PHÚT THĂNG HOA

- tiểu thuyết -

Nguyễn Văn Thịnh

CHƯƠNG SÁU

Ga Hàng Cỏ một ngày cuối thu. Cái se lạnh vừa tan đi dưới trời hửng nắng.

Hàng ngàn người hồi hộp đón chờ một chuyến tàu.

Đoàn thiếu nhi đồng phục, mũ chào mào, rộn ràng dàn trống ếch, lòng phơi phới hát vang lên:

Bác chúng em đã về… a… a / Bác chúng em đã tới… a… a / Vui vui thích ghê… em thật vui mừng / Mừng quá đi thôi /  Là vì Tổ quốc Bác em ra đi / Bác đi xa vời lòng em mong nhớ / Hôm nay Bác về chúng em rất mừng…

Sau chuyến công du cầu hòa dài hơn bốn tháng chưa từng thấy trong lịch sử của vị nguyên thủ quốc gia nào trên thế giới, ngày 20 tháng 10, chiếc tàu quân sự Pháp Dumont D’Urville đưa Hồ Chủ Tịch cập bến Hải Phòng và hôm nay Người trở về Thủ đô.

Thật hiếm có Nhà lãnh đạo nào có sự gắn kết với lớp trẻ thơ đương thời như vậy. Trước hết bởi bản tính yêu trẻ của Ngưòi. Từ anh thanh niên Nguyễn Tất Thành yêu nước tha hương quên mình lận đận bôn ba tứ xứ, đến lúc về già sự nghiệp mới thành nhưng hãy chông chênh. Nhà lãnh đạo mong muốn lớp trẻ tiếp nối công cuộc của mình.

Với vị đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, người lớn tuổi kính trọng gọi Cụ Hồ đã là một sự phá lệ ở một quốc gia phong kiến hàng ngàn năm. Với lớp thanh thiếu niên, Cụ coi họ như con cháu trong nhà và chọn ngôi thứ nhất cho mình là Bác, nghĩa là như người bạn thân thiết của cha mẹ họ – khi ấy Cụ mới bước vào ngưỡng cửa của tuổi già. Cách xưng hô mộc mạc thân tình dân dã ấy đã xóa đi khoảng cách xã hội xa vời diệu vợi để lớp trẻ đến với Cụ và Cụ hòa đồng với họ. Từ đó lớp trẻ nhận ra một tình thương yêu bao la chân thật toát ra từ người Bác kính yêu. Chuyện kể thời gian dự Hội nghị Fontainebleau: Sau một buổi tiệc Chính phủ Pháp chiêu đãi, các vị quốc khách ra về. Cụ Hồ nhặt trái cam bỏ vào túi đi ra. Chủ nhà ngạc nhiên. Những người tháp tùng ngơ ngác. Cụ vẫn điềm nhiên. Trước cửa khách sạn những Việt kiều và các bạn Pháp đón chào đông lắm. Cụ Hồ chào đáp lễ và bước tới bế một cháu nhỏ lên. Cụ trao trái cam làm quà cho cháu. Cách ứng xử đầy nhân ái và chân tình ở mọi nơi càng làm cho lực hút và lòng tôn kính yêu quí vị lãnh tụ tăng lên nhất là với lớp trẻ thơ.

Những người lớn mong đợi Cụ Hồ về để gỡ ra cho họ những mối lo toan. Ngày ký Hiệp định sơ bộ, lúc đầu cũng lắm hoài nghi: Tưởng thoát được ách nô lệ Pháp rồi mà lại tự choàng vào! Nhưng rồi mọi sự dần sáng ra. Hai mươi vạn quân Tàu đã không còn cớ để lì lợm nằm ì ra mà ăn tàn phá hại nữa. Sau vụ ngày 12 tháng 7, Cụ Quyền Chủ Tịch nước họ Huỳnh cho “đánh” đám Việt gian lâu la phá đám bấy lâu nay ẩn dưới chiêu bài Đảng phái và nấp bóng quân Tàu đã làm cho xã hội bớt rối loạn và mọi người dễ thở.

Nhưng bây giờ bầu không khí lại nóng lên.

Người Pháp đang lấn tới.

Ở phía Nam, ngày 1 tháng 6 họ cho ra đời Chính phủ Nam kỳ tự trị do Bác sỹ Nguyễn Văn Thinh có vợ đầm, vào làng tây làm Thủ tướng! Ông Lưu Văn Lang là người Đông Dương đầu tiên đạt tấm bằng kỹ sư trường Bách khoa kỹ nghệ Paris, giới trí thức Sài Gòn coi như người anh cả, người tây cũng phải nể phục. Sau cuộc binh biến tháng Ba năm 1945, ông được mời ngồi ghế Bộ trưởng Công chính trong chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật nặn ra, ông đã khước từ! Lúc này người Pháp lại cố lôi kéo ông ra nhưng ông từ chối thẳng thừng: “Tôi đã quá già để làm đầy tớ”! Tháng 8 họ lại mở Hội nghị Liên bang Đông Dương có Lào, Campuchia và Chính phủ Nam kỳtham dự. Trong khi đó quân Pháp đã đặt chân ra phía Bắc và ngày càng hung hăng bộc lộ rõ ý đồ xâm lược. Rõ ràng là người Pháp quyết tâm tái chiếm Đông Dương!

Trước khi qua Paris, ngày 16 tháng 3, Hồ Chủ Tịch cử Cố vấn tối cao Nguyễn Vĩnh Thụy và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam thay mặt Chính phủ đi công cán ra nước ngoài để giới thiệu chế độ mới Dân chủ-Cộng hòa và vận động họ công nhận nước Việt Nam độc lập. Cựu Hoàng đam mê phóng đãng dắt theo mỹ nữ Lệ Hà, để lại nơi Hà thành người tình Mộng Điệp chơ vơ với một hoàng nhi trong bụng! Vừa qua Trùng Khánh, phế đế cùng với nhà văn hồn bướm mơ tiên đào nhiệm ở lại Hồng Kông. Người Pháp vội dang taybao bọc. Coi như họ có được con bài tẩy!

Trong tình thế ấy, Hội nghị Fontainebleau không tiến triển được, chỉ nhùng nhằng và cuối cùng đành phải tạm đình lại hẹn sẽ tái diễn vào tháng 01 năm 1947.

Không muốn đẩy đất nước tới sự đối đầu căng thẳng về quân sự với nước Pháp, Hồ Chủ Tịch cố gắng dàn xếp để ký được một Tạm ước vào nửa đêm ngày 14 tháng 9 nhằm hạn chế những hoạt động bạo lực và thù địch của cả hai bên để mỗi bên có thời gian suy nghĩ và sẽ bàn bạc tiếp vào lần họp tới.

Vị lãnh tụ tối cao, người đại diện đầy uy tín cho ý chí độc lập tự cường của dân tộc vẫn là Cụ già ấy trán cao, mắt sáng, mình mai vóc hạc. Vẫn giọng trầm ấm, Người nói ngắn gọn vài lời thăm hỏi đồng bào và kết thúc với những lời tha thiết chân thành:

- Hãy cùng tôi hô to: Tình hữu nghị Việt – Pháp muôn năm!

Những cặp mắt hướng về Người tin tưởng.

Đất nước độc lập rồi. Không ai muốn quay về cuộc đời nô lệ nữa. Nhưng cũng không ai muốn chiến tranh. Với người Việt Nam hoà bình bao giờ cũng là niềm mơ ước. Từ trong lịch sử họ đã thấu hiểu hậu quả như thế nào khi một nước nhỏ buộc phải chống lại một nước lớn để bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ. Mà bây giờ vận nước trong thế gieo neo.

Hàng ngàn năm Bắc thuộc, hàng trăm năm Pháp thuộc, dù là kẻ thứ dân cũng thấm nỗi nhục vong quốc. Nhưng ai cũng biết: từ chữ Hán mà sinh ra chữ Nôm theo mẫu chữ tượng hình và cũng từ người phương tây phát sinh ra chữ Quốc ngữ theo mẫu tự La tinh! Nền văn hóa bản địa cũng từ đó mà được bồi bổ thêm ngày càng phong phú. Giới sĩ phu thuở trước và giới trí thức ngày nay, những người thức thời không hề có tinh thần bài ngoại. Họ chống lại sự nô dịch con người nhưng họ vẫn khao khát vươn tới tầm cao trí tuệ. Các quốc gia ấy dù sao cũng mang đậm dấu ấn của những nền văn minh lớn. Cụ Hồ là người tiêu biểu cho giới sĩ phu ấy thời nay. Cụ có quan hệ thâm tình với người Trung Hoa và cũng nặng nghĩa với nhiều bạn bè bên phía trời Tây.

Sức khoẻ của bà Tham không khá hơn mà tình hình ngày càng căng thẳng. Người ta cảm nhận rõ ràng làn hơi nóng của ngọn lửa chiến tranh đang âm ỉ ngày một tăng nhiệt nhanh hơn.

Ông Tham quyết định cho vợ đáp tàu thủy theo ngả Hồng Kông qua Pháp. Gia đình và các con bà định cư ở bên đó từ lâu.

Buổi chia tay tại nhà hôm nay thật nặng nề. Mặt mày ai cũng ủ ê. Bà Tham  nói trong nước mắt:

- Tôi không muốn đi nhưng ông ấy ép phải đi! Nhà này không có Chúa, không có Phật, chỉ có ông ấy là Trời!

Giọng ông Tham vẫn lớn nhưng nghe não nề đau đớn:

- Đó là tôi lo cho mình! Mình ở nhà thì tôi sướng. Mình đi xa thì tôi khổ!

Bà Phán sùi sụt. Hương Giang khóc nấc lên thành tiếng.

Ông Trịnh Huy từ tốn lên tiếng gỡ rối cho từng người:

- Chị đi bây giờ là đúng lúc. Ít ngày nữa nó sẽ phong toả các cửa biển, không có tàu bè nào đi lại được đâu!

Bà Tham vẫn sụt sùi:

- Có người có ta, một mình mình đâu? Mình cũng già rồi, còn sợ chi chết nữa!

Ông Trịnh vẫn trầm tĩnh:

- Ta đã vận động đồng bào hãy tản cư về các vùng quê xa xôi. Rồi đây phải làm ráo riết hơn. Các nhà máy, công sở cũng phải dời đi. Chỉ còn những người cần thiết ở lại chiến đấu bảo vệ Thủ đô thôi!

Nhà thơ Quý Hoa vẫn tươi tỉnh lạc quan:

- Cụ Hồ tài lắm! Cụ sẽ có cách trói tay trói chân nó lại. Thăng Long phi chiến địa mà!

Ông Phán gạt đi:

- Thăng Long đã từng nhiều lần là chiến địa và có lúc nó thành bình địa. Chỉ có điều là cuối cùng Thăng Long chiến thắng!

Ông Tham đang hận vì nỗi vợ chồng ly tán:

- Muôn sự cũng tại thằng thày tu phá giới D’Argenlieu thôi. Nó như con sói đói tham lam hung dữ! Thật lạ kỳ: Mở đường cho thằng Pháp xâm lược nước ta lần thứ nhất cũng là một thày tu – viên giám mục Béhaine (Bá Đa Lộc)! Một trăm năm sau, cầm đầu một đạo binh lớn Hải-Lục-Không quân tái xâm lược Việt Nam cũng là viên Đô đốc nguyên Tổng tu viện trưởng một dòng tu sĩ! Hàng nghìn năm trước các nước phương Tây đã chẳng dùng đạo quân mang cây thập tự gây cuộc thánh chiến chinh phục phương Đông là gì?

Ông Trịnh đứng dậy. Dạo tháng năm vừa rồi, ông là thành viên trong Đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam được mời qua thăm nước Pháp. Đoàn gồm nhiều nhà cách mạng và trí thức tiêu biểu như: Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Huỳnh Văn Tiểng, Dương Bạch Mai, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Ngô Văn Mạnh, Trần Ngọc Danh… Được sống ngay tại thủ đô Paris dù chỉ một thời gian ngắn ông cũng nhận ra một số điều hệ trọng liên quan đến vận mệnh của Tổ quốc. Ông tâm sự như chỗ người nhà:

- Khi còn là thủ lĩnh các lực lượng kháng chiến Pháp tập hợp ở Bắc Phi, De  Gaulle  đã  tuyên  bố  hoạch  toẹt  ra  rằng: “Trong  khuôn  khổ  đế  quốc Pháp không  hề  có  vấn  đề  các  dân  tộc giải  phóng. Các  dân tộc hải ngoại không hề  biết tới  nền  độc  lập  nào  khác  ngoài  nền  độc  lập  của  nước  Pháp!”.  Chỉ một D’Argenlieu thôi thì làm sao huy động được cả một đạo quân với hàng chục vạn sỹ quan, binh lính cùng mọi phương tiện chiến tranh tối tân và  nguồn tài chính khổng lồ trong khi nước Pháp đang điêu đứng thời hậu chiến? Những kẻ theo chủ nghĩa quốc gia cực đoan ở Pháp còn nhiều lắm và rất có thế lực. D’Argenlieu và các viên tướng cầm quân ở đây như: Leclerc, Valluy, Morlière… đều là những người hợp tác trung thành với De Gaulle và có chân trong Ủy ban giải phóng dân tộc Pháp lúc lưu vong. Bây giờ thì họ cay cú vì nước Pháp của họ bị coi thường dưới con mắt các cường quốc lân bang. Họ muốn vực mau nó dậy. Trước tiên là phải giữ được các thuộc địa đã. Trong một cuộc hội ngộ với các bạn cánh tả Pháp, ngài André Marty – người đã cùng cụ Tôn làm cuộc binh biến trên một chiến hạm Pháp trong Liên quân 14 nước Châu Âu đến can thiệp hòng đè bẹp nước Nga xô viết non trẻ, nay là nhân vật quan trọng của Đảng Cộng sản Pháp, từng thân tình căn dăn chúng tôi: Các đồng chí sang đây để vận động dư luận Pháp và thế giới ủng hộ nhân dân Việt Nam chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp, đó là điều rất cần thiết. Nhưng tình hình nước Pháp còn phức tạp. Chính phủ cực hữu Ramadier đại biểu cho quyền lợi của giới tư bản Pháp còn ngoan cố, nhất định sẽ đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Các đồng chí thu xếp sớm trở về nước để chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài. Bên này chúng tôi sẽ tiếp tục vận động phong trào nhân dân Pháp ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam!

Nhà thơ gặng lại:

- Nhưng còn người Mỹ nữa?

Ông Trịnh lắc đầu quầy quậy:

- Lúc đầu Tổng Thống Roosevelt tỏ thái độ bất bình với chế độ thuộc địa của Pháp ở Đông Dương. Ông coi đó là xứ thuộc địa bị cai trị kém nhất ở Viễn Đông. Ông sẵn sàng ủng hộ xứ này được hưởng chế độ bảo hộ quốc tế. Chính vì thế mà sau ngày 9 tháng 3 năm ngoái, đám tàn quân Pháp chạy qua Vân Nam đã không nhận được sự giúp đỡ nào của người Mỹ đang có mặt trên đất Trung Hoa nên bị các lực lượng Quốc Dân Đảng ở đó tiêu diệt khá nhiều. Trong số mười ba ngàn quân thì có tới hai trăm sĩ quan và bốn ngàn binh lính bị hành quyết! Trong khi đó có vài bộ phận tiền tiêu của quân đội Mỹ đóng ở Côn Minh cũng đã vượt biên giới, liên hệ với Việt minh và gặp Cụ Hồ ở chiến khu Việt Bắc. Họ có giúp cho ta một ít vũ khí nhẹ, điện đài và huấn luyện kỹ thuật. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn rồi họ lạnh nhạt dần! Khi Trumann lên làm Tổng Thống thì sự im lặng mặc nhiên được coi là sự bật đèn xanh công nhận xứ Đông Dương này vẫn là thuộc địa của người Pháp! Ngày 2 tháng 9 năm ngoái, trong khi nhân dân cả nước ta vui mừng chào đón ngày độc lập thì tại Tokyo, cùng đến dự lễ đầu hàng của phát xít Nhật, tướng Mỹ Mac Arthur khuyến cáo Leclerc rằng: “Tướng quân hãy mang thêm quân sang đó (Việt Nam) nhiều chừng nào mà anh có thể”! Nguyên cớ vì sao ư? Có lẽ họ không thiện cảm với những người cộng sản khi ngày mồng 5 tháng 3 năm nay, ngay trên đất Mỹ, trước sự đồng tình của Trumann, Churchill tuyên bố không úp mở gì: “Một tấm màn sắt đã được buông xuống trên lãnh thổ Châu Âu”! Họ đánh đồng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của ta như là sự lật đổ vương quyền theo chủ thuyết cộng sản ở nước Nga xô viết!

- Thế còn Nga xô? Việt minh thân Cộng sản mà!

- Nước Nga đang kiệt quệ sau cuộc chiến tranh khủng khiếp vừa rồi. Bây giờ họ dồn sức cho công cuộc khôi phục đất nước và thiết lập mối quan hệ với các nước láng giềng Đông Âu sát sườn của họ. Xứ Viễn Đông này xa xôi quá! Sau biến động vừa qua, phong trào Cộng sản quốc tế chưa hồi phục được. Cụ Hồ khi còn là nhà hoạt động Nguyễn Ái Quốc của phong trào Cộng sản quốc tế, trong khi người ta kêu gọi tập trung loại trừ chủ nghĩa phát xít, bảo vệ Liên bang xô viết, thì Cụ nêu luận thuyết “con đỉa đế quốc hai vòi” được coi như lời tuyên ngôn của các nước thuộc địa không từ bỏ cuộc đấu tranh giải phóng. Cụ là chiến sỹ kiên cường đấu tranh vì độc lập tự do của các dân tộc bị áp bức nhưng Cụ không chấp nhận bỏ rơi một quốc gia, một dân tộc vì sự tồn tại của một tổ chức hoặc một phong trào, khiến người ta nghĩ con người này nặng Quốc gia hơn là Quốc tế. Bây giờ trong hoàn cảnh đặc biệt, ta lại tuyên bố Đảng Cộng sản tự giải tán càng làm tăng thêm mối hoài nghi! Với chúng ta, Cụ Hồ là nhà yêu nước với quyết tâm giải thoát dân tộc mình khỏi gông xiềng nô lệ. Nhưng Quốc tế Cộng sản liệu có chấp nhận Cụ là người của họ khi các mối quan hệ lâu nay gián đoạn?    

