Giáo Dân Bất Tuân Luật Pháp

Là Trường Hợp Cá Biệt Hay là Truyền Thống Lâu Đời

Tân Pháp

http://sachhiem.net/TONGIAO/tgT/Tanphap.php

05 tháng 9, 2008

Một tài tiệu lưu trữ ở văn khố Pháp ghi: Lanessan, một quan chức cao cấp của chính quyền thuộc địa, trong bản báo cáo với Bộ Pháp quốc hải ngoại, viết:

... Ở Trung kỳ, nơi Nho Sĩ đông hơn ở Bắc kỳ nhiều, họ bị tủi nhục bởi vô số những xúc phạm mà quân đội Pháp gây ra cho các quan lại cao cấp nhất, bởi các khoảng tiền phạt mà Phật tử ở một số tỉnh phải đóng cho người theo đạo Gia Tô và bởi thái độ của người Gia Tô khắp nơi không chịu nộp thuế, sưu dịch, tóm lại, không chịu tuân theo uy quyền của quan lại. Về việc này, quan toàn quyền Lanessan nêu ra một thí dụ điển hình:

Viên Tổng đốc và các Tri Phủ của một tỉnh ở Trung Kỳ kể với ông ta rằng các tín đồ Gia Tô giáo không tuân lệnh nộp thuế, làm xâu, v.v... của giới chức địa phương; ông ta hỏi sao không bắt họ phải tuân lệnh như bắt Phật tử. Viên Tri phủ của một nơi có nhiều tín đồ Gia Tô giáo trả lời: "Chúng tôi đã thử làm như thế, nhưng nhân viên chúng tôi bao giờ cũng được trả lời bằng những phát súng". Hầu như khắp nơi, ở Bắc cũng như ở Trung Kỳ, các tín đồ Gia Tô giáo đã hoặc ít hoặc nhiều từ khước các bổn phận mà những người Việt Nam khác phải làm, và họ được những giáo sĩ thừa sai khuyến khích làm như thế. Tình trạng đó đưa đến kết qủa tất nhiên là sự hiềm thù sâu xa giữa hai hạng dân, và đó là nguyên nhân của các hổn loạn địa phương, nhất là tại các tỉnh phía Bắc Trung Kỳ. (Trích từ: Ghi chú về tình hình chính trị và kinh tế ở Bắc kỳ và trung kỳ, ngày 13/7/1887, Thư khố Bộ Pháp quốc Hải ngoại, A 00(22), hộp 2.

http://www.sachhiem.net/TCNdt/NSanphamtritue.php

Thế thì vai trò hàng giáo sĩ Ky Tô giáo thế nào, các tài liệu dưới đây cho biết:

GIÁM MỤC PUGINIER (1835-1892)

Hãy nghe cuộc đối thoại đáng ngạc nhiên mà toàn quyền De Lanessan kể lại sau đây. Năm 1887, ông đến thăm chính thức người chỉ huy các Hội truyền giáo tại Đông Bắc Việt Nam, giám mục Puginier.

 “Vì ông ta (giám mục Puginier) luôn luôn trở lại vấn đề các sĩ phu, De Lanessan viết, tôi nghĩ mình được phép hỏi: “theo ý ông thì nước Pháp phải đối xử với tầng lớp sĩ phu như thế nào?” Câu trả lời của ông ta rất rõ ràng và ngắn gọn: “Phải thủ tiêu họ đi !”, ông ta đáp, kèm theo với một điệu bộ làm cho câu trả lời ấy càng thêm cụ thể hơn.

“- Vì sao ?”, viên toàn quyền hỏi. “Vì các sĩ phu có một ảnh hưởng rất lớn.”. Vị giám mục đáp, một uy tín rất lớn; họ được kính trọng mỗi khi họ ra làm quan, cho nên cần thiết phải thủ tiêu họ đi. Chừng nào tầng lớp sĩ phu còn, thì chúng ta còn phải lo sợ tất cả, bởi vì với lòng yêu nước nồng nàn, họ không thể nào chấp nhận nền đô hộ của chúng ta. Còn điều nữa là chẳng một ai trong họ chịu theo đạo Kitô cả”.

Ghi Chú:


- De Lanessan: viên toàn quyền Đông Dương

- Giám mục Puginier: người chỉ huy các Hội truyền giáo tại Đông Bắc Việt Nam.

Nguồn:


Phần Phụ lục trong tác phẩm “Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897)”, tác giả Nguyễn Xuân Thọ tự xuất bản 1994. (Tốt nghiệp tiến sĩ Sorbonne, cựu viên chức Bộ Ngoại giao Pháp...)

