Toàn bộ: 1
2 3
[ PHẦN III ]
THỰC TRẠNG SUY THOÁI CỦA CÔNG GIÁO VÀ TIN LÀNH :
Sự suy thoái của
Ki Tô Giáo ở Tây phương là một sự kiện. Giáo hoàng Ca-Tô Giáo Rô-ma
tiền nhiệm,
[Theo sự nghiên cứu phân tích rất chính xác của Đỗ Thuận
Khiêm thì Roman Catholicism dịch là Ca-Tô Giáo Rô-ma là đúng nhất thay
vì Công Giáo], John Paul II, đã có trên 100 chuyến công du đến các
nước trong thế giới thứ ba để mong vớt vát niềm tin trong đám tín đồ.
Nhưng ở một số địa phương, ông đã bị dân chúng la ó phản đối, không cho
ông nói khiến cho ông phải lớn tiếng quát trong máy vi âm: “Hãy im đi”
[Silencio] nhưng vô hiệu. Ông cũng toan tính thăm viếng Việt Nam, ra
lệnh cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam lên tiếng chính thức mời, và ông ấy
nhận lời mời ngay, coi như chuyện đã rồi, để ông ấy có thể tới Việt Nam,
ngồi trong xe Popemobile có lồng kính chắn đạn, đẩy mạnh lòng tin của
giáo dân Việt Nam và dạy họ “đừng sợ”, nhưng mánh mưu này có vẻ như
không qua mắt được Việt Nam, nên chính quyền Việt Nam đã từ chối, không
cho phép ông đặt chân lên đất nước Việt Nam. Mất thế đứng ở Tây phương,
ông ra “Tông Huấn”, hô hào giáo dân thuộc hạ đi cải đạo Á Châu, hi vọng
có mùa gặt mới ở vùng đất phì nhiêu này, nhưng mùa gặt mới của ông ở Á
Châu cho đến nay chỉ gặt được lơ thơ phần lớn là cỏ dại trên những cánh
đồng hoang vu ít mầu mỡ..
Ngày nay, Giáo
Hoàng đương nhiệm, Benedict XVI, cũng vừa mới công du Nam Mỹ, tuyên bố
mục đích chuyến đi là để
“chiếm lại lòng tin của những tín đồ Ca-Tô”
[To win back Catholics]. Ngài chú trọng đến Ba Tây (Brazil) vì nơi đây
mỗi năm có tới 600000 [sáu trăm ngàn] tín đồ Ca-Tô bỏ đạo, theo sự thú
nhận của các giám mục Ba Tây, ghi bởi John Cornwell, một trí thức Ca-Tô,
trong cuốn Từ Bỏ Đức Tin: Giáo Hoàng, Giáo Dân, và Số Phận của Ca
Tô Giáo (Breaking Faith: The Pope, The People, and The Fate of
Catholicism). Giống như Giáo hoàng tiền nhiệm John Paul II, phong thánh
bừa bãi cho các Việt Gian và Hán Gian, Ngài cũng phong thánh cho một
người Ba Tây, hi vọng với thủ đoạn mê hoặc cố hữu của Vatican này, thì
tín đồ Ca-Tô bỏ đạo sẽ hồ hởi trở lại đạo. Nhưng Ngài có lẽ không để ý
rằng, với sự hiểu biết và kiến thức của nhân loại ngày nay, thì chức
“thánh” trong Ca Tô Giáo Rô Ma chẳng còn mấy ý nghĩa [Xin đọc bài viết
về các “đức thánh cha” trên giaodiemonline nay mai].
Thật vậy,
chúng ta còn nhớ, Hồng Y Silvio Oddi, dưới triều của giáo hoàng John
Paul II, đã than phiền về thủ đoạn phong thánh của Vatican như sau: “Vatican
đã trở thành cái xưởng sản xuất thánh” (Vatican has become a saint
factory). Ngoài ra, đi ngược thời gian, thời buổi này mà Benedict XVI
còn dạy đạo đức cho giới buôn ma túy ở Nam Mỹ bằng cách mang Chúa ra hù
dọa:
“Chúa sẽ tính sổ với các người” (God will call you to
account for your deeds), trong khi ông ta đã thấy rõ và thường than
phiền là Âu Châu ngày nay không hề biết đến Thiên Chúa là ai. Mục đích
chuyến đi Nam Mỹ của Benedict XVI, như trên đã nói, là để kéo tín đồ bỏ
đạo trở lại đạo. Nhưng thay vì làm sao để cho các tín đồ Ca-Tô “lấy lại
niềm tin và trở lại đạo” Ngài lại dùng một sách lược ngu xuẩn của các
thừa sai khi xưa, phê bình hạ thấp các tín ngưỡng địa phương và huênh
hoang cho rằng Ca-Tô Giáo đã đến Nam Mỹ để văn minh hóa người dân ở
đây.
Thật vậy,
trước đây, Benedict XVI, khi còn là Hồng Y Ratzinger, đã phê bình Phật
Giáo bằng một câu vô đạo đức tôn giáo nếu không muốn nói là vô giáo
dục. Ngày nay, ở Ba Tây (Brazil), với tư cách là giáo hoàng, đạo đức
và giáo dục của ông ta vẫn không tiến bộ được chút nào, vẫn dậm chân tại
chỗ.
Theo tin của
hãng Reuters thì
lãnh tụ những thổ dân Brazil cảm thấy xúc phạm vì
những lời bình luận “kiêu căng và vô lễ” của Benedict XVI là Giáo hội
Ca-Tô Rô-ma đã đến Nam Mỹ để thanh tẩy họ, và
[nếu họ] làm sống
lại những tôn giáo của họ thì đó là một bước đi giật lùi. [Trong
khi sự thật trái ngược hẳn: trước tình trạng suy thoái của Ki Tô
Giáo khắp nơi, nghĩa là con người đã tiến bộ, bỏ lại đàng sau Ki Tô
Giáo, thì làm sống lại Ki Tô Giáo mới đích thực là một bước đi giật lùi,
Giáo hoàng không nhận ra điều này hay sao? Điều này sẽ được chứng minh
trong một phần sau, qua một số tài liệu về tình trạng suy thoái của Ki
Tô Giáo mà chính Giáo hoàng cũng đã phải thú nhận nhiều lần]
(BRASILIA (Reuters) - Outraged Indian
leaders in Brazil said on Monday they were offended by Pope Benedict's
"arrogant and disrespectful" comments that the Roman Catholic Church had
purified them and a revival of their religions would be a backward
step.)
Cố tình
gian dối xuyên tạc bẻ queo lịch sử, Benedict XVI cũng còn cường điệu
cho rằng Giáo hội không áp đặt trên thổ dân Nam Mỹ Ca-Tô giáo mà là
chính những thổ dân này đã đón tiếp (sic) những linh mục Âu Châu trong
thời đất nước của họ bị chinh phục vì họ đã “âm thầm khao khát” (sic) Ki
Tô Giáo. [Giáo hoàng nói nhảm, thời đó, toàn thể lục địa Mỹ Châu
cũng như Á Châu, có ai biết gì về cái gọi là Ki Tô Giáo đâu]
(In a speech
to Latin American and Caribbean bishops at the end of a visit to Brazil,
the Pope said the Church had not imposed itself on the indigenous
peoples of the Americas. They had welcomed the arrival of European
priests at the time of the conquest as they were "silently longing” for
Christianity, he said.)
Không có gì
có thể sai sự thực hơn là những lời gian dối cố ý xuyên tạc lịch sử, bẻ
queo sự thật của Benedict XVI. Bởi vì bất cứ ai có đôi chút hiểu biết
về những cuộc chinh phục Nam Mỹ của các nước Ca-Tô giáo cũng phải biết
rằng Giáo hội Ca-Tô đã đứng đàng sau những cuộc chiếm thuộc địa ở Nam
Mỹ cũng như ở mọi nơi khác của thực dân Âu Châu đưa đến kết quả là hàng
triệu thổ dân ở Mỹ Châu chết vì bị tàn sát, bệnh tật do người Tây phương
mang tới, và chính sách nô lệ của Tây phương, kể từ khi Columbus đến Mỹ
Châu vào năm 1492.. Các linh mục đã ban phúc lành cho những chinh
phục quân Tây Ban Nha (Priests bless the Spanish conquistadors) trong
cuộc chiến tiêu diệt thổ dân. Đây là những sự kiện lịch sử. Điều
đáng nói ở đây là Benedict XVI đã nói ngược lại những điều mà năm 1992
giáo hoàng John Paul II đã xin lỗi thổ dân Nam Mỹ và thú nhận những sai
lầm trong việc truyền bá phúc âm đến Mỹ Châu. [Pope John Paul II
spoke in 1992 of mistakes in the evangelization of native peoples of the
America].
Nhưng đối với
những người hiểu biết ít nhiều về Giáo hội Ca-Tô Rô-ma thì những gì
Benedict XVI nói ở Brazil không có gì là lạ, vì xuyên tạc lịch sử, bẻ
queo sự thật vốn là sách lược lắt léo cố hữu của Vatican. Thật vậy,
Paul Blanshard đã viết trong chương
“The management of Truth: The
Vatican” trong cuốn “Communism, Democracy and Catholic Power”
như sau, trang 212:
“Như là một
định chế trong thế giới này, Vatican đã thông thạo những phương pháp
biến chế, xào xáo sự thực bằng những cách lạ lùng để thúc đẩy chương
trình toàn cầu của mình. Vatican đã thông thạo cách che dấu lịch sử,
khai thác sự ngu dốt của con người, và ngụy trang những chính sách phi
dân chủ của mình.”
(As an
institution in this world, the Vatican has learned to manipulate and
manage truth in strange ways to furthering its world-wide program. It
has learned to shade history, exploit human ignorance, and disguise its
undemocratic policies..)
Nhưng những
thái độ bất xứng này của Benedict XVI trong thủ đoạn
biến chế, xào
xáo sự thực lịch sử
đã gây lên một làn sóng chống đối ở Nam Mỹ.
Và trước sự chống đối giận dữ ngày càng gia tăng, Benedict XVI đã để lộ
bộ mặt lá mặt lá trái của mình khi ông trở về RôMa với những lời tuyên
bố ngược trở lại. Không phải là Benedict XVI không biết đến lịch sử,
nhưng ông ta đã cố tình xuyên tạc lịch sử ở Brazil như chúng ta thấy
trong thông tin sau đây.
Ngày thứ Tư
23 tháng 5, 2007, đối diện với sự tiếp tục chống đối ở Châu Mỹ La Tinh,
Benedict XVI đã thừa nhận là công cuộc thuộc địa hóa thổ dân Nam Mỹ của
Ki Tô Giáo không phải là tốt đẹp như ông đã nói trước đây ở Brazil.
Ông ta
không xin lỗi, như một số thổ dân và lãnh đạo ở Mỹ La Tinh đòi hỏi. Tuy
nhiên, ông ta đã nói rằng không thể nào mà không biết đến những “bóng
tối” tối tăm và “những tội ác không thể biện minh được” trong công cuộc
truyền bá phúc âm ở Tân Thế Giới của những linh mục Ca-Tô Rô-ma trong
những thế kỷ 15 và 16.
(Chicago
Tribune, May 24, 2007, p.19: Rome.- Confronted with continued anger in
Latin America, Pope Benedict on Wednesday acknowledged that the
Christian colonization of Indian population was not as rosy as he
portrayed it in a major speech earlier this month in Brazil.
The pope did
not apologize, as some indigenous and Latin American leaders have
demanded. However, he did say that it was impossible to ignore the dark
“shadows” and “unjustified crimes” that accompanied the evangelization
of the New World by Roman Catholic priests in the 15th and 16th
centuries)
Bài báo phê
bình là Giáo hoàng chỉ nói hời hợt đại cương như trên và
không hề
nhắc đến những chuyện như “cưỡng bách cải đạo”, “các bệnh truyền nhiễm”
(do Tây phương mang tới), “các cuộc tàn sát” (thổ dân), “nô lệ
hóa”
(thổ dân) và những lạm dụng khác mà hầu hết các sử gia đều
đồng thuận là đi kèm với chính sách thuộc địa.
(The pope made
no mention of forced conversions, epidemic illnesses, massacres,
enslavement and other abuses that most historians agree accompanied
colonization.)
