễ nói ra. Cái mất ngấm ngầm kể không bao giờ hết! Ông giãi bày cảnh ngộ của cô với ông Bí thư Chi bộ:

- Cô ta đáng thương hơn đáng trách. Con bé mồ côi ngay từ trong bụng mẹ nhưng không thể để nó bị coi như một đứa con hoang! Sự hy sinh của anh bộ đội đủ xóa đi tất cả những định kiến khắt khe và những lời đàm tiếu vô tâm vô cảm!

Và ông qủa quyết:

- Là người phụ trách trực tiếp, tôi làm giấy chứng nhận đã đứng ra tổ chức đám cưới cho cô dân công hỏa tuyến Bùi thị Ngọt với anh bộ đội…

Ông chau mày nhớ lại lúc ông gặp mấy anh bộ đội túm tụm ở bên bờ suối khâu cái bàn chân nẻ toác cho một anh đang cắn chặt răng mặt mày nhăn nhó:

- Ờ… Phải rồi! Anh bộ đội tên Tý!

Chợt nhìn thấy ông Bí thư chiếc điếu cày trong tay run run, miệng thả làn khói đặc, mắt lim dim mơ màng, vẻ mặt thỏa thuê, ông Thanh cười hóm hỉnh:

- Ừ… Lý!… Lý Tý… Lý Tiến Tý… trong thời gian phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ!

Nhìn người bạn già, giọng ông trầm xuống thiết tha:

- Anh là cán bộ quản lý cấp trên xác thực tư cách của tôi. Thế là con bé được có cha và mẹ nó có chồng đàng hoàng tử tế! Theo tôi, anh hãy nhận là cha đỡ đầu con bé, biết đâu anh sẽ có con!

Thảo Tâm và Hương Giang ủng hộ nhiệt tình, nói thêm vào :

- Đúng rồi… Họ Lý! Đặt tên cho nó là… Lý… Thảo Nguyên đi. Hay đấy!

Ông Bí thư Chi bộ dù là người vốn rất nguyên tắc nhưng trong trường hợp này không thể đành lòng làm ngơ được.

Thế là Thảo Tâm và mẹ con cô Ngọt được thoát ly chốn quê buồn lên thành phố.                             

Bây giờ ông nói động viên cho vợ vui lòng:

- Chuyện vợ chồng là cái duyên cái số. Trai thanh gái lịch, không lấy người này thì lấy người khác cần gì!

Bà bực mình nói bênh:

- Đời người con gái có thời. Gái lịch như nó bây giờ chỉ lấy người luống tuổi goá vợ thôi. Không dưng hứng lấy một đàn con cho nó!

Bến cảng Hải phòng ngày 13 tháng 5 năm 1955…

Những chuyến tàu cuối cùng chở binh lính quân đội Liên hiệp Pháp và đồng bào di cư vào Nam thay nhau rời bến. Người tiễn thì ít, người đi thì nhiều. Cảnh buồn thảm thiết. Trên boong một con tàu lớn chở thường dân, tấm hình Đức Mẹ nét mặt rầu rầu nhìn bầy chiên ở lại. Người ta đồn đại rằng thấy rõ mi mắt Mẹ chớp chới, đau đớn nhìn các con như muốn gọi: Hỡi các con, hãy đi theo Mẹ!

Hương Giang mới đi vận động chống cưỡng ép di cư ở vùng công giáo trở về. Cô bực lắm:     

- Chú thím thấy không, khi mới sang xâm chiếm nước mình, họ dựng lên chuyện Đức Mẹ hiện hình để mị lòng người. Bây giờ phải cuốn xéo, họ lại bày chuyện Đức Mẹ giận dỗi bỏ đi để người ta hoảng sợ. Thần linh cũng bị lợi dụng, họ dùng xảo thuật khoa học để đánh lừa những người nhẹ dạ cả tin. Kinh Thánh dậy rằng con người do Chúa tạo ra vậy ai cũng là con của Chúa thì sao Chúa nỡ lòng bỏ mặc con mình bơ vơ ?!

Bà Phán rơm rớm nước mắt:         

- Không phải chỉ là những giáo hữu khốn khổ kia đâu. Mỗi người một hoàn cảnh đau lòng lắm. Thím đi vì lẽ riêng của thím. Chúa luôn ở trong lòng thím. Thím tin lời Chúa phán chứ thím không nghe ai cả!

Sợ thím buồn, Hương Giang lảng sang chuyện khác:                     

- Hôm nay gia đình bác Tuần cũng xuống đây tiễn mẹ con chị Cả vào Sài Gòn rồi sang Pháp. Để cháu tìm lại đây cùng đi cho thím vui có bầu bạn.

