Trong
bài viết này, tôi không có ý đưa ra những nhận định
của tôi về bản “Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á” mà
giáo hoàng John Paul II đã ban hành vào tháng 11 năm
1999 nhân dịp ông viếng thăm Ấn Độ, một bản văn mà
Mac Kher đã coi như là “một lời Tuyên Chiến chống
nền văn hóa Á Đông, các tôn giáo Á Đông, và xã hội Á
Đông nói chung, Ấn Độ Giáo nói riêng. Sách lược cải
đạo quần chúng vào Ki Tô Giáo mưu toan phá hủy linh
hồn của Á Châu, cấy ghép vào đó một triết lý mà Á
Châu không cần đến. Á Châu không cần đến bất cứ
một bài học nào về tôn giáo và lòng mộ đạo từ bất cứ
ai.” (a Declaration of War against Asian
culture, Asian religions, and Asian society in
general, and Hinduism in particular. Mass-conversion
to Christianity seeks to destroy the soul of Asia,
transplanting an un-needed philosophy. Asia does not
need any lesson in religion or piety from anybody.)
Điều này cần riêng một cuốn sách dày ít ra là vài
trăm trang. Ở đây tôi chỉ muốn đưa ra vài nét về
trạng suy thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo
Rô-ma nói riêng, ở phương trời Âu Mỹ. Đây chính là
lý do giáo hoàng muốn mang đồ phế thải ở Âu Mỹ sang
Châu Á với hi vọng có thể nhốt đầu óc người dân Á
Đông trong vòng man rợ và tối tăm trí thức
(barbarous and intellectual darkness) của Châu Âu
trong thời Trung Cổ.
Tình
trạng suy thoái của Ki Tô giáo ở Âu Mỹ là một tình
trạng đã rõ rệt, không ai có thể phủ nhận. Một vài
tài liệu với vài con số thống kê sau đây có thể cho
chúng ta thấy rõ hiện tượng này. Trong cuốn
Những Nhà Đi Truyền Giáo (Missionaries) của
Julian Pettifer và Richard Bradley, cuốn sách dựa
trên một chương trình TV 6 kỳ, năm 1990, của đài
BBC, nội dung nghiên cứu về lịch sử truyền giáo của
Ki Tô Giáo nói chung trên thế giới, chúng ta có thể
đọc được vài sự kiện như sau:
Trang 242: Âu châu đã trở thành “một mối bối rối,
lúng túng cho Ki Tô Giáo”, một lục địa mà nhà thần
học Đức Kierkegaard đã gọi là lục địa của những
“người ngoại giáo đã được rửa tội”. Nói ngắn gọn,
Âu châu, trong nhiều thế kỷ là cái nôi của chương
trình truyền giáo Ki Tô đi khắp nơi, nay chính nó
lại đã trở thành nơi cần phải được truyền giáo.. Một
số người nói rằng đây là một lục địa “hậu-Ki-Tô”.
Theo
Floyd McClung (một nhà truyền giáo Ki Tô) thì: Người
ta e rằng nếu Âu châu cứ tiếp tục quay lưng lại
Thượng đế thì sẽ có ngày Thượng đế sẽ quay lưng lại
Âu Châu.
Những
nhà truyền giáo ngày nay tin rằng Âu Châu hiện ở
trong nguy cơ bị lún sâu trong làn sóng thủy triều
của chủ nghĩa thế tục. Họ cực lực phủ nhận đó là
định mệnh tối hậu không thể tránh được của các quốc
gia theo Ki Tô Giáo.
(Europe had become “an embarrassement to
Christianity”, a continent of what the German
theologian Kierkegaard called “baptised pagans”. In
short, Europe, for centuries the craddle of
Christian Mission, had itself become a mission
field… Some say it is a “post-Christian” continent.
For
Floyd McClung: there is a fear that if Europe
continues to turn its back on God, the time may come
when God will turn His back on Europe.
The
missionaries believe that Europe is in danger of
being swamped by a tidal wave of secularism. They
vigorously deny that this is the inevitable and
ultimate destiny for all Christian nations..)