- Vậy là ta đánh Pháp một mình trong khi nó có Đồng minh ủng hộ? – Ông Tham ngần ngại.

- Vâng… ta tự lực tự cường đánh giặc. Muốn nhận được sự ủng hộ từ bên ngoài là tuỳ thuộc vào sức lực và ý chí của ta!

Nghĩa không chịu nổi đứng bật dậy:

- Thà chết chứ không chịu nhục! Nó lộng hành quá rồi! Ngày 24 tháng 10 nó đã viện cớ đi tìm mồ mả binh sĩ chết trận rồi thừa cơ huy động cả pháo binh, máy bay, xe tăng yểm trợ bộ binh đánh chiếm Lạng Sơn. Cháu làm công an cứ phải ngồi nhìn nó trêu ngươi mà nín nhịn mãi uất không chịu được. Cháu quyết xin ra Vệ quốc đoàn!

Hương Giang gạt nước mắt nói theo:

- Anh cứ dỗ mãi em đi làm hiệu thính viên điện tín. Bây giờ ngồi trong cấm phòng nhận tin tức các nơi gửi về mà ruột gan cứ rối tung lên!

Nhà thơ vung tay lên hùng hồn:

- Cứ liều một trận thư hùng!

Ông Trịnh cười hiền từ:

- Đánh liều thí mạng như Kinh Kha thì cứ xông bừa lên, cần gì phải tính. Bài học bi thảm của 13 liệt sỹ Yên Bái hẳn mọi người chưa quên. Ta đánh là phải thắng! Trước mắt mình phải hoãn binh để có thêm thời gian chuẩn bị. Càng lâu càng có lợi cho ta. Việc chị Tham ra đi dịp này cũng là một cách để bảo toàn lực lượng, củng cố hậu phương đấy! Rồi cả thím nữa – Ông chỉ qua bà Phán. 

Ông Tham thoáng nét lo âu:

- Liệu mình chọi với nó được bao lâu?

- Lâu là cái chắc nhưng dài bao nhiêu thì chỉ có Trời mới biết! – Ông cười:… Có điều là cuối cùng chúng ta sẽ thắng! Chúng ta đã đứng lên, không ai bắt chúng ta sống qùy được nữa! Nhân dân ta căm thù quân cướp nước bầm gan tím ruột! Chúng ta có Cụ Hồ – người dẫn đường sáng suốt, nhìn xa hiểu rộng. Chúng ta có một đội ngũ nòng cốt những người yêu nước nhiệt huyết, kiên cường đã trải qua nhiều thử thách và chúng ta có nhiều bạn bè tốt ở ngay nước Pháp. Những người này sẽ ngày càng đông khi họ hiểu được cuộc đấu tranh của ta là chính nghĩa và chính họ sẽ làm suy sụp ý chí xâm lược của bộ máy cầm quyền tham lam ích kỷ ở ngay nước họ. Nhà bác học nguyên tử Frédéric Jolio Curie nhắc nhở chúng ta rất chân tình: “Trong các cuộc đàm phán với Chính phủ Pháp, tôi kiến nghị các đồng chí đừng dễ dàng nhân nhượng quyền lợi của Việt Nam về khoáng sản vì chúng tôi nghiên cứu và tin rằng ở dãy núi Bắc bộ và dải Trường Sơn Trung bộ có thể chứa đựng một mạch chất Uranium là một nguyên liệu quý về quốc phòng và khoa học cho nước Việt Nam sau này”.

Và ông cười ngất:                                    

- Trong Đoàn có anh Ngô Văn Mạnh – đại biểu Bạc Liêu, là một trí thức rất nhiệt tình và sống lâu năm ở Nhật đã thốt lên: Chúng ta thật không ngờ rằng ngay tại Paris, dinh lũy của đế quốc Pháp lại xuất hiện nhiều nhân vật có thể gọi là “Pháp gian” đến như thế! Anh hiểu chữ “Việt gian” ta thường dùng là để chỉ những kẻ tư thông với địch.           

Nét mặt đầy cảm xúc, giọng ông lắng xuống:   

- Có lẽ đây cũng là lúc vận nước thử thách chúng ta! Chỉ có một con đường: Đánh!  (giọng ông đanh lại)

Ông Phán từ sở làm về thì trời đã tối. Hai người phụ nữ đứng lóng ngóng ngoài cửa. Ông xuống xe và nhận ra hai chị em Hồng và Nga. Hai cô lúng túng:

- Cháu chào cậu ạ!               

- Các cô có chuyện gì? – Ông nghiêm nét mặt.

Khách thì tần ngần. Chủ thì ngại ngùng. Vừa lúc bà chủ mở cửa bước ra. Hai cô nép vào nhau:

- Thưa cậu mợ! Thật tình chúng cháu không dám làm phiền… Nhưng có chuyện này…

Ông đành chủ động:

- Có chuyện gì? Mời hai cô vào trong nhà!

Lúc này chủ nhà mới nhận ra cô em xách một túi nặng và đặt bịch nó ở góc nhà. Ông bà cùng nghi hoặc:

- Có chuyện gì các cô cứ nói ra đi!

- Thưa cậu mợ! Từ lâu dù chúng cháu rất kính mến cậu mợ nhưng không  nghĩ tới có ngày dám bước vào đây…

Bà chủ nhìn hai cô xoi mói. Các cô mạnh dạn hơn:

- Thời buổi bây giờ chẳng hiểu ra làm sao! Chúng cháu muốn được cậu mợ chỉ dẫn cho…

- Tôi chưa hiểu ý các cô? – Ông Phán dè dặt.

- Chúng cháu xin thưa thật, cậu mợ đừng cười. Nghề của chúng cháu thì sống với ai cũng được miễn là kiếm được tiền. Nhưng bây giờ sao nó lung tung quá! Hết Tây đến Nhật. Hết Nhật đến Tàu. Hết Tàu thì Tây quay lại! Nhưng thằng Tây bây giờ không như trước. Chúng nó hung hãn, côn đồ lưu manh lắm. Chúng nó ăn quịt cả chúng cháu. Có làm dữ thì chúng nó mang súng đạn ra gán nợ! – Cô chị nói rồi chỉ vào cái túi.                  

- Các cô mang nó đến đây làm gì?

Ông Phán giằn giọng trong khi mặt bà tái xanh.

- Thưa cậu, bọn Tây nó bảo với súng đạn của nó có thể giết sạch tất cả vermine(loài giòi bọ!) trên đất nước này chỉ trong một tháng! Là chúng nó nói trại Việt minh ra như thế đấy. Mấy thằng theo đuôi thì nói lóng ra là VẸM. Tiên sư cha chúng nó!

Bà Phán sẽ sàng cắt ngang cơn thịnh nộ của các cô:                                                                         - Ấy chết, đừng động tới tổ tiên ông bà cha mẹ tôn kính của người ta. Gì thì họ cũng là người!

Nhưng các cô vẫn chưa nhận ra sự lỡ lời trước người trên:                               

- Mợ bảo chúng nó là người thế mình là gì? Như chúng cháu nó khinh rẻ đã đành nhưng những người như cậu mợ mà chúng nó coi cũng chẳng ra gì. Cả khu cửa Ô Đống Mác này ai cũng biết nhà cậu là Việt minh!

Ông Phán nghiêm nghị mà từ tốn:

- Không phải nó chỉ coi thường các cô và chúng tôi thôi đâu. Các bậc bề trên, các ngài tai to mặt lớn, ngay đến cả các quan lớn trong triều, cả nhà Vua nữa chúng nó coi cũng chẳng là gì. Vì tất cả đều là dân bảo hộ!

Mắt ông sáng ra, giọng ông quả quyết:

- Nhưng bây giờ thời thế khác rồi! Các cô nghĩ làm sao?

Các cô e dè nhìn vào cái bọc:

- Chúng cháu mang về biếu cậu phòng thân ngộ nhỡ lúc chúng nó hại mình!

- Các cô còn ý gì nữa không?

- Bọn Tây mới ở dưới biển lên, có cả thằng Đại tá Debès nữa, nó khoe rằng đã làm cỏ sạch cả Hải Phòng?  

- Đúng đấy! Ngày 23 tháng 11 chúng nó tấn công thành phố. Pháo lớn, pháo nhỏ từ các chiến hạm đậu ngoài cửa biển bắn bừa vào các khu dân cư và dòng người chạy loạn làm chết hàng vạn thường dân vô tội! Ngày 28 tháng 11 chúng nó đã chiếm toàn bộ thành phố. Đây là cuộc tàn sát dã man chưa từng thấy!

- Chúng nó tàn ác quá cậu mợ ơi! Bọn này là lính lê dương, chém giết quen rồi! Đám Tây đen hung hăng man rợ lắm. Nhưng không đứa nào dám thò đầu ra khỏi chỗ đóng quân vì sợ bị Tự vệ mình bắt giết. Chúng nó ghét mấy anh “sao vuông” lắm. Hôm nọ nó bắt được một anh, đem vào trại lính thi nhau đánh đập gần chết rồi cắt cổ anh ấy, để phơi ngoài nắng! Chúng nó sai bọn tay chân gọi chúng cháu tới. Chỉ có mấy đứa thôi mà bọn nó hết quan đến lính thay nhau hành hạ thì làm sao chịu nổi! Chúng cháu còn biết cách tháo thân chứ mấy chị bị bắt cóc vào, có cả nữ học sinh nữa. Nó chỉ quần cho một lúc… Chúng cháu nhìn tận mắt có chị chết ngay tại chỗ!

Bà Phán mặt lúc đỏ, lúc tái đi, người run lên cầm cập.

- Người ta đi tản cư nhiều lắm, sao cậu mợ không đi?

- Bà ấy cứ nấn ná mãi! – Ông Phán nhìn vợ.

- Lúc này mà có quê hương, gia đình thì chúng cháu cũng lánh đi thôi, chứ ở như thế này mãi không chịu được!

- Các cô cũng không ưa chúng nó à? Vậy bây giờ các cô tính sao?

- Thằng Tây, thằng Nhật, thằng Tàu, có bao giờ chúng cháu thích đâu. Mình chỉ làm đồ chơi cho chúng nó giải buồn thôi chứ nó thương gì mình! Nhưng vì không có nó thì mãi chúng cháu vẫn cứ là con Đen, con Đủi nên phải chịu thôi. Mấy thứ này – cô chỉ tay vào cái túi để ở góc nhà, nếu cậu cần chúng cháu sẽ đem về nữa. Cậu mợ bảo gì chúng cháu cũng nghe!

- Cảm ơn các cô! Những thứ này bây giờ chúng ta đang rất cần. Các cô làm như vậy là yêu nước đấy.

Hai cô gái tươi hẳn lên. Chưa bao giờ các cô nghĩ rằng sẽ nhận được một lời khen huống chi khen tới cái điều xa vời như vậy. Xưa nay chưa bao giờ các cô bận tâm để hỏi ai đã sinh ra mình, quê quán ở đâu chứ nói gì đến chuyện đất với nước. Lúc nào bĩ cực quá thì chửi đời, chán rồi chửi kẻ nào vô cớ đẻ ra mình rồi để cho mình cù bất cù bơ. Khi thấy cần phải bương lên để sống thì các cô chồi đạp theo bản năng, cũng như người bị quăng xuống dòng sâu, không ai tự để cho mình chìm nghỉm xuống đâu, phải quơ quào quẫy đạp vơ vào dẫu là bèo bọt cọc cây. Muôn người muôn cảnh, đã tưởng phận ai nấy chịu nhưng nhận một lời khen như thế chợt làm cho các cô nghĩ tới phận mình:               

- Cậu mợ cho phép chúng cháu được lui tới đây để cậu mợ chỉ bảo cho! 

Lời chào là một điều mong ước tiềm ẩn bấy lâu bỗng có dịp bật ra.

Bà Phán chưa đi tản cư, còn lưỡng lự vì bên nhà bà tác động. Ông Trùm Phát Đạt có chỗ dựa là ông Cha cố người tây Phao lồ Dupuie – Cha Chánh xứ nhà thờ Hàm Long. Ông bảo hễ có chuyện gì cả nhà cứ chạy vào đó, Cha bảo lãnh cho. Ông Trùm còn bàn nếu không muốn thì tất cả cùng về quê ông, sẵn nhà ngói cây mít, bể nước, giếng khơi… Nhưng ông Phán lại không muốn thế. Ông muốn vợ con cùng về quê nội, có chỗ dựa ấm lâu dài, khi cần thì ông cũng rút về đó, gia đình đoàn tụ. Bà đi thì lại thương ông ở một mình nên cứ dùng dằng mãi.

Những tin tức bất an ngày càng dồn dập. Bọn Tây mũ đen, mũ đỏ ngồi trên xe thiết giáp phóng ào ào giữa phố, chẹt chết người còn giương mắt cười hô hố coi mạng người như con chuột con chó chết trên đường. Chúng xả súng bắn bừa bãi vào nhà dân. Gặp anh Tự vệ hay đàn bà con gái lẻ loi trên đường là chúng nhẩy ào xuống lôi xềnh xệch lên xe rồi phóng đi mất hút.

Bà Phán hoang mang lắm.                      

Chị Duyên là cháu gọi ông Phán là cậu. Hai cậu cháu sàn sàn tuổi nhau. Mẹ chị với ông là chị em hàng thúc bá. Ông bà ngoại chị không có con trai nối dõi. Mỗi khi giỗ tết bên ngoại, nhớ về gia tộc, các chị đều từ quê ra cậu theo giỗ nên cái tình cái nghĩa tuy xa mà vẫn nặng. Dịp này chị ra đón cậu mợ tản cư về quê nội:

- Cậu mợ đừng câu nệ gì. Đất quê mình nhiều, nhà cửa rộng rãi. Thầy cháu bảo là phần thừa tự của cậu mợ đấy, gia đình cháu chỉ cai quản cho cậu mợ thôi. Cậu mợ về quê như về nhà mình, lại có bà con họ mạc quây quần, cũng là dịp để lánh né mũi tên hòn đạn nếu lỡ xẩy ra.

Đã đến lúc bà Phán không đừng được nữa.

Đồ đạc chất chồng ra đầy nhà, thứ để lại, thứ mang đi phân ra chọn lựa thế nào cũng là rình rang khó xử.

Một chiếc xe nhà binh đỗ xịch giữa đường. Mấy tên lính Tây nhẩy ào xuống, giương súng lên, tản ra bao quanh nhà ông Phán. Một tên mặc civil, cao lều nghều đi thẳng vào nhà. Mọi người hốt hoảng. Đàn bà con gái chạy thụt vào nhà trong đóng sầm cửa lại. Mấy đứa trẻ kêu khóc ầm ĩ. Ông Phán chưa biết chuyện gì sẽ xẩy ra nhưng thẳng người lên, tiến ra cửa chặn bước tên Pháp lại. Hai người nhìn nhau. Mắt ông Phán trợn lên trân trân. Tên Pháp cúi đầu:

- Chào ông Phán! Tôi, Debue đây! Xin cả nhà đừng sợ!

Y chủ động bước tới kéo vào lòng thằng bé lớn đang mếu máo. Ông Phán sẵng giọng:

- Ông đến nhà tôi có việc gì?

Debue vẫn đứng, nét mặt buồn rầu:

- Thưa ông! Tôi biết rằng lúc này tôi tới đây chắc chắn không nhận được sự đón tiếp tử tế như năm trước đâu.

- Vậy ông đến để làm gì?

- Thưa ông! Tôi muốn đền ơn ông bà đã cứu sống tôi!

- Chắc là các ông xả súng bắn vào chúng tôi hoặc lôi cổ chúng tôi đi?

Ông Phán cười khẩy.

Giọng Debue thật buồn:

- Thưa ông… việc ấy tôi không nhúng tay vào và cũng không muốn thế!

Mọi người từ nhà trong bớt lo sợ và cùng kéo nhau ra.

- Kính chào bà Phán!

Debue cúi đầu thật thấp.

Bà Phán nhìn chồng.

Ông Phán lấy lại sự bình tĩnh, mời Debue ngồi.

- Thưa ông bà! Tôi không phải là lính. Nhưng bây giờ người Pháp bước ra ngoài đường một mình cũng sợ lắm. Tôi phải nhờ mấy người lính kia đi bảo vệ. Họ sẽ không đụng tới một ai nếu như không có ai tấn công chúng tôi. Chúng tôi chỉ tự vệ thôi.

- Những việc các ông làm suốt từ Nam ra Bắc như ở Sài Gòn, ở Lạng Sơn, ở Hải Phòng và đang diễn ra ngay tại thành phố này là các ông  tự vệ đó sao?

- Thưa ông! Cho tôi được thanh minh. Trở về Pháp, tôi tìm lại gia đình. Tiếc rằng người em trai duy nhất của tôi tham gia kháng chiến chống phát xít Đức đã bị sát hại! Thế là tôi chẳng còn gì! Tôi thường xuyên theo dõi diễn biến ở Việt Nam. Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Paris tôi có viết mấy bài trên báo Pháp ủng hộ một giải pháp thân thiện với cả hai bên. Nhưng tiếc rằng bên nước chúng tôi lúc này trong giới cầm quyền còn nhiều cái đầu nóng lắm! Giới quân sự có công lao trong công cuộc giải phóng nước Pháp đang thao túng chính trường. Những người Pháp ở Đông Dương về bị thất thế. Và buồn thay, họ chưa mở mắt ra. Không ít kẻ a tòng với chính giới. Suy cho cùng họ cũng chỉ vì quyền lợi của mình.

Y thở dài nhìn mọi người:

- Tôi sang Việt Nam lúc này với tư cách là nhà báo tự do!