Ông Thanh ôm khư khư bé Bích Liên trên tay. Hai đưá lớn ôm lấy mẹ trong khi thằng Nhân Tín níu tay cậu kỳ kèo:

- Đi đi cậu! Đi với các con đi cậu…                  

Cảnh này không biết bao giờ mới rứt được ra. Bỗng có người chạy ào  tới gọi lớn như reo lên:

- Ôi… Anh chị Thanh… sao lại xuống đây?

Nhận ra người đàn bà trẻ lễ mễ tay bồng đứa bé chừng 4-5 tuổi, tay xách cái valy to tướng, ông Thanh vội vã chạy tới đỡ chiếc valy và tỏ ra vừa ngạc nhiên vừa ái ngại:

- Cô Thêm! Sao chỉ có hai mẹ con thế này?                                   

Chạm đúng nỗi buồn, tủi thân không cầm lòng được, cô ôm chầm lấy bà Phán mà khóc lên nức nở:  

- Thầy đẻ em nhất quyết không cho đi. Em phải bế con trốn khỏi nhà và đi nhờ xe của một người quen, vừa mới tới đây!

Sau ngày Hà Nội nổ súng kháng chiến, phố phường tan nát, hàng xóm mỗi người mỗi ngả. Cô Thêm bị giặc bắt giam cầm. Gia đình cụ Ba Xe tản cư về quê ít ngày rồi nóng lòng hồi cư sớm, chạy vạy lo lót cho con. Nhờ một người quen giúp đỡ nên cô Thêm được phóng thích dễ dàng. Cũng cảm cái ơn ấy mà sau này khi gia đình bên kia đánh tiếng muốn xin cô Thêm về làm dâu thì các cụ cũng dễ xuôi lòng, chỉ có điều phân vân ở chỗ anh ta là sỹ quan quân đội quốc gia! Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, thanh niên học sinh sống ở trong thành, lớn lên bị đưa vào Trường sỹ quan vẫn còn hơn là bị bắt lính đưa ra trận mạc. Vả lại gia đình người ta cũng là chỗ đàng hoàng tử tế, chẳng qua gió chiều nào phải che chiều ấy thôi. Con gái có lứa có thì, kén cá chọn canh mãi coi chừng là xôi hỏng bỏng không rồi con mình khổ. Chỗ hàng xóm tình xưa nghĩa cũ, anh em vẫn quí mến nhau, ông bà Phán vẫn kính mến các cụ như bậc bề trên, lâu lâu cũng có qua lại thăm hỏi nhưng sự tình cụ thể của mỗi gia đình thì lúc này mới bất chợt nhận ra. Cô Thêm còn trong tâm trạng bứt dứt dày vò:

- Chồng em là sỹ quan, đâu dám ở lại. Anh ấy và cả gia đình đã vào Sài Gòn và nhắn em vào. Thầy đẻ em đã già, lại chỉ có em là con gái sống kề cận bấy nay nên các cụ không muốn cho đi, bảo em nán chờ hai năm nữa tổng tuyển cử, nước nhà hoà bình thống nhất thì vợ chồng đoàn tụ ở đâu chẳng được. Thật ra trong thâm tâm, các cụ vẫn hận lắm trước cái chết của anh Năm em. Chị em đi kháng chiến về cũng dọa sẽ tuyệt tình nếu em cứ bỏ nhà mà đi theo giặc! Bên tình bên hiếu, một năm nay em lưõng lự nửa ở nửa đi, nhưng con em mỗi ngày một lớn, không dưng để cho nó mồ côi cha là em có tội. Thôi thì thuyền theo lái, gái theo chồng, em đành chịu tiếng bất hiếu. Cầu mong thầy đẻ xá tội cho em. Còn mọi người hiểu em thế nào là tùy ở họ. Mà sao mọi hận thù cứ trút vào tôi?!

Cô gục đầu trên vai bà Phán mà nước mắt lã chã chảy ra ướt đầm một bên vai bà chị.   

Bà Phán không nén lòng được nữa cũng sụt sùi theo, ngậm ngùi chung một nỗi đoạn trường với người em gái. Cũng may bởi quá xúc động mà cô không hỏi lại nên bà khỏi lâm vào cảnh khó nói. Vừa lúc ấy, Hương Giang kéo cánh nhà ông Tuần ồn ào đi tới. Ông Tuần mắt đỏ hoe dắt đứa bé trai, bà Tuần dắt đứa bé gái tay kia lau mắt. Hai đứa bé trên dưới mười tuổi bụ bẵm ngơ ngơ ngác ngác. Vợ anh Phan Lê Tôn giải thích:               

- Dạo hồi cư về thành, cháu theo bạn bè vào Sài Gòn buôn bán, ít lâu sau qua Marseille mở quán ăn. Bây giờ có Hiệp định, nhân dịp này đưa các cháu về thăm ông bà, họ tộc kẻo chưa biết bao giờ mới được trở lại quê hương.

