|
Toàn tập: 1
2 3
LTS: Đây không chỉ là một bài cảm tưởng trước một vấn đề thời sự, mà là
một kết hợp những bức xúc liên lỉ của người dân trong một nước nhược tiểu dưới phong ba của thế lực ngoại xâm. Tuy bài viết được hoàn thành
một cách vội vã (chưa được duyệt đọc, sắp xếp thứ tự các dữ kiện,...), tác giả đã qui tụ được rất nhiều tài liệu, hình ảnh từ nhiều nguồn tài liệu, đề cập đến nhiều vấn đề qua bao thế kỷ
(SH)
Đây là bài viết với ý tưởng mới lạ & nhạy cảm. Độc giả nên cân nhắc kỹ trước khi xem bài này. (lời tác
giả, Mr. Tam)
PHẦN I
Phẩn nộ khi đọc báo điện tử online thấy quốc giáo Vatican do “đức
thánh cha”; Giáo hoàng quốc xã Đức, tù phạm chiến tranh thế chiến 2
“Nazi Cardinal Joseph Ratzinger, now Pope Benedict XVI inaugurated on
the Anniversary of the Birth of Adolph Hitler” (1a). “Questo PAPA , e'
il peggio nazista che potevan mettere a capo del Vaticano” (1b) Nazi
Joseph Ratzinger (1c) rục rịch thò lò “chơi trò chính trị” phong thánh
đám tay sai của mình:
ÐGH khởi sự tiến trình phong thánh cho Hồng y
Nguyễn Văn Thuận” (1d)“
“Giáo hoàng Benedict XVI vừa bày tỏ sự ủng hộ của Ngài
cho tiến trình chuẩn bị phong chân phước cho đức Hồng y người
Việt Francois Xavier Nguyễn Văn Thuận” (1e)
Thật là:
Người xưng “đức cố”, kẻ xưng cha,
Gián điệp tay sai hại nước nhà,
Mãi quốc cầu vinh, phường phản tặc,
Thương luân bại lý, bọn gian tà.
Tội đồ dân tộc tôn vinh "thánh".
Ác bá dâm tà: "đức thánh cha".
Tà đạo thực dân chung một Chúa.
Nhân nào quả ấy chẳng còn xa.
Lương Nhân
“Giáo hội gian ác” (1f) với “CHỦ
NGHĨA GIÁO HỘI” (1g) [dịp khác tôi sẽ viết bài giải thích tường tận
về “chủ nghĩa giáo hội” này trên Giao Điểm Online
(1). Muốn tìm hiểu kỹ hơn về Giáo Hội Hoàn Vũ này mời các bạn
đọc: “Quyền lực của những Quân Vương”
(2a) Hay
là “lịch sử các giáo hoàng” (2b) Các bạn có thể xem sự thật trong
cuốn Mật mã Da Vinci (2c) Và
trọn bộ MMDV đã đăng trong Việt Nam thư quán (2d)”]
ôm mộng bá chủ thế giới do Constantine (2e) “phục sinh” nó ra từ
đầu thế kỷ thứ 4. Cái “quái thai nghịch tử” này quay lại “đâm cha – giết
chúa” dân tộc Do Thái (gieo nhân nào thì gặt quả ấy ! Có phải là
“nghiệp báo” cho dân tộc Do Thái vì đã trót đã sinh ra Jesus ?)
(2f). Và gây ra thảm hoạ cho nhân loại suốt chiều dài 2000 năm lịch sử
tồn tại của nó.
A. MAFIA GIA TÔ MƯU ĐỒ XÂM LƯỢT NGÀN NĂM:
Qui luật “Chu Dịch” cho ta
thấy { xem thêm Kinh Dịch là của người VN
(2g) } ; đạo Gia Tô bành trướng từ thế kỷ
thứ 1 kéo dài tới thế kỷ thứ 6 đến hồi cực thịnh (thái cực), cuối thế
kỷ thứ 6 thì Giáo chủ Muhammad ra đời, giữa thế kỷ
thứ 7 thì đạo Hồi truyền đạo bỡi chiến tranh; lan nhanh ra khỏi vùng
Trung Đông, chặn đứng sự bành trướng của đạo Gia Tô (Lưỡng Nghi): Đúng
theo qui luật của tự nhiên “đấu tranh sinh tồn” đã cân bằng được âm
dương; nếu không thì Gia Tô giáo sẽ cho “lên giàn hỏa” -
The Inquisition (2h)
hết thảy
thiên hạ trên trái đất này.
Để dành lại những vùng đất đã mất, Giáo
Hội Hoàn Vũ tiến hành hàng chục cuộc thập tự chinh lớn nhỏ; bại nhiều
thắng ít. “Tiến thoái lưỡng nan”, Đế quốc Công giáo lại chuyển hướng
sang xâm lượt các nước chậm phát triển, không đủ sức tự vệ khác. Kể
từ lúc Popes For Slavery
Nicolas V (2k) ra sắc chỉ
Romanus Pontifex ngày 8.1.1454 cho phép vua Bồ-đào-nha khai chiến với các dân tộc
Phi châu để cướp tài sản của họ và bắt họ làm tôi mọi (2m);
tiếp theo là sắc chỉ Inter Cactéra ngày 3.5.1494 của Giáo hoàng
Alexandre VI, cho phép Tòa thánh sử dụng quyền Chúa ban; để mở mang nước
Chúa:
Năm 1492 CG xâm
chiếm Châu Mỹ: Côlombô đã đưa Gia tô giáo đến làm cỏ & cướp vàng Tân Thế
Giới. Thời kỳ này Giáo Hội bắt đầu nỗ lực thống trị toàn cầu một cách
mãnh liệt sang đến tận Châu Phi, Châu Á và Châu Ðại Dương (2n). Người Châu Phi là nạn nhân của “chế độ
giáo hoàng” đẻ ra chế độ nô lệ: “1 tội ác lớn nhất, khủng khiếp nhất
trong lịch sử nhân loại chống lại loài người” : “Kiếp người nô
lệ khổ đau, bị cưỡng ép lao động như trâu bò kéo cày, bị đánh đập, hành
hạ, nếu chống lại chủ thì bị xiềng xích, đóng gông. Người bỏ tiền mua nô
lệ dùng thỏi thép nung đỏ, đóng dấu trên lưng để nhận dạng nô lệ nếu bỏ
trốn”. Biết rõ thảm trạng như thế: Nhưng vì đây là một hình thức
làm ăn buôn bán mới và sở hữu vô nhân đạo mang lại nhiều lợi nhuận lớn
không kém gì so với ma tuý, cho nên Giáo Hội Hoàn Vũ vẫn nhắm mắt làm
ngơ cho “thương thuyền Âu Châu chở vũ khí, máy móc, rượu, hàng hoá biến
chế rẻ tiền bán cho Phi Châu, và ngược lại mua "người" từ Phi Châu bán
cho Mỹ”. Hậu quả sau 500 năm tàn phá Châu Phi do Giáo Hội Hoàn Vũ đã
làm cho chúng ta thấy như ngày hôm nay: Người Mỹ thì giàu, người
Phi thì chết đói.
Giáo hội CG (công giáo) tự cho
là mình có Quyền bảo trợ (Padroado) trong công cuộc chinh
phục và truyền giáo cưỡng bức cải đạo đẫm máu các dân tộc khác
(2p), và bênh vực
cho chủ nghĩa thực dân
(2q)
Giáo hoàng La Mã phái những tên
lính biệt kích đến những xứ sở “man di mọi rợ” xa xôi; các lính
thừa sai Dòng Tên lén lút đột nhập vào các nước Đông Phương
(dù bị cấm cửa trục xuất, đuổi cổ ra nhiều lần) làm nhiệm vụ
lập ra các đoàn quân “đặc nhiệm” “gián điệp nằm vùng”
chờ thời “bán nước cho Tây”:
“Bằng tôn giáo (CG)
và bằng vũ khí. Các nhà tu hành
(giáo sĩ thừa sai)
của chúng tôi mở đường bằng cách “qui đạo” cho các dân tộc. Sau
đó bắt họ thần phục nước Tây Ban Nha chỉ còn là 1 trò chơi đối
với chúng tôi”. (Người Pháp &
Người Annam; bạn hay thù ? Phillippe Devillers).
Thừa thắng ở châu Phi và châu Mỹ,
năm 1533 người
linh mục gián điệp Tây đầu tiên tên là Inekhu đi đường bể
lén lút xâm nhập
vào làng Ninh Cường, làng Quần Anh thuộc huyện Nam Châu (tức Nam
Trực) và ở làng Trà Lũ huyện Giao
Thủy (2r)
Sau đó, ngày
15 tháng 1 năm 1627
tên gián điệp biệt kích
dòng tên
Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đã cập bến Cửa Bạng (Thanh Hóa). Trong vòng 20 năm, hắn ta bị trục
xuất đến sáu lần. Nhưng hắn ta vẫn tìm cách lén lút xâm nhập trở lại
Việt Nam. “Năm 1645, A. de Rhodes đến Roma báo cáo với Giáo hoàng.