Tôi nghĩ
rằng những tín đồ Ca-Tô Việt Nam nào còn có chút đầu óc thì cũng phải
cảm thấy xấu hổ vì có một chủ chăn vô đạo đức như Benedict XVI mà mình
vẫn được dạy phải cúi đầu “quên mình trong vâng phục”, và cảm thấy
ngượng ngùng vì cái lịch sử tàn bạo ô nhục của Giáo hội mà mình là một
thành viên trong đó. Tín đồ Ca-Tô Giáo Rô-ma không có cách nào để
đặt mình ra ngoài những sự kiện lịch sử này, và dù muốn dù không, cái
gánh nặng này sẽ còn tiếp tục đè nặng trên vai họ, dù họ có biết đến nó
hay không. Nhưng điều bất hạnh là trên một số diễn đàn truyền thông
Ca-Tô ở hải ngoại, chúng ta vẫn thấy các con chiên ngoan đạo tiếp tục
tâng bốc ca tụng “Đức Thánh Cha” của họ, khoe nhắng nhít chuyện phong
thánh ở Ba Tây, theo truyền thống “mẹ Ca Tô hát thì con Ca-Tô phải
khen hay” từ nhiều đời cha truyền con nối của giáo dân Việt Nam, và
vẫn huênh hoang tin rằng mình đang ở trong một “hội thánh”..
Nhà Nước
Việt Nam nên coi chừng cái con người vô đạo đức không đáng để ai kính
trọng này và không đáng để Nhà Nước phải đón tiếp này, đừng vì lẽ gì mà
cho phép ông ta đặt chân lên đất nước Việt Nam, vì qua kinh nghiệm vừa
qua ở Brazil, ông ta có tới Việt Nam cũng không phải vì thiện chí ngoại
giao, mà chỉ để khích động sự cuồng tín trong đám tín đồ thấp kém, và
rất có thể ông ta sẽ lập lại sách lược của các thừa sai Ca-Tô trong thế
kỷ 17-19, xuyên tạc lịch sử và nói bậy giống như ở Brazil, mạ lỵ truyền
thống tín ngưỡng của người Việt Nam như ông ta đã nói về tín ngưỡng của
các thổ dân Nam Mỹ ở Brazil. Ông ta biết rằng vì ông ta là Giáo
hoàng nên ông ta muốn nói gì cũng được, không ai có thể làm gì được ông,
nhiều nhất là chỉ có thể lên tiếng phê bình, nhưng ông không quan tâm vì
mục đích của ông là “phương tiện biện minh cho cứu cánh.” Thủ đoạn của
ông ta là cố tình nói ngược cho mục đích đã định rồi nếu cần thì sẽ nói
suôi để làm dịu sự chống đối. Mà không phải chỉ có ông ta. Giáo hoàng
tiền nhiệm, John Paul II, cũng đã nhiều lần sử dụng thủ đoạn bất chính
này.
Bản chất
Benedict XVI là một người cuồng tín thuộc thời Trung Cổ. Bởi vậy trong
thời đại ngày nay, thời đại của những Christopher Hitchens, Sam Harris,
Richard Dawkins v..v.. mà ông ta còn có thể nói lên được một câu:
“Niềm tin vào Giê-su là điều duy nhất sẽ cứu thế giới” (Newsweek,
May 21, 2007: Belief in Jesus is the only thing that will save the
world). Ông ta không nói là cứu thế giới như thế nào, cứu khỏi các
thiên tai, bệnh tật, hay cứu rỗi phần hồn của cả thế giới. Nhưng dù
theo nghĩa nào đi chăng nữa thì chẳng lẽ ông ta không biết đến lịch sử
của Ca Tô Giáo là: niềm tin vào Giê-su đã “cứu thế giới” qua các
cuộc thập tự chinh, các tòa án xử dị giáo, các cuộc săn lùng phù thủy,
các cuộc bách hại người Do Thái, liên kết với thực dân để truyền đạo
với sách lược xâm lăng văn hóa, mưu toan thống trị và có thái độ thù
nghịch với các tôn giáo khác v..v.. tất cả nằm trong 7 núi tội ác của Ca
Tô Giáo Rô Ma đối với nhân loại trong gần 2000 năm mà Giáo hoàng tiền
nhiệm John Paul II đã chính thức xưng thú trước thế giới.
Cũng
may mà những thanh gươm và bó củi đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm
máu của Giáo hội [Xin đọc False Claims của John Remsburg],
nếu không niềm tin vào Giê-su của Giáo hội Ca-Tô không biết sẽ còn gây
ra thêm bao nhiêu tội ác nữa cho nhân loại..
Trở lại vấn
đề suy thoái của Ki Tô Giáo, hàm ý con người Ki Tô trên khắp thế giới
đang dần dần từ bỏ niềm tin vào vai trò cứu thế của Giê-su, Benedict
XVI đã nhiều lần thú nhận về sự suy thoái không cơ cứu vãn của Ca-Tô
giáo Rô-ma và Tin Lành ở Tây phương. Theo những tin tức trên báo chí
trên thế giới và cả trên tờ thông tin chính thức của Vatican, tờ
L’Osservatore Romano, vào những ngày 27, 28 tháng 7, 2005, thì
Benedict 16 đã lên tiếng phàn nàn như sau:
“Những
tôn giáo chủ đạo ở Tây Phương
[Ki Tô Giáo] có vẻ đang chết dần vì các xã
hội càng ngày càng trở nên thế tục và không còn cần đến Thiên Chúa nữa.
Nhận xét của Ngài có vẻ bi quan và rầu rĩ hơn
GH tiền nhiệm là John Paul II, người đã than phiền về sự suy thoái của
đức tin trong các quốc gia phát triển và nói rằng điều này giải thích sự
vật lộn của Giáo Hội Ca Tô đối với vấn đề số người đi nhà thờ giảm rất
nhiều trong những năm gần đây.”
(ROME
(Reuters, July 27, 2005) - Mainstream churches in the West appear to be
dying as societies that are increasingly secular see less need for God,
Pope Benedict said in comments published on Wednesday.
His outlook
was even glummer than that of his predecessor John Paul, who lamented
the decline of faith in the developed world and said it explained the
Catholic Church's struggle with falling attendance in the West in recent
years.)
Cũng theo
tin hãng Reuters ở Rome thì Giáo hoàng Benedict 16 đã phải đau lòng mà
chấp nhận một sự thực: “Thật là khác lạ trong thế giới Tây Phương, một thế giới
mệt nhọc với chính văn hoá của mình, một thế giới mà con người càng ngày
càng tỏ ra không cần đến Thiên Chúa, mà cũng chẳng cần gì đến Chúa Giêsu
nữa. Những Giáo Hội gọi là 'truyền thống' xem ra như đang chết dần.”
Theo một
phúc trình mới đây của Vatican thì trong một số nước phát triển, Giáo
dân đi dự lễ ngày Chủ Nhật chỉ còn khoảng 5%. Ngài nói thêm: Tuy
nhiên không phải chỉ có đạo Ca-Tô Rô-ma bị như vậy mà Giáo Hội Tin Lành
cũng bị ảnh hưởng nặng hơn nữa trong thời điểm lịch sử này. Không thấy
có giải pháp nào mau chóng và thần diệu cả để cứu vãn giúp Giáo Hội
chúng ta cả.
(It is
different in the Western world, a world which is tired of its own
culture, a world which is at the point where there’s no longer evidence
for a need of God, even less of Christ," he told a meeting of clergy in
the Italian Alps.
"The
so-called traditional churches look like they are dying," he said,
according to a text published by Vatican daily L’osservatore Romano.
Participation
at Sunday Mass in some developed countries was as low as 5 percent, a
recent Vatican report said.
"The Catholic
Church is not doing as badly as the big Protestant Churches but
naturally it shares the problem of this moment in historỵ" "There’s no
system for a rapid change.”)
Giáo hoàng
khuyên tín đồ Ca Tô, nhắm vào khối tín đồ Ca Tô lạc hậu ở Phi Châu, Nam
Mỹ, Phi Luật Tân, và Việt Nam, hãy kiên trì giữ vững đức tin, tiếp tục
tiến bước trong đường hầm [keep walking in the tunnel], có thể ánh sáng
le lói của Chúa Ki-Tô sẽ xuất hiện ở cuối đường hầm [Christ light would
appear at the end]
Gần đây nhất,
ngày 9 tháng 4, 2007, Giáo hoàng Benedict 16 lại cảnh báo là
“Âu
Châu có vẻ như sẽ mất đức tin trong tương lai, và gọi những người Âu
Châu chỉ muốn có ít con là theo “chủ nghĩa cá nhân nguy hiểm” [trong
khi cả thế giới đang lo nạn nhân mãn và cổ súy hạn chế sinh đẻ] Giáo
hoàng nói: “Bất hạnh thay, chúng ta phải ghi nhận là Âu Châu có
vẻ như đang tuột xuống một con đường có thể đưa Âu Châu đến sự giã từ
lịch sử”
[Ki Tô Giáo vẫn cho rằng lịch sử Âu Châu là lịch
sử Ki Tô Giáo]
(Time,
April 9, 2007: “One must unfortunately note that Europe seems to be
going down a road which could lead it to take its leave from history”
Pope Benedict XVI, warning that Europe appears to be losing faith in its
future, calling some Europeans’ desire to have fewer children “dangerous
individualism”.)
Các giáo hoàng
John Paul II và Benedict XVI than phiền về sự suy thoái của Ki Tô Giáo
nói chung, Ca Tô Giáo Rô Ma nói riêng, kể ra là đã quá muộn. Sự suy
thoái của Ki Tô Giáo không chỉ mới xẩy ra trong triều chính của mấy ông
này mà đã xẩy ra từ lâu, từ nhiều thập niên trước, nếu không muốn nói là
nhiều thế kỷ trước.
Thật vậy,
chúng ta còn nhớ: trong cuộc Cách Mạng 1789, “Pháp, trưởng nữ của
giáo hội Ca-Tô đã chính thức đưa Lý Trí lên bàn thờ Chúa, đã tàn sát
trên 17000 Linh Mục, 30000 Nữ Tu [sơ] và 47 Giám Mục, và đã dẹp mọi
Trường Dòng, Trường Học Ca Tô, những Dòng Tu, đốt phá nhà thờ, thư viện
của Giáo hội v..v.. [Xin đọc
The Decline and Fall of
The Roman Church của Linh mục Dòng Tên Malachi Martin, Giáo sư tại
Viện Nghiên Cứu Thánh Kinh Của Giáo Hoàng, và đã phục vụ trong Vatican
dưới triều Giáo hoàng John XXIII, trang 196: “France, “eldest daughter
of the Church”, enthroned Reason officially as supreme deity, massacred
over 17,000 priests and 30,000 nuns as well as 47 bishops, abolished all
seminaries, Catholic schools, religious orders, burned churches and
libraries...”]
Rồi qua những
“thời đại lý trí”, “thời đại khai sáng”, “thời đại phân tích” v..v..,
phù hợp với luật tiến hóa và sự tiến bộ trí thức của nhân loại, thực
chất của Ki Tô Giáo đã được các học giả nghiên cứu kỹ trong vòng 200 năm
gần đây, bác bỏ mọi huyền thoại mà Ki Tô Giáo dựng lên, những chuyện
thuộc loại hoang đường, mê tín cổ xưa đó bắt buộc phải ra khỏi đầu óc
của con người, nhường chỗ cho những sự kiện khoa học và những thực tế xã
hội.. Một cuốn sách điển hình về hiện tượng giải hoặc Ki Tô Giáo
này là của Uta Ranke-Heinemann, người phụ nữ duy nhất trên thế giới
chiếm được ngôi vị giáo sư thần học Ca-Tô của giáo gội Ca-Tô [the first
woman in the world to hold a chair of Catholic theology], cuốn
“Hãy Dẹp Đi Những Chuyện Trẻ Con” (Putting Away Childish Things,
HarperCollins, 1995). Những chuyện trẻ con nào? Đó là những tín lý căn
bản của Ca-Tô Giáo: “Tư cách thần thánh của Chúa Ki Tô”; “Sinh ra
từ một nữ trinh”; “ngôi mộ trống”; “Ngày Thứ Sáu tốt đẹp”; “Phục sinh”;
“Thăng Thiên”; “Bị hành quyết để chuộc tội”; “Hỏa ngục”
[The divinity of Christ, The Virgin mother, Good Friday, Easter,
Resurrection, Ascension, Redemption by execution, Hell].