- Và ông định tới đây phỏng vấn một người thuộc cấp thời đô hộ trước rằng: Có chịu đầu hàng nước Pháp hay không thì bảo?!

Ông Phán ngồi thẳng người lên. Khách hạ giọng phân trần:

- Không phải thế, thưa ông! Tôi đến đây hoàn toàn là chuyện của riêng tôi. Nhờ các ông mà tôi đã qua được bên kia biên giới Việt-Hoa, liên hệ với phái bộ của ông Sainteny ở Côn Minh và được trở về quê hương. Trên đường đi tôi mới thấy hết sự mạo hiểm như thế nào nếu không có sự giúp đỡ của các ông. Cùng với những ngày đầu thật khủng khiếp ở đây, được ông bà che chở tôi mới hiểu ra rằng người Việt Nam thấm nhuần và sống theo triết lý của Kinh nhà Phật: “Lấy ân trả oán, oán ấy tiêu vong. Lấy oán trả oán, oán ấy trùng trùng. Nó làm tôi nhớ đến đại văn hào Victor Hugo luôn đề cao sự khoan dung, coi nó như một đức tính cao cả mà con người cần vươn tới.                    

- Cha ông chúng tôi thường dậy: Làm ơn mà chỉ mong có sự đền ơn coi chừng là tai họa! Tôi muốn được biết mục đích của ông trong cuộc gặp gỡ này?

- Tôi nghĩ rằng những nhà lãnh đạo của các ông hiểu được nhưng dân chúng thì mơ hồ lắm! Thưa ông, chiến tranh đang gõ cửa từng nhà của các ông! Nhất định nó sẽ xông vào. Không lâu đâu. Khi ấy hai bên thành kẻ cừu thù. Với khẩu súng nằm trong tay người lính, lúc đó không ai biết được những điều gì sẽ xẩy ra!

- Thế thì sao?                      

- Tôi mong muốn được mời ông bà tạm vào khu cư trú của chúng tôi lánh nạn. Tôi sẽ lấy tính mạng của mình để đảm bảo sự an toàn cho cả gia đình!

Bà Phán đến ngồi bên chồng. Ông Phán suy nghĩ và dịu giọng:

- Tôi thành thật cảm ơn ông! Nhưng nếu nghe theo ông thì đồng bào của chúng tôi coi tôi là tên bán nước! Và cho dù có được bảo toàn mạng sống thì dưới mắt các ông chúng tôi không khác những thằng hèn!

Debue lắc đầu thất vọng, đứng lên:

- Trong lòng tôi lúc này xáo trộn lắm. Dù rằng rất lo cho các ông nhưng nếu các ông thắng thì dù sao tôi cũng là một công dân Pháp và nếu chúng tôi thắng thì có nghĩa là những tiêu chí được coi như lương tri bấy lâu tô đẹp lá cờ nước Pháp sẽ không còn ý nghĩa gì!         

Ông Phán cười nhạt:

- Trước kia các ông đến đây trong bộ quần áo lính tẩy của đội quân thập tự chinh vì sứ mệnh văn minh. Và các ông đã làm gì? Bây giờ có khác gì đâu? Các ông vẫn tham lam, tàn ác, không chịu từ bỏ những cái cướp được của người! Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã nếm cả “mùi” Nhật, Đức. Ông đã hiểu ra nỗi đau đớn của kẻ bại trận, nó nhục nhã thế nào. Còn chúng tôi, hàng trăm năm các ông hành hạ dày vò!

Ông hất đầu lên, giọng ông dứt khoát:    

- Không! Cho dù sự thể thế nào, chúng tôi không sợ!

Phu nhân docteur Bửu Quốc hỏi chồng:

- Vậy là anh quyết ra đi?               

Bác sỹ nhìn vợ ái ngại:                  

- Một thân anh thì chẳng sá gì. Chỉ lo cho em và các con thôi!

Bà nhìn ông nước mắt long lanh:               

- Bao lâu nay, người Việt Nam từ vua quan đến dân binh đã nhiều lần đứng lên chống họ mà chỉ nhận thêm nhiều nỗi đau thương. Bây giờ họ lại đứng trong phe Đồng minh chiến thắng binh hùng tướng mạnh, trong khi sức Việt minh như thế có khác gì trứng chọi với đá không?

Bác sỹ níu vai kéo vợ gần bên, giọng nhỏ nhẹ mà kiên quyết:

- Em hiểu cho anh, nỗi nhục mất nước... Nó là tai họa với cả một dân tộc. Lịch sử nước Pháp cũng từng trải qua. Hơn một năm nay làm dân một nước độc lập, anh được tự do cống hiến hết sức lực và trí tuệ cho tổ quốc và nhân dân mình. Lần đầu tiên trong đời anh thấy thật sự được làm chủ con người mình, làm chủ tổ quốc mình.

- Nhưng em thấy tương lai mù mịt quá!

- Khi còn trẻ, anh gặp ông Nguyễn ở thủ đô Paris lúc ấy xô bồ hỗn độn lắm. Lòng riêng anh tuy có kính yêu mà còn nửa tin nửa ngờ chưa biết thế nào. Nhưng về nước anh mới vỡ ra rằng cái nghề chỉ để cho mình được phú quý mà chẳng vinh hoa, vẫn là thân cá chậu chim lồng, lòng anh bức bối dày vò. Mấy mươi năm sau gặp lại người xưa đã là ông cụ, vẫn thân hình mảnh mai trong mong manh áo vải mà ý chí chẳng chuyển lay. Con người ấy đã phá xiềng gông nô lệ cho dân tộc cho tổ quốc phục sinh. Anh có cơ sở để tin rằng dù phải trải qua nhiều gian nan hiểm nghèo nhưng đó là con đường của lương tri, con đường duy nhất đúng!

Nét mặt bà căng thẳng:

- Nhưng anh đi đến bao giờ? Còn em và các con thì sao?

Đến lượt ông lúng túng:

- Trước một người bệnh, người thầy thuốc giỏi mấy cũng chỉ nói dự liệu tốt xấu, chứ có ai dám như thầy bói bấm quẻ nói liều! Em cứ ở lại thành phố này. Anh tin không ai đụng tới mẹ con em đâu. Dự trữ trong nhà đảm bảo được cuộc sống trước mắt. Bà con họ hàng anh còn nhiều người ở lại đây. Anh sẽ có cách liên hệ với em.

Bà bác sỹ thở dài nhìn chồng:

- Đến ngày ấy liệu mình có còn không?  

Bác sỹ giọng quả quyết:

- Dù có chết cho một sự nghiệp thiêng liêng như thế anh cũng không ân hận điều gì!

Bà gặng hỏi chồng:

- Lên rừng núi hoang vu thì bệnh viện đặt ở đâu? Các phương tiện và thuốc men thì sao? Anh có thể làm được những gì?

- Cụ Hồ nói “tự lực cánh sinh”, có khó mới khôn ra. Trước hết anh và các đồng nghiệp sẽ phải tổ chức các bệnh viện dã chiến cứu chữa các thương binh. Đồng thời phải đẩy mạnh công việc đào tạo thật nhiều thầy thuốc trẻ để họ tiếp tay sự nghiệp với mình. Nhiều anh em sinh viên chí khí và tinh thần yêu nước cao lắm.

- Anh có tổ quốc của anh. Em có tổ quốc của em!                                                    

- Nước Pháp và Việt Nam là tổ quốc chung của chúng mình. Anh không chống lại một nước Pháp văn minh nhưng anh chống lại những tên thực dân đang làm những điều trái ngược, bôi nhọ truyền thống Tự do – Bình đẳng – Bác ái mà chúng ta rất tự hào vì nó.

Ông bước tới bàn, với cuốn sổ tay làm việc, ngồi xuống và cắm cúi viết:

Thật vậy ư, đất nước đầu tiên đã khắc bằng chữ vàng nơi mặt tiền các công sở của mình những từ TỰ DO – BÌNH ĐẲNG – BÁC ÁI, chính đất nước ấy lại đang cố tình thực thi một chính sách thống trị ép buộc người khác phải khuất phục và gieo rắc hận thù?!”

Bà đứng sau ghế nhìn theo những dòng viết của chồng mà nước mắt cứ tuôn ra. Ông đằm thắm ngước nhìn bà, giọng xúc động:

- Dù sao thì anh vẫn tin vào ngày thắng lợi và một tương lai tốt đẹp cho Tổ quốc của anh và của chúng ta. Những ngày tới có nhiều việc cần lắm phải làm nhưng không lúc nào anh nguôi nhớ thương em và các con!  

Thành phố vắng tanh.

Chiếc xe Thông tin tuyên truyền hai bên thành căng khẩu hiệu chữ trắng trên nền đen: Quyết trả thù cho đồng bào ta bị sát hại ở Ngõ Yên Ninh! Quyết sống chết bảo vệ Thủ Đô! Trên xe đầy những thanh niên học sinh và tự vệ. Giọng cô phát thanh viên rắn rỏi, căm thù:

“Ngày hôm qua, 17 tháng 12, tại khu vực phố Hàng Bún, giặc Pháp cho xe tăng, thiết giáp tới bắn phá, san ủi những ụ chướng ngại phòng thủ của ta. Bị tự vệ ta chống trả, chúng xua quân vào ngõ Yên Ninh tàn sát 23 chiến sỹ tự vệ và đồng bào, có cả người già, đàn bà và trẻ em rất thảm thương!

Hỡi đồng bào, bằng những hành động bạo ngược khiêu khích như: phá Trụ sở thông tin ở phố Tràng Tiền, bắt bớ chị em tiểu thương và nã pháo vào chợ Đồng Xuân, vô cớ bắn phá nhà dân, cướp bóc tài sản, bắt giết người vô tội. Chúng còn yêu cầu ta phải huỷ bỏ hết các phương tiện phòng bị trong khi với những trang bị tấn công tối tân có trong tay, chúng mặc sức tung hoành. Hồ Chủ tịch đã tuyên bố trước các nhà báo rằng: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hoà bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách”! Rõ ràng là thực dân Pháp không tôn trọng những thoả ước hai bên đã ký kết và chúng đang lấn tới. Sau khi đã đánh chiếm Lạng Sơn, Hải Phòng, bây giờ đến Hà Nội, Thủ đô yêu dấu của chúng ta phải đương đầu với sự mất còn. Không! Chúng ta không chịu bó tay! Chúng ta kiên quyết bảo vệ Thủ đô!

Chính phủ kêu gọi đồng bào hãy bình tĩnh đợi lệnh của Chính phủ. Trước hết  là các cụ già, đàn bà và các cháu nhỏ mau mau tản cư lánh xa thành phố. Tổ quốc đang lâm nguy! Các lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ, thanh niên nam nữ hãy sẵn sàng! Chúng ta quyết sống chết bảo vệ Thủ đô. Quyết không trở lại cuộc đời nô lệ một lần nữa! Tổ quốc Việt Nam độc lập thống nhất muôn năm!”

Trong các dãy phố liên hoàn, ình ình tiếng phá tường liên thông giữa các nhà, sẵn sàng cho cuộc chiến đấu trong thành phố. Các cửa ô đều đắp ụ và chồng chất vật chướng ngại.

cửa Ô Đống Mác, người ta hì hục đào hào, đắp ụ cản. Đàn ông, con trai, con gái vừa làm vừa nói trăm thứ chuyện.

- Ở Khâm Thiên, Ô Cầu Rền… nó cũng đem xe đến ủi phá các ụ chiến đấu. Nhưng nó bỏ đi là ta đắp lại ngay. Đố nó làm gì được. Nó chỉ có một dúm quân mà mình có cả dân thành phố, thử xem ai được nào!

- Phải đề phòng bọn Việt gian bán nước. Trong khi ta kêu gọi ba không: “Không làm việc, đi lính cho Pháp – Không đưa đường báo tin cho Pháp – Không bán lương thực cho Pháp” thì vẫn khối thằng lén lút tiếp tay cho nó. Vì đồng tiền hoặc cũng vì cơ hội này lập công với giặc!

- Mấy đứa đó chỉ còn một cách… 

Một anh tự vệ duỗi thẳng bàn tay ra làm hiệu cưa cưa ngang cổ.                           

- Các vị có biết chuyện mấy chú Tàu ở khu Sầm Công không nhỉ? Ngày trước thì nó ngoan đáo để, lúc nào cũng mặc quần để lòi rốn, nhe cái miệng đầy răng vàng ra Hảo lớ! Hảo lớ! Nhưng khi bọn Tàu phù qua là chúng nó vênh mặt lên lăng xăng tưởng như cái thời Bắc thuộc thuở xưa quay trở lại. Khi thằng thày cút xéo bỏ mặc đám lau nhau ở lại thì mấy chú khách nhũn như con chi chi, ta hô hào quyên góp cái gì cũng Hảo! Hảo! Xun xoe lắm. Bây giờ thằng Pháp giở mặt, trước cửa nhà nào cũng dán cờ tam tài và cờ Quốc dân đảng Tưởng với hàng chữ  “Pháp – Hoa hữu hảo” to tướng bằng cả chữ tây lẫn chữ tàu!

- Cả thế giới này đều thua mấy anh xếnh xáng. Nước nào cũng có họ, từ Thủ đô cho đến các chợ quê, từ nhà đại tư bản cho đến dân phu nghèo xơ xác. Mà họ có chí lắm nhé. Như lão chủ ANPO ở Cửa Nam đó, hồi mới qua đây chỉ quảy gánh đi thu mua lông vịt với ve chai thôi, thế mà giầu lên kếch xù. Họ không làm chính trị nhưng họ biết dựa vào chính trị để làm ăn. Họ biết sống bả lả, ẩn ý, biết chi đồng tiền đâu vào đấy, khi cần không tiếc. Tây, Tàu, Nhật, Mỹ… gì cũng “hảo” hết. Ở trong Sài Gòn, cả khu Chợ Lớn là một nước Tàu con đến nỗi viên Chủ xứ Pháp phải thốt lên rằng: Xứ Cochinchine này là thuộc địa của người Tàu mà người tây chỉ làm quản lý thôi!

Hai chị em Hồng, Nga đeo túi cứu thương đi tới, cười vui vẻ với mọi người. Cánh đàn ông được dịp tán như khướu:

- Hoan hô! Có hai con thiên nga hồng bay lạc tới đây! Đố anh nào dám chộp?

- Chà! Bây giờ mà mình đau bụng, được các bàn tay kia thoa dầu cù là vào rốn thì tớ rẫy lên đành đạch!

- Dạo trước các cô cưỡi ngựa phóng như bay, xuýt nữa làm mình toi mạng!

- Thôi mà, các bác các anh ơi! Nhắc lại những ngày đã qua làm gì. Chúng ta mỗi người mỗi nghề, mỗi cảnh nhưng suy cho cùng thì đều làm tôi mọi cho người thôi!

- Đúng quá đi rồi! Bây giờ đã đổi đời. Nước ta độc lập. Dân ta bình đẳng tự do. Để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cùng chung một chiến hào!

- Cứ hăng hái chiến đấu đi, lỡ có bị thương được các em nâng niu trong lòng thì chết cũng sướng đời.                                

Trời nhập nhoạng, một người cao gầy, đôi mắt to, nước da xạm, mặc bộ quần áo xanh công nhân, trên mũ gắn ngôi sao vuông bước nhanh tới. Đó là Bình do Đội tự vệ công nhân thành phố phái về chỉ huy phòng thủ ở khu vực cửa ô này. Bấy lâu nay qua lại đây, anh đã chiếm được cảm tình của gia đình ông Phán Thanh. Đi kề bên anh có cả nhà thơ Quí Hoa nai nịt gọn gàng, kiếm đâu được khẩu súng ngắn đeo trễ bên hông như đi ra trận. Anh Bình lên tiếng:

- Chào các đồng chí! Tôi thông báo tin quan trọng: Thằng Morlière – chỉ huy quân Pháp ở Bắc bộ này vừa gưỉ liền cho Chính phủ ta hai tối hậu thư… Chúng ngang ngược đòi chiếm Sở Tài chính! đòi tước vũ khí và giải tán Tự vệ và Công an ta! đòi quyền kiểm soát trật tự và an ninh toàn thành phố!

Mọi người nhao nhao phản ứng quyết liệt:

- Coi như là giao quách Thủ đô này cho nó!

- Nó nói thế thì đéo nghe được!    

- Nó đã hung hăng thì chơi mẹ một trận cho nó vỡ mày vỡ mặt ra! Còn nhún nhường gì nữa? Nhẫn nhục thế đủ rồi!

Bình quay vào nhà ông Phán đã thành trụ sở của Ban chỉ huy phòng thủ Khu Lò Lợn – Ô Đống Mác. Nhà thơ vung tay cất giọng vang lên:

- Một trận thư hùng thề sống mái… Ta cùng nhau làm tỏ giống Lạc Hồng!

Ông đưa mắt liếc hai cô gái, miệng nhoẻn nụ cười tình và chạy theo anh Bình.

Những cán bộ các Ban ngành quây quần quanh anh:

- Các đồng chí! Hồ Chủ tịch nói với các nhà báo rằng: “Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách. Nhưng nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm. Khi phải giữ chủ quyền của Tổ quốc, cần hy sinh thì cũng phải kiên quyết hy sinh”! Đã đến lúc không đừng được nữa rồi. Các đồng chí trở về từng địa bàn, chuẩn bị khẩn trương. Hãy đến từng nhà đốc thúc đồng bào tản cư ngay, yêu cầu mọi người coi đó như là mệnh lệnh của Chính phủ, phải chấp hành.

Ông Phán còn lấn bấn về bà mẹ. Bà cụ nhất định không chịu đi cho:

- Tôi già rồi. Chết được càng sướng! Mà chết ngay tại nhà mình như được lên tiên!                  

Bà không đi thì Gái phải ở lại. Gái không thể ở lại một mình nên Chu không thể đi. Vậy ông làm sao dám bỏ mẹ, bỏ cháu trong tình thế này. Bình hiểu tâm trạng của ông nhưng cũng không làm sao giục ông đi được.