Đến năm 1858, với áp lực và nhiệt tình của Giáo hội Pháp, Giáo
hoàng Alexandre VII đồng ý cử các Thế diện Tông toà Pháp là
Pallu, Lambert và Cotolendi sang Viễn Đông đảm nhiệm công cuộc truyền
giáo. Và chỉ mấy năm sau (1663), một tổ chức truyền giáo lấy tên là Hội
truyền giáo nước ngoài Paris (Société des missions étrangères de Paris),
người Công giáo Việt Nam gọi là Hội Thừa sai Paris, được thành
lập ở Pháp nhằm đào tạo các giáo sĩ thừa sai Pháp đi truyền giáo ở Viễn
Đông.
Căn cứ vào bản trần tình
của các vị bề trên của Hội với Nhà nước Pháp năm 1790, thì Hội này vừa
có nhiệm vụ truyền giáo vừa có nhiệm vụ phát huy thế lực của Nhà nước
Pháp ra vùng đất ngoại.
Vai trò kép
này của Hội Thừa sai Paris cũng đã được
nhiều sử gia người Pháp
khẳng định: "Đó là một thứ hội lớn có tính chất quốc gia... Nước Pháp
sang á Châu, mang theo đạo Thiên Chúa cũng giống như người Tây Ban Nha
hay người Bồ Đào Nha trước đây"; điều đó có nghĩa là
nước Pháp cũng áp dụng phương thức thông qua
việc truyền giáo để phát hiện và xâm chiếm thuộc địa giống
như hai nước nói trên đã và đang làm ở Nam Mỹ.
(2)
Trong
lệnh truyền (sắc chỉ) năm 1659 Giáo Hoàng Alexandre VII đã ấn định nhiệm
vụ của Hội Thừa Sai là đào tạo và thiết lập một tầng lớp giáo
sĩ địa phương, (có) hoạt động chính trị,
chú ý (tiêu diệt) văn hóa cổ truyền địa phương
(1); và mọi quyết định đều
phải được thông qua La Mã. Từ thế kỷ mười bẩy cho đến nay Hội Thừa
Sai đã gới khoảng bốn ngàn năm trăm giáo sĩ đến châu Á, nhất là các
nước Xiêm La, Việt Nam, Cam bốt, Trung Hoa, Ấn Độ, Đại Hàn, Nhật, Mã
Lai....
Năm
1771 ông được Giáo Hoàng Clément XIV tấn phong Giám mục Adran và
được bổ nhiệm làm Giám mục Tông tòa phụ tá Giám Mục Guillaume Piguel.
Nhưng cũng trong năm ấy Giám Mục Piguel qua đời ngày 21 tháng sáu, Bá
Đa Lộc thay thế Piguel rồi được tấn phong tại Madras ngày 24 tháng
hai năm 1774 (Madras được đổi tên là Chennai năm 1996, là một hải cảng
nằm trên bờ biển Đông Nam Ấn Độ tại vịnh Bengale), và ông lên đường trở
lại Đông Dương ngày 12 tháng ba 1775 với chức vị Giám mục Đại diện
Tông tòa Đàng Trong.
Thời
ấy các linh mục giả trang làm đủ thứ nghề:
thợ mộc, thợ nề, thợ đóng cối xay, thầy lang,
bán thuốc thậm chí gánh nước thuê, người đi câu, lái buôn... để truyền
đạo, và được sự trợ giúp tích cực của các thương nhân, thậm
chí có lúc các giáo sĩ đào tạo chủng sinh trên các thương thuyền.
Các chủng viện thời đó là nhà tranh vách đất thiếu thốn mọi thứ, thường
bị di chuyển nơi này qua nơi khác, chủng sinh học đạo bằng tiếng La
tinh, luân lý hay giáo sử, địa lý, toán pháp căn bản, và thiên văn học
(2s)
Pigneau
de Béhaine bán nước Việt Nam cho Giặc Pháp
Pigneau de Béhaine đến Đàng Trong năm
1767 lãnh chức giám đốc nhà dòng Hà Tiên, được thụ phong chức giám mục
năm 1774. Lúc này, khi Nguyễn Ánh,
người nối dõi vương triều Nguyễn đang bị quân Tây Sơn truy bắt,
phải trốn tránh, đã được Pigneau de Béhaine
ra tay cứu mạng với ý định giúp ông ta trở lại ngôi vua, nhân đó có thể
cải giáo rồi biến Đàng Trong thành một quốc gia Thiên Chúa giáo thuộc
Pháp. Cuối năm 1784, khi quân Nguyễn ánh bị đánh tan tác,
đang ở bước đường cùng Pigneau de Béhaine
đã thuyết phục ông này cầu viện sự cứu trợ của Pháp. Pigneau
de Béhaine được giao trách nhiệm thay mặt Nguyễn ánh đi cầu viện vua
Pháp mang theo con trai trưởng của Nguyễn ánh là hoàng tử Cảnh lúc ấy
mới 6 tuổi, để làm tin”.
(2)
Pigneau de Béhaine đến Pháp tháng 2 năm 1787. Qua
nhiều tháng tiến hành các cuộc tiếp xúc và tường trình. Ngày 28/11/1787, tại cung điện
Versailles (Pháp) một hiệp ước gọi là “Hiệp ước Liên minh tấn
công và phòng thủ” được ký kết giữa đại diện của Nguyễn Ánh là Bá Đa
Lộc và đại diện của vua Pháp Louis XVI là bá tước De Mont Morin:
“Nội dung chính của hiệp ước Versailles
là Pháp cam đoan sẽ gửi quân đội và vũ khí sang trợ giúp Nguyễn Ánh;
đổi lại Pháp được quyền sở hữu hoàn toàn cảng Hội An và
đảo Côn Lôn cùng với việc mở cửa buôn bán độc quyền thương
mại dành riêng cho Pháp.
Hiệp
ước Versailles 1787 là một cơ sở pháp lý mà sau này các giáo sĩ thừa sai
Pháp có thể dựa vào đó tạo ra cớ đánh Việt Nam “. (2t)
“Điều ước đó không được thi hành vì chỉ
hai năm sau Cách mạng Tư sản Pháp bùng nổ, điều ước đã bị lãng quên.
Tuy nhiên, khi trở lại Đàng Trong vào
năm 1790, Pigneau de Béhaine, bằng nỗ lực cá nhân, đã chiêu mộ được
nhiều chuyên viên quân sự, mua sắm được khá nhiều vũ khí giúp Nguyễn ánh
tăng cường lực lượng quân sự để chống lại quân Tây Sơn. Cá nhân Pigneau
de Béhaine trở thành cố vấn đắc lực cho Nguyễn ánh cho đến khi bị bệnh
mất năm 1799.
Mưu toan chính trị lớn của Pigneau de
Béhaine không thành, song những hoạt động của giáo sĩ này đã để lại dấu
ấn sâu đậm đối với thời cuộc ở Việt Nam lúc bấy giờ. Nhiều sử gia Pháp
đã đánh giá rất cao những hoạt động này của Pigneau de Béhaine, thậm chí
có người đã coi "Pigneau de Béhaine là nhà
tiên khu (précurseur) của công cuộc thực dân của người Pháp ở Đông
Dương".
Giáo sĩ
thừa sai Pháp tạo cớ cho cuộc xâm lược vũ trang Việt Nam
Bước sang đầu thế kỉ XIX, chính quyền
của giai cấp tư sản Pháp được củng cố vững mạnh, tiếp tục triển khai mở
rộng thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Đây là lúc có sự phối hợp khá chặt
chẽ giữa các giáo sĩ thừa sai đang hoạt động ở Việt Nam với hạm đội của
Pháp ở Đông Hải. Mỗi khi chính sách cấm đạo của nhà nước phong kiến
Nguyễn gây khó khăn cho việc truyền đạo, các giáo sĩ Pháp lại thông báo
cho chỉ huy hải quân Pháp và ngay sau đó tàu chiến xuất hiện ở cửa biển
Đà Nẵng đưa yêu sách đòi thả các giáo sĩ đang bị giam giữ và đòi cho
được tự do truyền bá đạo Thiên Chúa, cùng lúc là những hành động gây
rối, khiêu khích.
Giáo
hội Công giáo hỗ trợ tích cực cho cuộc xâm lược vũ trang của thực dân
Pháp
Từ sau khi nổ
súng xâm lược cho đến suốt quá trình chiếm đóng và bình định nước ta,
Giáo hội Thiên Chúa giáo ở Việt Nam vẫn tiếp tục dành cho quân đội Pháp
một sự hỗ trợ nhiệt tình và hiệu quả.