Trang 244: Ở Anh Quốc: Tình trạng vô Thượng đế ở Anh
đuọc coi như là một sự truyền nhiễm trong giới lao
động ở đô thị. Tuy rằng có những biệt lệ đáng kể,
giới trung lưu vẫn còn là những người, nếu không
phải là sợ Thượng đế thì ít nhất cũng là những kẻ
tiếp tục đi lễ nhà thờ... Hình ảnh này đã hoàn toàn
thay đổi. Sự truyền nhiễm đã tràn vào giới trung
lưu sống ở ngoại thành, và ngay cả mạch sống của
giáo hội, những giáo xứ ở miền quê, cũng đã bị nhiễm
độc. Trong cuộc kiểm tra về ngày chủ nhật năm 1851,
vào khoảng 40% dân chúng đi lễ nhà thờ. Một thế kỷ
sau, 1951, số người đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật vào
khoảng gần 10%.
Các
nhà thống kê tranh cãi nhau về số tín đồ Ki Tô thuần
thành ở Anh thấp như thế nào. Một số người cho rằng
số người thường xuyên đi lễ nhà thờ chỉ là 4%. Tới
năm 1986, 1/5 số 2870 nhà thờ Tin Lành ở Luân Đôn
chỉ có cộng đồng tín đồ dưới 25 tín đồ; 3/4
có dưới 100 tín đồ.. Nhà thờ trên khắp nước Anh bị
bỏ hoang vắng. Đặc biệt là ở Luân Đôn, sự biến cải
nhà thờ thành một cơ sở khác là một dịch vụ kiếm lời
lớn. Những đèn nhấp nháy để nhảy Disco soi sáng
những khung cửa kính màu của một nhà thờ chính ở
Luân Đôn, nhà thờ này đuọc đặt tên lại là Hộp Đêm
Ánh Sáng; ở Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing và
Highgate, những nhà phát triển địa ốc đã biến những
nhà thờ từ thời Victoria thành những căn nhà ở cho
thuê; ở Wales, giáo phái Tin Lành Bresbyterian biến
cải 300 nhà thờ thành những nhà ở cho những cặp vợ
chồng trẻ đang trong cảnh khó khăn để mua được một
căn nhà đầu tiên. Ở nhiều nơi khác, nhà thờ được
dùng làm kho bán hạ giá bàn ghế tủ giường thảm, và
làm tiệm ăn.
Tuy
nhiên sự quan tâm về tình trạng suy sụp tâm linh ở
Anh chẳng có nghĩa lý gì khi so sánh với Pháp. Theo
nhà truyền giáo (Tin Lành) Mỹ David Barnes, mặc dù
Pháp có một nền văn hóa phong phú, dân Pháp cũng
“không biết đến Thượng đế như là những thổ dân thiếu
văn minh ở trong những lục địa tối tăm nhất trên thế
giới.” Trong số 54 triệu dân, chỉ có 0.22% theo
Tin Lành. Tuy rằng 94% dân chúng được rửa tội theo
Ca-Tô giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà nhờ ngày
chủ nhật. Dù rằng Pháp chịu ảnh huỏng rất lớn của
Ca-Tô giáo, Hội Truyền Giáo Đến Các Nơi Chưa Biết
Đến Phúc Âm tuyên bố Pháp là miền đất phải được
truyền giáo.
(In
Britain: Godlessness in Britain was presumed to be a
contagion confined to the urban working classes.
Although there were notable exceptions, the middle
classes remained, if not God- fearing, then at least
church-going folk…The picture had completely
changed. The disease had spilled into
middle-classes suburbia and even the life-blood of
the church, the rural parishes, had been infected.
On census Sunday in 1851, some 40% of the population
went to church. A century later, in 1951, it was
nearer 10%.
The
statisticians quibble about how just low the figures
are for practising Christians in Britain. Some
argue that consistent church attendance is as low as
4%. By 1986, a fifth of London’s 2870 Protestant
churches had congregations of less than 25; had less
than 100 members… Churches all over Britain lie
abandoned and derelict. In London particularly,
church conversion has become big business. Disco
lights illuminate the stained-glass windows of one
central London church, renamed the Limelight
Nightclub; in Barnsbury, Bromley-by-Bow, Ealing and
Highgate, developers have turned Victorian churches
into exclusive apartments; ..In Wales, the
Bresbyterian Church is converting 300 churches into
homes for young married couples struggling to buy a
first house. Elsewhere, churches are being used as
furniture warehouse, carpet disount stores and
restaurants.