Ngày 19 tháng 12.

Quân Pháp cấm trại 100%.

Thành phố yên ắng lạ. Đâu đó vẫn vang lên tiếng đục phá tường quen thuộc. Từng tốp nhỏ đồng bào tản cư vừa đi vừa nháo nhác nhìn lại ngôi nhà, đường phố của mình. Từng toán Vệ quốc quân gọn gàng tề chỉnh với súng trường, bom ba càng, mã tấu… trong đội ngũ hành quân lầm lũi vội vã đi vào giữa lòng thành phố. Loáng thoáng từng tốp Tự vệ đi kiểm tra đứng chặn từng ngã tư đường, đầu ngõ hẻm canh phòng bọn lưu manh lợi dụng cơ hội này vào các nhà vắng chủ khua khoắng.

Một ngày qua đi thật nặng nề căng thẳng, hệt như ngày lặng gió trước cơn giông. Ngột ngạt, bức bối, hồi hộp đợi chờ nhưng lại bồn chồn lo lắng rồi điều gì sẽ đến.

Trời vừa tối, vẫn tại ngôi nhà trụ sở ấy, trước mọi người, Bình trải tấm bản đồ vẽ tay sơ lược trên bàn và giới thiệu một anh Vệ quốc chính thống:

- Đồng chí Bắc Hà, cán bộ quân sự biệt phái từ Liên Khu xuống tăng cường!

Anh cán bộ quân sự nói ngay, chậm và hơi cứng giọng:

- Các đồng chí! Tôi tóm lược tình hình ta địch và nhiệm vụ cụ thể của địa bàn ta. Trong thành phố hiện địch có khoảng hơn sáu nghìn quân lính đánh thuê nhà nghề, một số từ chiến trường Bắc Phi vừa tới Hải Phòng mới được điều lên với trang bị khá mạnh, có đủ cả máy bay, xe tăng, thiết giáp, đại bác, súng máy liên thanh. Nó cụm lại trong ba cứ điểm chính: Thành Hà Nội, Khu vực Đồn Thuỷ và Sân bay Gia Lâm. Toàn bộ chiến trường Thủ đô ta là Quân khu XI, chia thành ba Liên khu I, II và III. Lực lượng ta có năm Tiểu đoàn Vệ quốc quân, tám Trung đội Công an xung phong, một Đại đội Tự vệ chiến đấu và ngót nghét ba chục ngàn Dân quân – Tự vệ nhà máy phố phường. Vũ khí của ta tuy kém nhưng tinh thần chúng ta cao, mọi người đều căm thù quân cướp nước và nhất là chúng ta chiến đấu trên mảnh đất quen thuộc thân yêu của mình, mỗi người dân là một chiến sỹ với tinh thần cướp súng giặc giết giặc, quyết sống chết bảo vệ Thủ đô. Quân giặc tuy có vũ khí nhiều và hung hãn nhưng từ xa tới, lại chủ quan, bị bao vây tứ bề và cô lập, nhất định không thực hiện được ý đồ “đánh nhanh thắng nhanh” như chúng nói chỉ cần 24 tiếng đồng hồ sẽ làm chủ hoàn toàn thành phố !

Anh chỉ tay vào tấm bản đồ:

- Khu trung tâm nội thành từ Tràng Tiền, Nhà Hát Lớn hất ngược lên Tràng Thi, Cửa Nam và phía Đông Bắc thành phố, sẽ là mặt trận chủ yếu. Đối phó với lực lượng mạnh nhất của địch trong thành Hà Nội, các lưc lượng mạnh nhất của ta cũng tập trung vào đó để cầm chân nó. Khu vành đai thành phố bọc theo con đê La thành từ Chèm Vẽ tới Bưởi, Ô Cầu Giấy, Ngã Tư  Sở, Ngã Tư Vọng, Ngã Tư Trung Hiền đến Vĩnh Tuy. Lò Lợn - Ô Đống Mác ta đây sẽ quyết liệt vì đó là cửa ngõ của Thành phố. Địch giành bít lại để vây bọc rồi tiêu diệt ta. Ta quyết giữ không cho địch nống ra để bảo vệ, củng cố hậu phương nông thôn… 

Anh nhìn mọi người:

- Địa bàn ta gian cách, trống trải. Đương đầu chính diện với địch có hoả lực vũ khí mạnh sẽ bị sát thương nhiều. Ta chủ yếu phân tán nhỏ, đánh du kích và nhằm sơ hở của địch tìm cách đột kích vào lúc đêm tối bất ngờ.

Hai chị em Hồng, Nga nãy giờ vẫn đứng lặng một góc, bây giờ lên tiếng:

- Các đồng chí quên mất người bị thương sẽ để ở đâu! Tôi đề nghị lấy nhà tôi làm  Trạm cứu thương, có được không?

Mọi người cười ồ lên. Anh Bình tán thành ngay:

- Đồng ý! Cả khu này chỉ có ngôi nhà đó là rộng rãi và kiên cố nhất. Nó như một công sự nhiều hầm lộ thiên, có thể tránh được sát thương của các loại vũ khí bộ binh. Việc chuyển thương ta kín đáo đi theo các ngả đường làng. Còn người biết chuyên môn thì…  

Anh lưỡng lự.

Nhà thơ nhanh nhẩu chen vào:

- Tôi sẽ kiếm cho các mỹ nhân một infirmier (y tá nam) đang làm ở nhà thương Phủ Doãn!

- Vậy thì phải có ngay đi!

- Thưa vâng! Nếu không có thì tôi xin thế mạng! – Nhà thơ lại cười tình.              

Một anh nói tếu:

- Chà! Trước đây mà được vào đó thì khoái lắm nhưng bây giờ phải vào đó chắc tong đời rồi!

Hai chị em xì miệng và đưa mắt nguýt người đó thật dài. Cùng lúc đèn phụt tắt. Bóng tối ào chụp xuống trong khi mặt đất rung lên bởi những tiếng nổ. Ngoài trời chớp lóe những ánh lửa đạn đỏ rực lên, loáng trên tường thấy rõ hai chiếc kim đồng hồ chỉ qua con số 8 và gần con số 1: 8 giờ 4 phút ! Mọi người chạy túa ra cùng với những tiếng reo hò vang lên tứ bề:

- Nổ súng rồi!

- Đánh rồi!

- Phá được Nhà Máy Đèn rồi!

Trên không, những viên đạn pháo lừng lững vạch những đường đỏ trên nền trời đen kịt từ bốn phía hướng vào thành phố. Những tiếng reo to sung sướng:     

- Pháo ta từ phía Láng, Xuân Canh, Nhật Tảo, Thổ Khối nã vào Thành, cầu Long Biên…

- Mọi người tản khai ngay về vị trí đề phòng nó phản pháo.

Từ đâu đó còn phát ra những tiếng la thét của đàn bà, tiếng khóc của trẻ con, tiếng gọi nhau í ới thất thanh. Bình lầm bầm:

- Vẫn còn nhiều người kẹt lại!

Đoành! Đoành!…Đoành! Đoành!

Cùng lúc với những tiếng nổ chát chúa là khói bụi mịt mù, tiếng mái ngói sập đổ rào rào, đất đá văng tung toé cùng với tiếng răng rắc của những cành cây gẫy… và tiếng ai đó quát lên như ra lệnh:

- Moọc chi ê từ Đồn Thủy bắn ra! Hãy bình tĩnh trong hầm trú ẩn.

Khoảnh khắc im lặng kéo dài. Bỗng bật lên tiếng thét xé ruột:

- Ối trời đất ơi… Anh Năm tôi… chết rồi!

Tiếng chân người dồn dập chạy ra.

Cô Thêm đầu tóc rũ rượi, nước mắt đầm đìa, ôm xác người anh gào lên thống thiết:

- Ối anh Năm ơi… làm sao bây giờ?

Mọi người xúm xít bên thi thể một chiến sỹ tự vệ trên mình còn đẫm máu. Ông Thanh đỡ cô gái đứng lên. Người cô rũ ra, gục vào vai ông nức nở. Đấy là những người con của cụ Ba Xe – hàng xóm gần gụi với gia đình ông từ bao lâu nay, vẫn coi nhau như người thân thích. Chú Năm cũng là chiến sỹ của Đội Thanh niên xung phong thành Hoàng Diệu với Nghĩa – cháu ông, mới được bổ sung vào Ban Chỉ huy Đội Tự vệ chiến đấu ở Tiểu khu này. Cô Thêm là em út, rất hăng hái tham gia Hội Phụ nữ cứu quốc và cứ nằng nặc đòi ở lại làm nhiệm vụ tiếp tế cho anh em chiến đấu bảo vệ Thủ đô.  

Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược lần thứ hai mở rộng ra cả nước bắt đầu là như thế.

Hai mươi năm sau, khi người Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam và leo thang cuộc chiến tranh phá hoại ra toàn miền Bắc Việt Nam, ngày 08 tháng 02 năm 1966, Tướng De Gaulle – người chủ xướng cuộc chiến tranh tái chiếm Đông Dương, trong một bức thư trên cương vị Tổng Thống nước Cộng hòa Pháp gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh – ngọn cờ của cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của nước Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, ông viết: “Một sự hiểu biết nhau nhiều hơn giữa người Việt Nam và người Pháp khi chiến tranh thế giới kết thúc có lẽ đã ngăn ngừa được những biến cố cay đắng đã tàn phá nước Ngài”! Lịch sử ghi nhận rằng trước đó mấy ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước công luận: “Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh. Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Chúng tôi tha thiết với nền độc lập. Nước Pháp có những phương tiện ghê gớm và cuộc chiến đấu sẽ khốc hại, nhưng dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng chịu đựng tất cả chứ không chịu mất tự do. Dù sao tôi mong rằng chúng ta sẽ không đi tới cách giải quyết ấy”. Thế nhưng quân Pháp vẫn lấn tới và sau đấy là những gì sẽ xảy ra ở Đông Dương sau ngày lịch sử đáng ghi nhớ ấy với dân chúng cả hai nước.

Suốt đêm không ai chợp mắt được vì tiếng súng cứ rộn lên và ánh lửa đạn đỏ trời. Càng về sáng thì tiếng súng lại càng rộn rã lên ở phía Bờ Hồ.

Tin trinh sát báo về cho biết ngay sau khi nổ súng, từ trong Thành, địch có xe tăng, thiết giáp yểm trợ đã theo đường Cửa Bắc tiến thẳng ra Hàng Đậu và chiếm lĩnh ngay cầu Long Biên. Một mặt địch cũng theo đường Cửa Nam dọc Tràng Thi, Tràng Tiền tiến xuống Khách sạn Métropole. Ta chiếm và làm chủ được Nhà Máy Đèn ngay từ đầu, cho nổ tung Kho xưởng sửa chữa vũ khí ở Cửa Đông. Chiến sự nổ ra quyết liệt ở Bót Hàng Trống làm xe địch ùn tắc lại. Đơn vị bảo vệ Bắc Bộ Phủ quyết tâm cố thủ. Xe tăng giặc bị đánh cháy ngay trước vưòn hoa Con Cóc, nhiều binh lính bị tiêu diệt.                       

Các tờ Thư kêu gọi đồng bào toàn quốc kháng chiến được phân phát tới từng đơn vị. Anh Bình đứng giữa đám đông, trang nghiêm xúc động cố đọc to lên, từng lời rõ ràng mạch lạc:

             Hỡi đồng bào toàn quốc !

Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô le !

Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!

Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.      

Hỡi anh em binh sỹ, tự vệ, dân quân!

            Giờ cứu nước đã đến! Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước.

Dù phải gian lao kháng chiến nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Việt-Nam độc lập và thống nhất muôn năm!

Kháng chiến thắng lợi muôn năm!

       Ngày 19 tháng 12 năm 1946

                 HỒ  CHÍ  MINH

Bình đứng lặng hồi lâu nhìn mọi ngưòi như để cùng chia sẻ mối xúc động. Anh thông báo:

- Các đồng chí! Từ giờ phút này chúng ta sống trong thời chiến. Các Ủy ban Bảo vệ từ nay đổi là Ủy ban Kháng chiến. Chúng ta phải chuyển mọi nếp sinh hoạt, làm việc từ thời bình sang thời chiến. Mọi chỉ thị đều là mệnh lệnh quân sự, phải chấp hành nghiêm ngặt, khẩn trương.

Mọi người phân ra từng bộ phận bàn công việc với ý thức kỷ luật chặt chẽ.                                             Bây giờ số người còn ẩn khuất trong các nhà dân mới thật sự tin là chiến tranh đã đến rồi. Họ hoảng hốt, lo sợ, đùm đề lếch thếch kéo nhau chạy ra hướng cửa ô. Tiếng la hét thất thanh. Lớn bé, già trẻ nhớn nhác, mếu máo, kêu khóc nghêu ngao, loanh quanh luẩn quẩn không biết chạy đi đâu.

Bình cho người chạy tới lui kêu gom bà con lại, sẽ có người chỉ dẫn đường hướng di tản về đâu. 

Anh cho mời ông Phán lại và ra chỉ thị:  

- Đồng chí Thanh! Ủy ban Kháng chiến Tiểu khu giao cho đồng chí trách nhiệm dẫn dắt đồng bào tản cư an toàn về hậu phương. Phải tranh thủ thời gian vì lúc này địch còn vướng chân trong thành phố chưa bung ra được.

Ông Thanh không có lý do gì để chần chờ nữa. Hiểu lòng ông, Bình kéo ông ra nói nhỏ:  

- Việc của bà và các em để cháu lo. Chú cứ đi đi, đừng vấn vương nữa. Nguy hiểm lắm!           

Ông xăng xái chỉ bảo mọi người thu xếp lại đồ đạc gọn gàng, gom mấy gia đình thành một toán, chỉ định cụ thể từng người phụ trách. Ông phó cạo từ đâu chạy đến níu tay ông lại, rì rầm bên tai:

- Ông cho gửi theo nhà tôi và mấy cháu! Vợ con tôi quen lam lũ nên bỏ đằng nào cũng chẳng chịu chết đâu. Tôi ở lại còn được khối việc. Cụ Hồ bảo kháng chiến trường kỳ thì không thể để anh em mình thành người rừng được! 

Một tay ông xách thùng đồ nghề, tay kia nương hai đứa con nhỏ:

- Thằng Tô, con Điểm nghe lời đẻ nhé, thầy sẽ cho ăn bánh bèo!

Ông đằm thắm nhìn vợ và hai đứa con lớn vỗ về tha thiết:

- Con Mỹ, thằng Miều ráng giúp mẹ, trông em. Có người có ta, đi đâu cũng đất nước mình cả thôi. Nước loạn mới biết tôi trung! Là thằng đàn ông lúc này mà chạy trốn thì chẳng còn ra cái thể thống gì. Cụ Hồ bảo kháng chiến nhất định thành công mà!

Sau khi thống nhất với Ban chỉ huy về hướng di tản: cắt qua cánh đồng Quỳnh, bọc chợ Mơ, qua làng Tương Mai, tới Văn Điển đã là hậu cứ rồi. Anh Bình dặn dò cẩn thận:

- Đưa bà con đi mau tránh xa khu Việt Nam học xá vì đó là điểm phòng ngự quan trọng, chiến sự sẽ diễn ra ác liệt.  

Ông Phán buồn bã nhìn đám người nhốn nháo, giọng ông run run:

- Bà con bám sát theo tôi. Người già yếu và trẻ con đi trước. Người khoẻ mạnh theo sau. Từng toán liên hệ chặt chẽ với nhau, không để lạc. Có chuyện gì bất thường hãy bình tĩnh, theo sự hướng dẫn của tôi, không được hoảng loạn, làm tuỳ tiện theo ý của mình!     

Bỗng nhiên ông cảm thấy mình cũng là người chỉ huy thật sự và số phận của hàng trăm con người này bỗng lệ thuộc vào ông. Ông thấy trách nhiệm của mình lớn quá. Ông vừa lo vừa cảm thấy như mình đã thành một người khác rồi. Trong đám người ông đang dẫn đi lánh nạn này có không ít những cậu trai, cô gái bấy lâu nay trốn kỹ trong nhà, không chịu cùng mọi người tham gia vào việc phòng thủ đất nước. Bây giờ thấy nguy thì lao đầu chạy. Ông thở dài: Như các cô cậu này thì đất nước bao giờ mở mày mở mặt ra !

Ông nghĩ tới thời trai trẻ của ông, cũng có chút ít chữ nghĩa, cũng biết nghĩ phận mình, phận nước nhưng ở cái thế lúc bấy giờ như trứng chọi với đá. Đành nhắm mắt cho qua thành cam phận nhục! Ông nghĩ tới con cháu ông. Ông thấy càng thương yêu Nghĩa: Nó là thằng con trai có khí cốt và ông càng lo cho cháu. Chỗ nó chiến sự ác liệt lắm!

Ông lại nghĩ tới mẹ ông mắt mờ chân chậm tên bay đạn lạc làm sao. Ông nghĩ tới vợ con ông: Chiến tranh bao lâu? Vợ ông chân yếu tay mềm làm gì để sống? Các con ông mới lớn, đang tuổi học hành. Ông nhìn đoàn người nheo nhóc lôi thôi này, họ đi không nỡ, ở không đành. Ngày mai xa nơi bom đạn hiểm nguy nhưng họ sống bằng gì? Công sở ông đóng ở đâu? Ai còn theo? Ai bỏ cuộc? Ông sẽ đi tìm. Ông lại nghĩ tới bạn ông: Anh Tham là người tốt đấy nhưng tính tình khảng khái, liệu anh ấy có chịu được lâu không? Cái chết của chú Năm hàng xóm vẫn để lại trong lòng ông cảm giác bàng hoàng. Lúc triển khai kế hoạch tác chiến hai anh em vừa đứng bên nhau, vậy mà chỉ một thoáng qua chú ấy đã thành người thiên cổ và ông đã như người thân thiết ruột già tẩn liệm chú em trong một chiếc chăn chiên lại thêm chiếc chiếu bên ngoài, đặt chú em xuống cái huyệt đào vội vã ngay tại bãi trống sau nhà trong một ngày cuối năm lạnh giá. Lòng ông ngổn ngang trăm mối…   

Đám người này quê quán tứ phương, phần lớn họ xa xứ lâu rồi và ít quan hệ với quê hương bản quán nên cứ nấn ná chần chờ. Bây giờ nước đến chân rồi, không biết nhẩy về đâu và họ ao ước có được một nơi nương dựa thâm tình. Họ đã đi không định hướng suốt ngày đêm trong cái giá lạnh căm căm của những ngày cuối năm. Buổi sáng tạm dừng chân, hỏi ra mới biết họ đã đi sâu vào địa phận tỉnh Hà Đông. Mới thế thôi mà nhìn họ đã thấy xơ xác hoang mang, trên những nét mặt hốc hác hằn sâu những nét sợ hãi lo âu.