Công lao của
Puginier, cũng có nghĩa là của Giáo hội Thiên Chúa giáo, được thực dân Pháp đánh giá rất cao. Trong bức
điện chia buồn của Khâm sứ Briere khi Puginier mất (25-4-1892)
có đoạn viết:
"Sự quá cố của Đức
Cha Puginier không chỉ là một tổn thất lớn lao cho Giáo hội mà
còn là một tổn thất cho nước Pháp và cho xứ Bắc Kỳ mà Đức Giám
mục đáng kính đã khôn khéo góp phần làm cho nó trở thành một
thuộc địa của Pháp".
(2)
Ngồi trên ngai vàng ở tận “tử cấm
thành” Roma, Giáo hoàng La mã tự ý chia cắt
lãnh thổ tại Việt Nam cho những tên tay sai làm lãnh
chúa cai trị trên lưng của người VN nghèo đói (2u) Ai cũng biết Giáo hội Hoàn vũ là 1 Đại đế quốc đã
vơ vét tài sản toàn cầu bất chấp thủ đoạn, nên đã tích trử 1 lượng tài
sản khổng lồ không thể kiểm toán hết được:
“Kết quả là bản đồ Vương quốc Anh thế
kỷ XII và cả XIII cho thấy lãnh địa của những gia đình
đại quý tộc đều nằm rải rác ở những
vùng khác nhau, còn nhà vua trở thành địa
chủ lớn nhất trong nước. Ông làm chủ đến 1420 trang viên và
nhiều nông trại. Cùng với những người thân gần gũi nhất,
William kiểm soát khoảng 1/4 lợi tức quốc gia
(khoảng 85.000 sterling), tương đương với thu nhập của Giáo hội (bằng
1/4 lợi tức quốc gia) ; còn 170 quý tộc lớn nhỏ chia nhau 2/5
lợi tức.” (3a)
Ruộng đất, của cải gom tụ về cho giới
tăng lữ (đẳng cấp thứ nhất)
và cho giới quí tộc (đẳng cấp thứ 2).
Hai đẳng cấp này được hưởng nhiều quyền
ưu đãi, giữ địa vị thống trị và rất giàu có, được coi là đẳng cấp có
đặc quyền.
Trí thức, nông dân, thị dân, thợ thủ
công và những người dân nghèo nhất trong xã hội: Họ là đẳng cấp thứ 3
không có đặc quyền, chịu sự bóc lột và áp bức của hai đẳng cấp trên
“ngồi mát ăn bát vàng”.
Dĩ nhiên là tư tưởng “hữu sản” luôn luôn nằm trong đầu họ; họ
muốn phân chia tài sản lại cho đồng đều (mang ý tưởng cộng sản nguyên
thủy không cần ai dạy dỗ, chỉ bảo). Thế là:
B. VATICAN XEM NGƯỜI NGHÈO VÔ
SẢN LÀ KẺ THÙ KHÔNG ĐỘI TRỜI CHUNG
Cách
mạng Pháp nổ ra từ năm 1789,
làm chấn động cả Châu Âu và cả thế giới, đã lật đổ chế độ quân chủ
chuyên chế: Chặt đầu Louis 16, phá ngục Bastille, phá tan cả cái nhà tù
vĩ đại đã giam cầm triệu triệu con người hơn 1500 năm của “chủ nghĩa
giáo hội” tối tăm bẩn thỉu. Và
phá tan cả “chủ nghĩa giáo
quyền” ngự trị toàn Châu Âu;
truy sát cả giới chủ chăn Công giáo Rôma tại Pháp (sở hữu nhiều
đất đai nhất trên toàn quốc)…Luật ban hành năm 1790
bãi bỏ quyền đánh thuế 10% trên vụ mùa
(còn được gọi là "dîme") của Giáo hội trên nông dân nghèo khổ,
xóa bỏ những đặc quyền của giới giáo sỹ, và
sung công tài sản của giáo hội.
Tuyên bố
xoá bỏ chế độ đẳng cấp và ra bản
"Tuyên ngôn nhân quyền
và dân quyền".
“Quốc Hội Lập Hiến của nước Pháp thời đó trong việc
cải cách, đã va chạm với nhà thờ Catholic. Việc tịch thu tài sản
khiến cho các tu viện, các trường học, các đất đai của Nhà Thờ đều thuộc
về "quốc gia" (nation). Vào
thời đó chưa có ý niệm phân cách giữa Nhà Thờ và Quốc Gia (separation of
church and state) nên các nhà cách mạng Pháp thuở ban đầu đã coi
Nhà Thờ là một loại công quyền (public
authority), cộng tác với vương quyền (sovereign power).
Tịch thu các cơ sở của Nhà Thờ.
Các giáo sĩ từ nay không được theo lệnh
của Giáo Hoàng và không được phép hoạt động nếu không có phép của
chính quyền mới. Mọi giáo sĩ được hưởng lương bổng của quốc gia và một
chương trình tổ chức giáo phẩm được hoạch định trong bản "Hiến Pháp Dân Sự của giới Tu Sĩ" (the Civil
Constitution of the Clergy) năm 1790.
Giáo Hoàng khi đó đã lên án
cuộc cách mạng Pháp khiến cho Quốc Hội Pháp đã bắt các giáo
sĩ phải thề trung thành với Hiến Pháp, kể cả Hiến Pháp Dân Sự của
giới Tu Sĩ. Một nửa số giáo sĩ đã
tuyên thệ, họ tự coi là những người ái quốc, bảo vệ các quyền lợi của
Con Người và được tự do khỏi Giáo Hội La Mã,
nửa kia không theo, họ đã nhận tài trợ từ các
nước ngoài, theo đường lối của Giáo Hoàng và trở nên phe chống đối Cách
Mạng, trong số này có cả Vua Louis XVI vì nhà Vua tin rằng nếu không sẽ
bị mất đi thứ linh hồn vĩnh cửu.” (3b)
Qui luật “đấu tranh sinh tồn” muôn đời
luôn xảy ra: Trong cách mạng Pháp; giới “vô
sản vô thần” làm cách mạng, giới “hữu sản hữu thần” làm “phản cách
mạng”, nên xảy ra “bạo lực cách mạng” và lẽ đương nhiên là phải tắm máu.
Mất của ở Châu Âu, “giáo hội hoàn vũ” bành trướng sang các nước Á
Châu không đối kháng được sự xâm thực núp sau quyển “bịp thánh
kinh”, thò hàng trăm vòi “đỉa hút máu mủ” các dân tộc thuộc địa ốm đói,
vơ vét của cải thế gian để lại đầy “túi tham của chúa”. Trong công cuộc
đấu tranh dành chủ quyền của dân tộc Việt nam; độc lập dân tộc là 1
quyền tối thượng “không có gì quí hơn độc lập tự do”. Những cuộc khởi
nghĩa vũ trang của giới Văn Thân, của Việt Minh là lấy lại tất cả đất
đai, tài sản mà giặc Pháp, Nhà Chung, giới “cơ hội hạ cấp lên làm quí
tộc” bán nước cầu vinh; đã cướp sạch của Tổ Quốc Việt Nam & của người
Việt Nam.