Tác giả trích
dẫn câu 1 Corinthians 13:11 ở ngay đầu cuốn sách:
“Khi tôi còn là
một đứa trẻ, Tôi nói như một đứa trẻ, tôi hiểu như một đứa trẻ, tôi nghĩ
như một đứa trẻ; Nhưng khi tôi trở thành một người trưởng thành, tôi dẹp
bỏ những chuyện của trẻ con” [When I was a child, I spoke as a
child, I understood as a child, I thought as a child; But when I became
an adult, I put away childish things.]
Khi mà một
giáo sư thần học Ca-Tô như Uta Ranke-Heinemann, và nhiều bậc lãnh đạo
khác trong Ki Tô Giáo như chúng ta sẽ thấy trong một phần sau, đã nhận
thức được rằng, những tín lý mà nền thần học Ki Tô Giáo tạo ra về Giê-su
chỉ là những chuyện để cho trẻ con tin, hoặc cho những người lớn có đầu
óc ở trình độ của trẻ con, thì tất nhiên Ki Tô Giáo phải suy thoái.
Có thể những
tín đồ Ca-Tô Việt Nam ngày ngày ca tụng “Đức Thánh Cha” vô đạo đức của
họ không tin là cái đạo cao quý của mình lại có thể suy thoái một cách
trầm trọng như vậy, và họ rất hãnh diện là tín đồ Ca-Tô Việt Nam vẫn giữ
vững đức tin, kiên trì đi trong đường hầm để bảo tồn những niềm tin đã
bị phế thải ở Âu Mỹ. Do đó, các “cha nhà thờ” Việt Nam vẫn nườm nượp
xuất ngoại, mở tiệc ăn mừng quyên tiền giáo dân để về xây nhà thờ, hay
để làm những chuyện mà giáo dân không hề biết, nơi quê nhà. Nhưng không
tin là một chuyện, còn tình trạng suy thoái thực sự của giáo hội Ca-Tô
hoàn vũ lại là một chuyện khác.
Sau đây là một
số tài liệu điển hình nói về tình trạng suy thoái của Ki Tô Giáo nói
chung, Ca-Tô Giáo Rô-ma nói riêng, trên khắp thế giới. Đây là những
tài liệu nghiên cứu, thống kê của các tác giả Tây Phương trong đó có một
số linh mục và tín đồ Ki Tô Giáo. Không có một tài liệu nào của Cộng
Sản hay của Phật Giáo Việt Nam. Tôi chỉ trình bày những tài liệu
sau đây với tư cách của một người đã nghiên cứu về tôn giáo và trong
lãnh vực học thuật (scholarship), những tài liệu mà tôi cho rằng trong
thời đại ngày nay, không có lý do gì người dân Việt Nam, nhất là những
tín đồ Ca-Tô ở Việt Nam, không được quyền biết, mà trái lại vì tương lai
dân tộc, người dân cần phải biết như là một phần quan trọng của bộ kiến
thức thời đại. Trước hết, chúng ta hãy điểm vài tài liệu trên vài
cuốn sách đã xuất bản và trên báo chí.
Ngay từ năm
1983, Malichi Martin, một linh mục dòng Tên, giáo sư tại Viện Nghiên Cứu
Thánh Kinh của Giáo hoàng, tiến sĩ về khoa ngôn ngữ Do Thái, Khảo Cổ và
Lịch Sử Đông Phương, đã viết trong cuốn
“Sự Suy Sụp Của Giáo Hội
Ca-Tô Rô Ma”
[The Decline and Fall of the Roman Church],
như sau, trang 1:
“Tiến trình
bất ngờ và làm cho người ta phân vân nhất trong 20 năm gần đây là sự
suy thoái đột nhiên của giáo hội Ca-Tô Rô-ma trong tổ chức giáo quyền và
trong lý tưởng đồng nhất của giáo hội.
Với tình
trạng ngày nay, có vẻ như không có một hi vọng hợp lý nào để cho sự suy
thoái đó ngưng lại..
[Phù hợp với
lời than của Benedict XVI ngày nay]
Những
thống kê đáng tin cậy và những chi tiết khác thật là khủng khiếp cho đầu
óc người Ca-Tô Rô-ma truyền thống. Khi vẽ trên một biểu đồ từ năm
1965 đến năm 1980, số linh mục, nữ tu (các sơ), huynh trưởng trong đạo, học sinh trung học,
sinh viên đại học tư
(của Ca Tô Giáo), số người rửa tội, vào
đạo, lấy người cùng đạo, dự lễ ban thánh thể, xưng tội, thêm sức – mọi
thống kê đáng kể hiện hữu - đều mô tả một sự suy giảm chúc đầu xuống
không ngừng. Thêm vào những yếu tố chính trên là số tín đồ Ca Tô
Rô-ma dứt khoát bác bỏ hoàn toàn giáo lý của Rô-ma về ly dị, ngừa thai,
phá thai, đồng giống luyến ái, và Cộng sản.
Hơn nữa còn
có một số yếu tố vô hình nhưng không kém phần quan trọng. Ví dụ,
ngày nay không thể nào biết được là có bao nhiêu linh mục được phong một
cách có giá trị
[nghĩa là có đầy
đủ giá trị về những quyền năng thần thánh mà nền thần học xảo quyệt của
giáo hội đã tạo ra cho giới chăn chiên để nắm giữ đầu óc tín đồ, ví dụ
như: có quyền gọi Thánh Linh bất cứ ở đâu đến phục vụ cho ông ta trong
những màn pháp thuật được gọi là “bí tích”, có quyền rửa sạch cái tội tổ
tông không hề có của một đứa bé mới sinh ra đời, có quyền tha tội cho ai
thì người ấy được tha, có khả năng biến một mẩu bánh làm bằng bột thành
thân thể thực sự của Chúa v..v..]. Vì chắc chắn là nhiều giám mục
phong chức linh mục cho các ứng viên không hề có ý định là tạo ra những
linh mục với quyền năng thiêng liêng là ban thánh thể và tha tội cho
những kẻ xưng tội, và nhiều ứng viên cũng không hề có ý định là sẽ nhận
được những quyền năng như vậy. Không có những quyền năng như vậy thì
không có giới linh mục, không có lễ Mi-sa, và không có sự tha tội trong
lễ xưng tội. Thiếu những quyền năng như vậy, dù vô giá trị đối với
người ngoại đạo, đối với đầu óc của người Ca-Tô Rô-ma, có nghĩa là cái
chết của giáo hội.”
(Malachi
Martin, a Jesuit Professor at the Pontifical Biblical Institute in
Rome, doctorate in Semitic languages, archeology and Oriental history,
The Decline and Fall of the Roman Church, a Bantam Book, NY, 1983, p.1:
The most surprising and the most puzzling development in the last 20
years has been the sudden and undoubted decline of the Church of Rome in
its ecclesiastical organization and ideological unity..
As things now
stand, there appears to be no reasonable hope that this decline can be
arrested…
The relevant
statistics and other details are horrendous for the traditional Roman
Catholic mind. When plotted on a graph covering the years 1965-1980,
the number of priests, nuns, religious brothers, junior and senior high
school students, private college students, baptisms, conversions,
inter-Catholic marriages, communions, confessions, confirmations – every
significant statistics available – describes a plummeting, non-stop,
downward drop. Added to these key factors are the figures of those
Roman Catholics who totally reject Roman teaching about divorce,
contraception, abortion, homosexuality, and Communism.
There are,
furthermore, some “invisible” but nonetheless potent factors. For
instance, it is now impossible to reckon how many validly ordained
priests are available. For, certainly, many bishops ordaining
candidates for the priesthood have no intention of creating priests with
the sacramental powers to offer the sacrifice of the Mass and to absolve
penitents of sins, and many candidates do not have the intention of
receiving such powers. Without such powers, there is no priesthood, no
Mass, no absolution in confession. Such lack of validity, although
unvalued outside the church, means the death of the church for the Roman
Catholic mind.)
Malachi Martin
viết không sai, giáo hội sống còn là nhờ vào mớ quyền năng tự tạo cho
giới linh mục, khai thác sự yếu kém tinh thần và trình độ hiểu biết của
đa số giáo dân. Ngày nay, mớ quyền năng đó đã trở thành những
màn bịp bợm mê tín nên ngay cả những tín đồ Ca-Tô bình thường cũng như
những người trí thức trong giáo hội cũng không còn tin, trừ số tín đồ
thấp kém ở dưới, nên trên thực tế, giáo hội đã chết.
Thật vậy,
Năm 2201,
John Cornwell, một tín đồ Ca Tô Giáo và cũng là
một chuyên gia về Ca Tô Giáo Rô-ma và Vatican, tác giả 2 cuốn sách nổi
tiếng về Vatican:
A Thief in the Night và Hitler’s Pope,
đã xuất bản một tác phẩm về Ca Tô Giáo nhan đề Từ Bỏ Đức Tin: Giáo
Hoàng, Giáo Dân, và Số Phận của Ca Tô Giáo
(Breaking Faith: The
Pope, The People, and The Fate of Catholicism), trong đó chương đầu viết
về Một Thời Đại Đen Tối
Của Ca Tô Giáo
(A
Catholic Dark Age). Trong chương này, tác giả John Cornwell đưa ra tình
trạng suy thoái trầm trọng của Ca Tô Giáo ở khắp nơi trên thế giới, đặc
biệt là ở Anh, Mỹ, và Pháp như sau:
- Số tín
đồ mang con đi rửa tội giảm sút, vì ngày nay người ta nhận thức được
rằng chẳng làm gì có tội ở đâu mà phải đi rửa;
[Rửa tội là một “bí tích” Giáo hội đặt ra để
tạo quyền lực thần thánh cho linh mục]
- Đám cưới
tổ chức không cần đến linh mục, vì hôn phối có thể hợp thức hóa ngoài
nhà thờ và bí tích hôn phối đã mất hết ý nghĩa;
[Không mấy người còn tin là trong bí tích hôn
phối ông linh mục có thể thay Chúa kết hợp cho lứa đôi. Ở Mỹ, tới 50%
lứa đôi được các linh mục gọi Chúa đến kết hợp đã đi đến ly dị]
- Giới trẻ
không buồn đến nhà thờ, vì chẳng thấy gì hấp dẫn trong những lời giảng
đi ngược thời gian của các linh mục;
[Những chuyện hoang đường cổ xưa như Thượng đế
sáng tạo ra vũ trụ trong 6 ngày, Chúa sinh ra từ một nữ trinh, chết rồi
lại sống lại bay lên trời, Thiên Chúa là tình yêu v..v.. ngày nay đã
không còn chỗ trong đầu óc giới trẻ quen thuộc với vũ trụ học, sinh học,
thuyết tiến hóa v..v.. hiện đại, và trước những cảnh khổ ải của nhân
loại rất hiển nhiên trên thế giới]
- Số từ bỏ
đức tin gia tăng, vì người ta không còn chịu chấp nhận một đức tin mù
quáng;
- Ttừ 1958
đến nay, số vào nghề linh mục giảm đi 2/3 v..v..
- Tình
trạng ở Châu Âu, trước đây là cái nôi của Ca Tô giáo, thật là thê thảm.
- Ở Tây Âu
(Western Europe), từ 30 đến
50% các giáo xứ không có linh mục.
- Ở Ý, 90%
theo Ca Tô Giáo nhưng chỉ có 25% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, giảm 10%
kể từ đầu thập niên 1980, số người vào học trường Dòng giảm một nửa.
- Ở Ái Nhĩ
Lan
(Ireland), xứ Ca Tô
giáo , số người cảm thấy mình được ơn kêu gọi tụt xuống từ 750 năm 1970
còn 91 năm 1999, số linh mục được tấn phong từ 259 xuống 43 trong cùng
thời gian.
- Trong một
hội nghị đặc biệt vào năm 1999, các giám mục Âu Châu tuyên bố rằng các
dân tộc trong toàn lục địa Âu Châu đã quyết định sống “như là Thiên Chúa
không hề hiện hữu” (At a
special synod in 1999, the bishops of Europe declared that the peoples
of the entire continent had decided to live “as though God did not
exist”.)