But
concerns over Britain’s spiritual welfare is nothing
compared to that over France. According to the
American missionary David Barnes, despite the
richness of their culture, the French “are as
ignorant of the things of God as the uncivilised
natives of one of the world’s darkest continents”.
A mere 0.22% of France’s 54 million population are
evangelical Protestants. Although 94% are baptised
Catholics, a mere 2% regularly attend church.
Despite the huge influence of the Catholic Church,
the Unevangelised Fields Mission (UFM) have declared
France a mission field.)
Ở Mỹ,
tình trạng Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma
nói riêng, cũng không sáng sủa gì hơn. Đức tin
Ca-tô càng ngày càng suy giảm, linh mục và giáo dân
bỏ đạo hàng loạt, các “bí tích” trở thành mất ý
nghĩa, do đó giáo dân không chịu đi lễ nhà thờ ngày
chủ nhật. Trong nhà thờ ngày chủ nhật chúng ta thấy
phần lớn là những bộ mặt già nua và những giáo dân
Mít, Mễ, và gốc Phi Châu. 60% tín đồ của hệ phái
Tin Lành lớn nhất Methodist trên 50 tuổi. Một số nhà
thờ, Ca-tô cũng như Tin Lành, được rao bán để người
mua muốn sử dụng làm gì thì làm, có nhiều trường hợp
nhà thờ nay biến thành chùa. Nhiều trường học Ca-tô
ở các địa phương đóng cửa vì không đủ tài chánh để
tiếp tục, nhưng giáo xứ vẫn có tiền bồi thường,
thường là lên đến hàng triệu đô-la, cho các nạn nhân
của các linh mục loạn dâm.
Năm
1990, linh mục David Rice dòng Đô-Mi-Nic xuất bản
cuốn Lời Nguyện Tan Vỡ: Linh Mục Bỏ Đạo
(Shattered Vows: Priests Who Leave), đưa ra kết quả
nghiên cứu của ông sau khi đi khắp nơi tổng cộng 38
ngàn dặm (khoảng 60 ngàn cây số) để phỏng vấn và tìm
hiểu đời sống của các linh mục bỏ đạo:
Một trăm ngàn ( 100000 ) linh mục Ca-tô Rô-ma đã bỏ
đạo trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có
hơn một linh mục ra đi. Hầu như phân nửa số linh
mục Mỹ sẽ bỏ đạo – thường là để lập gia đình – chưa
tới 25 năm sau khi được tấn phong. Vatican không
nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính là cuộc
khủng khoảng nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối
diện, kể từ khi có cuộc Cải Cách tin Lành.
(100000 Roman Catholic priests have walked out in
the last 20 years – more than one every two hours.