Cách mạng Việt Nam Tháng Tám năm 1945 &
chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa câu” đã giáng 1 đòn chí
mạng dứt điểm “chủ nghĩa giáo hội” chặt đứt đi “những cái vòi bạch tuột
khổng lồ” vươn ra trên toàn thế giới
(mọc ra những vòi khác
ngay):
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về
quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là
những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay,
bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình
đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành
động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho
nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ
khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản
việc thống nhất nước nhà của ta, để
ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều
hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương
nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc
phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến
xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu
điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc
quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ
thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần
cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công
nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.” (3c)
80 năm Pháp đô hộ, đất đai
của người Việt Nam bị trưng thu cướp đoạt, một số các quan chức cọng tác
với giặc, bồi Tây, nhà chung, giáo xứ thu gom làm tài sản đất đai. Nhân dân ta đại đa số làm nghề nông,
không có ruộng đất lấy gì mà sinh sống; lớp thì bị giặc Pháp bắt đi
lao công, lớp bị Nhà Chung bóc lột; chết đói đầy đường. Lòng căm thù
ngút trời từ Nam ra Bắc; nên ta phải lấy lại đất đai, của cải mà bọn
chúng đã chiếm hữu:
«chủ trương tiến hành "đấu tranh giai cấp" và phát
động cải cách ruộng đất trong những vùng kháng chiến kiểm soát (ở những
nơi có nhiều giáo dân)
“1956 được đánh dấu bằng cuộc khủng hoảng
Cải cách ruộng đất liên quan tới tài sản của
nhà thờ, và việc giải quyết toàn bộ cơ sở tài chính của hoạt động Công
giáo tại Việt Nam đã làm rúng động và suy yếu nghiêm trọng
những cơ cấu chưa vững mạnh gì cho lắm của chế độ. (...) Ở khắp nơi,
cuộc cải cách ruộng đất đã được tiến hành một cách thô bạo và thiếu hiểu
biết, làm cho làn sóng bất mãn lan tràn cả nước, có nơi đã biến thành
nổi dậy”:
Ngày 12 và 13 tháng 11, hàng trăm
người Công giáo đã tụ tập nổi dậy ở Quỳnh Lưu, thuộc tỉnh Nghệ An, quê quán Hồ Chí Minh, có nguy cơ lan
truyền sang các vùng chung quanh. đòi quyền di cư vào Nam, hô khẩu hiệu
“Đả đảo cải cách ruộng đất!”, “Đả đảo Cộng sản, đả đảo Trung Cộng!”, “Đả
đảo Nga Sô!”, “Đức Mẹ muôn năm!”. Vẫn theo báo cáo này, đã xảy ra
đụng độ với bộ đội, kết quả là mỗi bên có 5 người chết và nhiều người bị
thương. Vài ngày sau, Hồ Chí Minh công bố quyết định sửa sai (cuộc
sửa sai sẽ kéo dài đến cuối năm 1957) và thừa nhận đã có nhiều sai phạm
trong cuộc cải cách ruộng đất.» (3d)
Xem tài liệu giải
mật của Giáo hội Công giáo Ba Lan ở trên; mới thấy rõ sự chống
đối quyết liệt chủ trương “cải cách ruộng đất” của
chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) chỉ có ở giới “địa chủ nhà thờ” (xuất
thân từ “giặc linh mục” và “giáo gian”). Nhưng được
toàn giới “nông nô vô sản” khố rách áo ôm hưởng ứng nhiệt liệt;
kẻ nào dám chống lại bước tiến của toàn dân tộc chắc chắn kẻ đó
phải bị tiêu diệt. Đó là lý giải tại sao có hàng ngàn địa chủ
bị đem ra “đấu tố” bằng máu ! (So với 2 triệu dân
nghèo VN bị bọn chúng bỏ cho chết đói năm 1945 thì có thấm vào
đâu).
Sau chiến tranh Mexico, đầu
hàng Đức và thế chiến thứ 2 chấm dứt thì nước Pháp cũng bị “suy kiệt hết
máu”, dĩ nhiên “giới nhà thờ Pháp” cũng “đói meo”. Vàng bạc, của cải
không cánh mà bay; tẩu tán theo đám bại tướng ngoan đạo Hitler (nhà thờ
che dấu). Châu Âu thì tan tành thành đống gạch vụn, Hitler thì tự sát,
“nước tòa thánh” không còn Đức – Ý cung phụng nữa, nên quay sang bám váy
lót “trưởng nữ” Pháp. Vì nước Pháp còn những “con bò sữa thuộc địa” đang
bị vắt kiệt để vỗ béo lại thân xác gầy còm mẫu quốc và đám “đế quốc tinh
thần” Roma: Algerie thì có dầu lửa,
Việt Nam thì có than đá, lúa gạo, tiền rừng bạc
biển – giàu đẹp (ngôn từ sáng tác của các thừa sai để vận động đánh
chiếm Annam). Tài sản, đất đai của nhà thờ (kể cả của
mẫu quốc Pháp ở những nơi này; thì sau rốt cũng vào túi Roma – vàng bạc
nào rồi cũng đến La Mã thôi) thì bao la ở các xứ thuộc địa này; tội
gì buông bỏ trả lại cho dân bản xứ (trả lại thì đói nhăn răng ra à
?). Ta (nhà
thờ + đế quốc) tha hồ vơ vét mạnh tay hơn; mặc cho dân chúng bản xứ có
chết đói hàng triệu – hàng triệu cũng không làm mủi lòng “đức thánh cha
Hitler = Pio 12 = Pius 12 = Hitler’s Pope đã cho thiêu sống 6 triệu “anh
em Jesus”; lương tâm đâu có
cắn rứt vì đã xưng tội và được chúa tha tội rồi. Phải kể thêm ra đây
món lời kết sù, béo bở trời cho ở
xứ nhiệt đới này là Thuốc Phiện
nữa (vì nó nên mới có chiến tranh Nha Phiến 1840 – 1860; ta phải tham
gia chia phần chứ): (Vàng Pao và Chiến tranh bí mật ở Đông Dương
3e)

“Trưởng Nữ Pháp – Mẹ Việt
Nam” tính toán rất chi li trước cả hàng mấy trăm năm, các chủ chăn cứ
theo bài bản đó mà thực hiện. Ngay từ năm 1922 Bảo Đại được “cha” nuôi là
Jean François Eugène Charles (Khâm sứ Trung kỳ) mang sang Pháp đào tạo
thành tay sai. Năm 1932 bị bắt buộc phải về nước làm con rối cho
Pháp giựt dây:
“Hết thảy mọi người đều ép Nhà vua
trở về nước nắm quyền bính. Tất cả, như ông Chatel, như Bộ trưởng
Thuộc địa hay Bộ trưởng Ngoại giao cho đến cả Tổng thống Pháp cũng cho
biết niềm vui mừng được thấy Nhà vua trở về. Xem ra khó mà từ chối kế
hoạch mà ông Chatel đã dày công chuẩn bị. Không còn có chuyện lần lữa,
tìm một cái cớ hay điều bất trắc cuối cùng để từ chối lên đường. Chiều
hôm đó, Bảo Đại đã chấp nhận. Được, ông ta sẽ trở về mảnh đất tổ tiên.
Nhưng trước khi rời Paris mà ông hằng yêu mến, ông nói rõ ông có ý định
sẽ quay trở lại Pháp. Và sẽ trở lại luôn hoặc lâu lâu mới trở lại. Ông
đòi hỏi điều này và được chấp nhận.
Việc trở về An Nam của Hoàng đế là một
hành động có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị.
Đã có sớm một giải pháp mà hai mươi năm sau
người ta gọi là "giải pháp Bảo Đại". (3f)
Thế chiến 2 khởi đầu từ Hitler’s Pope muốn tiêu diệt Vô Sản Vô Thần (Nga
Xô), sau khi “holocaust” hết gần 100 triệu người, nhưng bị đánh bại bắt
phải đầu hàng nhục nhã. Tam cường nhóm họp Hội nghị Posdam (17-7 đến 2-8 năm
1945) chia Việt Nam làm 2; từ vĩ tuyến 16 trở ra giao cho Tàu Tưởng
Giới Thạch, còn lại phía Nam giao cho Thực dân Anh (sự thực
là cho Thực dân Pháp) chiếm đóng làm thuộc địa trên
danh nghĩa là giải giới quân Nhật đầu hàng.
(làm như tài sản của ông cố nội chúng để
lại; muốn chia cho ai thì chia ???)
Nhưng
chính phủ VNDCCH ra tay trước: HCM tuyên bố VN độc lập trước thế giới
ngày 2-9 rồi. Chỉ 4 ngày sau khi HCM đọc Tuyên ngôn
Độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn. Theo gót quân Anh
kéo vào Sài Gòn là một đại đội biệt kích Pháp mặc quân phục Anh,
khi tới Sài Gòn chúng lập tức được điều đi chiếm một số vị trí quan
trọng của quân Nhật đã chiếm đóng trước đó... (3g)
Ngày 23 tháng 9 năm 1945,
Pháp đã nổ súng gây chiến ở Sài Gòn rồi mở rộng đánh chiếm Nam Bộ.
Ở phía Bắc, 20 vạn quân Tàu Tưởng tràn vào với danh
nghĩa giải giáp quân Nhật, nhưng mang theo kế hoạch
“Hoa quân nhập Việt, diệt
Cộng cầm Hồ”. (Biên giới Việt-Hoa
đang vỡ tung từng đoạn từ Mông Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lao
Kai và Lai Châu): Tại miền Bắc
các đảng phái quốc gia; tay sai Tàu Tưởng;
Việt Nam Quốc
dân đảng của Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam và Việt Nam Cách mạng đồng
chí hội (Việt Cách) của Nguyễn Hải Thần theo chân tướng Lư Hán tiến vào đồng
bằng sông Nhị, đi tới đâu củng cố chiến khu của mình đến đấy.
Đội quân ô hợp này đốt phá cướp bóc
nhân dân VN hết sức tàn tệ. (Cách Mạng Đồng Minh Hội có hai lãnh tụ là
Trương Bội Công và Nguyễn Hải Thần, cả hai đều đã ở Trung Quốc từ
bốn mươi năm nay. Trương Bội Công đóng quan năm, làm việc trong quân
đội Quốc Dân Đảng. Trước kia Trương tránh liên lạc với những người
đồng hương và không tham gia một phong trào cách mạng nào. Nguyễn Hải
Thần gần bảy mươi tuổi, đã quên hết tiếng Việt Nam. Nguyễn Hải Thần sang
Trung Quốc năm 1905 với cụ Phan Bội Châu. Cụ Phan đã rời bỏ Nguyễn Hải
Thần từ những ngày đầu. Từ đấy Nguyễn Hải Thần làm nghề xem số tử vi để
kiếm ăn và nuôi vợ con. Nhờ nghề này, Nguyễn Hải Thần quen biết nhiều
quan lại Trung Quốc. Cũng như Trương Bội Công, Nguyễn Hải Thần không
hoạt động gì. Nhưng sau khi cụ Phan mất, Nguyễn Hải Thần tự nhận là
người thừa kế của cụ. Trương và Nguyễn tranh nhau làm lãnh tụ). Quân của Lư Hán cùng với
hai đảng này chống Việt Minh một cách điên cuồng.