- Ở Nam Mỹ,
tình trạng cũng không khá hơn. 7000 tín đồ mới có một linh mục. Chỉ có
15% giáo dân đi xem lễ ngày chủ nhật.
- Theo một
hội nghị quốc gia của các giám mục Ba Tây thì mỗi năm có khoảng sáu
trăm ngàn tín đồ bỏ đạo
(according to the National Conference of Brazilian Bishops, some 600000
Catholics leave the Church each year.)
Còn về tình
trạng các linh mục thì ngay từ năm 1990, linh mục David Rice dòng Đa
Minh đã xuất bản cuốn
Lời Nguyện Tan Vỡ: Linh Mục Bỏ Đạo
(Shattered Vows: Priests Who Leave), đưa ra kết quả nghiên cứu của ông
sau khi đi tới nhiều nơi trên thế giới, tổng cộng 38 ngàn dặm (khoảng 60
ngàn cây số), để phỏng vấn và tìm hiểu đời sống của các linh mục bỏ đạo
như sau:
“ Một trăm ngàn ( 100000 ) linh mục Ca-tô Rô-ma đã bỏ đạo
trong 20 năm qua – cứ mỗi 2 giờ đồng hồ lại có hơn một linh mục ra đi. Hầu như phân nửa số linh mục Mỹ sẽ bỏ đạo – thường là để
lập gia đình – chưa tới 25 năm sau khi được tấn phong. Vatican
không nói tới cuộc di dân này, nhưng đó chính là cuộc khủng khoảng
nghiêm trọng nhất mà giáo hội phải đối diện, kể từ khi có cuộc Cải Cách
Tin Lành.
(100,000
Roman Catholic priests have walked out in the last 20 years – more than
one every two hours. Almost half of all American priests will leave –
most often, to marry – before the 25th anniversary of their
ordination. The Vatican won’t talk about this exodus, yet it is the
most grievous crisis to face the Church since the Protestant
Reformation)
Rồi đến năm
2002, trong bài
“Một Chỉ Số Về Sự
Suy Thoái Của Ca-Tô Giáo” [An
Index of Catholicism’s Decline] của Patrick J. Buchanan, tác giả có đưa
ra một thống kê về mọi mặt của Ca-Tô
Giáo Rô-ma ở Mỹ của
Kenneth C. Jones ở
St. Louis, thực hiện năm 2002 với câu “Những kẻ nói láo có thể đưa ra
con số, nhưng những con số thì không nói láo”
[Liars may figure, but
figures do not lie], hàm ý những con số của giáo hội đưa ra là những con
số láo, còn những con số qua những cuộc nghiên cứu thống kê khoa học mới
là những con số chính xác nói lên tình trạng thực sự của Ca Tô Giáo.
Chúng ta có thể thấy những con số thống kê như sau:
Số Linh
Mục: Trong khi số linh mục ở Mỹ
tăng lên gấp đôi tới con số 58,000 trong khoảng từ 1930 đến 1965, từ khi
đó, con số đã giảm xuống còn 45,000. Tới năm 2020, sẽ chỉ còn lại
31,000 linh mục, và hơn phân nửa số linh mục đó sẽ trên 70 tuổi.
Số Linh Mục
Mới:
Năm 1965, có 1,575 linh mục mới được phong
chức ở Mỹ. Năm 2002, số này còn có 450. Năm 1965, chỉ có 1% giáo xứ là
không có linh mục. Ngày nay, có tới 3000 giáo xứ không có linh mục,
15% của số giáo xứ ở Mỹ.
Số Người
Vào Trường Dòng Học Nghề Linh Mục: Từ 1965 đến 2002, số người vào trường dòng học nghề linh
mục giảm từ 49,000 xuống còn 4700, suy giảm tới trên 90%. Hai phần ba số
600 trường dòng hoạt động năm 1965 nay đã đóng cửa.
[Trước tình
trạng thê thảm này, để cứu giáo hội của Chúa, tín đồ Ca-tô Việt Nam
bèn xung phong đổ xô đi học nghề linh mục. Thật vậy, ở trường dòng
Dubuque, Iowa, có 70 người theo học nghề linh mục thì có tới 43 người là
Việt Nam, tỷ lệ hơn 60%. Đa số các tân linh mục ngày nay là Mít, Mễ,
Ba Lan, Phi Luật Tân. Nhưng Giáo hoàng Benedict XVI lại không lấy
đó làm vui, vì là “đại diện của Chúa Ki Tô trên trần” (Vicar of Christ)
nên ngài biết hết, hiểu hết, và đã nhìn ra sự thật. Ngài phán:
“Niềm vui này đi kèm với một niềm cay đắng vì một số sẽ trở thành linh
mục này chỉ tìm kiếm một đời sống thoải mái hơn. Trở thành linh mục, họ
trở thành hầu như là một tộc trưởng của một bộ lạc, đương nhiên là họ
được ưu đãi và có một đời sống khác”
(Benedict said the "joy" at the growing numbers of
churchmen in the developing world is accompanied by "a certain
bitterness" because some would-be priests were only looking for a better
life. “Becoming a priest, they become almost like a head of a tribe,
they are naturally privileged and have another type of life," he
said.).. Nhưng Giáo hoàng không biết rằng làm linh mục Việt Nam thì đặc
biệt hơn các linh mục Tây Phương nhiều, vì con chiên Việt Nam nổi tiếng
là ngoan đạo, cho nên dù các linh mục có làm gì thì con chiên cũng không
dám ho he. Một giám mục Việt Nam đã chẳng răn đe họ là: “Các con
đừng có nói hành các cha mà mang tội với Chúa” và “Đừng có phán
xét các Cha để khỏi bị Chúa phán xét”
hay sao. Nghe đến “mang
tội với Chúa” và “Chúa phán xét” là con chiên sợ rét run lên
rồi, dù rắng Chúa đã chết cách đây 2000 năm và người ta đã tìm thấy bộ
xương của “Chúa Cứu Thế” trong một tiểu quách ở Jerusalem, cùng với
những bộ xương của vợ, Mary Magdalene, và của con, Judah, trong vài tiểu
quách khác. Cho nên một số linh mục Việt Nam tự do thoải mái truyền
giống thay vì truyền giáo (Xin đọc bức thư của nhóm đệ tử Linh Mục
Nguyễn Hữu Trọng ở Việt Nam gửi giáo hoàng John Paul II và Hồng Y Phạm
Đình Tụng), hay làm bất cứ điều gì khác mà không sợ con chiên tố khổ
như ở Mỹ.]
Số Nữ Tu
(Sơ): Năm 1965, có 180,000 nữ
tu Ca-Tô. Tới năm 2002, số nữ tu này sụt xuống còn 75,000 và tuổi trung
bình của một nữ tu Ca Tô ngày nay là 68. Năm 1965, có 104,000 nữ tu dạy
trong các trường học CaTô. Ngày nay chỉ còn có 8200, một sự suy giảm
94% kể từ sau Công Đồng Vatican II.
Những Dòng
Tu: Về những dòng tu ở Mỹ, sự
cáo chung thấy ngay trước mắt. Năm 1965, 3,559 thanh niên học để hành
nghề linh mục, Năm 2000, con số là 389. Với dòng huynh trưởng Ki Tô,
tình trạng còn tệ hơn. Số huynh trưởng giảm 2/3, với số vào trường dòng
sụt 99%. Năm 1965, có 912 huynh trưởng học trường dòng. Năm 2000, chỉ
còn có 7. Số thanh niên học để trở thành linh mục dòng Phan-Xi-Cô và
Cứu Thế sụt xuống từ 3379 năm 1965 còn 84 năm 2000.
Trường Học
Ca-Tô: Một nửa số trường trung
học Ca Tô ở Mỹ đã dẹp tiệm từ năm 1965. Số học sinh giảm từ 700,000
xuống còn 286,000. Các trường đạo cấp tiểu học còn bị giảm nhiều hơn
nữa. Khoảng 4000 trường đã đóng cửa, và số học trò sụt xuống dưới 2
triệu, từ 4 triệu rưỡi.
Đám Cưới
Ca-Tô:
Số những cuộc hôn phối Ca-Tô giảm 1/3 từ 1965,
và số hôn phối [do Chúa kết hợp qua bí tích hôn phối] được phép hủy bỏ
hàng năm tăng từ 338 năm 1968 lên đến 50,000 năm 2002.
Đi Lễ Nhà
Thờ: Thống kê Gallup cho biết
năm 1958 có 75% tín đồ Ca-Tô đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật. Một cuộc
nghiên cứu gần đây của Viện Đại Học Notre Dame cho thấy con số chỉ là
25%.
Bánh Thánh: Theo thống kê của tờ
New York Times, 70% tín đồ Ca-Tô trong lớp tuổi 18-44 tin rằng lễ ban
thánh thể [ăn bánh thánh] chỉ là một biểu tượng để nhớ lại Giê-su.
[Không còn tin bánh thánh là thân thể thực của Chúa như giáo hội dạy]
(Here are Jones'
grim statistics of Catholicism's decline:
Priests. While the number of priests in the United States more than
doubled to 58,000, between 1930 and 1965, since then that number has
fallen to 45,000. By 2020, there will be only 31,000 priests left, and
more than half of these priests will be over 70.
Ordinations. In 1965, 1,575 new priests were ordained in the United
States. In 2002, the number was 450. In 1965, only 1 percent of U.S.
parishes were without a priest. Today, there are 3,000 priestless
parishes, 15 percent of all U.S. parishes.
Seminarians. Between 1965 and 2002, the number of seminarians dropped
from 49,000 to 4,700, a decline of over 90 percent. Two-thirds of the
600 seminaries that were operating in 1965 have now closed.
Sisters. In 1965, there were 180,000 Catholic nuns. By 2002, that
had fallen to 75,000 and the average age of a Catholic nun is today 68.
In 1965, there were 104,000 teaching nuns. Today, there are 8,200, a
decline of 94 percent since the end of Vatican II.
Religious
Orders. For religious orders in
America, the end is in sight. In 1965, 3,559 young men were studying to
become Jesuit priests. In 2000, the figure was 389. With the Christian
Brothers, the situation is even more dire. Their number has shrunk by
two-thirds, with the number of seminarians falling 99 percent. In 1965,
there were 912 seminarians in the Christian Brothers. In 2000, there
were only seven. The number of young men studying to become Franciscan
and Redemptorist priests fell from 3,379 in 1965 to 84 in 2000.
Catholic
schools. Almost half of all Catholic
high schools in the United States have closed since 1965. The student
population has fallen from 700,000 to 386,000. Parochial schools
suffered an even greater decline. Some 4,000 have disappeared, and the
number of pupils attending has fallen below 2 million – from 4.5
million.
Catholic
Marriage. Catholic marriages have
fallen in number by one-third since 1965, while the annual number of
annulments has soared from 338 in 1968 to 50,000 in 2002.
Attendance at
Mass. A 1958 Gallup Poll reported
that three in four Catholics attended church on Sundays. A recent study
by the University of Notre Dame found that only one in four now attend.
Eucharist: By one New York Times poll, 70 percent of all Catholics in
the age group 18 to 44 believe the Eucharist is merely a "symbolic
reminder" of Jesus.)