Không còn tâm trạng nào để hỏi han chuyện trò, mỗi gia đình đứng thành một cụm nhìn nhau. Không ai biết tương lai sẽ thế nào mà hứa hẹn.

Cô Thêm càng cảm thấy nỗi cô đơn của mình, lòng càng buồn tủi, tay xách nách mang, cô lủi thủi bước xuống cầu tàu.          

Nhài đứng tách ra một chỗ, nhìn vẩn vơ. Cô cũng không hiểu mình đi để làm gì nhưng ở lại thì cô sẽ bơ vơ. Bỗng dưng trong lòng cô trào lên nỗi hận, cô bật khóc nấc lên.

Lòng dạ mọi người đang rối bời bời, không ai đến chia sẻ cùng cô. 

Còi tàu rú lên giục giã. Mọi người líu ríu xớn xác dắt nhau ra cầu tàu. Thấy cậu em lễ mễ vác cái hộp giấy, Hương Giang hỏi chị dâu:

- Chị mang cái gì nặng thế?

Chị Cả cười ghé vào tai em:           

- Hồi xưa anh Tôn thích ăn canh cua lắm và chị đã nhiễm thói quen của anh cô. Qua bên ấy cua thì có nhưng chỉ dùng máy xay thôi. Chị xin ông bà cái cối đá đem đi vừa như  một kỷ niệm về anh vừa hợp với sở thích của mình!

Tiếng còi tàu cáu kỉnh thét lên ý không đợi nữa.

Người đi lên hết trên tầu.

Ông Thanh trao con cho vợ. Bà bế con chạy vào trong khoang. 

Ba cha con hối hả quay lên bờ vì chiếc cầu tàu rập rình xếp lại.

Sau lưng ông tiếng thằng Nhân Tín thét lên:

- Cậu ơi!… Cậu ơi!

Ông không dám quay lại vì phải choàng tay ôm chặt hai đứa con trên bờ cũng đang nức nở gào lên:

- Mợ ơi!… Mợ ơi!                          

Người dưới tàu đứng chụm lại trên boong.

Người trên bờ dồn lại từng tốp.

Tiếng còi tàu rúc liên hồi trong khi con tàu lạnh lùng nhúc nhích tấm thân đồ sộ lừng lững lùi ra xa bờ.

Tiếng người hò gọi nhau bỗng ào lên lẫn những tiếng khóc biệt ly thống thiết không phân biệt được tiếng người trên bờ hay dưới tàu nữa.

Những tiếng ấy nhỏ dần rồi lắng xuống.

Chỉ còn những bàn tay như những chiếc lá rung rinh phơ phất.

Những bàn tay… những bóng người… mờ dần rồi nhòa vào thành một nét xổ ngang trên boong tàu…

Một khối đen đen hình chữ nhật nhỏ dần…     

Cái bóng ấy nhạt nhòa mờ xa và lẫn vào cuối chân trời…         

                      

Viết xong tháng 3 năm 2005

Tại Thành phố HỒ CHÍ MINH      

Chỉnh sửa có bổ sung tháng 12 năm 2015

 

 

Tác giả

NGUYỄN VĂN THỊNH

 

_______________________________________

Tiểu thuyết

PHÚT THĂNG HOA

Tác giả: NGUYỄN VĂN THỊNH

  Địa chỉ: 08/38 943279 – 01278 505858

   NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN

- 2005 -

 

Chịu trách nhiệm xuất bản:

MAI  THỜI  CHÍNH

Biên tập: NGUYỄN CÔNG BÌNH

Họa sỹ trình bày: HÀ GIANG

Sửa bản in: TÁC GIẢ

   In 600 cuốn – Khổ 13 cm  x 19 cm

XN in GIA ĐỊNH–9D Nơ Trang Long Bình Thạnh

TP. Hồ Chí Minh – ĐT: 08/38412644.

Đăng ký kế hoạch xuất bản Số: 332/455

 Do Cục xuất bản cấp ngày 01 tháng 3 năm 2005.

In xong ngày và nộp lưu chiểu tháng 7 năm 2005

 

 

Link http://sachhiem.net/VANHOC/N/NguyenvThinh_PTHj.php

ngày 24-Dec-2016

Trang Văn Học