Tất cả Anh, Pháp và nhóm Trung Hoa Dân
Quốc của Tưởng Giới Thạch đều muốn tiêu diệt chính phủ của Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, ủng hộ sự trở lại của chế độ thực dân tại Đông Dương:
Lư Hán đã hành động như một
tên quân phiệt trên mảnh đất không người. Hắn huyên hoang tuyên bố:
"Quân đội Trung Hoa sẽ chiếm đóng lâu dài, vô hạn định toàn vùng đất
Bắc Ðông Dương."
“người lính Quốc dân đảng Trung Hoa
nổi tiếng tham lam tàn ác, đến nỗi người Trung Hoa thường nói: "Sắt tốt thì không dùng làm đinh, và người tốt thì không thể là lính".
Một số lớn quân đội của các sứ quân dưới quyền của Tưởng Giới Thạch vừa
thiếu kỷ luật vừa nghiện hút bạc nhược, không có tinh thần chiến
đấu, tham sống sợ chết, chỉ mong hưởng thụ cầu an. Nhiều đạo quân trong
quân đội Quốc dân đảng được gọi là những “đạo quân hai súng", có
nghĩa là họ đeo một khẩu súng thiệt, và một khẩu súng thứ hai là tẩu hút
thuốc phiện. Các binh sĩ này mang theo bàn đèn thuốc phiện trong ba
lô, và mỗi ngày phải ngả bàn đèn ít nhất là hai cữ. Tại Bắc Việt năm
1945, khi "quân đội chiến thắng" của Trung Hoa do tướng Lư Hán
chỉ huy, sang tước khí giới của quân Nhật bại trận, chúng ta cũng đã có
dịp kinh ngạc khi được chứng kiến một "quân đội chiến thắng" mà lại có
thể ô hợp, thiếu tác phong đến như thế.”
(Vạn Lý Trường Chinh – Nguyễn Vạn Lý)
Thực tế lịch sử của tháng
9.1945 đã chỉ rõ ràng: Ðông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng, đang bị
vây hãm bỡi đế quốc Anh-Pháp và bọn quân phiệt Trung Hoa (Quốc Dân đảng
Tưởng Giới Thạch). Và biên giới Việt-Hoa đã trở thành một cương giới
hữu danh vô thực, vì dân tộc Việt Nam không được quyền làm chủ như một
quốc gia độc lập, mà nó bị xáo trộn bởi sự đập phá và dời cột mốc biên
giới vào sâu trong lãnh thổ của Việt Nam bởi quân đội QDÐ Trung Hoa,
sau mỗi lần tràn qua biên giới (Theo lời kể của các bô lão vùng
biên giới từ Lạng Sơn đến Lai Châu). Như vậy, đường biên giới Việt-Hoa
theo Hiệp Ước Thiên Tân (1887) đã ký kết giữa Pháp và Trung Hoa, ngang
nhiên bị quân QDÐ Trung Hoa vi phạm, và pháp lý quốc tế về đường biên
giới Việt-Hoa đã không còn được tôn trọng sau chỉ có 58 năm
(1887-1945):
“Trong tình huống “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch hồ Chí
Minh (CT.HCM) đã tỏ rõ bản lĩnh “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của mình. Thực tài tình và bất ngờ
khi người mời thủ lĩnh Việt Cách (Việt Nam Cách mạng đồng minh) Nguyễn
Hải Thần chuyên nghề xem bói bốc thuốc bên Vân Nam vào ghế Phó Chủ tịch
Chính phủ liên hiệp Lâm thời ngày 1-1-1946.
Để “danh chính ngôn
thuận” khẳng định chủ quyền độc lập, trong muôn vàn khó khăn, lần đầu
tiên nước ta tổ chức tổng tuyển
cử vào ngày 6-1-1946. Thực hiện sách lược “Tạm hòa với Tưởng” Hồ Chủ
Tịch đề nghị Quốc hội dành cho tổ chức Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân
đảng) và Việt Cách 70 ghế, chấp nhận 2 ghế quan trọng giao cho người không
phải đảng phái - Bộ Nội vụ do Cụ Huỳnh Thúc Kháng giữ chức bộ trưởng
(Bác đã tính trước, mời cụ từ Quảng Ngãi ra Hà Nội). Bộ Quốc phòng do
ông Phan Anh giữ chức. Cựu hoàng Bảo Đại được mời giữ chức cố vấn tối
cao. Mặc dù sau đó, một số thành viên trong chính phủ đã tự đào thải
mình, chạy theo quân Tưởng về nước như “Phó chủ tịch” Nguyễn Hải Thần,
Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam…
Ngày 28 tháng 2
năm 1946, Hiệp ước Hoa–Pháp được ký kết, với 2 điểm chính:
1- Pháp bàn với Tưởng và
ký thỏa ước cho Pháp thay thế quân Tưởng ở Bắc vĩ tuyến 16
2- Pháp phải trả lại
cho Tưởng các tô giới Pháp ở Trung Quốc và đường xe lửa Vân Nam-Việt
Nam.
Đó là sự mua bán giữa Pháp, Anh, Mỹ, Tưởng trên bàn cờ thế sự. Như vậy CT. HCM đã xác định được kẻ
thù chính là Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh cho đúng, đã chủ trương "hòa để tiến" tranh thủ
thời gian củng cố mọi mặt để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến tất yếu sẽ
xảy ra. Lúc
này không thể do dự giữa việc chiến đấu một lúc với nhiều kẻ thù xâm
lược hoặc là tạm hòa hoãn để đàm phán với Pháp, nhân nhượng cho Pháp một
số quyền lợi, với điều kiện là Pháp phải công nhận độc lập và chủ quyền
của ta. CT HCM đã đi được một nước cờ cao, đưa địch vào
thế:
"Lạc nước hai xe
đành bỏ phí;
Gặp thời một tốt cũng thành công" (HCM)
Ngày 6 tháng 3 năm
1946, Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt được ký kết giữa Jean Sainteny, đại diện
chính phủ Cộng hòa Pháp, và Hồ Chí Minh cùng Vũ Hồng Khanh, đại diện
chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nội dung của Hiệp định bao gồm các điểm chính sau
đây:
- Chính
phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do
trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ,
nghị viện, quân đội và tài chính riêng
- Chính phủ Việt Nam thỏa thuận cho 15.000 quân
Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc dân đảng
để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật
- Hai bên thực hiện ngưng bắn ngay tại Nam Bộ.
Chủ tịch hồ Chí Minh đã mượn tay Pháp (6-1946) để gạt
phăng 200 ngàn quân thù (trang bị vũ khí hiện đại của Mỹ)
nguy hiểm ở sát nách ra khỏi đất nước ta, nay chỉ lo đối phó với một số
quân Pháp (15 ngàn). CT.HCM đã giữ được chính quyền non
trẻ, tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị gấp rút mọi mặt trước khi
bước vào kháng chiến lâu dài và nhất định thắng.
Trong khi những lãnh tụ
“Quốc Gia” khác như Nguyễn Hải Thần (Việt Cách), Nguyễn Tường Tam
(VNQDĐ) “mất tích” thì CT.HCM đã ‘’tả xung hữu đột”: "Hòa để tiến" là một quyết sách
sáng suốt, quân và dân Nam Bộ rất hoan nghênh. Một con Người
“cực kỳ khôn ngoan, quyền biến trên trận tuyến ngoại giao. Sự quyền
biến hay, linh động và cụ thể này chứng tỏ HCM đã biết tận dụng “luật
của kẻ yếu” để sinh tồn và tạo sự chính thống cho chế độ Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa” (Vũ Ngự Chiêu-HCM nhà ngoại giao). Lúc này
CT.HCM đã khẳng định: "Tôi thà chết chứ không bao giờ là người bán
nước". Tất nhiên vẫn còn một vài ý kiến trái ngược nhau:
"… Lỡ bước đành cam thua
nửa ngựa
Còn hơn miệng thế nói mười
voi
Mấy lời nhắn nhủ ông ghi
nhớ
Nước ngược buông câu khéo
mất mồi"
(Nguyễn Hải Thần)
"… Trách kẻ đem thân vào
miệng cọp
Tôi đành ghé đít cưỡi đầu
voi
Tàn cờ mới biết tay cao
thấp
Há phải như ai cá thấy
mồi".