Và những thống
kê mới nhất cũng cho chúng ta thấy tình trạng này. Trong tờ
Chicago
Tribune ngày 19 tháng 6, 2006, ký giả hải ngoại của tờ báo,
Tom Hundley, có một bài tường trình, đăng trên trang nhất, về tình trạng
Ki Tô Giáo ở Âu Châu với chủ đề “Đức Tin Phai Nhạt: Sự Suy Thoái
Của Ki Tô Giáo ở Âu Châu” (Fading Faith: The Decline of
Christianity in Europe) trong đó có những đoạn như sau:
Ở Pháp
và ở hầu hết các quốc gia khác ở Âu Châu, Ki Tô Giáo có vẻ như đang “rơi
xuống tự do” không phương cứu vãn [Christianity appears to be in a free fall: Tác giả dùng
từ trong khoa học: “free fall”, có nghĩa là rơi xuống tự do, càng ngày
càng nhanh mà không có gì ngăn cản lại]. Tuy 88% dân Pháp nhận
mình là tín đồ Công Giáo, chỉ có 5% đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, 60% nói
rằng họ “không bao giờ”
(never) hoặc “hầu như không
bao giờ”
(practically never) đi lễ nhà thờ [Đối
với người Ca-Tô Việt Nam, họ bị dọa là không đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật
là một trọng tội, phải đày hỏa ngục, các “bề trên” dạy vậy, nên giáo dân
Bùi Chu, Phát Diệm, Hố Nai, Gia Kiệm vẫn nườm nượp kéo nhau đi lễ nhà
thờ ngày chủ nhật, và cả ngày thường, chứng tỏ trình độ tôn giáo của
giáo dân Việt Nam vượt trội hẳn trình độ giáo dân Âu Châu và Mỹ Châu về
mê tín, niềm hãnh diện của giáo hội Ca-Tô Việt Nam trong sự tiếp tục
tuân theo những giáo lý thuộc loại nhốt đầu óc tín đồ vào những ngục tù
tâm linh, những giáo lý mà Âu Châu và Mỹ Châu đang dần dần phế thải].
Không còn phải bàn cãi gì nữa, Ca-Tô Giáo đang đối diện với một cơn
khủng khoảng nghiêm trọng… Một lễ ngày chủ nhật điển hình trên khắp nước
Pháp là hình ảnh của một linh mục già nua trước một đám phụ nữ cũng già
nua. Odon Vallet, giáo sư tôn giáo ở đại học Sorbonne nói: “Lễ Mi-sa
thật là chán
(Mass is boring), lễ tiết chẳng có gì hay
(the ceremony isn’t beautiful), nhạc cũng tệ
(music is
bad), bài giảng không có gì hấp dẫn
(the sermon is
uninteresting).
Trong bài
“Hãy giữ đức tin” (Keeping The Faith) trên tờ
New York
Times ngày 8 tháng 4, 2007, chúng ta có thể đọc được vài đoạn như
sau:
Phong cảnh
giáo hội ở Âu Châu – không chỉ là Giáo hội Ca Tô mà hầu như mọi hình
thức tổ chức của Ki Tô Giáo – đang thay đổi nhanh như chớp.
Có
những ông giám mục Âu Châu cảm thấy rằng họ không còn có thể nói về một
Âu Châu Ki Tô Giáo mà không cảm thấy mình đang mạ lỵ sự thông minh của
quần chúng.
("The
landscape of the church in Europe — and not just the Catholic Church but
nearly all forms of organized Christianity – is changing at a lightning
pace.
There are
European bishops who feel you can’t talk about a Christian Europe
anymore without insulting people’s intelligence.”)
Sau đây là
những trích dẫn từ một số tài liệu bổ túc trên Internet:
www.time.com/Europe; June 8, 2003:
O Father Where Art Thou? [Cha (Thượng đế)
Ơi ! Bây Giờ Ông Ở Đâu? Bến Hải Hay Cà Mâu ??]
Năm 1966,
một bài viết chính theo hình bìa ngoài có suy tư về số phận của Ki Tô
Giáo và đặt câu hỏi: Thượng đế đã chết? Tờ báo này không phải là tờ đầu
tiên mà cũng không phải là tờ cuối cùng đặt câu hỏi này – các nhà thần
học đã than vãn từ nhiều thế kỷ về sự thế tục hóa xã hội. Thượng đế
chưa chết, nhưng ngày nay ở Âu Châu, ông ta không còn ở những chỗ
[mà người ta đặt ông ta lên] như xưa. Vậy thì vẫn cần phải hỏi:
Thượng đế - và đức tin Ki-Tô – đã đi đâu rồi?
Hiển
nhiên là những cơ sở Ki Tô đã ở trong tình trạng suy thoái từ lâu, nhưng
điểm đồng thuận ngày nay là sự suy thoái đã càng ngày càng nhanh.
Một viên chức cao cấp của Vatican thú nhận: “Đời sống trong các giáo
xứ coi như là đã chết”. Ở Anh, số người đi nhà thờ đã giảm 30% kể
từ 1980. Trong cùng một thời gian này, tỷ lệ số người nhận là thành
viên của một hệ phái Ki Tô nào đó giảm hơn 20% ở Bỉ, 18% ở Hà Lan, và
16% ở Pháp. Ki-Tô Giáo vẫn là tôn giáo chính ở Âu Châu, với số tín đồ
khoảng 550 triệu. Nhưng số người Âu Châu nhận mình là tín đồ Ca-Tô –
cho đến nay là hệ phái Ki-Tô lớn nhất ở lục địa – đã giảm hơn 33% kể từ
năm 1978.
Có những
thời, giáo hội Ca-Tô lại là chính kẻ thù tệ hại nhất của mình - ủng hộ
chế độ bạo tàn Franco ở Tây Ban Nha
(cho tới nay vẫn chưa xin lỗi về việc này)
và bao che những xì-căng-đan về loạn dâm ở Ái NHĩ Lan trong những năm
gần đây. Nhưng ngay cả trước khi những phanh phui này xẩy ra,
giáo hội là một thế lực đàn áp, tự cho quyền phán xét và nhấn quá mạnh
vào một Thượng đế mà bắt con người phải sợ hãi, giám mục Willie Walsh ở
Killaloe nói như vậy.
(In 1966, a
TIME cover story pondered the fate of Christianity and asked, is God
dead? The magazine wasn't the first to pose the question — theologians
have lamented society's secularization for centuries — nor would it be
the last. He's still not dead, but these days in Europe, He's not always
in the same old places. So it's worth asking: Where has God — and
Christian faith — gone?
The
institutions of Christianity, of course, have long been in decline, but
the consensus is that the pace has been quickening. "Parish life is
essentially dead," admits a senior Vatican official. Church attendance
has dwindled by more than 30% in Britain since 1980. Over the same
period, the percentage of the population claiming membership in a
religious denomination has dropped more than 20% in Belgium, 18% in the
Netherlands and 16% in France. Christianity remains Europe's main
religion, with about 550 million adherents. But the number of Europeans
who identify as Catholic — by far the biggest denomination on the
Continent — has fallen by more than a third since 1978.
At times, the
church has been its own worst enemy — backing Franco's brutal regime in
Spain (something it still hasn't apologized for) and stonewalling the
Irish pedophilia scandals of recent years. But even before these
revelations, the church "was an oppressive force," says Willie Walsh,
the Bishop of Killaloe. "It was judgmental and placed too much emphasis
on a God who was very much to be feared." )
Bài báo trích dẫn
hai nhận định:
- Của Jeff
Chu:
Ki Tô Giáo đang trở thành tín ngưỡng của thiểu số ở Âu Châu,
vì số người đi nhà thờ sút giảm, số giáo sĩ già nua, và những xì-căng
đan và giáo lý khắc nghiệt đã làm cho con người xa lánh.
(Christianity
is becoming a minority faith in Europe, as church attendance falls, the
clergy ages, and scandals and harsh doctrine drive people away.)
- Của Jobst
Schone, giám mục Tin Lành, Đức:
Những giáo
hội Ki-Tô luôn luôn trải qua những thời kỳ với ảnh hưởng lúc nhiều lúc
ít . Nay chúng ta đang đi xuống. Ki Tô Giáo sẽ trở thành thiểu số.
Không người nào nên nhắm mắt trước sự kiện này.
(Churches have
always gone through periods when their influence is greater and periods
when it was less. Now we are down. Christianity will be a minority.
Nobody should close his eyes to that fact.)
www.albertmohler.com:
christianpost.com
“Ki Tô Giáo
Lùi Bước Ở Âu Châu – Tiếp Đến Là Mỹ?”
Christianity
Recedes in Europe--Is America Next?
Thursday, August
18, 2005
Trong ít
nhất là nửa thế kỷ, những nhà nghiên cứu đã từng quan sát sự chuyển
hướng to lớn trong những nền văn hóa Tây phương. Khi Brian Kenny kể:
“Tôi không đi lễ nhà thờ, và tôi không biết có người nào còn đi”,
anh ta hiểu rằng một cái gì đó đã thay đổi. Anh ta nhớ lại: “15 năm
trước, tôi không biết có người nào mà lại không đi lễ nhà thờ.”
Ngày nay
người ta không thể không biết đến những thống kê về tình trạng thế tục
hóa Âu Châu. Ái Nhĩ Lan, vẫn còn là một trong những nước ít thế tục
nhất ở Tây Âu, đã thấy rằng số người đi lễ nhà thờ giảm ít nhất là 25%
trong 30 năm qua. Lẽ dĩ nhiên, Ái Nhĩ Lan là nước toàn tòng Ca-Tô
Giáo, nhưng bài báo ghi: “Không có một người nào sẽ được phong chức linh
mục ở Dublin năm nay”
Về phía Tin
Lành, hình ảnh cũng chẳng khá hơn. Thụy Sĩ, Đức, và Hà Lan, một thời đã
là những cái nôi của phong trào Cải Cách Tin Lành, nay trở thành những
thí dụ chính của Âu Châu thế tục.
Theo Trung
Tâm Nghiên Cứu về Ki Tô Giáo toàn cầu, Chủng viện thần học
Gordon-Conwell ở Boston, sự suy thoái của ảnh hưởng Ki Tô Giáo thì rõ
rệt nhất ở Pháp, Thụy Điển và Hà Lan, ở những nơi đây số người đi lễ nhà
thờ là dưới 10% ở một số nơi.
Bài báo
trên USA Today về sự suy thoái của Ki Tô Giáo ở Âu Châu nêu lên câu hỏi
về tương lai
[Ki Tô Giáo] ở Mỹ.
Trong nhiều phương diện khác nhau, có vẻ như Mỹ sẽ theo gót gương của Âu
Châu nhưng chậm hơn nhiều năm. Tuy nhiên nhịp độ thay đổi luân lý ở Mỹ
có thể cho thấy rằng Mỹ sẽ nhanh chóng theo kịp mẫu thế tục của Âu Châu.
(For at least
half a century, researchers have been observing massive shifts in
Western cultures. When Brian Kenny reported, "I don't go to church, and
I don't know one person who does," he understood that something had
changed. "Fifteen years ago, I didn't know one person who didn't," he
reflected.
The statistics
documenting European secularization are now impossible to ignore.
Ireland, still one of the least secular nations in Western Europe, has
seen church attendance fall by at least 25 percent over the last three
decades. Ireland is predominantly Roman Catholic, of course, but the
paper reports, "Not one priest will be ordained this year in Dublin."
On the
Protestant side, the picture is not much better. Switzerland, Germany,
and the Netherlands, once the cradles of the Reformation, are now prime
examples of Europe's secular shape.
According to
the Center for the Study on Global Christianity, at the
Gordon-Conwell Theological Seminary in
suburban Boston, the decline in Christian influence "is most evident in
France, Sweden and the Netherlands, where church attendance is less than
ten percent in some areas."
USA Today's cover story on the decline of Christianity in Western
Europe raises the question of America's future. In many ways, America
seems to be following the European example, though several years behind.
Yet the pace of moral transformation in the United States may indicate
that America is fast catching up with the European model of
secularization.)
christianpost.com:
By Michelle Wu
Như nhiều
người biết, Ki Tô Giáo đang suy thoái ở Âu Châu đến độ mà người ta mô tả
Âu Châu như là một nơi “ít biết đến Phúc Âm nhất” trên thế giới, khi
chúng ta nhìn vào toàn thể dân Âu Châu. Dưới 4% toàn thể dân Âu Châu
biết đến Phúc Âm, và trên hầu hết các quốc gia ở Âu Châu tỷ lệ này xuống
dưới 1%.
Ở Âu
Châu, không phải là sự bất thường khi một người mô tả mình là một “tín
đồ Ca-Tô vô thần”, hay một người sinh ra và nuôi nấng trong một gia đình
Ca-Tô nhưng lại không tin vào Thiên Chúa. Điển hình là người đó
được rửa tội, kết hôn, và làm tang lễ trong nhà thờ, nhưng không thể nói
rõ về ý nghĩa của lễ Phục Sinh.