Giám Mục Puginier khẳng định rằng:

"Không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã bị bẻ gẫy hết càng. Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần chính xác và mạnh mẽ. Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo, người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù, họ sẽ không thể tin cậy vào một ai, họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá hoại tình thế của họ, họ sẽ bị đẩy vào tình trạng không thể hoạt động được gì và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng. Địa vị của họ ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây quyền lợi và ngay cả sự hiện hữu của họ sẽ bị nguy hại."

(Alain Forest & Yoshiharu Tsuboi: Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé toutes les pattes. La comparison, pour être triviale, ne manque pas de justesse et de force. En effet, sans les missionnaires et les chrétiens, les Francais se verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne; ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour compromettre leur situation; ils se trouvaient donc réduits à l'impossibilité d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres. Leur position ici ne serait plus tenable, et ils se verraient forcés de quitter un pays où leurs intérêts et leur existence même serait compromis.)

(được trích dẫn trong cuốn Catholicisme et Sociétes Asiatiques của Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi - http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=1902)

 

TRƯƠNG VĨNH KÝ

Ở giữa thế kỷ 19, Trương Vĩnh Ký, tu xuất và làm nô bộc đắc lực cho thực dân Pháp, đã không ngần ngại xúi giục quân xâm lược đánh chiếm nước ta. Hãy đọc một đoạn trong lá thư trình Đô đốc Page vào tháng 12 năm 1859, chỉ mười tháng sau khi Pháp chiếm Gia Định, y đã hãnh diện viết: "...Ngoài ra, không một người Việt Nam nào theo Ki-tô giáo lại ngần ngại xin gia nhập làm lính dưới cờ Pháp, ông vua Việt Nam không theo đạo, chẳng phải là vua của họ. (...Du reste, pas un Vietnamien catholique n’hésita à demander à s’enrôler comme soldat sous le drapeau francais, le roi payen du Vietnam n’était point leur roi.) (Depêche de l’Amiral Page, du 14-12 et 25-12-1859. Archives Nationales, Fonds Marine BB4-777).

 

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

Nguyễn Trường Tộ theo giám mục Gauthier và linh mục Croc đến đón đội quân của Rigault de Genouilly ở Đà Nẵng khi Genouilly tấn công Đà Nẵng. Tài liệu do linh mục Trương Bá Cần đưa ra về tình hình Đà Nẵng khi đó như sau: Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng, đứng đầu là giám mục Pellerin, đã cùng nhau làm áp lực để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Sài Gòn. Do đó, trước khi đem quân vào Sài Gòn, Đô đốc Rigault de Genouilly đã tìm cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hong Kong. Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn trường Tộ và những người tháp tùng đã đi sang Hong Kong trong những điều kiện như thế vào đầu năm 1859. (theo Trương Bá Cần, NTT: TBC, trg. 22) Nguồn: http://www.giaodiem.com/mluc/index-nguyentto.htm

 

Linh Mục Trần Lục

Linh Mục Trần Tam Tĩnh, Giáo sư đại học Laval, Québec, Canada, viết trong cuốn Dieu et César, trg. 41-42 (bản tiếng Việt: Thập Giá và Lưỡi Gươm):

"Cho tới khi chết ngày 25 tháng 4/1892, giám mục Puginier đã hoạt động không ngưng nghỉ ngày nào để củng cố địa vị của nước Pháp tại xứ ông đã nhận là quốc gia mới. Người ta còn giữ được mấy chục bản lời ghi chú và những tin tức tình báo có mang chữ ký của ông trong những Văn Khố của Bộ Thuộc Địa. Một phần nhờ vào các tin tức tình báo của ông (giám mục Puginier) mà quân Pháp có thể dẹp tan quân đội kháng chiến của Việt Nam. Trung tâm kháng chiến khốc liệt nhất là ở Ba Đình, Thanh Hóa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Đó là một làng được tăng cường bởi một vòng đai lũy tre, những ụ kháng chiến, những hầm trú ẩn, và một hệ thống hầm giao thông được xếp đặt một cách tinh vi. Để "bình định" làng này, quân đội Pháp đã kéo tới 2,250 binh sĩ với 25 khẩu đại bác, 4 tàu chiến dưới sự chỉ huy của đại tá Metzinger. Cuộc tấn công của Pháp ngày 18 tháng 12/1886 bị đẩy lui. Quân Pháp bao vây để tìm kiếm một chiến thuật mới. Sung sướng thay cho họ, một sĩ quan trẻ, đại úy Joffre (sau này trở thành thống chế nổi tiếng của Pháp trong đệ nhất Thế Chiến), đã nghĩ đến việc cầu sự trợ giúp của Trần Lục, cha xứ Phát Diệm và là Phó Tướng đặc trách bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tịnh. Trần Lục, được giám mục Puginier ban phước lành, mang 5000 giáo dân Gia Tô đến giúp quân Pháp. Và Ba Đình bị thất thủ."