(Hồ Chí Minh)
(3h)
Ngày 26 tháng 3 năm 1946, Pháp đã lập ra một chính phủ "bù nhìn"
"Nam Kỳ quốc";
chia đôi đất nước, tách hẳn khu vực này ra
khỏi Việt Nam. Lừa bịp mọi người không ổn, Liên
minh Pháp Vatican còn ác ôn tàn độc hơn; lại chia VN ra thành
Liên Bang Đông Dương (để anh em trong nhà bôi mặt sát hại lẫn nhau).
Lấy Đà Lạt làm
thủ đô, tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính… Ngày 7 tháng 5 năm
1946, với chiêu bài "Nam Kỳ tự trị" Pháp lập ra 1 nước mới là;
Nam kỳ
Cộng hòa quốc ("Nam
Kỳ quốc"; một “quái thai lịch sử” (3i) chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi tự giải thể).
Những ngày kế tiếp,
Linh mục/Cao ủy d'Argenlieu, với sự
tiếp tay của Tướng Valluy, Hội truyền giáo Pháp và các thành phần
kiều dân Pháp bảo thủ, tìm cách khiêu khích đẩy HCM vào thế phải rút
khỏi Hà Nội ra bưng.
(3k)
Thằng oắt con lai Tây nay nuôi đã lớn (quan
Toàn quyền Pierre Pasquier là cha thật
sự của Bảo Đại) (3); con rối
“vô dụng, bạc nhược, ba lần phản bội” (3m) là Bảo Đại được Charles de
Gaulle (Công giáo) tung
ra với chiêu bài: “giải pháp Bảo
Đại” (thực ra “giải pháp Bảo Đại” chỉ là 1 giải pháp
dự bị vì “giải pháp Vĩnh San đã tan thành mây khói như trong
1 giấc mơ”).
De Gaulle bổ nhiệm Linh mục/Đô đốc
Georges Thierry d’Argenlieu làm tân Cao Ủy Đông Dương …
cầm đầu cuộc “cuộc thánh chiến chống Cộng”, tái xâm lăng Việt Nam, với sự ban phép
lành của Tòa thánh Vatican cùng Tổng Giám mục Antonin Drapier
(Tại Mỹ, chúng ta chưa quên bài diễn văn “bức màn sắt” của Thủ
tướng Anh Winston Churchill năm 1946, hay phong trào
“Sợ Đỏ” và “Tố Cộng
Mc Carthyism”
vào đầu thập niên 1950). (3n)
Vatican và Pháp
mới hối hả đồng thuận biến
chính phủ “Cộng Hòa Nam Kỳ” thành
“chính phủ quốc gia” với toàn bộ nội các
gồm toàn những
người hoặc là mang quốc tịch Pháp, hoặc là mang quốc tịch Vatican, hoặc là trong
giới quan lại
trong thời “Trăm năm nô lệ giặc Tây” (như các ông Nguyễn Văn Xuân, Trần
Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Phan Văn Giáo, Nghiêm Xuân Thiện,
Nguyễn Hữu Trí, Đặng Văn Trí, v.v… ) và cho ra mắt vào ngày
5/6/1948
(4).
Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent
Auriol và Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập Quốc gia Việt
Nam (Liên bang Đông Dương) thuộc khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng
bù nhìn Bảo Đại ăn chơi khét tiếng; hữu danh vô thực vì quân sự, tài chính và
ngoại giao đều nằm trong
tay Cao Ủy Pháp.
Thế là “cuộc xâm lăng
của Đế Quốc Vatican – Pháp” được giới “giáo quyền” lươn lẹo tuyên truyền
biến thành “cuộc chiến chống cộng”. Dù cho bị gạt gẫm trắng trợn như
thế, nhưng tất cả các con chiên CG đều rần rần đi theo giặc Tây chống
lại Tổ Quốc mình
(phúc cho những ai không
thấy mà tin).
Hoàn cảnh lịch sử tương đồng rất kỳ lạ giữa 2 dân tộc Á Châu là Việt
Nam & Trung Hoa trong thế kỷ 19. Nên phải nói thêm về Gia Tô ở Trung
Quốc: Giáo Hoàng Diệt Chủng Hitler’s Pope
rất sợ Vô Sản Trung Hoa cản trở ý đồ “Gia Tô hóa Trung Quôc”:
With help from Germany (Sino-German cooperation) nên cử tướng Hans von
Seeckt sang Trung Hoa giúp Tưởng Giới Thạch, Nga Xô cũng cử 1 người Ðức
khác là tướng Otto Braun (Lý Ðức) sang giúp Mao trong cuộc “Vạn Lý
Trường Chinh” (4a).
“Các nhà truyền giáo
Methodist vẫn thèm khát cái "thị trường tôn giáo" đông đảo của Trung
Hoa, nơi họ ước ao sẽ gặt hái được hàng triệu linh hồn đi theo họ. Họ
quyết định cho Tống Charlie (Charles
Jone Song Tống Giáo
Nhân) theo học trường truyền giáo để được huấn
luyện thành một nhà truyền giáo, và sau đó sẽ được đưa về hoạt động tại
Trung Hoa”:
Gầy dựng ra
gia tộc họ Tống; “Vương triều không
vương miện”; một trong bốn đại gia đình tội ác nhất
Trung Hoa.
Quyển thánh kinh đi trước;
Quân cướp nước theo sau.
Tôn Dật Tiên theo học trường trung học Iolani,
được sự
bảo trợ của
Hội truyền giáo Anh quốc theo
đạo Thiên Chúa:
Tiếp thu một mớ hiểu biết “duy lý” chưa đến nơi đến chốn, lỏng
lẻo có tính cách lý thuyết suông: "học tuyết Tôn Văn" với
tư tưởng triết học: "Tri nan hành dị" biết thì khó, làm
thì dễ (?).
Là
một người ảo tưởng ngây thơ, với những tư tưởng không tưởng,
thiếu thực tế. Là một mẫu anh hùng cách mạng thất bại.
(Vladimir
Ilyich
Lenin)
Khi về đến Quê Nhà, Tôn Dật Tiên báng bổ thần làng: biểu thị
tín ngưỡng mới của mình bằng cách
đập phá các pho tượng trong một ngôi đền trong làng, do đó Tôn Dật
Tiên bị người làng tức giận, trục xuất ra khỏi làng (!!!)
(xem tiếp phần 2)
Chú
thích:
Trong bài viết này tôi có sử dụng một số trích
dẫn từ nguồn tiếng Việt có trên WikiPedia
(vì ở Việt Nam ít người đọc được tiếng Anh). Nhưng theo nhận xét của
tôi; thì trong phiên bản WikiPedia tiếng Việt bị lượt bỏ rất nhiều,
không đầy đủ bằng phiên bản tiếng Anh hoặc tiếng Pháp v.v… Có lẽ
do nhóm người quản lý tiếng Việt trang này:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_qu%E1%BA%A3n_l%C3%BD
vì vài lý do nào đó (quan điểm lịch sử không
trung thực, tôn giáo không lương thiện) đã cố tình
dấu diếm. Nếu bạn muốn đọc được nhiều thông tin hơn nữa; thì xin mời
bạn vào cột “ngôn ngữ khác” ở bên trái; bạn có thể bấm chọn được ngôn
ngữ mà mình đọc được. Các bạn có thể kiểm chứng:
Tôn Dật Tiên, Tôn Trung Sơn (Sun Yat-sen (孫中山) or "Sun Yixian"):
Trang tiếng Việtt
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%B4n_D%E1%BA%ADt_Ti%C3%AAn
Trang tiếng Anh
http://en.wikipedia.org/wiki/Sun_Yat-sen
”His conversion to Christianity was
related to his revolutionary ideals and push for advancement. As a
result, his baptismal name, Rixin (日新),
literally means "daily renewal"
http://en.wikipedia.org/wiki/Christianity
Lịch sử Trung Hoa Dân Quốc
(History of the Republic of China):
Trang tiếng Việt không dịch đoạn
Hitler trợ giúp Tưởng:
http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD_Trung_Hoa_D%C3%A2n_Qu%E1%BB%91c
Trang tiếng Anh
http://en.wikipedia.org/wiki/History_of_the_Republic_of_China
có chú thích
With help from Germany
(Sino-German cooperation)
http://en.wikipedia.org/wiki/Sino-German_cooperation
(1a)
http://toraor.net/index.php?itemid=354
(1b)
http://italy.indymedia.org/news/2005/04/777206_comment.php#1132687
(1c)
http://www.rense.com/general64/ach.htm
(1d)
http://voanews.com/vietnamese/2007-09-18-voa1.cfm
(1e)
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/09/070917_nguyenvanthuan.shtml
(1f)
http://sachhiem.net/CN_CGTBVT/Gianac.php
(1g)
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4ntntnqn31n343tq83a3q3m3237nvn0n
(1) Theo bản đánh máy vi tính giải thích về “Chủ Nghĩa
Giáo Hội” của Mr. TAM:
HỆ THỐNG
GIÁO DỤC ĐỒNG HÓA:
Bonard cho tiền xây dựng 3
trường học CG rất lớn ở SG: Trường Chủng viện của hội Truyền giáo, Tu
viện Saint-Enfance, College d’Adran.