Trong một
cuộc thăm dò ý kiến ở Anh nhân dịp lễ Phục Sinh – một quốc gia được coi
là Ki-Tô – kết quả trong lớp tuổi 16-24, 1 trong 6 người Anh không biết
ý nghĩa của ngày Thứ Sáu Tốt Đẹp
[người
Ki Tô gọi ngày Chúa của họ bị đóng đinh trên thập giá, một hình phạt
khủng khiếp, dã man, gây đau dớn nhất cho con người của đế quốc La Mã
khi xưa, là ngày Thứ Sáu Tốt Đẹp (Godd Friday)] và khoảng 10%
không biết rằng ngày Chủ Nhật Phục Sinh là để tưởng nhớ lại sự sống lại
của Giê-su
[Có thể là vì chẳng còn ai tin được điều mê tín “Chúa
sống lại” nữa]
Những
chính phủ Âu Châu bị qui tội một phần cho sự suy thoái của Ki Tô Giáo,
bị trách cứ là đã giới hạn những hoạt động tôn giáo và làm khóa khăn sự
bành trướng của những nhóm tín ngưỡng. Ví dụ như, trong nước Pháp
dân chủ, một nhà thờ xin phép để xây cất thêm hay mua bất động sản có
thể không bao giờ được cấp giấy phép.
[Đọc đến đây tôi thấy sự kiện này như là một nghịch lý: ở
nước Pháp có “tự do tôn giáo”, nhưng nhà nước lại không cho phép nhà thờ
xây cất thêm hoặc mua thêm bất động sản; ở Việt Nam không có “tự do tôn
giáo” [theo những người hành nghề Chống Cộng ở hải ngoại] thì các nhà
thờ lại tha hồ xây cất thêm và mọc thêm nhà thờ mới. Thế này là thế
nào??]
(As many
know, Christianity is declining in Europe to the extent that it has been
described as the “least evangelized spot on earth” when looking at all
of Europe’s population.
Less than four
percent of the total population in Europe is evangelical and in most
European countries the percentage falls to less than one percent.
In Europe,
it is not unusual for a person to describe themself as a
Catholic-Atheist, or someone born and raised in a Catholic family but
who does not personally believe in God. Typically, the person would be
baptized, married, and have their funeral held in a church, but would
not be able to explain the meaning of Easter.
In a recent
Easter survey conducted in England - a country typically seen as a
Christian nation. the survey found that one out of every six people in
England aged 16-24 did not know the meaning of Good Friday and about 10
percent of participants did not know that Easter Sunday commemorated the
resurrection of Jesus.
European
governments have been partially blamed for the decline of Christianity,
being accused of restricting religious activities and hindering the
expansion of faith groups. For example, in the democratic country of
France, a church requesting permit to expand its church building or buy
property may never receive permission.)
Sự suy thoái
của Tin Lành trên thế giới cũng là một hiện tượng rõ rệt. Ở Mỹ, tỷ lệ
Tin Lành trước đây là 65% nay chỉ còn lại 51% và các học giả dự phóng là
trong một thập niên nữa, tỷ lệ này sẽ xuống dưới mức 50%. Như vậy kể là
còn rất nhiều vì ở Âu Châu các nước theo Tin Lành đã trở thành thế tục
(secular) và ảnh hưởng tôn giáo không còn lại bao nhiêu. Ở Âu Châu,
cảnh nhà thờ được rao bán và trở thành những kho chứa hàng, hộp đêm,
chung cư, khách sạn v..v.. không phải là hiếm. Ngay cả “Foyer Phát
Diệm” của Việt Nam ở Rome, nguyên là nơi để các tu sĩ Việt Nam ở khi
sang Rome thụ huấn, báo cáo hay công tác, nay cũng là một khách sạn cho
mọi người. Ở Mỹ cũng vậy, cảnh nhà thờ bán đi rồi biến cải thành Chùa,
thành Niệm Phật Đường v..v.. cũng không phải là không có. Nhiều trường
học Ca-Tô phải đóng cửa vì không đủ học sinh nên không kiếm được lời.
Có giáo xứ khai gian phá sản (bankrupcy) để trốn trả tiền phạt các vụ
linh mục loạn dâm.
Vài thống kê
sau đây về số tín đồ Tin Lành Mỹ cho chúng ta thấy rõ vấn đề suy thoái
của Tin Lành. Theo
Richard Vara của tờ
Houston Chronicle thì:
Số tín đồ
trong Giáo hội Trưởng Lão từ năm 1960 đã giảm từ 4.1 triệu còn 2.5
triệu; Trong cùng thời gian này số tín đồ trong giáo hội Anh giáo tại
Mỹ
[Tân giáo] cũng giảm từ 3.4 triệu còn 2.5 triệu, và giáo hội
Giám Lý giảm từ 11 triệu tín đồ còn 8.3 triệu. Vì dân số gia tăng nhanh
trong 40 năm qua, tỷ lệ sút giảm này thực sự lớn hơn là những con số
thống kê.
Protestants in Decline
by
Andrew Walsh
(Richard Vara
of the
Houston Chronicle provided a useful check list: “The
Presbyterian Church (U.S.A.) has dropped from 4.1 million members in
1960 to 2.5 million. Over the same period, membership in the Episcopal
Church decreased from 3.4 million to 2.5 million and United Methodists
have seen their numbers drop from 11 million to 8.3 million.” Because of
the rapid growth in the nation’s population over the last 40 years, the
proportional shrinkage of their groups is even greater than the raw
numbers suggest.)
Qua một số nhỏ
tài liệu trích dẫn ở trên, chúng ta thấy rằng hiện tượng suy thoái của
Ki Tô Giáo trên thế giới là một sự kiện. Nhưng ở một vài địa phương ở
Phi Châu và Á Châu, trong những vùng chậm tiến và nghèo khổ, nếu chỉ kể
trên con số, Ki Tô Giáo lại có vẻ phát triển, tuy rằng những con số đó,
so với mức gia tăng của dân số thì thực sự không phải là một dấu hiệu
phát triển. Điều đáng buồn là có một số tín đồ Ca-Tô cũng như Tin Lành
Việt Nam lại khoe khoang là số tín đồ của tôn giáo mình gia tăng, cũng
như một số tân tòng Ca-Tô hay Tin Lành cũng khoe khoang là mình được vào
trong “hội thánh”. Họ thường vinh hạnh khoe: nay có ông tu sĩ Phật giáo
này bỏ Phật theo Chúa, mai có người kia làm chứng lời Chúa v..v..
nhưng tất cả đều chỉ là những nhân vật vô tên tuổi, không ai biết đến,
và phần lớn là bịa ra làm chứng láo. Vấn đề là thực chất những
điều này không phải là những điều đáng khoe khoang mà trái lại, đó là
một sự biểu hiện của ô nhục và ngu đần (A badge of shame and
ignorance). Tại sao? Vì thử hỏi, có gì đáng khoe khoang ở cái
chuyện đi nhặt những niềm tin thuộc loại hoang đường mê tín mà Âu Châu
và Mỹ Châu đang dần dần phế thải về làm của báu cho mình. Âu Châu
và Mỹ Châu vốn là cái nôi của Ki Tô Giáo, nhưng ngày nay Ki Tô Giáo ở
những phương trời này lại bị phá sản, như
học giả Eliezer Berkovits đã viết về
“sự phá sản đạo đức của nền văn minh Ki Tô Giáo và sự phá sản Tâm
Linh của Ki Tô Giáo” (The moral bankrupcy of Christian
civilization and the spiritual bankrupcy of Christian religion) trong
cuốn “Đạo Do Thái Trong Thời Kỳ Hậu Ki Tô” (Judaism in the
Post-Christian Era). Trong khi nhiều người đã thoát ra để tự thanh tẩy
ký ức và để dứt bỏ sự dính líu của mình vào một tôn giáo có một lịch sử
tàn bạo nhất thế gian, thì có người lại tự đâm đầu vào cái định chế tôn
giáo mà lịch sử ô nhục của nó không ai có thể chối cãi. Đó có phải là
điều đáng khoe hay là điều đáng thương hại và tội nghiệp?
THAY LỜI KẾT:
Trong Phần I
và Phần II của loạt bài về Công Giáo và Tin Lành này, chúng ta đã thấy
rõ các tín đồ Ki Tô Giáo đã bị lừa dối bởi một chính sách nhồi sọ tinh
vi, xảo quyệt, của những giáo hội Ca-Tô Rô-ma và Tin Lành, khai thác sự
yếu kém về tinh thần cũng như về hiểu biết, nên trong quá khứ đã thành
công đưa tín đồ vào vòng “quên mình trong vâng phục” những thần quyền
giả tạo tự phong của giới giáo sĩ như giám mục, linh mục trong Ca-Tô
Giáo Rô-ma, và vào vòng tin bướng tin càn vào những điều sai lầm, lỗi
thời, hoang đường, phi lô-gic, phản lý trí, phản khoa học v..v.. trong
Thánh Kinh mà Tin Lành cho rằng không thể sai lầm vì đó là những lời mạc
khải của Thiên Chúa. Nhưng, như là một quy luật của thế gian, không có
gì có thể ngăn cản được những bước tiến bộ trí thức của nhân loại, do đó
trong Phần III ở trên, chúng ta đã biết, Ki Tô Giáo đang ở trong tình
trạng suy thoái không phương cứu vãn.
Một câu hỏi
thường được đặt ra: Tại sao Ki Tô Giáo lại suy thoái, nếu nó thực sự
là một tôn giáo có mục đích nâng cao trình độ hiểu biết của con người,
một tôn giáo đạo đức, một tôn giáo có thể giúp cho con người thăng tiến
lên một cảnh giới cao hơn v…v… Ki Tô Giáo đã hoàn toàn thất bại trong
nhiệm vụ này như lịch sử đã chứng minh. Và người ta đã kết luận
rằng thay vì Ki Tô Giáo văn minh hóa nhân loại thì chính sự tiến bộ
của nhân loại đã văn minh hóa Ki Tô Giáo. Đây là một sự thật không
ai có thể chối cãi. Ngày nay, không có một ông giáo hoàng nào dám hô
hào cổ võ một cuộc thập tự chinh, tổ chức một tòa án xử dị giáo hay một
cuộc săn lùng phù thủy, gây hận thù người Do Thái về tội “giết Chúa”,
khích động một cuộc chinh phục các nước nhỏ kém phát triển bằng vũ lực.
Không một ông giáo hoàng nào dám đưa Einstein, Carl Sagan, hay Stephen
Hawking v..v.. lên dàn hỏa như đã đưa Bruno lên trước đây.
Các giáo hội
Ki Tô thường đổ tội cho các xã hội thế tục và chủ nghĩa vật chất v..v..
đã làm cho Ki Tô Giáo suy thoái. Điều này không đúng hẳn. Nước Mỹ là
nước bậc nhất thờ chủ nghĩa vật chất nhưng Mỹ vẫn là nước mà Ki Tô Giáo
vẫn là chủ lực tinh thần và tỷ lệ giáo dân trên dân số vẫn cao nhất.
Vấn đề chính là, Ki Tô Giáo với những cấu trúc quyền lực, với những giáo
lý dựa trên Thánh Kinh, đã không còn hợp với thế giới văn minh tiến bộ
ngày nay. Thật vậy, nghiên cứu kỹ vấn đề, chúng ta thấy thật ra sự
suy thoái của Ki Tô Giáo không phải trong thời đại này mới xảy ra mà đã
bắt nguồn từ sự tiến bộ trí thức của con người ít ra là từ cuộc
Cách
Mạng Khoa Học (The Scientific Revolution) vào đầu thế kỷ 17, từ
Thời Đại Lý Trí (The Age of Reason) vào thế kỷ 18,
Thời Đại Khai
Sáng (The Age of Enlightenment) vào thế kỷ 19, và
Thời Đại Phân
Tích (The Age of Analysis) vào thế kỷ 20.
Những thời đại này đã
kéo con người Tây phương ra khỏi Thời Đại Của Đức Tin
(The
Age of Faith),
một thời đại mà sự thống trị của Ca-Tô Giáo Rô-ma đã
đưa Âu Châu vào 1000 tăm tối được biết dưới tên Thời Đại Trung Cổ
(The Middle Ages) hay Thời Đại Hắc Ám (The Dark Ages),
hay
Thời Đại Của Sự Man Rợ Và Đen Tối Trí Thức (The age of
barbarism and intellectual darkness).