(Jusqu'à sa mort le 25 Avril 1892, Mgr Puginier ne restait pas une journée sans travailler à affermir la position de la France dans son pays d'adoption. On conserve des dizaines de Notes et renseignements portant sa signature dans les Archives du Ministère des Colonies. Et en partie grâce à ses renseignements, les Francais purent écraser la résistance armée des Vietnamiens. La résistance la plus farouche était menée à Ba Dinh, Thanh Hoa, sous la direction de Dinh Cong Trang. C'étai en apparence un village fortifié avec une ceinture de bambous, des remparts, des tranchées et boyaux de communication savamment disposés. Le moral des combattants était très haut. Pour le "pacifier", les Francais envoyèrent une force de 2250 soldats, 25 canons, 4 canonnières sous le commandement du colonel Metzinger. L'attaque du 18 Décembre 1885 fut repoussée. Les Francais durent l'assiéger et cherchant une nouvelle tactique. Heureusement pour eux, un jeune officier, le capitaine Joffre (qui deviendra le fameux maréchal de France pendant la première guerre mondiale), pensa à demander l'aide du père Tran Luc, curé de Phat Diem et vice-roi pour la pacification des provinces de Thanh Hoa, Nghe An et Ha Tinh. Celui ci avec la bénédiction de Mgr. Puginier vinh à la rescousse des Francais avec 5000 chrétiens. Et Ba Dinh fut pris.)

Bên trái: Anh hùng Đề Thám vị quốc vong thân

Bên phải: Thực dân Pháp và bọn tay sai bán nước đã giết những người yêu nước, bằng cách chặt đầu.

 

GIÁM MỤC NGUYỄN BÁ TÒNG

Sinh tại Gò Công 7.8.1868, là người cọng tác đắc lực với Pháp nên được chính phủ thực dân tặng Đệ Ngũ Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh. Trong lễ nhận huy chương cao cấp ngày 3.12.1940, Nguyễn Bá Tòng tuyên bố: " con dân Việt Nam tỏ lòng trung thành đối với mẫu quốc " Pháp.

Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình

Mỹ tái lập đế chế Diệm-không-Diệm vững mạnh để tiến hành chiến tranh hủy diệt với thuốc khai quang, bom đạn và hơn hai triệu quân nhân lần lược thay phiên tham chiến tại Việt Nam. Số bom rải xuống Việt Nam còn hơn tổng số bom đạn trong thời đệ nhị thế chiến II quyết đẩy Miền Bắc trở lại thời Ðồ Ðá (TV: Vietnam War History). Thế đó, nhưng khi Tổng thống Johnson tuyên bố chấm dứt oanh tạc miền Bắc thì Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình phản ứng ra sao? Tờ Le Monde, ngày 22/10/1968 trả lời như sau: “Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình, ở Sàigon, được mọi quan sát viên phương Tây xem là người ôn hòa nhất trong số những nhà lãnh đạo Thiên Chúa giáo Việt Nam mới đây đã chấm dứt sự im lặng khi tuyên bố chống lại việc ngưng oanh tạc miền Bắc." Không biết Thủ Tướng Võ văn Kiệt có nhớ điều đó khi chấp nhận đề nghị của những tay Công giáo vận lấy tên Nguyễn Văn Bình đặt cho một con đường tại thành phố Hồ Chí Minh?

Hãy đọc toàn bộ sự thật về những âm mưu nham hiểm của tập đoàn VTC-TDTP trong mưu đồ xâm nhập và cai trị Việt Nam do cố học giả người Anh gốc Ý Avro Manhattan đã viết trong cuốn “Vietnam ... Why Did We Go?”, do Chick Pub, Los Angeles xuất bản năm 1984. Bà con có thể truy cập dễ dàng ở website này www.reformation.org/vietnam.html. Trong đó ông tiết lộ một chi tiết ... rợn người là chính tên giáo hoàng khát máu Pius XII, với đại diện của y tại Mỹ là hồng y Spellman, đã ráo riết vận động quân đội Mỹ thả từ 1 đến 6 quả bom hạt nhân 31-kiloton xuống bộ đội Việt Minh để giải vây cho Điện Biên Phủ vào năm 1954. Bom hạt nhân này có sức tàn phá gấp 3 lần quả bom thả xuống Hiroshima ở Nhật. Âm mưu này đã được sử liệu quân đội Hoa Kỳ bạch hóa vào năm 1984. May nhờ hồng phước của các vua Hùng nên chuyện nay đã không xảy ra như chúng muốn, chứ không thì không biết con cháu của các vị bây giờ khốn nạn đến thế nào nữa.