Gm Puginier nói: "Muốn
bình định xứ sở này, trước hết phải tiêu diệt các đảng Văn Thân, tức là
những trí thức lãnh đạo tinh thần của Việt Nam. Mà muốn làm việc đó thì
phải xóa bỏ đi chữ Hán. Sau đó thay thế dạy chữ Hán bằng cách dạy chữ
quốc ngữ, rồi dần dần dạy cho người dân biết chữ Pháp".
Grandiere chủ trương đồng
hóa người Annam: “đánh 1 đòn chí tử” vào hệ thống giáo dục cũ của Annam
là dùng chữ Quốc ngữ thay thế hoàn toàn chữ Hán và tiến tới việc day học
bắt buộc tiếng Pháp cho toàn thể nhân dân thuộc địa: “phải giải
phóng hoàn toàn và vĩnh viễn những thần dân mới của nước Pháp ra khỏi
ảnh hưởng của những nhà Nho và của nền văn minh Trung Hoa”
Năm 1873 thống đốc Dupre nói:
Annam có khoảng 100 trường với khoảng 3-4000 HS, phải trả tiền cho
phụ huynh để cho con em họ đến trường. Trong khóa giảng về nền cai
trị Annam năm 1873 ở trường Tham biện (College des Stagiares), Luro đã
nhận xét nghiêm khắc:
“để thay thế các vị giáo
sư và thầy giáo chữ Hán cũ. Chúng ta đã dùng ““những đứa trẻ
con”” (con của tay sai - giáo gian), được đào tạo trong những năm
đầu chiếm đóng, chỉ biết đọc và viết ngôn ngữ thông thường và làm
được 4 phép tính. Rồi chúng ta áp đặt mỗi làng phải gởi bao nhiêu
học sinh đến trường do các vị ““giáo sư kỳ lạ này”” dạy lại. Kết
quả là làng mạc phải tuyển mộ hs đến học trong các trường quốc ngữ của
chúng ta, như tuyển mộ binh lính, bằng cách phải chi tiền cho các gia
đình (HS). Và như thế, việc giáo dục bắt buộc của chúng ta đã trở thành
1 thứ thuế thêm nữa cho dân chúng… Còn về kết quả, các học sinh học
trong các trường của chúng ta 1 hay 2 năm, được học một thứ ngôn ngữ
thông thường bằng con chữ La tinh, dưới sự chỉ dẫn của những thằng nhóc
gần bằng tuổi của chúng. Học đọc và viết theo âm Latinh là 1 trò
chơi. Khi HS biết đọc và viết xong, cũng chẳng biết thêm điều gì nữa
cả. Người ta (hs) ở trong trạng thái của 1 con vẹt biết viết…
Biết đọc và viết theo cách Nho học, có nghĩa là đã trải qua vài năm
ở tuổi thanh niên trên những sách đạo lý, lịch sử, đã nghiên cứu và hiểu
sách đó. Nói cho đúng hơn, họ đã nhận được học vấn và sự giáo dục đúng
đắng, vì các thây Nho không coi thường mục đích cao cả này. Còn với hệ thống giáo dục của chúng ta,
đứa trẻ học đọc và viết trong vài cuốn sách ngụ ngôn mà những “”ông giáo
trẻ”” rất lúng túng không hiểu gì hết. Khi ra trường, những đứa trẻ
chẳng có 1 chút học thức về đạo lý hay giáo dục nào. Về nhà, đứa trẻ làm
cho gia đình rất kinh ngạc về sự dốt nát của chúng, họ vứt ngay vào sọt
rát cái hành trang vô ích mà nó đã được đào tạọ. Và rồi nó lại trở lại
học chữ Hán (nếu còn nhỏ tuổi). Nói thật, chúng ta đã tiêu phí mất 1
thời gian quí báu cho việc học hành như thế, nhưng kết quả lại gần như
không có gì cả”.
“Nguyên nhân của tất cả những
sai lầm này là ở chỗ người ta (các giáo sĩ CG) tưởng tượng rằng có
thể dạy cho 1 dân tộc quên đi ngôn ngữ và phong tục của họ chỉ bằng cách
không đếm xỉa đến những thứ ấy trong nhiều năm. Người ta bảo vệ ý
kiến này là bắt buộc 2 triệu dân chúng trẻ học tiếng Pháp còn đơn giản
hơn là đòi hỏi 50 quan cai trị phải học tiếng Annam. Ngời ta không ngờ
rằng, bằng các quan điểm hẹp hòi đó, người ta đã xa rời các kỳ hào và
các con em trong các gia đình Annam”.
“Người ta
có thể thấy, qua những viên chức trẻ của chúng ta hiện nay, những
người đã được chúng ta đào tạo từ trước đến giờ đã tồi tệ như thế nào:
vì chẳng có gì ngăn giữ được tham lam của họ, mà sự tham lam này
cũng ngang tầm với sự dốt nát của họ. Có thể rút ra được gì ở 1 con
vẹt ? Cái ông huyện này là người như thế nào, mà nói thì như lột da
tiếng Pháp ? Lại không biết tí gì về đạo lý, triết lý, lịch sử, luật
pháp, các phong tục, cũng chẳng được những người bà con thân thuộc của
ông ta coi như 1 người có học nữa ? Người Annam nhận định và thấy
rất nhanh; ông ta chỉ là 1 viên thông ngôn rất tồi, nghĩa là 1 người
chẳng biết nghĩ ngợi cũng như phán xét gì cả. Một người thông ngôn dốt
nát như 1 chiếc cồng không tự mình phát ra tiếng. Một người thông ngôn
như thế đã là được đào tạo trong ““trường học văn minh”” của chúng ta !
”
Những giáo sĩ xin gởi hàng
trăm người Annam đến trường dòng đức bà La Seyne và ở Pháp để học cao
học. Nhưng năm 1873 thì trong số 42 người từ Pháp trở về chỉ có dưới 10
người là có khả năng làm được việc.
Năm 1864, đô đốc La Grandiere cho thành
lập tờ Gia đinh báo (Jounale de GĐ),
phát hành năm 1865 mỗi tháng 1 kỳ. Năm 1874 mỗi tháng 2 kỳ: báo không
chỉ đăng thông tin chính thức của chính quyền thuộc địa, các sắc lệnh,
quyết định mà còn đủ thứ khác trên thế giới… Dĩ nhiên là người ta nhấn
mạnh vào sự cần thiết là người Annam phải hợp tác với chính quyền Pháp.
Người ta phải làm nổi bậc (thổi phồng quá
đáng) lên những người Annam bản xứ đắc lực
trong vai trò làm “tay sai xuất sắc cho
Pháp” là 2 “nhà ngôn ngữ học chính của người Annam” Petrus Ký và Paulus
Của có tham gia trong tờ báo này. (Người
Pháp và người Annam: Bạn hay thù ? - Philippe Devillers)
(2)
http://www.vae.org.vn/News_print.asp?id=1016
(2a)
Quyền lực của những Quân Vương; http://giaodiemonline.com/2007/04/quanvuong.htm
(2b)
http://www.sachhiem.net/TCNtg/Nlichsugiaohoang.php.
(2c)
http://embraced.blogsome.com/2006/08/26/
(2d)
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nqn3nqn4n31n343tq83a3q3m3237nvn
(2e)
http://en.wikipedia.org/wiki/Constantine_I
(2f)
http://thanhkinhthanhoc.net/tkth/?q=node/11
(2g)
http://www.thuvienkhoahoc.com/tusach/Kinh_D%E1%BB%8Bch_-_di_s%E1%BA%A3n_s%C3%A1ng_t%E1%BA%A1o_c%E1%BB%A7a_Vi%E1%BB%87t_Nam%3F
(2h)
(bấm vào
The Inquisition để xem hình ảnh ghê rợn dã
man này)
(2k)
http://www.romancatholicism.org/popes-slavery.htm
(2m)
http://en.wikipedia.org/wiki/Slave_trade
(2n)
http://www.cuuthe.com/bao/s162lsgh.html
(2p)
http://www.dunglac.net/bai2/vdc-padroado.htm
(2q)
http://en.wikipedia.org/wiki/Colonialism
(2r)
http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_gi%C3%A1o_t%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Nam
(2s)
http://vietsciences.free.fr/biographie/nhanvatdacbiet/badaloc.htm
(2t)
http://huynhducthien.blog.com/
(2u) http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_ph%E1%BA%ADn_C%C3%B4ng_gi%C3%A1o_t%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Nam
(3)
Theo bản đánh máy vi tính giải thích về
“Chủ Nghĩa Giáo Hội” của Mr. TAM:
Dở bài tráo trở
“đánh lận con đen”: đưa 1
thằng oắt con lai Tây
Bảo Đại 13 tuổi làm vua dân Việt (ai ai cúng đều biết
Khải Định tuyệt tự không con
http://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%E1%BA%A3i_%C4%90%E1%BB%8Bnh , quan Toàn quyền Pierre Pasquier là cha
thật sự của Bảo Đại; xem thêm
Bảo Đại hay những
ngày cuối cùng của vương quốc Annam của Daniel Grandclement
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n3n1n3n31n343tq83a3q3m3237ntn)
“Gài độ” cho “nữ chiên Công giáo ngoan
hiền” Nguyễn Hữu Thị Lan làm hoàng hậu phương Nam một nước
Khổng-Lão-Phật. Với hoàng tử Bảo Long “đầu Chúa” kế vị ngai vàng, hòng
biến Dân nước Nam toàn
tòng Công giáo “trung thành với mẫu quốc Lang sa” … Nhưng
“Thiên bất dung gian”, mưu đồ của bọn giáo gian bị tan tành mây khói bỡi
cách mạng 1945. "Trẩm thà làm công
dân một nước độc lập tự do, còn hơn làm vua một nước nô lệ".