Trước sự tiến
bộ trí thức của nhân loại như trên, Ki Tô Giáo bắt buộc phải suy thoái,
vì căn bản Ki Tô Giáo là một tôn giáo thuộc loại mê tín nhất thế
gian, nhốt tuyệt đại đa số tín đồ vào một “đức tin” (faith) không cần
biết không cần hiểu. Nhưng sự tiến bộ trí thức của nhân loại đã
khiến cho không ít tín đồ và một số các vị lãnh đạo Ki Tô Giáo nhận ra
sự thật cay đắng này. Những niềm tin căn bản của Ki Tô Giáo nói chung,
ví dụ như chuyện Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ trong 6 ngày cách đây
khoảng 6000 năm, chuyện vườn địa đàng Eden, Adam và Eve sa ngã tạo nên
tội tổ tông, Chúa Giê-su sinh ra từ một nữ trinh, bị đóng đinh trên thấp
giá chết đi rồi sống lại sau ba ngày và rồi 40 ngày sau đó bay lên trời
ngồi bên phải của Chúa Cha, khả năng chuộc tội và cứu rỗi của Giê-su
v..v.., tất cả đều không còn chỗ đứng trong giới hiểu biết và trí
thức ngày nay. Bởi vậy nên một số các bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo
cũng như một số học giả trí thức Ki Tô Giáo đã cố gắng nghiên cứu, viết
sách, trình bày sự thật để giáo dục những tín đồ Ki Tô Giáo đáng thương
của họ. Điều này đã góp phần lớn trong sự suy thoái của Ki Tô Giáo trên
thế giới. Sau đây là vài kết quả nghiên cứu điển hình của họ.
Cốt tủy
của Ki Tô Giáo không phải là dạy tín đồ làm lành tránh ác như một số
giáo dân kém hiểu biết thường đưa ra luận điệu “tôn giáo nào cũng tốt,
cũng dạy người ta làm lành tránh ác”. Chúng ta đã biết theo Ca-Tô
giáo cũng như Tin Lành dạy, con người được Chúa “cứu rỗi” không phải vì
đã làm lành tránh ác, sự cứu rỗi tùy thuộc hứng của Thiên Chúa, muốn ban
ân sủng cho ai thì cho. Điều kiện cần và đủ để được cứu rỗi là phải
tin Chúa, nếu không tin thì dù làm lành tránh ác cách mấy đi chăng nữa
thì cũng bị Chúa đầy xuống hỏa ngục để bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vĩnh
hằng. Trong thời Trung Cổ, những thập tự quân đi tàn sát những
người Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Ki-Tô lạc đạo, nghĩa là những người
không tin theo giáo lý Ca-Tô, không thần phục Ca-Tô Giáo, được giáo
hoàng giải mọi tội lỗi và cấp vé cho lên thiên đường sau khi chết. Vậy
thì “làm lành tránh ác” ở chỗ nào??
Cốt tủy giáo
lý Ki Tô dựa vào nền thần học Ki Tô Giáo, và nền thần học này dựa vào sự
diễn giải Thánh Kinh của giáo hội và những điều giáo hội bịa đặt ra.
Đại để là dựa theo Cựu Ước, Chương Sáng Thế Ký: Chuyện vườn địa đàng nơi
đây Adam và Eve ăn trái cấm nên tạo thành tội tổ tông, bị Chúa Cha theo
đuổi phạt cả con cháu hết đời này đến đời kia. Rồi Chúa Cha cho Chúa
Con (Giê-su) xuống trần, chịu khổ nạn, bị đóng đinh trên cây thập giá để
chuộc tội cho nhân loại. Và những người nào tin vào Giê-su thì sẽ được
cứu rỗi phần hồn, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết. Nhưng tất cả những
chuyện hoang đường mê tín của thời bán khai này ngày nay đã không còn
chỗ đứng trước sự hiểu biết của nhân loại, ở trong cũng như ở ngoài các
giáo hội Ki-Tô, trừ những tín đồ có đầu mà không có óc. Một số tài
liệu sau đây sẽ chứng những sự kiện cay đắng này của các giáo hội Ki Tô.
1. Về tội
tổ tông mà Chúa Cha phải phái Chúa Con xuống trần để bị đóng
đinh chuộc tội cho thiên hạ thì ngày nay, trước những sự tiến bộ của
khoa học và những nghiên cứu nghiêm chỉnh về cuốn Thánh Kinh, con người
ngày nay đã nhận ra một sự thật, cất bỏ được cái gánh nặng “tội tổ tông”
đã đè trên vai các tín đồ qua nhiều thế kỷ. Thật vậy, nhân loại không
sinh ra trong tội lỗi, không ai cần đến sự “cứu rỗi” của Giê-su, như
chính giám mục Tin Lành John Shelby Spong đã khẳng định trong cuốn
Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity
Must Change or Die) như sau:
"Nhân
loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong
tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong
phép rửa. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, sẽ mất đi sự cứu
rỗi nếu chúng ta không được rửa. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ
khôi phục tình trạng tiền sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín
trước-thời-Darwin và một sự vô nghĩa sau-thời-Darwin."
(We human
beings do not live in sin. We are not born in sin. We do not need to
have the stain of our original sin washed away in baptism. We are not
fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized.. A
savior who restores us to our prefallen status is therefore
pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense)
2. Về nền
thần học Ki Tô Giáo, trong cuốn
Một Linh Mục Hiện Đại Xét Về
Giáo Hội Lỗi Thời Của Mình, một cuốn sách đã được một số trí thức
trong cũng như ngoài giáo hội ca tụng, linh mục James Kavanaugh đã đưa
ra một nhận xét như sau về nền Thần học Ca-Tô:
Tuy nhiên,
nền Thần học của chúng ta đã trở thành một trò chơi học thuật. Đó là
một mớ luật lệ tích tụ trong sự cay đắng tôn giáo của những cuộc tranh
chấp nhỏ mọn. Đó là một chuyện cổ tích về những chân lý đã nhàm
chán, chỉ có tác dụng tước đoạt trách nhiệm cá nhân của con người và hạ
thấp con người thành một nô lệ vô danh sợ sệt. Thần học đã tước
đoạt đầu óc con người và chỉ để lại trong họ những bài học thuộc lòng...
Đó là nền Thần học mà tôi đã học và truyền lại trong mọi kỳ xưng tội mà
tôi nghe, trong mọi lớp học tôi dạy, trong mọi bài giảng tôi nói cho đám
con chiên đầy mặc cảm tội lỗi.
(James
Kavanaugh,
A Modern Priest Looks At His Outdated Church, p. 6:
Our theology, however, has become a scholar's game. It is a code of
rules accumulated in the petty wars of religious bitterness. It is a
tale of tired truths, which only serve to rob man of personal
responsibility and reduce him to the listlessness of a frightened
slave. Theology took away man's mind and left him memorized words...
This is the theology I learned and transmitted in every confession I
heard, every class I taught, every sermon I gave to the guilt-infected
flock.)
Nền thần học
Ki Tô Giáo rao giảng cho các tín đồ về một
“Thiên Chúa quá thương yêu
thế gian”. Nhưng những sự kiện xảy ra ngay trước mắt: Tsunami,
thiên tai, bệnh tật, quái thai, chiến tranh v.. v… đưa đến một câu hỏi:
Tình yêu Thiên Chúa đặt ở đâu? Một ví dụ điển hình về ngay cả
những người trong Ki Tô Giáo cũng không còn tin vào một “Thiên Chúa lòng
lành” nữa được đăng trên tờ Newsweek số ngày 7 tháng 5, 2007, về
chuyện một Mục sư tuyên úy phục vụ ở Iraq và nay trở về phục vụ trong
Quân Y Viện Walter Reed. Bài báo viết về cuốn Nhật Ký của Mục sư tuyên
úy Roger Benimoff. Những dòng cuối cùng trong Nhật Ký viết:
“Tôi
không muốn dính dáng gì đến Thiên Chúa. Tôi thật chán ngấy tôn giáo.
Đó là cặp nạng cho những kẻ yếu kém.. Chúng ta tạo ra Thiên Chúa cho
những gì chúng ta cần đến trong một lúc. Tôi thậm ghét Thiên Chúa. Tôi
thậm ghét tất cả những kẻ nào toan tính giảng giải về Thiên Chúa trong
khi họ thực sự không hiểu gì về Thiên Chúa”
(Newsweek,
p.33: The last lines read: I do not want anything to do with God. I am
sick of religion. It is a crutch for the weak.. We make God into what
we need for the moment. I hate God. I hate all those who try to
explain God when they really don’t know.)
Tại sao một
Mục sư tuyên úy lại viết như vậy?.
Vì ông ta đã chứng kiến những
cảnh tàn bạo dã man phi lý trong cuộc chiến ở Iraq và những cảnh đau khổ
của thương phế binh ở Quân Y Viện Walter Reed, và ông ta không thể nào
hòa hợp những cảnh đó với luận điệu thần học “Thiên Chúa quá thương yêu
thế gian” trong phúc âm John mà Giáo hoàng John Paul II đã nêu trong
cuốn
Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng để trả lời mà không phải là trả
lời câu hỏi: “Tại sao nhân loại cần sự cứu rỗi.”
Thật vậy,
nếu chúng ta có một tấm lòng, để tâm quan sát những cảnh thế gian, khoan
kể đến những thiên tai bão lụt, chỉ cần nghĩ đến cảnh chiến tranh triền
miên giết nhau trên khắp thế giới, cảnh những trẻ sơ sinh bị đủ mọi thứ
bệnh và khuyết tật trong nhà thương nhi đồng, cảnh quái thai sinh ra cặp
đôi dính vào nhau ở lưng, ở đầu, mà chỉ có một trái tim, và ngay cảnh
“đại diện của Chúa” trên trần, John Paul II, chân tay run lẩy bẩy, ăn
nói lắp bắp không ra lời, và với sự kiện là mỗi ngày có tới 40000 đứa
trẻ dưới 5 tuổi chết vì bệnh tật và thiếu dinh dưỡng, và hàng trăm cảnh
đau lòng khác diễn ra khắp nơi, thì làm sao chúng ta có thể tin vào một
Thiên Chúa toàn năng toàn trí “quá thương yêu thế gian” cho được.
3. Về
Những Tín Lý Trong Ki Tô Giáo, Trong cuốn
"Theo Đúng Như
Trong Sách: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Của Quyền Lực Thánh
Kinh" (Going By the Book: Past and Present Tragedies of Biblical
Authority),
Mục sư Ernie Bringas, tốt nghiệp môn thần học tại đại
học United Theological Seminary ở Dayton, Ohio, nhận định rằng:
Với sự tái
khám phá phương pháp khoa học trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sự tiến triển
tiếp theo của thời đại Khai sáng trong thế kỷ 18, một sự phân tích
Thánh Kinh một cách thuần lý hơn là điều không thể tránh được. Trong
một thế giới đang trở thành hướng theo tinh thần khoa học, những mô tả
về Chúa đi trên sóng, về ma quỷ, thiên thần, những câu chuyện về sự sống
lại của Chúa, và nhiều hiện tượng khác, càng ngày càng khó có thể chấp
nhận như là những sự thực lịch sử.
Trong những
năm 1835-1836, cuốn
"Khảo Sát Cặn Kẽ
Về Đời Sống của Giê-su" (The Life of Jesus Critically Examined) của
D. F. Strauss đã quy một số chuyện trong Tân Ước là "huyền
thoại" và định nghĩa những câu chuyện phi lịch sử như trên là sự biểu
thị của một chuỗi những ý tưởng tôn giáo. Ngày nay, kết quả những cuộc
nghiên cứu phân tích tiếp tục hỗ trợ và xác nhận sự khẳng định này.
Đa số các học giả coi những chuyện trong Tân Ước và bảy giáo lý giáo
hội đưa ra sau đây đều là huyền thoại:
1. Đức Mẹ
đồng trinh
2. Hiện thân
của Chúa
(Thượng đế hiện thân
thành người, nghĩa là, Thượng đế là Giê- su.)
3. Nhiệm vụ
cứu rỗi của Chúa
4. Sự sống
lại của Chúa.