Đấy, tình yêu nhân loại của Thiên Chúa thánh thiện, mà bộ máy tuyên truyền của giáo gian ra rả ‘ngay cả cho con một của mình xuống trần gian chịu chết trên thánh giá để chuộc tội của con người’, vậy mà qua đại diện của mình trên trần gian là Pius XII, nó thể hiện ... độc ác hèn hạ như thế!

Cho nên ai bảo đạo Ca-tô La-mã là một tôn giáo thuần túy thì ... quả là ngây thơ cụ. Nó là một công cụ chính trị khuynh đảo với vỏ bọc tôn giáo, một tổ chức gián điệp tình báo quốc tế siêu hạng chuyên để phục vụ quyền lợi của Tây phương. http://giaodiemonline.com/2007/11/visao.htm

 

LINH MỤC HOÀNG QUỲNH

Linh mục Hoàng Quỳnh ( Cha Tổng) ở Miền Nam trước năm 1975, dựa thế Vatican và chế độ Nguyễn văn Thiệu dẫn giáo dân Hố Nai, Gia Kiệm vác gậy gộc đi làm loạn ở Saigon, nổi tiếng với khẩu hiệu: “Thà mất nước, không thà mất Chúa”.

 

Sử gia Mark W. McLeod, Giáo sư đại học Gonzaga, bang Washington, đã để ra 4 năm ở tại Paris nghiên cứu các tài liệu trong các văn khố của Pháp và hoàn thành tác phẩm The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874, xuất bản năm 1991. Giáo sư McLeod viết như sau, trg. 45-47:

Vai trò của những tín đồ Gia Tô trong cuộc xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha là gì?.. Sự thực là, theo những tài liệu lưu trữ trong văn khố Pháp thì, ngay từ tháng 9, 1858, nhiều toán tín đồ Gia Tô Việt Nam đã tới liên lạc với những đoàn quân chiến đấu của Tây phương. Rigault de Genouilly (tướng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng; TCN) đã họp họ lại thành hai chi đội và huấn luyện họ trong một doanh trại ở Tiên Trà. Một trong hai chi đội trên chiến đấu sát cánh với quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng, còn chi đội kia di chuyển xuống miền Nam, dự phần chiến đấu trong cuộc xâm lược "lục tỉnh" và họ đã dự trận Kỳ Hòa. Sau trận Kỳ Hòa, những lính chiến đấu Gia Tô Việt Nam đã phục vụ những người Tây phương ở Đà Nẵng tiếp tục phục vụ người Pháp, làm lính chiến, thông ngôn, cu-li và thám báo, trong những vùng chiếm được ở miền Nam. Vì những dịch vụ này, họ được Đô Đốc - Toàn Quyền de la Grandière ban thưởng cho một số đất quanh vùng Sài-gòn.

(What was the role of the Vietnamese Catholics during the Franco-Spanish invasion?... In fact, French archival sources show clearly that, as early as September 1858, groups of Catholics began to reach the embattled European armies. Rigauld de Genouilly formed the men into two indigenous detachments and trained them at a camp at Tien Cha. One of these detachments fought alongside the Franco-Spanish soldiers at Da-nang; the other went southward to participate in the invasion of the "luc tinh" and fought in the battle of Ky Hoa. After the battle of Ky Hoa, the indigenous Catholics militamen who entered the service of the Europeans at Da nang continued to serve the French in the occupied south as soldiers, interpreters, coolies, and guides. They were rewarded for their services by Admiral-Governor de la Grandière, who granted them concessions of land in the Saigon area.)

Chúng ta không nên quên rằng, trong số những người phản bội quốc gia đến liên lạc với lực lượng Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng có mặt Nguyễn Trường Tộ, người theo hầu thân tín của giám mục Gauthier, cùng với giám mục Gauthier, giám mục Pellerin và một số giám mục khác để làm áp lực với Genouilly tiến chiếm Huế.