Làng xóm nào cũng chen chúc đồng bào tản cư, ngổn ngang đồ đạc. Các cơ quan di chuyển cồng kềnh những công cụ tác nghiệp. Người ta run rẩy rủ nhau ra các giếng nước, ao, hồ tạm gột đi những bụi bẩn của cuộc hành trình đường xa vội vã nhưng nước giá buốt làm cho họ lạnh cóng và cơn đói rét dội lên, hai hàm răng dập vào nhau lập cập, họ co ro cúm rúm chụm lại với nhau và chen vào các nhà tìm nơi trú ẩn. Bà vợ ông phó cạo kiếm đâu ra đôi quang gánh, đặt hai đứa bé con ngồi trong hai cái thúng. Con chị tí tởn cười như nắc nẻ. Thằng bé trai hí hửng ôm thêm con chó. Chúng tùm hum trong hai mảnh chăn mỏng, lộ ra bộ mặt tái xanh với đôi môi tím ngắt nhưng đôi mắt mở to vừa tinh nghịch vừa thích thú nhìn mọi sự đang diễn ra thật lạ lùng.

Ngôi nhà ngói năm gian đã thành chật chội. Trong nhà chen chúc những người, từng tốp người chụm lại che chắn cho nhau trên cái sân gạch hun hút gió. Dưới gốc cây mít ở đầu hồi, chiếc đàn dương cầm của khách tản cư đặt chênh vênh trống trải dường như chủ nhân nửa không thiết tha gì nửa vẫn còn lưu luyến nó. Bên ánh lửa của cây đèn bão chỉ còn là một đốm vàng mờ nhạt dưới ánh sáng ban mai lờ mờ, một chàng trai trẻ dáng cao thanh nhã, áo quần phong sương, đôi mắt to đen thâm quầng, bộ râu quai nón lởm chởm, mái tóc xoăn rủ xuống trên những phím đàn, anh mải mê cắm cúi như là quên hết mọi sự chung quanh, ngay cả cái tê giá của buổi sớm mùa đông bên khu vườn trống trải cũng không bén đến những ngón tay anh đang nhấn lướt lúc uyển chuyển mềm mại, lúc ào ào mạnh mẽ và từ dưới những ngón tay ấy bật lên những nốt nhạc réo rắt thiết tha hùng tráng cùng hoà với tiếng lòng anh trầm bổng:

Đây Hồ Gươm… Hồng Hà… Hồ Tây / Đây lắng hồn núi sông ngàn năm / Đây Thăng Long… Đây Đông Đô… Đây Hà Nội… Hà Nội mến yêu /  Hà Nội cháy khói lửa ngập trời / Hà Nội hồng ầm ầm reo / Hà Nội vùng đứng lên / Hà Nội vùng đứng lên / Sông Hồng reo… Hà Nội vùng đứng lên… 

Không ai để ý đấy là một chiến sỹ cách mạng sôi nổi, xuất thân là một sinh viên Luật khoa xuất sắc, một nghệ sỹ tài hoa. Anh bước vào con đường tranh đấu với trái tim khao khát tự do vươn tới tầm cao trí tuệ. Anh từng bị giam cầm trong ngục thất Hỏa Lò khét tiếng và bây giờ anh là người đại biểu trẻ tuổi nhất trong Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong sự xúc cảm đột khởi trước biến cố hùng vĩ của lịch sử, thay mặt những chứng nhân anh đang tạo nên bản nhạc bất hủ cho Thủ đô Hà Nội.

Mọi người lòng quặn thắt đau đáu nhìn về hướng đông-bắc, những cuộn khói vẫn bốc lên và tản vào bầu trời đông xám xịt.

Hà Nội còn đang bốc cháy!       

Nghĩa được lệnh cùng đơn vị rút về phía Nam.

Nhìn đồng đội tơi tả hao mòn lòng anh quặn thắt. Có người hy sinh. Có người bị thương phải chuyển về hậu tuyến. Có người hoang mang bỏ cuộc.           

Chúng nó ỷ đông người với hàng chục xe tăng, thiết giáp, pháo, liên thanh… bao vây ba bề bốn bên mà suốt đêm không đánh lui được phân đội của anh. Xe chúng ùn tắc lại. Có cái bị đánh cháy bởi những chai xăng-krếp tự tạo của ta. Cuối cùng chúng để một bộ phận tiếp tục bao vây tiêu diệt các anh, còn chúng phải vòng theo đường khác.

Chỉ tiếc là súng đạn ít quá. Người nọ nhìn thấy người kia ngã xuống là nhẩy ngay tới giành lấy súng. Siết cò chỉ dám nhấn từng viên mà đạn cũng mau hết quá. Lựu đạn có trái ném ra không nổ, thậm chí nổ ngay trên tay gây thương vong đáng tiếc! Có lúc phải đánh giáp lá cà, một người xoay trở với mấy thằng lính nó.

Anh muốn rút về Liên Khu I phối hợp với Vệ quốc quân, dựa vào thế liên hoàn của địa hình có thể đánh địch lâu dài. Nhưng có lệnh của cấp trên: Cần căng mỏng lực lượng của địch ra. Nhiệm vụ của Công an là phải giữ gìn an ninh trật tự, củng cố hậu phương để bộ đội rảnh tay chiến đấu.

Anh phải phân tán đơn vị nhỏ ra, phối hợp với dân quân-tự vệ địa phương truy bắt và trừng trị những tên phản quốc, trấn áp những tên hoang mang đầu hàng phản bội.

Cuộc kháng chiến đã bước sang ngày thứ ba.

Những công sở lớn quanh khu vực Bờ Hồ địch đã kiểm soát được rồi. Chiến sự còn giằng co ở Liên Khu I. Các khu phụ cận, địch chỉ dám qua lại những con đường lớn gần trung tâm thôi, ngoài ra ta vẫn làm chủ tình thế nhất là về ban đêm.                 

Gần tới Noel rồi, trời lạnh giá, mưa lất phất làm đường xá nhớp nháp. Giữa đường ngổn ngang những vật chướng ngại: giường, bàn, tủ, ghế, cả sập gụ, tủ chè, tủ thờ, nệm, chăn bông, gối bông… cái gì có trong nhà là ném hết ra đường, có chỗ chất cao lút đầu như  những chiến luỹ.

Xế trưa, Nghĩa vượt đường qua phía chợ Hôm – Đức Viên, chợt ghe tiếng gọi, anh quay lại thì một thằng bé đã đứng bên anh. Mặt mũi nó hốc hác và xanh ngắt, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập.

- Em là ai? Gia đình em đâu? Sao còn ở đây làm gì?

- Anh không nhận ra em sao? Em là cháu cô Phán Thanh đây mà!

- Em là con bác cả Phát Tài? cháu cụ Trùm Phát Đạt?

- Cậu mợ em chết hết cả rồi! – Thằng bé mếu máo nhưng không có giọt nước mắt nào.

Nghĩa giật bắn mình, kéo em vào lòng:

- Thế cụ Trùm đâu? Em đi đâu thế này?

- Em đi tìm các anh Vệ quốc quân… cho em theo với!

Nghĩa kéo thằng em vào một con ngõ nhỏ. Mấy anh Tự vệ ở đâu xông ra. Nghĩa đưa ra tấm thẻ Công an xung phong và kéo em vào một ngôi nhà tầng mãi trong sâu.

Cha nó là anh ruột của thím anh. Nó biết anh trong những lần theo cha mẹ xuống chơi thăm cô chú. Bác cả có hiệu cầm đồ lớn ngay ở ngã năm Hàm Long ra cửa Ô Đống Mác. Nó kể cho anh mấy ngày qua:          

- Mấy hôm trước, tối nào ông cũng bắt cả nhà vào ngủ trong Nhà thờ. Thấy yên, tối hôm ấy cậu mợ ở nhà, em cũng theo cậu mợ. Khi súng nổ rầm trời rồi thì ai cũng quýnh lên, chui tít dưới gầm giường, không dám ra khỏi nhà nữa, định chờ cho tới sáng. Nào ngờ mơí sớm tinh mơ, súng bắn ầm ầm, xe nó đổ quân rầm rập. Lính nó bắn bừa vào nhà và phá cửa rầm rầm. Cậu mợ dắt em chạy lên trên gác nhưng mợ luýnh quýnh ngã khụy dưới cầu thang vừa lúc bọn lính nó ập vào. Mợ sợ hãi giơ cao cây thánh giá lên van lậy chúng. Mấy thằng lính cười reo sung sướng và kéo mợ xềnh xệch ra xe. Cậu không chịu được lao theo, tay cầm cây thánh giá mợ để rơi dưới nền nhà đập túi bụi vào đầu chúng nó. Thế là nó điên lên bắn cậu nát nhừ! Mợ gào thét nhẩy xổ tới cắn vào tay một thằng không chịu nhả ra. Nó thét toáng lên và dí súng vào đầu mợ nổ liền mấy phát. Em sợ quá lăn ra như chết. Nó đá vào em thình thịch, lục soát khắp nhà rồi kéo nhau đi. Mãi tới chiều, mấy anh Dân quân – Tự vệ vào nhà, họ biết gia đình em và đưa em đến nhà thờ. Ông bà và các cô chú không ai dám quay về nhà. Suốt đêm qua em không ngủ được mà sợ quá. Em thấy cậu thân thể nát nhừ và mợ đầu vỡ toang ra cứ đi đi lại lại và khóc gọi tên em. Em không dám khóc thành tiếng nữa. Sáng nay em thấy Cha Chánh xứ tới chia buồn với ông bà. Em phải nhắm mắt lại vì Cha giống mấy thằng lính tây xông vào nhà quá. Ông bà dắt em lên nhà thờ làm lễ cầu hồn cho cậu mợ. Em quỳ xuống, cúi đầu, đọc kinh siêu thoát, khi ngẩng đầu lên không thấy cậu mợ đâu, chỉ thấy Cha chủ lễ người tây, ồ ồ ề ề đọc những lời kinh nghe không hiểu. Em lại nghĩ tới những thằng lính tây nó xông vào nhà… Em không chịu nổi và lén trốn ông bà đi tìm các anh Vệ quốc…

Thằng bé ngồi đó và kể đều đều nhưng nó không khóc. Những người ngồi quanh đó cũng không ai khóc. Nghĩa tái mặt đi. Mấy anh Tự vệ mặt lại đỏ phừng lên. Lúc lâu, Nghĩa như sực tỉnh, anh choàng tay ôm thằng bé vào lòng, đầu anh cúi xuống áp vào má em.

Vừa lúc ấy có tiếng thét reo lên ở ngoài đường:

- Cháy rồi! Máy bay cháy rồi!                 

Mấy anh Tự vệ lao theo cầu thang lên gác và vọt lên sân thượng. Mọi người làm theo. Họ đứng trên cao nhìn thấy rõ chiếc Morane trinh sát cuồn cuộn khói và lao về phía Hồ Tây. Nghĩa phán đoán:

- Súng của ta ở pháo đài Láng bắn lên!

Thằng bé níu tay anh:

- Anh cho em làm Vệ quốcđi!

Nghĩa không trả lời theo yêu cầu của nó. Anh thân mật hỏi:

- Em tên gì?

- Em là thằng Roberg, anh quên à? Nhưng thôi, bây giờ em không thích cái tên ấy nữa đâu!

Nghĩa cười buồn, gật đầu:

- Biết đặt cho em cái tên gì đây? Thôi, anh là Nghĩa thì em là Sỹ đi!

- Đúng rồi. Nghĩa Sỹ. Cái tên nghe hay đấy. Em lấy cả hai tên: Nghĩa Sỹ!

Mấy anh Tự vệ cùng cười tán thưởng.          

 

Nhà này ở sâu lại thông với mấy con hẻm nhỏ thoát ra mấy mặt đường lớn Nghĩa lấy làm Trụ sở của Đội Công an vũ trang do anh phụ trách. Anh có ý định sẽ liên hệ về nhà xem chú đã đi chưa để gửi thằng nhỏ ra hậu phương cho thím. Nhưng xem ra ý nó không muốn thế. Nó cứ bám riết theo anh. Hôm chiến sỹ Đội anh trừ khử một tên chỉ điểm, nó hỏi:            

- Tại sao bắn chết người ta?           

- Vì nó chỉ chọc cho Tây bắt bớ nhiều người lương thiện, phá vỡ cả những tổ chức của ta. Nó là phần tử nguy hiểm.     

- Thằng tây bắt giết người ta, mình phải diệt thằng tây chứ!

- Mỗi người một việc. Việc của các anh Vệ quốc  là trực tiếp đánh thằng tây. Việc của anh em mình là trừng trị mấy thằng Việt gian tay sai bán nước. Nhưng nếu gặp tây thì mình cũng diệt luôn.

- Lúc nào đi diệt thằng tây thì anh cho em đi theo với nhé!

Những tên phản quốc cộm cán đều biết thân phận sẽ ra sao nên đã chui vào nằm dài trong các trại lính Pháp từ khi chưa nổ súng. Thậm chí có tên mang theo cả vợ con vào. Đàn bà con gái dẫn thân vào trại lính tẩy có khác chi mỡ để miệng mèo. Có đứa hối không kịp đành phải lấy bồ hòn làm ngọt. “Quốc phá gia vong” cổ nhân từ xưa đã dậy rồi.

Mấy anh trí thức lừng khừng thường chuẩn bị sẵn cờ trắng trong nhà, thấy lính Pháp tới thì trương lên, xổ tiếng tây ra. Nhưng nếu ta thắng nó thì mấy anh chàng này lập tức nhẩy ào ra, trương lên cái bằng cấp của mình, huyênh hoang, khinh thị, chỉ tay năm ngón.         

Chủ nhà này ắt hẳn giầu và có học. Trên gác có thư viện nhỏ, đủ các sách triết học, y học và văn học toàn bằng chữ Pháp. Thằng Nghĩa Sỹ thích lắm. Nó học Trường Dòng nên tiếng Pháp cũng khá, nó xem và hiểu được. Nó cứ lẩn mẩn với mấy cái kệ sách những lúc nó không được đi theo các anh.

Anh em Tự vệ dẫn vào một thanh niên dáng thư sinh, vẻ buông thả, áo quần xốc xếch nhầu nhĩ, nhiều vết bẩn đậm mầu. Mặt anh ta hơi tái và đôi tay run run.

- Anh từ đâu tới đây làm gì? – Nghĩa hỏi.

- Tôi về nhà tôi! – Anh ta ra hiệu chỉ chính nhà này.

- Chiến tranh giặc dã thế này, mấy hôm nay anh làm gì? ở đâu?

Anh ta cúi đầu có vẻ ngượng, giọng nhỏ hơn nhưng vẻ thật thà:

- Tôi là sinh viên đệ tứ chu niên Trường Đại học Y Dược Hà Nội. Dạo này trường sở đóng cửa, bạn bè rủ nhau đi chơi đây đó. Đêm nổ ra chiến tranh tôi mải đánh mạt chược trên phố Hàng Buồm…

- Trên đó là chiến trường trọng điểm, Dân quân, Tự vệ và lực lượng Vệ quốc rất đông, họ kiểm tra gắt lắm, các anh làm sao thoát được?

- Vâng! Họ bắt chúng tôi nếu không tham gia chiến đấu thì đào chiến hào, công sự, xây chiến luỹ. Tôi khai là sinh viên y khoa, họ cho vào Đội Hồng Thập Tự. Mấy hôm nay không ăn, không ngủ được, mệt quá. Tôi lén về nhà.

- Vậy là anh đào ngũ?

Hai tay anh ta run bần bật.

- Đây là khu vực chiến sự hai bên đang tranh chấp, anh về làm gì?

- Tôi không biết đi đâu nữa thì tìm về nhà thôi chứ tôi không có ý gì khác cả.

- Gia đình anh bỏ nhà đi đâu cả rồi?

- Chắc là chạy lên Nhà Thờ Lớn.

Nghĩa nhìn lên bàn thờ đầy những bát hương lại nhìn anh ta vẻ khó chịu.

- Gia đình tôi theo đạo Phật nhưng lúc này chạy vào đình chùa không an toàn, chạy vào nhà thờ đảm bảo hơn. Ở đó có cố đạo người tây.

- Trong lúc quốc gia vong biến binh lửa thế này, là thanh niên, lại là người có học, anh đứng ngoài cuộc được sao?

- Ở trường Y, nhiều giáo sư, sinh viên cũng tham gia Vệ quốc đoàn hoặc lên chiến khu kháng chiến. Nhưng cũng có nhiều người ở lại vì không tin rằng kháng chiến sẽ thành công. Từ lúc người Pháp sang đây đã có bao nhiêu cuộc đấu tranh, đấu súng, đấu khẩu đủ cả nhưng phần thua vẫn thuộc về ta, lại hao tốn bao nhiêu sinh linh oan uổng. Mình là nước nhược tiểu làm sao chống nổi đại cường quốc binh hùng tướng mạnh lại có thêm vây cánh? Là người có học phải thức thời.

- Nếu ai cũng nghĩ và buông tay như vậy thì đúng là không có gì thành công cả! Có lẽ nước ta đã thành những quận Cửu Nam, Giao Châu, Chân Lạp của nước Tàu từ lâu lắm rồi. Tại sao anh không nghĩ là vạn sự khởi đầu nan và mỗi người hãy thể hiện quyết tâm của mình đi?