Almost half of all American priests will leave –
most often, to marry – before the 25th
anniversary of their ordination. The Vatican won’t
talk about this exodus, yet it is the most grievous
crisis to face the Church since the Protestant
Reformation)
Chúng ta chắc chưa ai quên, năm 1998, trước sự kiện
mỗi ngày tại Nam Mỹ và Phi Châu có tới 8000 tín đồ
Ca-Tô Giáo Rô-Ma bỏ đạo để theo Tin Lành, nên giáo
hoàng John Paul II đã mất bình tĩnh, và để lộ đạo
đức tôn giáo chân thật của người chủ chăn Ca-Tô,
người mà các tín đồ Ca-Tô vẫn thường gọi là “đức
thánh cha”, khi ông gọi những nhà truyền giáo Tin
Lành ở những nơi đây là “những con chó sói đói
mồi..gây bất hòa và chia rẽ trong những cộng đồng
của chúng ta.” (ravenous wolves..causing discord
and division in our communities.). Chắc ông ta
không hề nghĩ rằng, chỉ một năm sau, như tự tát vào
chính mặt mình, ông ta đã thúc dục những giám mục
của ông ta phải tăng gia nỗ lực đi cải đạo các tín
đồ tôn giáo khác ở Á Châu. (Bản tin BBC ngày 6 tháng
11, 1999.: The Pope called on the bishops to step up
evangelisation (in Asia)). Chúng ta hãy đặt một câu
hỏi: bản chất của những giám mục này có khác chi
những nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Mỹ và Phi Châu
mà ông ta đã gọi là “những con chó sói đói mồi
gây bất hòa và chia rẽ”? Nếu những nhà truyền
giáo Tin Lành đi cải đạo các tín đồ Ca-Tô, theo giáo
hoàng John Paul II, là những con “Chó sói Tin Lành
đói mồi”, thì những nhà truyền giáo Ca-Tô ở Á Châu
hay đi đến Á Châu để cải đạo người khác phải chăng
cũng chỉ là những con “chó sói Ca-tô đói mồi”? Có
gì khác biệt trong mục đích đi khuyến dụ người khác
cải đạo của Tin Lành và của Ca-Tô Giáo Rô-ma? Đối
với người phi Ki-Tô thì “chó sói Tin Lành” hay “chó
sói Ca-Tô” hoàn toàn không có gì khác biệt, vì chúng
có cùng một bản chất và cùng một mục đích, gây bất
hòa và chia rẽ trong những cộng đồng phi Ki-Tô.
Kinh nghiệm Việt Nam đã chứng tỏ sự truyền đạo Ca Tô
vào đất nước thân yêu của chúng ta, vốn vẫn sống
trong tinh thần hòa hợp thuần nhất, đã gây ra những
cảnh bất hòa, chia rẽ trong gia đình những kẻ tân
tòng, và gây ra cảnh chia rẽ, Lương Giáo tàn sát lẫn
nhau trong xã hội Việt Nam. Và gần đây, sự truyền
đạo Tin Lành trong một vài miền thượng du Bắc Việt
cũng đã gây ra những cảnh chia rẽ, xáo trộn trong xã
hội. Ai có thể phủ bác được những sự kiện này, xin
lên tiếng.
Tôi
xin quý độc giả để ý, từ “chó sói đói mồi”
(ravenous wolves) là từ của giáo hoàng John Paul II
gọi các nhà truyền giáo Tin Lành ở Phi Châu và châu
Mỹ La Tinh chứ không phải là từ của tôi đưa ra. Tôi
không đến nỗi vô giáo dục mà gọi các nhà truyền giáo
Ki Tô, Ca-Tô cũng như Tin Lành, là những con “chó
sói đói mồi”. Theo như sự hiểu biết của tôi về
những nhà truyền giáo Ki Tô, tôi phân họ ra làm hai
loại người: loại người cuồng tín, ngu dốt (fanatic,
ignorant = Tin Lành) và loại người bất lương trí
thức (intellectual dishonest = Ca-tô). Tôi có đủ
bằng chứng để chứng minh điều này nhưng vì không
thuộc nội dung bài viết này nên tôi xin hẹn quý độc
giả trong một bài khác, hay trong một cuốn sách tôi
đang viết cùng với một số tác giả khác.
Tín
đồ bỏ đạo đã đành, nhưng tín đồ giữ đạo cũng chỉ còn
trên hình thức, thích cái gì thì theo cái đó, chẳng
coi những tín lý, tín điều của Ca-tô giáo vào đâu.
Hiện tượng này được biết dưới danh từ Catholic
Cafeteria, nghĩa là “Tiệm ăn Ca-Tô mà khách hàng vào
ăn thích món nào thì lấy lấy mà ăn.” Một trong
những món ăn mà tín đồ Ca-tô ngày nay chê là đi lễ
nhà thờ ngày chủ nhật.