Nhưng lại phản bội Nhân Dân, can tâm muối mặt
lòn cúi vì bã vinh hoa cho riêng mình, làm tên
bù nhìn cho Cao Ủy Pháp
với “giải pháp Bảo Đại”. Rước quân xâm lượt về dày mả tổ như Thế tổ
Cao Hoàng Đế đã từng làm trước kia. Cho phép quân Lê dương Công giáo
quay lại tàn sát đô hộ, bắt dân mình làm trâu cày ngựa cỡi cho chúng
thêm hàng chục năm nữa. Hợp pháp hóa việc
“công giáo hóa Việt Nam”
bằng Đạo Dụ số 10 (Tự Đức gọi bọn CG này là
“quân man rợ Tây Phương”).
[xem truyền đơn lên án Bảo Đại của
Việt Minh:
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n3n1n3n31n343tq83a3q3m3237n1nqn
]
(3a) SỰ
RA ĐỜI CỦA CHẾ ĐỘ ĐẠI NGHỊ Ở ANH - Lê Phụng Hoàng: http://72.14.235.104/search?q=cache:fzGPNu6-ylMJ:lib.hcmup.edu.vn/detai/Giaotrinh/Lich%2520su%2520cac%2520nuoc%2520Tay%2520au%2520va%2520Hoa%2520ky.pdf+%22L%C3%8A+PH%E1%BB%A4NG+HO%C3%80NG+%22&hl=en&ct=clnk&cd=1
(3b)
http://vietsciences.free.fr/lichsu/lichsucacnuoc/cachmangphap.htm
(3c)
http://www.kyoto-svvn.org/modules.php?name=News&file=article&sid=568
(3d)
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai4/200504_TTLien.htm
(3e)
Vàng Pao và Chiến tranh bí
mật ở Đông Dương
http://giaodiemonline.com/2007/07/vangpao.htm
(3f)
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n3n1n3n31n343tq83a3q3m3237n1n
(3g)
http://www.chuyenluan.net/200602/0602_01.htm
(3h) Tàn cờ mới
biết tay cao thấp
http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.vanhoa.doisongvanhoa.21969.qdnd
(3k) HCM nhà
ngoại giao
http://www.chuyenluan.net/200410/0410_25.htm
(3ka)
http://www.voanews.com/vietnamese/2007-10-15-voa35.cfm
(3kb) Kịch bản Tây
Nguyên
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?TopicID=113
(3kc) http://www.voanews.com/vietnamese/archive/2004-05/a-2004-05-06-22-1.cfm
http://www.voanews.com/vietnamese/archive/2004-11/a-2004-11-09-2-1.cfm
Bạo loạn lật đổ ở Tây Nguyên
http://vietnamnet.vn/chinhtri/doinoi/2004/05/136467/
(3m)
http://vnthuquan.net/truyen/truyentext.aspx?tid=2qtqv3m3237n4n3n1n3n31n343tq83a3q3m3237n1nvn
(3n)
http://www.nguoivietweb.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=2308&z=12
(4)
GIẢI
PHÁP BAO ĐẠI & LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ
http://giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1105_nmq_V-policyII.htm
(4a)
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nnn3nmn1n31n343tq83a3q3m3237nvn&cochu=
(4aa)
http://www.vae.org.vn/news_detail.asp?id=1439
(4b)
http://www.mofa.gov.vn/quocte/42,02/banamduongnvcd42,02.htm
(4c) 3 chị em nhà họ Tống
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnmntn4n31n343tq83a3q3m3237nvn
(4ca) Kể từ thời
tổng thống Washington tới tổng thống George W. Bush ngày nay. Ở Hoa Kỳ
có 6 hội kín đang hoạt động: Hội Tam Điểm. hội Majestic12, hội
Bilderberg, Hội Đồng Ngoại Giao CFR
(“Phu nhân cựu đại sứ Mỹ ở Iraq là điệp viên CIA” của
nhà báo Robert D. Novak. Ngay sau đó cựu Đại sứ Mỹ ở Iraq, Joseph C.
Wilson, chỉ trích Nhà Trắng cố ý tiết lộ vụ này để trả thù việc ông
trước đó phê phán Tổng thống Bush sử dụng tin tình báo giả “Iraq có ý đồ
mua uranium của Niger năm 2003”. Ông Wilson cũng khởi kiện Nhà Trắng
theo luật bảo vệ nhân viên tình báo.
http://www.sggp.org.vn/SGGP12h/2007/10/127055), tập đoàn Illuminati, hội Đầu Lâu Xương
Ống (ở Đại Học Yale: Cả Bush và Kerry đều hội viên của Skull and
Bones Society. Hội này hoạt động bí mật đến nỗi các thành viên không
được phép tiết lộ về hội. Đức là nguyên quán của hội kín Illuminati -
thành lập năm 1832). Những hội này gồm những nhân vật chính trị
ngoại giao tên tuổi như Henry Kissinger, những nhà tài phiệt như gia
đình Rockefeller, những giáo sư đại học danh tiếng, nhất là những người
thuộc giới truyền thông. Mục tiêu của những hội này là đặt toàn thể thế
giới dưới ách độc tài của một thiểu số ưu tú.
(4d)
http://www.honviet.com.vn/?s=&act=psychology&c=60&id=112
Nho giáo và Ki Tô giáo
http://members.cox.net/vientrietdao/bao/nhogiao.html
(4e)
http://www.avsnonline.net/forum/viewtopic.php?p=93445&sid=f464a31df577c20735e7ce9af455ecc2;
http://www.giaodiem.com/doithoai/hhnk_vhhoabinh.htm
Khi cách mạng dân quốc của Trung-Hoa chưa
thành công, lãnh tụ Tôn-Dật-Tiên qua cầu viện nước Nhật, tại đây
Tôn-Dật-Tiên có gặp ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị (một chính khách Nhật cũng là
một nhà mạnh thường quân của cách mạng Việt-Nam), trong câu chuyện hàn
huyên, khi đề cập tới Việt-Nam, Tôn-Dật-Tiên đã bĩu môi chê dân tộc
Việt-Nam, họ Tôn nói với ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị như sau:
"Dân An-Nam là
một dân tộc nô lệ, trước họ nô lệ chúng tôi, nay họ nô lệ người Pháp, họ
là một dân tộc có đầu óc nô lệ làm sao giúp họ độc lập được"uot;
Ngài Khuyển-Dưỡng-Nghị đã cắt lời
Tôn-Dật-Tiên như sau:
"Tôi xin được
phép ngắt lời ngài ở đây, ngài đã có những nhận xét không đúng về dân
tộc đó (dân tộc Việt-Nam), bây giờ họ thua người
Pháp vì họ không có khí giới tối tân chống lại người Pháp, mai sau khi
họ có khí giới tối tân họ sẽ đánh bại người Pháp (lời tiên đoán này
đúng với chiến thắng Điện-Biên-Phủ sau này). Ngài nên nhớ rằng dân
tộc Lạc Việt này là một chi duy nhất còn lại của Bách Việt đã chống lại
sự đồng hóa của người Trung-Hoa giữ nền độc lập của tổ tiên họ, trong
khi các chi Việt khác như Mân Việt đã bị đồng hóa cả ngàn năm"
Khi nghe tới đây, Tôn-Dật-Tiên đỏ bừng mặt xin lỗi ngài
Khuyển-Dưỡng-Nghị và xin cáo lui. Tôn-Dật-Tiên xấu hổ vì Tôn-Dật-Tiên
là người Quảng Đông (Mân Việt).
(còn tiếp)
|