Anh sinh viên cúi đầu không đáp. Nghĩa đứng dậy:

- Đây là nhà anh, anh vẫn là chủ nhưng cho chúng tôi mượn tạm làm trụ sở. Chúng tôi không làm rầy rà anh đâu nhưng nếu giặc đến chúng tôi sẽ đánh và anh muốn theo ai thì tùy.

Nghĩa cười mũi:

- Không cô thì chợ cũng đông. Cô đi lấy chồng…  – Anh chỉ vào thằng bé:

- Nếu buồn thì có thằng bé này làm bạn.

Anh sinh viên lúc này mới chú ý tới thằng bé, mặt mũi nó sáng sủa nhưng u ám nỗi buồn. Nó đeo lủng lẳng hai trái lựu đạn bên sườn. Thằng bé giẫy nẩy ra:

- Không. Anh phải giao việc cho em kia!

Thằng Nghĩa Sỹ lúi húi trên bàn và lẩm bẩm đọc cái gì…

Anh sinh viên bước nhẹ tới sau mà nó không biết. Nó chép và đọc thơ cả tiếng Pháp và tiếng Việt.:

La nuit, lorsque je sommeilles

       Qui vient se pencher sur moi

       Qui sourit quand je m’éveille?

       - Petite mère, c’est toi

……

Đêm khuya giấc điệp mơ màng

Kìa ai săn sóc bên giường gọi tôi

Giấc xuân chợt tỉnh bồi hồi

Nụ cười âu yếm: Đúng rồi Mẹ tôi!

……

Thằng bé vừa đọc vừa nghẹn ngào, mặc cho nước mắt chẩy ra, nó như cố đọc to hơn nhưng càng đọc to thì càng tắc nghẹn. Anh sinh viên mủi lòng đánh động. Thằng bé giật mình quay lại, vội xếp cuốn vở và anh nhận ra có cả tập thơ của anh. Thằng bé tỏ vẻ khó chịu nhưng đành phải nói:

- Em mượn ở trên kệ. Em không làm hỏng sách đâu!

- Không sao, em cứ đọc đi! Những người thích thơ và biết cảm xúc với thơ là những tâm hồn đáng quí. Em biết tiếng Pháp à?

- Em học Trường Dòng Pusignier. Em đọc và tự nhiên cứ như thấy mẹ đang ở bên em nên em khóc!

- Sao vậy?                                     

- Cha mẹ em bị tây giết hết rồi!     

Anh sinh viên trường thuốc lặng nghe em bé mồ côi kể về nỗi bất hạnh và không thể nói được một lời an ủi nó. Thằng bé lại lên tiếng trước anh:                    - Tiếng Pháp em đọc hiểu mà không nói ra được. Bài Mẹ! em thuộc bản dịch từ lâu rồi. Nhưng bài này, nó chỉ tay vào trang sách, bây giờ em mới biết

Và nó đọc một hơi bằng tiếng Pháp: Sur une barricade, au milieu des pavés / Souillés d’un sang coupable et d’un sang pur lavés / Un enfant de douze ans est pris avec des hommes…

Đọc xong, giọng nó còn xúc động run run nói với chủ nhân cuốn sách:

- Anh Nghiã mới dịch cho em

Và vẫn đứng như thế, mắt ngước lên trần, nó đọc liền một mạch:

Trên chiến luỹ giữa đường

       Có một em trai nhỏ

       Tuổi mới chừng mười hai

       Cùng có trong đoàn người

       Bị đem ra xử bắn

       Trên  người bê bết máu

       Máu thù lẫn máu mình

       Dơ tanh và thuần khiết

       - Ô kìa, thằng nhóc kia!

       Mày có bị đem bắn?

       - Đúng rồi ông Đội ơi

       Chúng tôi là đồng đội!                                                   - À… ra thế – Tao bắn

       Đến lượt mày bây giờ!

       Lửa đạn loé sáng trời

Bóng đồng đội ngã xuống

       Cùng tiếng rên đau đớn…

       Em giật mình nhớ ra

       Vội khoát tay thét tướng:

       - Khoan bắn các ông ơi!

       Tôi về nhà chút đã

       Trả cho mẹ đồng hồ!

       - A! Thằng này láu cá

       Mày tìm đường chuồn hả?

       - Không, tôi trở lại mà!

       - Tao thấy mày sợ hãi!

       - Ông Đội ơi, đừng ngại

       Lời tôi hứa không sai…

       - Trò trẻ ranh… đâu lạ

       Xéo mẹ mày đi mau!

       Quan lính cười ha hả…

       Bỗng nhiên một sự lạ

       Cả trường bắn lặng thinh

       Lính hành hình kinh hãi

       Khi thấy em quay lại…

       Trên khuôn mặt tím tái

       Kiêu hãnh vầng trán cao

       Đứng tựa lưng vào tường

       Nhìn thẳng lũ sát nhân:                   

- Tôi đây…                                                           Cứ bắn !           

Trong phòng chỉ còn nghe tiếng thở của hai người. Trong lòng mỗi người dâng lên một cảm xúc riêng. Thằng bé nhìn anh bằng đôi mắt thật hồn nhiên buồn rầu hỏi:

- Sao người bị bắn không sợ mà kẻ có súng bắn người lại sợ? Có khi nào anh sợ chết không?

Anh sinh viên thở một hơi dài và ôm chặt em vào lòng.                        

Chủ và khách cùng trong một nhà mà không ai nói chuyện với nhau. Anh sinh viên biết tên khách nhờ thằng Nghĩa Sỹ.  Một hôm anh chủ động hỏi Nghĩa:

- Bây giờ tôi muốn giúp các anh thì làm sao?

- Chúng tôi là một đơn vị nhỏ sợ rằng anh không có việc làm mà công việc của chúng tôi thì anh không làm được. Tôi có thể giới thiệu anh đến một Trạm Hồng Thập Tự, ở đấy có nhiều thương binh từ các đơn vị chuyển về. Khi cần anh có thể theo họ lùi ra hậu phương. Thế là anh cũng đóng góp cho kháng chiến khi đất nước đang cần đến.

Anh sinh viên chấp nhận.

Nghĩa đưa anh sinh viên Y khoa về Trạm Hồng Thập Tự  của Tiểu khu Đống Mác, cũng là có dịp thăm gia đình và tiện thể gửi thằng bé ra hậu phương.

Khuya lắm mấy anh em mới dò tới được chỗ trú của Tiểu khu vì họ phải ở lưu động. Cả thành phố đi đâu cũng ngổn ngang gạch ngói và vật chướng ngại. Tình cảm giữa Bình với anh thì thân mật lắm rồi. Với anh phái viên quân sự hai người cũng không lạ nhau. Họ từng gặp nhau tại lớp huấn luyện quân sự trên chiến khu. Anh tên là Mừng, người Thổ Cao Bằng.

- Tôi bây giờ tên là Bắc Hà.

- Được chiến đấu cho Tổ quốc mình thì dù ở đâu cũng là hạnh phúc cho dù có phải hy sinh!

Trên đường đưa anh tìm thăm bà, Bình giải thích:

- Nhà trong làng bị nó bắn đạn pháo cháy rụi rồi. May không ai làm sao. Các bà kéo nhau vào chùa nhưng trong ấy đường xá quanh co, lính nó không dám vào, cứ bắn phá bừa bãi. Tôi đưa các bà ra ngoài nhà là trụ sở cũ của Ủy Ban, hầm hố có sẵn chắc chắn cả rồi. Cô Bình cậu Chu cứ ở trong làng, khi cần thì rút lui theo anh em tự vệ.

Nghĩa cảm ơn bạn, nói đùa:

- Tôi giao chị gái tôi cho anh đấy!

Nghĩa ôm chầm và giữ bà mãi trong lòng:

- Bà ơi!

Anh không nói gì được nữa. Anh không biết mình có thể làm gì để che chở được cho bà. Anh sớm mồ côi cha mẹ. Bà đây mà cũng là mẹ, là cha. Những tình cảm êm dịu về một tuổi thơ bất hạnh trong anh đậm bóng hình bà.

Nhưng bà lại an ủi động viên anh:

- Cha bố mày! Có làm sao không? Tao già rồi, chết càng sướng, khỏi lo. Chỉ lo cho các con cháu lỡ phải tên bay đạn lạc thì khổ! Lúc nào bà cũng tụng kinh niệm Phật cầu cho con cháu thoát mọi tai ương. Cả đời mình ăn ở hiền lành, Trời Phật có mắt đấy.

Rồi bà lại lần hầu bao giúi mớ tiền vào tay thằng cháu…

Tình cờ cụ Lý ông đến thăm cụ bà cũng ở đây. Hàng vai trong họ Nghĩa gọi cụ là ông. Làng này hầu như nhà nào cũng họ hàng dây mơ rễ má. Cụ là Lý trưởng thời trước nên ai cũng gọi là cụ chứ tuổi cụ không nhiều lắm và lại có chòm râu đen lưa thưa. Con trai cụ cũng ra chiến khu kháng chiến:

- Các anh chị đi hết cả chỉ còn tinh những ông già bà cả ở nhà!

- Nhờ có cụ mà chúng mình no ấm đấy. Cụ chịu khó lạc quyên lắm. Thiếu ăn là cứ tìm đến cụ – Bình khoe với Nghĩa.

- Ôi dào, đất nước gặp cơn hoạn nạn già có việc già, trẻ có việc trẻ. Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách.

Nghĩa chào các cụ và anh bịn rịn chia tay với bà.

Trên đường đi, anh nói với Bình:                                   - Tôi giao cho anh ông bác sỹ nửa chừng xuân này! Anh ta chưa chắc lắm đâu nhưng cần bảo vệ anh ấy rồi anh ta sẽ quen dần đi.

Tại Trạm Hồng Thập Tự, Nghĩa gặp lại nhiều người thân quen. Bình giới thiệu với hai cô Hồng, Nga:

- Anh Nghĩa đưa về của quý đây: một sinh viên trường Thuốc. Giao cho các cô đấy!

Hai chị em cùng nhẩy lên reo:

- Sướng quá! Bấy lâu chúng tôi cứ lúng túng như thợ vụng mất kim, ước mong mãi… được thầy được thợ đúng nghề!

Ông nhà thơ tức khí:

- Thư thư nào. Biết của qúyấy đã làm được gì đâu mà vội sướng thế!

Cô Hồng bước tới:

- Cám ơn cậu Nghĩa! Không như ông nhà thơ của cậu, nhận một việc cứu trợ thương binh mà trăm voi không được bát nước xáo!

- Bắn súng không nên thì đền đạn. Người ta đã phải thường xuyên túc trực ở đây để các cô sai bảo đấy thôi!

Ông vẫn nụ cười tình.                              

Cuộc gặp thật là vui.

Anh sinh viên Trường thuốc rút từ trong chiếc áo dạ ra mấy bao thuốc Cotab và một chai rượu tây:                                             

- Tôi tên là Phúc – Nguyễn Đức Phúc, tôi xin có chút quà gọi là của vi thiềng trong ngày ra mắt các tôn sư!              

Mọi người vỗ tay nhiệt liệt và cuộc vui nhộn hẳn lên.

Nghĩa chỉ anh phái viên quân sự:  

- Anh đây là người Việt Bắc đang chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Thủ Đô là của mọi người Việt Nam. Chúng ta tự hào về nó và sẵn sàng hy sinh vì nó !

Nhà thơ có chút hơi men bốc lên, ông rút ra bài thơ nóng hổi, với giọng trịnh trọng:                  

- Thật là kỳ thú! Nhờ có chiến tranh mới có cuộc kỳ ngộ thế này. Tôi xin dâng tặng quí vị một bài thơ, đặc biệt hiến tặng hai kiều nữ chủ nhân.

Anh hắng giọng, lấy thế đứng, kết hợp tổng thể: mắt, miệng, cả đầu lẫn tay, ông diễn đạt bài thơ của mình:                

Tổ quốc ơi !                                     

Ta muốn làm Néron bạo chúa          

Một đêm đốt trụi kinh thành             

Cho lửa kia thiêu loài tàn bạo

               Thành tro tàn xác lũ thực dân

             Ta muốn làm Kinh Kha tráng sỹ

             Vung gươm lên diệt lũ bạo tàn

             Giết! Giết! Giết tơi bời

       Cho hết loài xâm lược

       Hồng Hà ơi!

       Ta muốn người nhuộm đỏ

       Trong sóng phù sa lẫn máu quân thù

       Cuốn ra biển những thây loài dã thú !

       Hà Nội ơi !

       Ta lấy máu ta rửa sạch oán thù

Cho non xanh những mầm nụ mới

       Cho tươi lên những gương mặt trẻ

       Dáng Hằng Nga…

       Soi gương nước Hồ Gươm.

       Rùa vàng ơi !

       Kiếm thần ta xin trả

       Mượn Thần Siêu cây bút

Tả thanh thiên hai chữ:

Việt Nam !

       Tổ quốc ta Độc lập

       Cuộc đời ta Tự do

       Trái tim ta

       Trao lại cho em

       Thiếu nữ diễm kiều

                          Hà Nội!

Thi sĩ ngất ngây với thơ mình trong tiếng hoan hô. Cô Hồng vỗ tay khen:

- Hoan hô thơ! Hoan hô rượu! Rượu ra thơ. Càng nhiều thơ càng cần rượu.

Cô thưởng thi sỹ một ly đầy.

Anh tự vệ Lò lợn hăng tiết lên:                

- Tôi không có thơ thì tôi có võ. Tôi hưởng ứng nhà thơ vung gươm lên diệt lũ bạo tàn…

Và anh vung con dao chọc tiết lợn to bản nhọn hoắt lên, loang loáng đi một đường quyền. Mọi người xanh mặt ép sát vào tường mà vẫn thấy gai xương sống, chỉ sợ lỡ anh lạc miếng...

Cô Nga tay run bắn nâng ly rượu cạn:

- Hoan hô võ sỹ Lò lợn!

Trong nét mặt trang nghiêm, anh sinh viên giọng đầy cảm xúc:                             

- Bản thân nghề y vốn mang tính thi ca. Tôi đã đọc nhiều tiểu thuyết, thi phẩm của ta, tây và cả của tàu nhưng chưa bao giờ gặp một bài thơ tác động đến tôi như thế.

Anh tiến tới Nghĩa, nâng chén rượu lên: 

- Thi phẩm ấy nằm trên kệ sách của tôi và tôi đã đọc qua mà chẳng thấy cảm hứng gì. Nhưng em bé này…

Anh chỉ thằng bé đang đứng bên anh Nghĩa:

- Trong bầu không khí chết chóc của chiến tranh đã đọc nó lên bằng chính cuộc đời của em đang phải gánh lấy những tai ương qua nguyên văn Pháp ngữ và qua lời dịch của anh, làm cho lòng tôi lay động. Bởi sự nhậy cảm trong lòng em? Bởi lời dịch truyền cảm của anh? Hay bởi sự giống nhau giữa hai cảnh ngộ trong bài thơ với ngày hôm nay? Có người bảo từ sự đắm say trong tửu sắc tạo nên cảm hứng thi ca! Tôi không tin! Hay nếu có thì đó chỉ là thứ thi ca tiêu khiển tầm thường. Thi ca đích thực của tâm hồn cao cả thì nó vẫn tỉnh trong lúc say và làm cho người say thức tỉnh! Vâng, Hugo! Chính là Hugo – bằng thi ca đã đưa tôi đến với cuộc chiến tranh này.

Sự xúc động của anh thầy thuốc trẻ lan sang mọi người.

Trên đường đi thằng bé hỏi Nghĩa:

- Anh định gửi em cho cô chú Phán có phải không? Nếu anh không cho em theo thì em trốn đấy!

ô                                                                                  

Ô Đống Mác ở vị trí bất lợi nhất trong thế phòng ngự của các cửa ô.                        

Sau những loạt trọng pháo tấn công dồn dập, số nhà cửa tạm gọi là vững chắc đã thưa thớt lại bị sập đổ. Lính Pháp từ bốn mặt bủa tới.

Số dân cư còn lại hết chỗ trú ẩn chạy nháo nhác.

Bà mẹ ông Phán nói với mọi người:

- Các ông bà cứ chạy đi. Nhà nguyên, nhà sập cũng vẫn là nhà của con tôi. Tôi cứ ở đây trông nhà cho nó!

Tại Trạm Hồng Thập Tự, thương binh đang được cấp tốc chuyển đi trong khi dân chúng ùa vào trú nạn. Hồng không thấy bà mẹ cậu Phán trong số người ấy liền tất tả chạy đi tìm. Nhà thơ đuổi theo níu cô lại:

- Chạy ra ngoài bây giờ nguy hiểm lắm!

- Phải đón bà về đây!

Tới ngôi nhà đổ nát. Hồng vừa thở vừa giục:

- Bà ơi! Cháu đỡ bà đi…

Vừa lúc một toán lính lê dương ập tới. Mấy thằng xông đến lôi cô đi. Hồng phản ứng quyết liệt:

- Không được. Đây là người già tàn tật!

Hai tay cô không chịu rời bà cụ.

Một loạt súng nổ cắt ngang lời cô để chấm dứt sự giằng co. Giữa bà già với cô gái, bọn lính cần cô gái hơn! Bà cụ gục ngay dưới chân Hồng, máu tuôn xối xả. Lòng căm giận trào lên, Hồng nhẩy xổ tới giằng khẩu súng trong tay thằng lính. Một cú đạp phũ phàng làm Hồng ngã ngửa ra. Bọn lính cười hô hố. Hồng bật dậy, không còn biết sợ, cô chỉ tay vào mặt chúng khinh bỉ thét lên:

- Barbare, c’est toi ! (Đồ man rợ!)

Và cô nhổ nước bọt phì phì vào mặt chúng.

Đáp lại thứ vũ khí tự vệ thông thường của người con gái là những họng súng chĩa thẳng vào cô thi nhau khạc đạn. Tên lính nào cũng coi như chính nó vừa bị cô sỉ nhục.