Báo
Chicago Tribune ngày thứ Tư, 8 tháng 7, 1998, loan
tin từ Vatican City: “Giáo Hoàng John Paul, thứ
Ba vừa qua đã phát ra một tông huấn dài 100 trang để
nâng cao số tín đồ đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật đang
càng ngày càng ít đi...Ông ta nói “khi mà ngày chủ
nhật mất đi ý nghĩa căn bản của nó và trở thành chỉ
là một ngày cuối tuần, điều có thể xảy ra là con
người bị khóa chặt trong một khung trời giới hạn đến
độ họ không còn nhìn thấy “thiên đường” nữa. Lời
kêu gọi của ông ta là để đáp ứng cho tình trạng đi
lễ nhà thờ quá thấp của tín đồ. Ở Mỹ, nhiều cuộc
thăm dò ước tính là chưa tới 30% tín đồ Ca-tô đi xem
lễ ngày chủ nhật.” (Pope John Paul II issued a
100-page apostolic letter to boost the dwindling
number of Sunday mass-goers..He said “when Sunday
loses its fundamental meaning and becomes merely
part of a week-end, it can happen that people stay
locked within a horizon so limited that they can no
longer see “the heavens”. His plea was a response
to “strikingly low” church attendance.. In the US,
surveys estimate that less than a third of Catholics
attend mass on Sunday).
Tình
trạng trên đã nói lên một điều: những tín điều thuộc
loại dọa dẫm của giáo hội như “không đi xem lễ ngày
chủ nhật sẽ phải đày đọa xuống hỏa ngục” đã mất đi
hiệu lực, và giáo dân đã nhận ra sự thật: trong nhà
thờ ngày chủ nhật không có thiên đường, chỉ có những
giỏ quyên tiền chuyển từ hàng ghế này đến hàng ghế
khác, để làm gì, giáo dân không được quyền biết đến.
Giáo dân đã sáng suốt, đi trước giáo hội nhiều
năm, vì thật là khôi hài, sau khi ra “tông huấn” kêu
gọi tín đồ hãy đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật để cho
khung trời mở rộng, có thể thấy được thiên đường,
thì chỉ một năm sau, tháng 7, 1999, trước những khám
phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những
hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của
trái đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố:
"thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà
cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng
mây” (Heaven is neither an abstraction nor a
physical place in the clouds), và “Hỏa ngục không
phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng
đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và
hành động mà con người đã làm trong đời này”
(Hell is not a punishment imposed externally by God,
but the condition resulting from attitudes and
actions which people adopt in this life). Như vậy
là Giáo Hoàng đã bác bỏ phần giáo lý quan trọng nhất
của giáo hội Ca-Tô: “người nào tin Chúa thì sẽ
được Chúa cho lên thiên đường sống cuộc sống đời đời
bên ngài, kẻ nào không tin sẽ bị Chúa phán xét đày
vĩnh viễn xuống hỏa ngục ở trong lòng đất”.
Đức tin vào sự “cứu rỗi” của Chúa Giê-su đã trở
thành một cái bánh vẽ, vậy thì niềm tin vào việc đi
lễ nhà thờ ngày chủ nhật còn có ý nghĩa gì nữa. Bởi
vậy ở bên Pháp, nơi có 94% dân chúng “rửa tội” theo
Ca-tô giáo nhưng chỉ có 2% đi xem lễ ngày chủ nhật.
Tỉ lệ giáo dân Việt Nam đi xem lễ ngày chủ nhật cao
hơn gấp bội tỉ lệ giáo dân ở Âu Mỹ. Tại sao? Vì
giáo dân Việt Nam “văn minh” hơn giáo dân Âu Mỹ
nhiều. Họ văn minh hơn là vì họ vốn thuộc một dân
tộc tối tăm, lạc hậu, mọi rợ, đã được các thừa sai
thực dân đến văn minh hóa, như họ thường tự nhận.
Điều này sẽ được chứng minh trong phần sau. Còn thế
giới Tây phương, vốn văn minh sẵn cho nên họ đang
dần dần từ bỏ những thứ thiếu văn minh của thời
Trung Cổ.
Giáo
hoàng còn đưa ra nhiều đòn phép ngoạn mục nữa để giữ
tín đồ. Ông tuyên bố: “tín đồ nào chỉ cần bỏ rượu
hay thuốc lá một ngày thì sẽ được ông miễn xóa hết
tội” làm như ông ta có khả năng xá tội cho tín đồ
thật. Báo Chuyển Luân bên Úc nhận định: “Từ nay,
các tín đồ Ca-tô sẽ phom phom lên thiên đường trên
xa lộ không đèn”. Tuần báo Newsweek, số
ngày 22 tháng 8, 1994 cho biết: trong số báo bán
nguyệt san "Văn Minh Ca Tô" do dòng Tên phát
hành, Tòa Thánh đã phải đưa ra những lời đe dọa
"tuyệt thông" hay "dứt phép thông công" giáo dân nào
đi theo Phật Giáo. Chắc tòa thánh nghĩ rằng tín đồ
nào bỏ đạo đi theo Phật Giáo thì vẫn cần tới “phép
thông công” của tòa thánh.