Bọn xâm lược khoác “áo chùng đen”

Giám mục Puginier tuyên bố: “Khi nào Bắc Kỳ biến thành một xứ Công giáo thì nó sẽ là một nước Pháp nhỏ”. Trường học thuộc giáo hội Ca Tô La mã ở VN, lấy tên các ông cố đạo xâm lược VN để đặt tên trường: http://www.lasan.org/lasan-vietnam/fsc-school-before75/fsc-school-before75.htm http://giaodiem.com/doithoai/Ntt_nguyenxtho.htm

Bọn cố đạo Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha tìm đến Việt Nam lần đầu khoảng năm 1533, có nơi còn cho là 1516. Họ len lỏi truyền đạo và làm gián điệp trong đám cùng đinh thất học ven biển rồi dần gây dựng được những làng đạo, xóm đạo, xứ đạo.

Sử gia Pháp Georges Coulet đã viết trong tác phẩm của ông “Cultes et Religions de l’Indochine Annamite” Saigon, 1929, như sau: “Thiên Chúa giáo đã mở cửa cho quân đội Pháp và đã là nguyên nhân trực tiếp của cuộc xâm lược đất nước này”.

Một sử gia khác, Taboulet nhận xét: "...đạo Thiên Chúa đảo lộn một cách rõ rệt tất cả những phong tục, tập quán bản xứ; nó làm hư hại nền tảng của đạo chính là sự tôn sùng trời đất, đạo thờ Thành Hoàng và đạo thờ cúng tổ tiên; nó làm rung chuyển và đe dọa làm tan rã nền móng Nhà nước, của gia đình và của xã hội Việt nam" (Taboulet - La Geste française en Indochine. Maisonneuve, 1965).

Nhà sử học Pháp Jabouille trong bài "Une page d’histoire de Quảng Trị" viết trong tạp chí BVA số 4, 1885 "Bất luận thế nào thì Thiên chúa giáo cũng đã được coi như một công cụ để chinh phục... Những tín đồ của tôn giáo này ...đều là bạn, là đồng đảng của những kẻ đại diện cho phương Tây. Xứ Annam có quyền trách cứ họ như những kẻ tòng phạm của bọn Dương quỉ".

Khi Pellerin khẳng định chuyện đám dân chúa Việt gian ở bắc kỳ sẳn sàng tiếp tay với Pháp là vì bọn cố đạo đã ngấm ngầm chuyển vũ khí xúi giục bọn này làm lọan khắp nơi làm cho quan quân triều đình tảo trừ mãi đến mệt mõi suy yếu dần. Trong số giáo gian này có Tạ văn Phụng mà sử gọi là Giặc tên Phụng.

Nguyên là khi quân Pháp tấn công Đà Nẵng, y có mặt trong đám giáo gian Bắc kỳ theo vào làm lính tập cho Pháp. Về sau hắn được gởi đến nhà giòng Pénang để được huấn luyện thêm mà bọn cố đạo gọi là “học đạo”, rồi trở về theo tướng Charner đánh phá Quảng Nam năm 1861.

Đến tháng chạp cùng năm thì bọn cố đạo xúi dục tên Phụng ra Bắc, mạo xưng là Lê duy Minh dòng dõi nhà Lê, rồi tự xưng là minh chủ, cùng với một người đạo trưởng (cỡ ‘trùm sò’ bây giờ) tên là Trường làm mưu chủ, và tên Ước, tên Độ dấy binh ở Quảng Yên. Đảng tên Phụng đem quân giặc Khách ở ngoài bể vào đánh lấy phủ Hải-Ninh, rồi lại thông với giặc Khách và giặc ta ở các tỉnh, để làm loạn ở Bắc kỳ. Tháng ba năm 1862, ở Bắc Ninh có tên cai tổng Nguyễn Văn Thịnh (tục gọi là cai tổng Vàng) xưng làm nguyên súy, nhập đảng với tên Phụng, đem binh đi đánh phủ Lạng Giang, huyện Yên Dũng, và vây thành Bắc Ninh. Vào năm Tự Đức thứ 16, 1863, uy thế của giặc rất lớn và tình hình thật khẩn trương cho triều đình. Có lúc chúng tập hợp hơn 500 chiếc thuyền ở đảo Các Bà và ở núi Đồ Sơn, có ý muốn đem quân vào đánh Kinh đô.

Tuy vậy, sau 4 năm vất vả, quan quân triều đình dưới quyền thống lĩnh của quân-vụ đại-thần Nguyễn tri Phương rốt lại cũng tiêu diệt được đám giáo gian phản động này vào năm 1865.