Nhà thơ trong lúc hỗn loạn đã kịp tháo bỏ mọi thứ trang bị từng làm oai cho mình, từ sau đống đổ nát mặt tái xanh, hai tay giơ cao, run lẩy bẩy bước ra qua xác hai người đàn bà một trẻ một già nằm đó.    

Chưa thoả cơn tức tối, đám lính túm lấy anh ta, thi nhau đánh đập bằng cả chân, tay và báng súng. Chỉ trong chốc lát thân hình bảnh bao của nhà thơ chỉ còn là một tấm thân tơi tả. Tên sĩ quan chỉ huy bước tới:

- Mày là Việt minh? Tự vệ?

Nhà thơ thều thào cố nói bằng tiêng Pháp:

- Je… suis… le maitre… et… le… poète! (Tôi là thày giáo và nhà thơ !)

- Oh! Nó biết tiếng Pháp! Để xem nó dậy học và làm thơ như thế nào?                 

Trạm Hồng Thập Tự  bị lính vây bốn mặt. Bình và anh tự vệ Lò Lợn với Nga còn kẹt ở đây cùng mấy thương binh nặng chưa kịp chuyển đi. Bà con nhốn nháo hoảng hốt:

- Mấy anh ơi! Nếu các anh chống lại là nó giết sạch không trừ một ai!

- Chúng tôi van các anh! Đừng làm liều khi thằng giặc hung hãn còn đang mạnh thế!

Bình quay vào phía sau nhà thủ tiêu vũ khí của mình, trở ra anh buồn rầu nói:

- Xin bà con cứ yên tâm.

Anh tự vệ Lò Lợn còn giấu vũ khí sau lưng.

Bọn giặc ào vào, lăm lăm tay súng. Nhiều người nín thở run lật bật. Có người sợ quá ngất xỉu đi. Có người khúm núm thật thảm thương. Một thương binh không chịu nổi ngồi bật lên thét lớn:

- À bas le fasciste Francais! (Đả đảo phát xít Pháp!)

Hàng loạt những tràng súng nổ lên âm vang trong phòng. Với giặc xâm lăng, sự khuất phục của cả một dân tộc cũng chưa làm cho chúng thoả mãn huống chi là sự phản kháng công khai của một người. Những tiếng rú kinh hoàng xen với những tiếng la khóc của đàn bà, người già, con trẻ.

Anh tự vệ Lò Lợn nhẩy dựng lên trong tiếng thét: VIỆT NAM muôn năm! cùng những đường dao của anh loang loáng kinh hồn khua rụng mấy tên xâm lược trước sự kinh ngạc của mọi người. Nhưng lòng can đảm của anh chỉ được thế thôi khi anh cô đơn với một thứ vũ khí thô sơ trước bầy quỉ dữ. Anh ngã xuống mà đầu vẫn dướn lên, mắt mở trừng trừng, tay vẫn nắm chặt con dao bầu sắc lẻm!    

Tên chỉ huy dẫn đám tuỳ tùng hung hăng xông tới. Chúng xô đẩy lôi kéo mọi người ra. Nhà thơ lúc này thân hình tàn tạ, run rẩy cúi đầu không dám nhìn ai. Tên chỉ huy hất hàm:

- Trong đám này đứa nào là Việt minh? Tự vệ?

Anh ta không ngần ngại chỉ vào Bình.

Lập tức Bình bị quật xuống hành hạ bằng những đòn của bọn lính đã quen mùi máu.

- Còn đứa nào không?

Sự hèn nhát đã thành phản bội! Không còn biết phải dừng lại trước hành động tội lỗi của mình, hắn chỉ vào Nga:

- Cô ấy là nữ cứu thương… y tá!

Tên sỹ quan gật đầu hài lòng:

- Oh! Nữ cứu thương… y tá… Tốt! Tốt lắm!

Y vẫy tay ra hiệu cho cô y tá hãy đến gần y.

Nga khinh bỉ nhìn tên đê tiện và cô tươi mặt lên chủ động bước tới đưa tay về phía tên sỹ quan:         

- Bon soir, mon chère ami ! (Chào anh thân mến của em!)                                

Tên sỹ quan được thể sỹ diện trước đám thuộc hạ, y ngửa mặt cười đắc thắng, dang tay ôm cục chiến lợi phẩm vào lòng:

- Oh! Con gái Việt Nam… tốt lắm! đẹp lắm!

Y nhìn tên nhà thơ hăm doạ:                   

- Còn đứa nào? Việt minh? Tự vệ? Tao giết hết!

Tên hèn nhát muốn chứng tỏ công tích của mình, hắn đưa tay chỉ vào anh tự vệ Lò Lợn đang nằm dưới đất:

- Nó chính là Tự vệ! Việt minh!

Những người anh hùng dù đã chết vẫn bất tử, uy dũng của họ còn  làm cho kẻ thù run sợ. Vì thế chúng vẫn xử với họ bằng những hành động tàn bạo nhất hòng triệt đi mối đe dọa ám ảnh chúng thường xuyên.         

Tên sỹ quan dắt cô y tá cùng quay ra. Bình đã bị trói gô lại ngồi bệt trên thềm cửa. Những tiếng kêu khóc và những bộ mặt hoảng loạn của bao nhiêu người lớn bé thật thảm thiết. Trước một người đàn bà mà người đàn ông ham muốn thì có là quỷ dữ cũng biết tỏ ra tốt bụng. Tên sỹ quan hất hàm, phẩy tay làm hiệu cho một tên lính:

- Allez ! Allez ! (Đi! Đi!)

Tên lính hiểu ý cấp trên. Y kéo Bình đứng dậy và dẫn anh đi ra hướng ngoài ô. Bình lê lết từng bước một. Tên lính lấy nòng súng thúc vào lưng giục anh đi mau lên. Tới một nơi khuất nẻo không thấy bóng người, tên lính tháo cây lưỡi lê ra, tiến sát bên người tù nhanh tay cắt đứt sợi dây trói và đẩy mạnh anh về phía trước:

- Allez! Allez! (Đi! Đi!) – cùng lúc với một tràng súng vang lên.

Bình ngồi bệt xuống không biết mình bị trúng đạn vào đâu. Tên lính đưa chân thúc mạnh vào hông anh và loạt đạn nổ tiếp theo, mùi khói bay ra khét lẹt. Bình liều mạng lao ngay xuống dốc trong khi súng vẫn nổ từng hồi. Anh cắm đầu chạy biến đi.

Khi biết mình đã chạy xa tầm đạn, Bình kiệt sức nằm lăn ra. Anh hồi tỉnh lại dần. Anh lờ mờ hiểu ra hình như người lính kia không nỡ bắn chết mình. Anh gượng dậy trong trạng thái vẫn bàng hoàng về cái ranh giới hư vô giữa sống và chết bởi một sự may mắn nào đó anh đã vượt qua.

Bình đi loanh quanh trong các xóm vắng hoang tàn không một bóng người. Lúc này anh mới cảm thấy rất mệt mỏi và khát khô trong họng. Anh cúi đầu vục mặt trong một bể nước đầy, uống ừng ực từng hơi như chưa bao giờ được uống. Mát mặt, mát lòng… Anh đứng thẳng lên, thấy người khoan khoái. Bất chợt một bóng người từ trong ngôi nhà đổ nát chạy vọt ra ôm chầm lấy anh. Anh muốn chạy đi mà không được. Anh định thần lại, nhận ra người gây cho anh sự hoảng hốt vừa qua chính là… Nga!

- Lừa lúc nhốn nháo, em lủi vào đám đông, luồn ra phía sau cắm đầu chạy liền một mạch…

Hai người lại ôm chặt lấy nhau cười cười khóc khóc…  

ô

Những trang nhật ký của Nghĩa:

                                   Năm 1947 :            

Ngày 19 tháng 1 :

Đúng một tháng kể từ ngày Thủ đô ta nổ súng kháng chiến. Địch đã kiểm soát được Ô Đống Mác! Từ  Đồn Thuỷ, Phà Đen nó đánh thẳng xuống Lò Lợn, tạt ngang Vĩnh Tuy vòng lại. Từ ngã năm Lò Đúc-Hàm Long nó đánh chính diện. Từ Ngã tư Trung Hiền nó đánh thọc sang.

Nóng ruột chưa nghe tin của bà.

Ngày 16, Liên Khu I  hạ một máy bay chiến đấu Spitphay. Nghe nói tự vệ phục kích trên tầng gác thượng dùng súng trường bắn trúng khi nó bổ xuống ném bom.

Đội tiêu diệt hai tên Việt gian: Một thằng chỉ điểm nguy hiểm, một thằng lăm le chân Đốc lý.

Ngày 21 tháng 1 :

Hôm nay ngày tất niên – Kết thúc năm Bính Tuất để bước sang năm Đinh Hợi. Cái Tết năm Ất Dậu qua đi như một cơn ác mộng, nghĩ đến còn rùng mình!

Nhớ lại Tết Độc lập năm ngoái thật vui. Người đi đón giao thừa đông hơn mọi năm nhiều. Các đền chùa rộn rịp người đi lễ. Ai cũng cầu cho quốc thái dân an. Trước đền Ngọc Sơn, mình trẩy lộc đầu xuân cầu phúc cho HG. Hai đứa chỉ được nửa buổi giao thừa rồi lại chúi đầu vào công việc.

Trời rét, hai anh em chỉ có một chiếc chăn mỏng. Hôm trước cu cậu định vớ cái chăn bông người ta ném trên chiến luỹ nhưng nước mưa ướt sũng lẫn bùn. Cậu ta tiếc rẻ làu bàu: Sao lại vứt chăn gối ra đây? Cũng là một công đôi ba việc, vừa thực hiện vườn không nhà trống, vừa làm chướng ngại vật nếu xe tăng nó cán qua, bị bông cuốn vào xích sẽ mắc kẹt không chạy được và khi cần phát hoả thì bông vải là những thứ dễ cháy bùng lên khó dập có khác gì một ổ đề kháng đâu! Mình định gửi nó về cho cụ Trùm nhưng nó nằng nặc không chịu. Làm quá nó bỏ đi còn nguy hiểm hơn. Nó cứ nài nỉ xin được giao nhiệm vụ nhưng phải là đánh Tây cơ. Nó còn dại dột lắm. Lỡ sao thì…

Tiếng súng đề kháng ở Liên Khu I vẫn quyết liệt. Phải tổ chức những đường dây ngầm tiếp tế cho anh em.

Ngày Mồng Một Tết Đinh Hợi :

Bà ơi! Sang năm mới cháu chúc Bà đại thọ, mạnh chân khoẻ tay để cháu lại được bà giúi cho quà!

Chỉ thị của trên: Ta không hành động trong ba ngày Tết nếu địch không chủ động tấn công ta.

Trên phố loáng thoáng thấy bóng người.

Lúc sáng, một ông Dược sỹ có Pharmacie lớn ở Phố Y, tìm đến, giao tặng một va ly đầy thuốc và nói rất chân thành: Chúng tôi không tham gia kháng chiến được nhưng lòng vẫn hướng về kháng chiến, về Cụ Hồ vì đó là tương lai của Tổ quốc! Biết các anh vất vả nhưng việc đi lại phải kín đáo, vì thế chúng tôi chọn gửi món quà này tới các chiến sỹ là thiết thực nhất. Và có kèm theo một gói tiền mừng tuổi đầu xuân.                     

Mỗi người một hoàn cảnh nhưng lòng đồng bào đa phần vẫn hướng về kháng chiến.         

Liên Khu I thành lập Đại đội quyết tử ở rạp Tố Như. Bác Hồ gửi thư cảm động lắm: “Các em quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!”.

Đành rằng công việc nào cũng giúp ích cho kháng chiến thắng lợi nhưng mình vẫn muốn được là người lính thực sự…                                                            

Ngày 25 tháng 1 :

Đầu năm mà cu cậu vác đâu về một thanh gỗ lim nặng trịch, dài chừng 1mét, bằng cườm tay, buộc dây, khoác chéo ngang vai như đeo khẩu súng, vừa buồn cười vừa thương. Nó thấy mấy anh quyết tử có mang thứ ấy là để tống ngang vào xích xe tăng cho trật xích ra rồi thừa cơ xông vào dùng chai lửa hoặc lựu đạn phá xe…

Nó đang tuổi học hành…

Một số tên tay sai giấu mặt nay đã lộ ra. Chúng nó nghĩ rằng đã thắng thế rồi!

Để xem…

Ngày 28 tháng 1 :

Nhận thư hậu phương do giao thông mật chuyển vào.

Thư chung của Bác Hồ gửi cho anh em chiến sỹ bảo vệ Thủ đô:Bác và Chính phủ vì nhớ các em mà không ăn Tết…

Thư riêng của H.G. (Một trang giấy nét chữ con gái thật đẹp:

Anh thân yêu!

Bây giờ em mới cảm nhận được thế nào là nỗi nhớ của tình yêu. Em phải nói  ra để cho nhẹ lòng em và cũng để anh… nhẹ lòng mặc dù bấy lâu cả anh và em đều không dám nói thật lòng mình. Em biết các anh chiến đấu vất vả căng thẳng lắm.

Ngoài những lúc ù tai căng óc tưởng như “mụ” người ra nhưng khi trở lại với mình là em lại nghĩ tới anh. Em không thể nào tưởng tượng nổi nếu cuộc sống của em mà không có anh, sẽ thế nào?! Có phải anh và em đã thuộc về nhau rồi không?

Em vẫn ở quanh Hà Nội. Với chiếc xe đạp, trên con đường cái quan nhựa phẳng em chỉ phóng ào một mạch. Mà sao nó xa lắc xa lơ!

Những đêm trời lạnh, nhớ và thương anh nhiều lắm.

Anh ơi! Anh có nhớ em như vậy không?

Ước gì được cùng anh đi trên con đường mưa bụi vào những đêm đầu xuân như thế này…            Em không nhớ bài thơ này của ai nhưng ý thơ thì cũng nhiều người nói và nó cũng là ý nghĩ của em lúc này:

       Trong tình ta nỗi cách xa

       Như cơn gió tràn qua ánh lửa

       Gió thổi bùng ngọn lửa to cháy đỏ

       Hoặc dập vùi tia lửa nhỏ mong manh…

- Dòng sông trong vắt của anh -

Ngày 1 tháng 2 :

Các cửa ô đều bị án ngữ và phong toả. Đơn vị phải rời ra ngoại ô.

Trong thành phố những người ở lại đã ngấp nghé xuất hiện ra đường. Quanh khu Bờ Hồ những kẻ thân Tây đã túm tụm lại cùng với đám gái phong sương bám lấy bọn lính lê dương đú đởn.

Cu con lần đầu tiên cho đi theo trinh sát. Thằng bé lanh đáo để. Tình cờ đụng bọn lính tuần phòng quanh khu nhà Sainteny, anh em bị động lúng túng. Thằng bé đột nhiên đi một… hai theo điệu hành binh và hát toáng lên bài La Marseillaise. Bọn nó trố mắt ngạc nhiên rồi cùng vỗ tay, dậm chân theo nhịp hành khúc:

- Bon! Bon! Petit garcon! (Tốt! Tốt! Bé con!)

- Soldats courageux… Bravo! (Chào những người lính dũng cảm!)

Lính tây thích lắm. Mấy anh em nhanh chân vượt qua.

Nó quen tiếp xúc với tây rồi.

Nhưng nó cứ đòi cho hành động.

Không thể để tổn thất với nó!

Ngày 5 tháng 2 :

Đồng chí Đắc hy sinh khi vượt tuyến vào thành gần ngã tư Vọng. Chúng chặt đầu bêu trên cọc và phanh thây để giữa đường.

Anh quê ở Mọc. Mới cưới vợ dịp xuân năm ngoái. Chị đang mang  thai.

Thằng bé khóc mãi, ai dỗ nó cũng không nghe.

Là thày giáo làng, anh kể chuyện thiếu nhi hay lắm.

Mỗi lần đi công tác bí mật vào thành đều phải vượt qua sông Tô Lịch. Khúc này sông rộng, các cầu đều bị phá hoại nên chỉ có một cách lội qua. Nước sông đen, hôi và ngứa. Lội qua rồi phải tắm rửa ngay. Nhiều người bảo là do nước từ các cống trong thành phố thoát ra nhưng anh Đắc bảo: Không phải! Bởi trong nước có lẫn mực tàu! Thằng bé tò mò,  cứ bám theo anh hỏi riết. Rồi anh phải kể sự tích sông mực tàu cho nó nghe:

“Phía cuối dòng kia là Đầm Sét, Thanh Trì – quê hương của thầy Chu Văn An đã được tôn vào liệt Thánh. Thầy đã đào tạo cho đất nước bao nhiêu hiền tài, để lại tấm gương tiết liệt muôn đời. Danh Thầy vang lừng bốn bể, thấu Trời, thấm Đất.     

“Thủy Thần cho người con út tới thọ giáo thầy. Thầy thương mến đứa trò ngoan giỏi nên hết lòng truyền đạo Thánh hiền: Người dầy đạo mới chỉ là có nhân. Biết hành đạo mới là có nghĩa. Có đạo không hành như cây to không trái. Cây sai trái mà không có gốc đạo thì coi chừng là trái độc. Đối tượng của đạo là người. Đạo nào khiến con người ta biết yêu điều chính, ghét điều tà, làm việc lành, tránh việc ác, khoan hoà, nhân ái, xả kỷ vị tha – ấy là chính đạo.

“Gặp năm trời đại hạn, mùa màng xơ xác, cây cối ủ rũ héo khô, cầm thú chim muông nháo nhác. Người dân quần quật cũng không chống được cái hạn trời đầy. Dân tình lo âu ngơ ngác… Cậu học trò nhỏ không thể đành lòng mai danh ẩn tích mãi được nữa. Người trời hơn người trần ở chỗ biết được thiên cơ. Nhưng để lộ thiên cơ thì không về trời được nữa. Trời không dung những kẻ phản gian. Nhưng thấy họa cho dân lành mà nhắm mắt quay đi, giữ yên thân mình thì không còn là kẻ sỹ. Thôi thì phó thân gửi bụi hồng trần, cũng là trong cõi trời đất càn khôn cả.