Tình
trạng Ki Tô Giáo suy thoái ở Tây phương là một
nghịch lý, vì Ki Tô Giáo vẫn tự nhận là một tôn giáo
văn minh tiến bộ nhất, và những xã hội Âu Mỹ hiển
nhiên là những xã hội văn minh tiến bộ nhất. Nghịch
lý này cho chúng ta thấy rõ thực chất của Ki Tô Giáo
nói chung, Ca-Tô giáo nói riêng. Nghịch lý trên
cũng đưa ra một sự thật: luận điệu của các thừa sai
Ca-Tô khi đến nước ta vào những thế kỷ 17- 19, nói
là để văn minh hóa những dân tộc mọi rợ, điều mà các
tín đồ Ca-Tô Việt Nam, kể cả những người được gọi là
trí thức, vẫn tin là như vậy cho đến ngày nay (Xin
đọc Kinh Nhựt Khóa của Công Giáo: “Ông
thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e là lịnh rao truyền tiếng
đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ.”, hoặc
cuốn “2000 Năm Một Thuở: Chứng Từ Của Một Số
Người Công Giáo” do nhóm Tin Nhà ở Pháp xuất bản
năm 2000, tác giả Nguyễn Tiến Cảnh, viết ở trang 44:
"Ai cũng biết hàng giáo sĩ công giáo là lớp người
đi tiên phong về văn hóa, mang văn minh tiến bộ đến
các nơi tăm tối lạc hậu"), thật ra chỉ là những
luận điệu huênh hoang cuồng tín, mang sự hoang đường
mê tín đến đầu độc đám dân chúng cùng đinh ở Việt
Nam, nơi đây các tôn giáo Á Đông thực sự đã vượt xa
Ki Tô Giáo về mọi phương diện, điều mà ngày nay thế
giới Tây phương đang phải chấp nhận. Thời gian qua,
với sự tiến bộ trí thức không ngừng của nhân loại,
ngày nay bộ mặt thật của Ki Tô Giáo đã bị phơi bầy,
và chính ở trong những cái nôi của Ki Tô Giáo ở
phương trời Âu Mỹ, Ki Tô Giáo đang tuột dốc theo
luật đào thải của thế giới văn minh tiến bộ.
Tại
sao trong những xã hội Âu Mỹ lại xảy ra hiện tượng
giải trừ Ki Tô Giáo (de-Christianization) và người
dân lại đang từ từ bỏ Ki Tô Giáo? Chẳng có gì là
khó hiểu, vì như là một qui luật thế gian, sự tiến
bộ trí thức của con người và đời sống vật chất thoải
mái trong những xã hội này tất nhiên phải đưa đến
tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo.
Thật
vậy, nữ học giả Ca-tô Joane H. Meehl, người mà sau
khi đã thấy rõ chủ đích và những việc làm của giáo
hội Ca Tô từ thế kỷ 4 tới nay, đã viết trong cuốn
"Người Tín Đồ Ca Tô Tỉnh Ngộ" (The Recovering
Catholic), trg. 288, như sau:
"Đạo Ca-Tô chỉ thịnh hành và phát triển trong đám
người nghèo và ngu dốt. Nó chỉ bị khắc phục bằng
giáo dục (mở mang dân trí) và đời sống kinh tế thoải
mái" (Catholicism thrives and grows among the
poor and ignorant. It is overcome by education and
economic well-being).