Năm 1873, quân xâm lược Pháp kéo quân đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất dẫn đến hòa ước Giáp tuất 1874 vào năm Tự-đức thứ 27. Năm 1874, cố đạo Gauthier có Nguyễn Trường Tộ theo hầu 10 năm; khuyến khích các làng đạo tổ chức các đội thân binh võ trang với vũ khí của Pháp tiếp viện, sau đó ra lệnh cho họ kéo quân đi đánh phá các làng bên lương ở Nghệ An và Hà Tĩnh.

Trong bức thư gửi đô đốc Dupré ngày 15 tháng 1, 1874, Các tên cố đạo Gauthier (1810-1877) lấy tên Việt là Ngô Gia Hậu và Puginier (1835-1892) đã thúc giục chính quyền thuộc địa Pháp thiết lập một chính phủ Ca-tô tại Bắc Việt. Puginier bảo “Khi nào Bắc Kỳ biến thành một xứ Công giáo thì nó sẽ là một nước Pháp nhỏ”.

Vua Hàm Nghi và Kinh Đô Thất Thủ: Trong triều thì hai phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn thất Thuyết thâu tóm mọi quyền bính thay chúa đổi vua, sau khi vua Kiến Phúc mất và hai ấu vương Dục Đức và Hiệp Hoà bị phế thì họ tôn cử hòang tử Nguyễn Phúc Ưng Lịch, 13 tuổi lên ngôi kế vị là vua Hàm Nghi. Ngày 17 tháng 8 năm 1884, phái đoàn Pháp gồm các tên Đại tá Guerrier, Khâm sứ Rheinart, Đô đốc Wallarrmé cùng 185 sĩ quan binh lính từ tòa Khâm kéo sang Hoàng thành Huế để dự lễ đăng quang. Guerrier buộc triều đình Huế phải để toàn bộ quân Pháp tiến vào Ngọ Môn bằng lối giữa, là lối chỉ dành cho vua đi, nhưng Tôn Thất Thuyết nhất định cự tuyệt. Cuối cùng chỉ có 3 sứ giả được vào cổng chính, còn lại các thành phần khác thì đi cổng hai bên.

Ghi lại sự kiện này, Marcel Gaultier đã viết: “Vua Hàm Nghi đã giữ được tính chất thiêng liêng đối với thần dân mình. Vô tình vị vua trẻ tuổi đã làm một việc có ảnh hưởng vang dội khắp nước; với ý chí cương quyết độc lập và dù người Pháp có đóng quân tại Huế, triều đình An Nam vẫn biểu dương một thái độ không hèn. Thái độ ấy do Hội đồng Phụ chính đề ra. Hội đồng ấy rất có lý mà tin chắc rằng dân chúng trông vào thái độ của nhà vua để noi theo, xem thái độ ấy như mệnh lệnh [chống lại người Pháp] không nói ra bằng lời..."

Năm sau 1885, thực dân Pháp quyết khiêu khích, cử tướng De Courcy sang Việt Nam để phụ lực vào việc thi hành nền bảo hộ. Khi bàn đến chuyện vào yết kiến nhà vua, chúng ngang ngược đòi triều đình phải mở cửa chính của ngọ môn, không những chỉ để quan nước Pháp đi mà thôi, mà cả quân lính cùng đi vào cửa ấy. Ôi khi nước mất nhà tan thì quốc thể cũng không còn.

Thượng thư binh bộ đệ nhị Phụ chính Tôn Thất Thuyết không chịu nổi sự đòi hỏi xấc láo của De Courcy, nên phát lệnh tổng tấn công vào quân Pháp ở tòa Khâm sứ và đồn Mang Cá đêm 4 rạng 5 tháng 7 năm 1885 (tức đêm 22 rạng 23 tháng 5, năm Ất Dậu). Nhưng than ôi, chỉ là lấy trứng chọi đá, nên hôm sau quân Pháp phản công triệt hạ quân ta dễ dàng và làm chủ kinh đô. Ngày ấy sử ghi là “ngày kinh đô thất thủ”; một ngày buồn thảm của cả dân tộc. Thuyết đành đem vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị rồi lên đồn Tân Sở trong núi, mưu chuyện kháng chiến lâu dài.


http://giaodiemonline.com/2007/11/visao.htm
http://www.giaodiem.com/doithoaiIII/09_cn_thuasai.htm

Trang Tôn Giáo