5. Sự thăng
thiên của Chúa
(Thân xác Chúa bay
lên trời 40 ngày sau khi sống lại)
6. Chúa trở
lại trần
(để làm sống lại những
người chết cho ngày phán xét cuối cùng)
7. Ngày phán
xét cuối cùng
(Chúa Cha phán xét
luận tội mọi người trong ngày Giê su trở lại trần thế)
(With the
rediscovery of the scientific method in 16th-century Europe and the
subsequent evolvement of the Enlightenment during the 18th-century, it
was inevitable that a more rational analysis of Scripture would occur.
In a world becoming scientifically oriented, descriptions of walking on
water, of demons, angels, resurrection stories, and other phenomena grew
increasingly unacceptable as historical realities.
In 1835-1836,
The Life of Jesus Critically Examined, by D. F. Strauss, referred to
some NT narratives as "myth" and defined those unhistorical elements
as expressing a series of religious ideas. Today, analytical studies
continue to support and confirm this assertion. The majority of
scholars regard the following NT accounts and Church-developed doctrines
as myth:
1. The virgin
birth
2. The
Incarnation (God in human form; that is, God as Jesus)
3. The work
of Atonement (plan for salvation)
4. The
resurrection
5. The
ascension (Jesus' bodily ascent into heaven 40 days after the
resurrection)
6. The Second Coming
(the return of Jesus to raise the dead and to summon all to the Last
Judgment)
7. The Last Judgment
(the judgment of all by God at Christ's Second Coming)
Chúng ta nên
để ý là trên đây Mục sư Ernie Bringas chỉ trình bày quan điểm của giới
trí thức học giả về Ki Tô Giáo. Điều này không áp dụng cho số tín đồ
đông đảo, Ca-Tô cũng như Tin Lành, còn sống trong bóng tối. Điều này
cũng đã chứng tỏ rằng nền tảng tín ngưỡng của Ki Tô Giáo nói chung đã
không còn hấp dẫn trong thế giới Tây phương, thế giới của khoa học, của
suy lý.
4. Về Đòn
Phép Hù Dọa Tuyệt Thông Của Ca-Tô: Đối với những tín đồ thấp
kém, nhẹ dạ, cả tin, "tuyệt thông" hay "dứt phép thông công" là một vũ
khí hù dọa hữu hiệu, vì họ đã được nhồi vào đầu từ khi con nhỏ là muốn
hiệp thông với Chúa thì phải đi qua các trung gian như Linh mục, Giám
mục, Giáo hoàng hay "Tòa Thánh". Nhưng đối với giới trí thức, ngay cả
trong giáo hội, thì đó chỉ là một biện pháp hù dọa đáng khinh, vì nó vô
giá trị, vô nghĩa, lỗi thời, và nhất là dựa vào một quyền lực tự phong,
không có một căn bản nào có thể thuyết phục được những người có đầu óc.
Thật vậy, trong cuốn
Thượng đế Chưa Chết: Từ Sự Sợ Hãi Tôn Giáo Đến
Sự Tự Do Tâm Linh (God Lives: From Religious Fear To Spiritual
Freedom), Linh Mục James Kavanaugh đã vạch rõ cho chúng ta thấy bản chất
và ý nghĩa của "tuyệt thông" như sau, trang 39-40:
Tôi thấy
khó mà có thể tin được là trong thời đại kỹ thuật không gian này mà một
đoàn thể tôn giáo
(Ca-Tô giáo Rô-ma. TCN) lại có
thể quá lỗi thời để tin rằng một hình phạt thuộc loại huyền thoại như
vậy vẫn còn có ý nghĩa gì đối với con người.
...Tuyệt
thông, trong nhiều thế kỷ, đã là vai trò của giới quyền lực đóng vai
Thượng đế . Đó là sự chối bỏ sự tự do suy tư của con người một
cách vô nhân đạo và phi-Ki-tô. Nhưng nhất là, nó đã là nỗ lực điên
cuồng của một quyền lực, vì quá lo sợ mất đi quyền lực của mình, nên
phải kiểm soát tín đồ thay vì hướng dẫn họ đi tới một tình yêu thương tự
do và trưởng thành.
Tuyệt thông
toan tính biến sự thực chứng tôn giáo thành một trại huấn luyện quân sự
trong đó sĩ quan phụ trách nhào nặn lên những người máy trung thành bằng
cách làm chúng ngạt thở bởi giam hãm và sỉ nhục. Có thể những phương
pháp này có nghĩa trong việc huấn luyện con người để chiến đấu ngoài mặt
trận. Những phương pháp này thực là trẻ con và bất lương khi xử lý
với sự liên hệ của con người đối với Thượng đế; nhưng thật không thể tin
được là chúng vẫn còn tồn tại.
(I found it
hard to believe that in the age of space technology a religious body
could be so out of touch as to believe such a mythological penalty could
have any meaning left for man.
...Excommunication had for centuries been authority's way of playing
God. It was the inhuman and unchristian denial of man's freedom of
conscience. But most of all it had been a deeply frigtened authority's
frantic effort to dominate and control men and woman rather than to
direct them toward a free and mature love. Excommunication attempted to
turn the religious experience into a boot camp where the officer in
charge aspires to build loyal robots by smothering them with confinement
and indignity. Perhaps such methods might have had meaning in preparing
man for combat. They are only childish and dishonest in dealing with a
man or woman's relationship with God, but incredulously they still
exist.)
5. Về
Các "Bí Tích" trong Ki Tô Giáo, Tin Lành có 2, Ca-Tô có 7, trong
cuốn
Thoát Ly Khỏi Thiên Chúa: Lấy Lại Khả Năng Tìm Hiểu (Freedom
From God: Restoring The Sense of Wonder, Almador Pub., 2001), Mục sư
Harry Willson viết, trang 55:
"Trong đầu
óc của rất nhiều người biết suy tư, lương thiện và có thiện chí, Ki Tô
Giáo đã trở thành không còn thích hợp, vì nó đòi hỏi con người dự phần
quá nhiều vào những điều vô nghĩa."
[của các “bí tích”]
(Christianity
has become irrelevant, in the minds of so many thoughtful persons of
good will and honesty, because it requires so much participation in
nonsense.)
Harry Willson
viết cuốn sách trên để khuyến khích tín đồ hãy theo gương ông, cất cái
gánh nặng Thiên Chúa ra khỏi vai họ (Get God off your back). Ông coi đó
là một sự giải phóng:
Hãy nghĩ về
hình ảnh Thượng đế đi vào một hố đen của thập niên 60 với "Thượng đế đã
chết". Đừng kể đến phái bảo thủ Ki Tô vì trong đó không có sự suy tư.
Đây là một cuốn sách đi vào qua cái hố đen ấy và đi ra ngoài đầu kia -
đến sự giải phóng. Sự thách đố này là để cho những con người biết đọc
và thích suy nghĩ, và còn có thể có khả năng thắc mắc, tìm hiểu. Không
khí trong lành đó thật là kỳ diệu.
Các bạn
cũng có thể được tự do. Các bạn có thể bác bỏ cái quyền năng
(của Thượng đế) đó, và dẹp bỏ những ngón tay đang bóp nghẹt yết hầu của
các bạn. Để cho các bạn có thể thở!
(Thinking
about God went into a black hole in the sixties with "God is dead".
Fundamentalism doesn't count, because there's no thinking there. Here's
a book that goes all the way to that black hole and comes out the far
end - into liberation. This challenge is for persons who can read and
like to think, and can still sense wonder. The fresh air is wonderful.
You, too, can
be free! You can repudiate that authority, and remove those fingers at
your throat. You can breathe!)
Không ai biết
rõ hơn linh mục Joseph McCabe, một người đã hành nghề linh mục hơn 20
năm, khi ông viết:
“Bí tích”,
lẽ dĩ nhiên, chỉ là một phần của hệ thống nâng cao giới linh mục, cho họ
những lợi ích cá nhân to lớn trên đám tín đồ thông thường.
6. Về Vũ
Trụ Học: Từ năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một số chuyên
gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học. Cuối cuộc hội thảo, các
chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến. Ông ta nói với các
khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ sau sự
nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính lúc nổ vì đó là lúc
sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.”
(Stephen Hawking, A
Brief History of Time, p. 116: He told us that it was all right to
study the evolution of the universe after the big bang, but we should
not inquire into the big bang itself because that was the moment of
Creation and therefore the work of God). Chúng ta nên để ý, căn bản
thuyết Big Bang đã được công nhận là đúng dù năm 1981, thuyết Big Bang
chưa được hoàn chỉnh cho đến khi dò ra được bức xạ nền [background
radiation] trong vũ trụ vào năm 1992, nhưng Giáo hoàng cũng đã phải công
nhận vũ trụ này sinh ra từ một Big Bang. Và Giáo hoàng nói câu trên
chẳng qua chỉ để vớt vát phần nào mặt mũi của Thượng đế, một mặt mũi đã
không còn chỗ đứng trong thế giới tiến bộ trí thức và khoa học của nhân
loại.
Thật vậy, Big
Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm (singularity) vô cùng đặc, vô
cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay, và đã xảy ra cách đây khoảng
15 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ 6000-10000 năm do sự “sáng tạo”
(sic) của Thượng đế Ki-tô giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi
như những lời không thể sai lầm của Thượng đế.
Năm 1992, giáo
hoàng đã công khai nhìn nhận là giáo hội đã sai lầm trong vụ án Galileo
Galilei. 359 năm về trước, Giáo hội bắt Galilei phải sửa lại kết quả
nghiên cứu khoa học của ông ta (rằng trái đất quay xung quanh mặt trời)
cho đúng với những lời “mạc khải không thể sai lầm trong Thánh Kinh”
(rằng trái đất đứng yên và mặt trời quay xung quanh trái đất), rồi giam
ông ta tại gia cho đến khi chết. Sự nhìn nhận sai lầm của Tòa Thánh
trong vụ Galilei cho thấy thánh kinh sai và kéo theo vấn đề: nếu thánh
kinh đã sai về vũ trụ thì rất có thể cũng sai về nhiều điều khác nữa.
Ngày nay, các chuyên gia nghiên cứu thánh kinh đều đồng thuận ở điểm
là thánh kinh có rất nhiều sai lầm cả về thần học lẫn khoa học. Do
đó, thánh kinh không phải là những lời “mạc khải” không thể sai lầm của
một vị thần toàn năng toàn trí, như lời giáo hội vẫn thường dạy cho
những tín đồ bảo sao nghe vậy. Thực tế cũng cho thấy rằng, trí tuệ
của con người ngày nay đã vượt xa trí tuệ của bậc “toàn năng, toàn trí”
trong Thánh Kinh Ki-Tô giáo rất nhiều. Ây thế mà người ta vẫn đi
thờ phụng một “đấng” mà trí tuệ kém cỏi hơn người đời rất nhiều. Thật
là kỳ lạ.
7. Về
Thuyết Tiến Hóa: Rồi đến năm 1996, giáo hoàng John Paul II đã
thú nhận trước thế giới là
“thân xác con người có thể không phải
là một sự sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá
trình tiến hóa dần dần”. Ngài nói:
“những kiến
thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả
thuyết”. (Pope John Paul II has put the teaching authority of
the Roman Catholic Church firmly behind the view that “the human body
may not have been the immediate creation of God, but is the product of a
gradual process of evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads
to recognition of the theory of evolution as more than just a
hypothesis”).
Chấp nhận
thuyết Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do
Thượng đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa
dần dần và lâu dài, giáo hoàng đã phá tan huyền thoại về Adam và Eve là
tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và kéo theo không
làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ tông. Do đó, vai
trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận
điệu thần học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục
đưa ra không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người,
huyễn hoặc và khuyến dụ họ tin vào những điều không thực.
8. Về
Thiên Đường Và Hỏa Ngục: Tháng 7 năm 1999, trước những khám phá
xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và trước những hiểu biết của con người
ngày nay về cấu trúc của trái đất, Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố:
"thiên đường không phải là một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải
là một nơi cụ thể ở trên các tầng mây” (Heaven is neither an
abstraction nor a physical place in the clouds), và “Hỏa ngục
không phải là sự trừng phạt áp đặt từ bên ngoài bởi Thượng đế, mà l | |