Trừ
lớp tín đồ thấp kém trong Ca-Tô Giáo Rô-ma vẫn tin
rằng mình ở trong một “hội thánh”, “tông truyền”,
“thiên khải”, “duy nhất”, “thánh thiện” v..v..,
những thuộc tính tự nhận của giáo hội, thế giới Âu
Mỹ tiến bộ ngày nay đã nhận ra bộ mặt thật của Ca-Tô
Giáo Rô-ma. Tài liệu về bộ mặt thật này, kết quả
nghiên cứu của các chuyên gia về tôn giáo ở trong
cũng như ở ngoài giáo hội, hiện nay có đầy dãy trong
các thư viện và tiệm sách lớn và trên Internet.
Giáo hội đã mất đi quyền lực ngăn chận những tác
phẩm này như khi xưa giáo hội đã làm. Dân trí mở
mang, sự thật được phơi bày, và giới chăn chiên
trong giáo hội, hoặc có lương tâm trí thức đã từ bỏ
chiếc áo chùng thâm và cái cổ trắng, hoặc vẫn bám
vào những quyền lực thế gian và khuyên các con chiên
không nên đọc những tác phẩm mà họ quy kết là “chống
Ca-Tô”, tuy rằng những tác phẩm này chỉ đưa ra những
sự thật lịch sử về Ca-Tô Giáo Rô-ma, những sự thật
mà giới chăn chiên không bao giờ muốn cho các con
chiên của mình biết đến.
Nhưng
tiến hóa là một định luật thiên nhiên, cho nên không
có cách nào giáo hội có thể ngăn cản được những bước
tiến trí thức của nhân loại. Do đó sự tiến bộ trí
thức của nhân loại tất nhiên sẽ phải đưa đến sự suy
thoái của Ki Tô Giáo nói chung, Ca Tô Giáo Rô Ma nói
riêng, bởi vì căn bản tín ngưỡng Ki Tô Giáo đã không
còn chỗ đứng trước những công cuộc khảo cứu trí thức
về cuốn Thánh Kinh Ki Tô Giáo, về nhân vật Giê-su,
về các tín điều hay huyền thoại trong Ki Tô Giáo, và
trước những thành quả của khoa học ngày nay về nguồn
gốc con người và vũ trụ.
Tuy
nhiên, dù sao thì Ki Tô Giáo cũng sẽ còn tồn tại lâu
dài. Tại sao? Điều này thật là dễ hiểu. Vì trên
thế giới này còn vô số những người như Nguyễn Thanh
Vũ, Lê Anh Huy v..v.. (Tin Lành), và Đỗ Mạnh Tri,
Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Hữu Tấn Đức, Phan Phát
Huồn, Thomas Trần v..v.. (Ca-tô) ở khắp nơi trên thế
giới.
Cách
đây hơn 1 thế kỷ, Robert G. Ingersoll đã giải thích
điều này. Ông nói trước cử tọa (Joseph Lewis,
Ingersoll: The Magnificient, p. 140):
"Hãy
để tôi nói thầm vào tai người Tin Lành: Ca-Tô Giáo
Rô-ma còn tồn tại lâu dài. Điều này chứng tỏ cái
gì? Nó chứng tỏ rằng quần chúng thì ngu dốt
(ignorant) và các linh mục thì xảo quyệt.
Hãy
để tôi nói thầm vào tai người Ca Tô Rô-ma: Tin Lành
Giáo còn tồn tại lâu dài. Điều này chứng tỏ cái
gì? Nó chứng tỏ là quần chúng thì mê tín và các mục
sư thì đần độn (stupid).
(Let
me whisper in the ear of the Protestant: Roman
Catholicism dies hard. What does that prove? It
proves that the people are ignorant and that the
priests are cunning.
Let
me whisper in the ear of the Roman Catholic:
Protestantism dies hard. What does that prove? It
proves that the people are superstitious and the
preachers stupid.)
Robert G. Ingersoll được coi như là một nhà hùng
biện nổi danh của Mỹ (A celebrated orator of 19th
century America). Ông ta là bạn của 3 Tổng Thống
Hoa Kỳ, là người đã có công nhất trong việc làm nở
rộ quyền tự do tư tưởng ở Hoa Kỳ. (A personal friend
of three U.S. presidents, the individual most
responsible for the flowering freethought in the
United States.). Bức tượng của ông, ghi công ông,
nay được đặt ở Periora, Illinois.
Các bài về tôn giáo cùng tác giả |