“Cậu lấy mực tàu mài một nghiên đầy, đọc lời chú bí ẩn mở khoá thiên cơ rồi đứng giữa đồng khô cạn hú gió gọi mưa, tay dùng cây bút vẩy mực lên trời… Mây đen sầm sầm kéo tới vần vũ, sấm rung chớp giật, gió lớn mưa to như trời trút nước xuống trần gian… Đồng ruộng, ao hồ, sông ngòi… lênh láng nước. Cậu cứ đứng giữa trời giông gió thét gào: Mưa hoá! Mưa hoá!… cho tới khi hết hơi kiệt sức, cậu lả người đi trong dòng nước nhuốm đẫm mực tàu trôi ra sông cái…

Dòng nước sông Tô có màu đen từ ấy!”

Câu chuyện hư hư thực thực mình mới được nghe kể lần đầu.                                    

Anh Đắc ơi… Những chuyện anh kể cho trẻ con nghe mà người lớn cũng mê. Những chuyện ấy thật khó quên và chúng tôi mãi nhớ anh!

Ngày 12 tháng 2 :                                                                            Ở Liên Khu I liên tục mở những trận tập kích vào các cứ điểm gây cho địch nhiều thiệt hại như ở nhà Sauvage và ở Trường Ke.

Liên Khu ta mở trận chống càn ở Khâm Thiên ngày 9 tháng 2. Số lượng địch thiệt hại chưa có thông báo cụ thể nhưng tin trinh sát ta cho biết địch bỏ lại cả xác chết, xác xe tăng và phải bỏ dở cuộc hành quân.

Nghĩa Sỹ đi trinh sát về cho biết địch mới đặt ở Ngã tư Sở một ổ đề kháng mạnh, có một tiểu đội lính Âu-Phi với khẩu đại liên cực nhanh, chiều chiều có thêm mấy chiếc xe tăng và xe bọc thép tăng cường, cụm lại như một lô cốt thép án ngữ các hướng đánh vào thành phố từ các ngả Thượng Đình, Nghĩa Đô, Trung Hiền. Cu cậu còn mang về chiến lợi phẩm là một quả bom ba càng nói là thu ở ngõ chợ Khâm Thiên bên xác một anh Vệ quốc quân.            Nó cứ tí toáy tẩn mẩn tò mò hỏi tính năng tác dụng và cách sử dụng. Bảo để đưa cho đơn vị chiến đấu nó khăng khăng không chịu. Nó bỏ khẩu súng gỗ đi và vác trái bom lặc lè.

Trừ Liên Khu I lực lượng ta còn tương đối mạnh, các nơi khác hầu như địch đã nới rộng ra được vùng kiểm soát. Bọn Việt gian phản quốc ngang nhiên hoành hành. Việc trừng trị chúng gặp trở ngại nhiều hơn. Anh em ta diệt được một thằng mật thám ở gần Chợ Hôm ngay giữa ban ngày nhưng phải trả giá! Một đổi một là không xong.

Ngày 16 tháng 2 :                                     

Bà ơi! Thế là cháu mất bà rồi! Cuộc họp các BTCB (Bí Thư Chi Bộ) của Liên Khu phổ biến chỉ thị tối khẩn.

Anh Bình báo tin đau đớn ấy.

Và còn một tin mang đau đớn đến cho mọi người: Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh khẩn trương rút toàn bộ lực lượng vũ trang chiến đấu ra hậu phương!

Có thể nào thành phố này hoàn toàn về tay giặc?!

Nhiều anh em đã khóc.                  

Đồng chí đặc phái viên Mặt trận là cán bộ quân sự mình đã gặp trên căn cứ hồi tiền khởi nghĩa. Anh cũng phải nén lòng giải thích cho anh em về tương quan lực lượng giữa ta và địch, sự cần thiết không được để tiêu hao mãi trong khi ta cần có thời gian và điều kiện để củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng. Trận kịch chiến ở chợ Đồng Xuân ngày 14 vừa qua, tinh thần chiến sỹ ta dũng cảm tuyệt vời nhưng vì lực lượng quá chênh lệch nên ta cũng không giữ được. Chẳng lẽ cứ để lực lượng tổn thất dần đi trong khi chúng ta phải trường kỳ kháng chiến? Thực tế là việc cung cấp bổ xung cho các đơn vị chiến đấu đang rất khó khăn về mọi mặt.

Bộ chỉ huy Mặt trận chỉ thị cho các đơn vị ở các địa bàn hoạt động trong thành phố thống nhất đúng ngày N. giờ G. cùng hợp đồng lập những mặt trận giả bốn bề nghi binh để địch tưởng ta đánh phản công lớn, co lại đề phòng trong khi từng bộ phận tổ chức rút lui có trật tự theo kế hoạch đã định.

Khi gặp riêng, anh nói an ủi mình và có lẽ cũng là an ủi cả anh nữa: “Kể ra thì chúng ta đã chiến đấu và thắng lợi qúa mức yêu cầu! Nếu ai coi sự rút lui này là thua thì trong binh thư cũng cho phép thua một trận để thắng trong toàn cuộc! Thực ra trong lịch sử, Thăng Long không chỉ một lần rơi vào tay giặc nhưng nơi đây luôn là nhà trọ kinh hoàng với những quân xâm lược! Châu sẽ về Hợp phố! Ra hậu phương tớ sẽ rút cậu về bên Quân sự!

Vĩnh biệt những trang nhật ký nếu chưa có ngày về lại Thủ đô!

Hà Nội ơi… Hôn Người!

                          ô

Nghĩa họp toàn Trung đội Công an xung phong của anh lại. Cũng như anh đặc phái viên Mặt trận, anh cũng phải nén lòng truyền đạt, giải thích và tổ chức cho anh em thực hành mệnh lệnh thống nhất toàn thành vào tối ngày 17 tháng hai.

Anh nào mặt cũng buồn rười rượi như vừa thất trận.

Thằng bé phụng phịu:

- Em không đi đâu đâu!

- Hay là để gửi em về nhà rồi các anh sẽ liên hệ sau?

- Em không ra hậu phương… Cũng không về nhà!

- Thế thì em định đi đâu?

- Em đi theo ý của em !

- Hãy nhớ rằng em đã là một chiến sỹ Công an xung phong đấy nhé!

- Em có được xung phong bao giờ đâu? Các anh coi em là trẻ con!

Nghĩa đành dỗ nó:

- Thôi, ra hậu phương cho em học một lớp huấn luyện rồi xếp em vào một tổ, lúc ấy tha hồ xung phong!

Thằng bé dỗi, ngồi riêng ra một chỗ, khư khư trái bom ba càng bên mình như vật bất ly thân.

Đến giờ hợp đồng hành động. Anh em mỗi người một việc. Thằng Nghĩa Sỹ lẽo đẽo vác vũ khí của nó đi theo. Nghĩa luôn để ý đến nó.

Cả thành phố sáng rực lên. Tiếng súng nhỏ súng lớn râm ran tứ phía. Súng của địch từ các căn cứ bắn trả quyết liệt. Cứ như là một trận hỗn chiến. Thằng bé lầu bầu:

- Bắn vậy phí đạn, chẳng chết thằng nào!

Anh em mau lẹ rút về hướng nam nhằm điểm tập kết hợp đồng rồi.

Lại phải qua con sông Tô Lịch. Nghĩa thấy thằng bé cùng mấy bóng người đứng sát mé sông. Lửa phía sau bập bùng loé sáng. Ở đây thì nhập nhoạng và mỗi lúc càng tối đen. Họ lặng lẽ chia tay thành phố thân yêu của mình. Mỗi người chìm đắm trong những kỷ niệm buồn vui bao lâu gắn bó. Họ bước đi như người mộng du.

Thằng bé để mọi người qua sông hết rồi, nó vác trái bom chạy ngược lại. Nó ráng chạy thật nhanh. Một lúc nó dừng lại thở. Đứng ngay bên đường không được, nó rẽ vào xóm nhà dân. Vùng này chưa ai dám về ở cả. Nó tìm một gian nhà khuất nẻo chui vào, ngồi xuống thở. Nó nghĩ kế rồi. Cái ụ súng chình ình ngứa mắt đặt ngay giữa ngã tư  bên kia Cầu Mới. Cái cầu bị đánh sập chìm nghỉm dưới dòng nướcmực tàu sông Tô. Đám lính tây lông lá lồm xồm. Nó sờ khắp vũ khí của nó, xoa xoa nhè nhẹ. Nó tin là nó làm được. Nhưng chợt nghĩ nhỡ trái bom không nổ thì sao? Không thằng tây nào chết cả mà nó sẽ bị bắt. Nó sợ run lên. Không biết ai gỡ rối ra cho nó bây giờ. Bỗng nghĩ tới Mẹ và nó quỳ gối cao người lên, làm dấu thánh và bật lên lời ca cầu xin Mẹ:

Biết bao mộng ước chưa tròn / Biết bao sầu lo mỏi mòn / Mẹ là nguồn cậy trông, là hy vọng của chúng con / Mẹ ơi! Xin dâng lên Mẹ tràng hoa mân côi… trọn niềm tin yêu không biên giới / Đời con luôn trông lên Mẹ… là Sao Mai sáng… hằng dẫn lối con về quê trời…

Nó ngồi xuống và thấy người nhẹ hẳn đi.

Nó nghe văng vẳng tiếng người xa xa rồi gần, nhỏ rồi rõ hơn. Tiếng các anh gọi nó! Có tiếng anh Nghĩa gần đâu đây. Nó lại sợ. Không được! Gặp anh thì nói làm sao bây giờ? Nó quý anh lắm nhưng cũng sợ anh. Nó co người lại, tay làm dấu thánh, miệng lầm bầm: «Mẹ là nguồn cậy trông, là hy vọng của chúng con» Tiếng các anh xa dần, nó thở phào và ngồi ngay ngắn lại. Nó tin là Mẹ hằng giúp nó. Làm xong việc này, nó sẽ tìm về với các anh. Không ai còn coi nó là trẻ con nữa. Mắt nó lim dim và ngủ thiếp đi, tay ôm vật báu thiêng liêng của nó…    

Nó thấy mợ dắt tay đưa nó tới trường. Ngôi trường to lắm, có tượng Đức Chúa Con lúc nào cũng nhìn xuống bầy chiên như Người biết hết mọi chuyện trên đời. Nó thấy cậu chở nó và em gái Hélène trên chiếc xe đạp trên con đường bóng loáng lên Bờ Hồ trong ngày lễ hội thật vui. Nó xông ra ven hồ cùng đám trẻ lủng lẳng trên cổ những xâu vỏ bưởi thi nhau ném tới tấp xuống mấy chiếc thuyền rồng trong tiếng reo hò ầm ĩ. Nó thấy cả nhà đang ngồi quây quần bên chiếc bàn ăn đông người lắm. Và cũng đông người thế đang qùy gối cúi đầu đau đớn mà không thấy cậu mợ đâu. Nó ngẩng đầu lên chỉ thấy Cha xứ người tây tay cầm cây thánh giá giơ cao. Nó giật mình tỉnh giấc, nhớ là buổi lễ cầu hồn. Sao cậu mợ chết thê thảm thế? Nó thành đứa trẻ mồ côi! Nó không tưởng tượng nổi những gì đã xẩy ra với nó trong ít ngày nay. Nó không còn có khái niệm thời gian. Tưởng chừng chuyện mới xẩy ra hôm qua, hôm kia thôi. Không lẽ nào như thế được! Cậu mợ giờ đang ở đâu? Nước từ đâu chẩy ra, nóng rần rần trên má, trên mũi… Nó đưa lưỡi đón vào miệng những giọt nước nóng nóng và mặn mặn ấy.                              Tiếng súng liên thanh réo rít lên nghe gần quá kéo nó ra khỏi cơn mộng mị. Nó nhìn ra, trời đã sáng rồi, nghe rõ tiếng súng từ cái ụ đề kháng ngay ngã tư  Sở gần đây. Nó tỉnh táo hẳn ra, đứng bật dậy, vác vũ khí lên vai xăm xăm đi về hướng đó.

Nó thấy lòng sảng khoái, đôi chân lâng lâng. Điều nung nấu bao lâu nay không ai ngăn cản nữa. Nó buột hát ra thành lời:

Bao chiến sỹ anh hùng / Lạnh lùng vung gươm ra sa trường / Quân xung phong… nước Nam đang chờ mong tay ngươi / Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời

Vừa lúc đặt chân ra đường lớn, nó giật mình chợt nhớ ra: Đi thế này sẽ bị bắn từ xa! Nó liền tạt vào ngôi nhà hoang bên phố, rút từ trong túi ra chiếc khăn tay trắng, buộc vào một càng bom rồi thử giơ lên. Thế này là mình đi đầu hàng à? Nó hạ vũ khí xuống. Suy nghĩ… Ngước lên đáo nhìn quanh nhà. Một  lá cờ đỏ sao vàng cài trên liếp! Nó nhẩy tới lấy xuống, buộc vào một càng bên và hài lòng với trang bị của mình. Chân sáo tung tăng bước ra đường lòng hân hoan miệng hát vang lên những lời hào khí:

Là trang nam nhi / Quyết chiến sa trường / Sống thác coi thường / Mong xác trong da ngựa bọc thân thể trai…

Nó hướng thẳng về ụ súng và mấy chiếc xe giữa ngã tư kia, nhấc cao chân lên, vừa đi vừa hô: Un… Deux! Un… Deux! (Một… Hai! Một … Hai!) để mọi người chú ý. Vài người trong nhà ngó thấy thằng bé thật lạ lùng nhưng không dám lộ mặt ra. Đằng kia, mấy thằng tây nhìn thấy một đứa trẻ con vai vác cái gì phất phơ cờ trắng đỏ? Chúng xoay nòng khẩu đại liên, thằng bé nằm ngay chính giữa vòng ngắm trên đầu họng súng. Trong đầu Nghĩa Sỹ bật ra lời thơ: Et les soldats riaient avec leur officier… Mais le rire cessa… (Quan và lính cả cười… Rồi bỗng nhiên im bặt…). Em phấn kích hát vang lên bằng tiếng Pháp:

Allons enfants de la patrie

       Le jour de gloire est arrivé

       Contre nous de la tyrannise

       L’étendard sanglant est levé

       Entendez–vousdans les campagnes

       Mugir ces féroces soldats

       ls viennent jusque dans vos bras

       Égorger vos fils, vos campagnes

       Aux armes, citoyens!

       Formez vos bataillons!

       Marchez! Marcchez!

       Qu’un sang impur

Abreuve nos sillons

(Tổ Quốc gọi: Hỡi con của mẹ

Tiến lên đi: Chiến thắng tới rồi

Áp bức hung tàn ta chống lại

Ngăn kẻ thù sát hại dân lành

Có nghe chăng trên cánh đồng hoang

Tiếng gào rú của loài dã thú

Cắt cổ con anh bế trên tay          

Giết đồng đội anh trên chiến luỹ

Hỡi nhân dân hãy cầm vũ khí

Hãy đứng vào đội ngũ đấu tranh

Hãy tiến lên đồng bào đồng chí

Lấy máu thù để ta tưới lên

Những luống cày ta đang vỡ đất )

Bọn lính tây nghe vang lên bài quốc ca chào cờ mỗi sáng. Chúng trố mắt ra. Nghĩa Sỹ càng tới gần, em càng hát to hơn, chân dậm mạnh hơn. Từ cảnh giác đến ngạc nhiên, bọn lính hứng lên, đứa vỗ tay, đứa dậm chân nhịp theo em hát. Nghĩa Sỹ vươn người lên, vừa đi vừa hát theo nhịp khúc quân hành. Cái dũng khí hồn nhiên ấy lan sang đám lính. Bài quốc ca Pháp ra đời trong máu lửa từng được hát vang lên dưới màu cờ đỏ sao giống lúc này. Nó lại được đứa trẻ của một quốc gia xa lạ đang bị chinh phục hát lên đầy hưng phấn đã gây cho chúng niềm cảm hứng đột khởi. Tới sát đám lính rồi, Nghĩa Sỹ còn đi thêm vòng nữa, hùng dũng tự tin, ngẩng cao đầu, giơ tay vẫy chào, kéo bọn lính bước ra khỏi tháp xe và ụ chiến đấu vỗ tay Bravo! Bravo! (Hoan hô! Hoan hô!). Đúng đến câu Qu’un sang impur… Abreuve nos sillons (Lấy máu thù để ta tưới lên… những luống cầy ta đang vỡ đất) cũng là vừa lúc áp sát lũ giặc thù. Nghĩa Sỹ nghiến răng, trừng mắt tóe ra những tia lửa hờn căm như những mũi dao găm phóng thẳng vào bầy lang sói.

Khi những con ác qủy kịp nhận ra từ ánh mắt kia tai họa đang giáng xuống, trong nỗi hoảng loạn kinh hoàng chúng phát ra những tiếng rú gào khiếp đảm của những con vật trong cơn tuyệt vọng, cùng lúc thiếu niên nghĩa sỹ thiên thần hướng đầu trái bom lao thẳng vào xích chiếc xe tăng với tiếng thét vang trời trút ra tất cả nỗi hờn chứa bấy nay:

- C’est pour toi! (Của chúng mày đây!)   

Một chớp lửa loé rực lên và một tiếng nổ long trời!

Khói bụi, đất đá tung văng ra tứ phía…

Tại căn cứ, tin trinh sát từ nội thành báo về cái chết anh hùng của một em bé vô danh tại ngã tư  Sở vào sáng ngày 18 tháng 2 ngay sau đêm quân ta rút khỏi Thủ đô.

Nghĩa ôm mặt…  bật lên tiếng khóc

(trang 326)

 

Link http://sachhiem.net/VANHOC/N/NguyenvThinh_PTHe.php

ngày 24-Dec-2016

Trang Văn Học