3. "Bài Giảng Trên Núi" của Giê-su:
Tất cả những
điều mà người ta cho là “giáo pháp” của Giêsu, nghĩa
là những lời dạy về luân lý đạo đức con người,
được gói ghém trong Bài Giảng Trên Núi
(Sermon on the Mount). Trong bài giảng này có một
phần mà các Linh Mục thường mang ra giảng trong nhà
thờ, và do đó các tín đồ thường biết dưới tên "Phúc
Thật Tám Mối" và ca tụng với người ngoại đạo là
“tuyệt vời”, tuy nội dung chẳng có gì đặc biệt vì
tất cả đều là những điều thông thường trên thế giới
Về bài giảng trên núi này, Kenneth C. Davis viết
như sau trong cuốn Don't Know Much About The
Bible: Everything You Need to Know About the Good
Book But Never Learned:
"Một trong những bài giảng chính của Giêsu là
một bài dài mà Augustine gọi là "Bài Giảng Trên
Núi." "Bài Giảng Trên Núi" được trình bày toàn phần
trong Phúc Âm Matthew (hơn 100 câu) và dưới dạng một
bản rút ngắn trong Phúc Âm Luke. Trong Luke bài
giảng này tương tự như trong Matthew, tuy ngắn hơn
(khoảng 30 câu), và được nói ở đồng bằng khi Giêsu
cầu nguyện xong và xuống núi.
Những sự khác nhau trong hai bài giảng này đã đưa
đến sự đồng thuận của các học giả là bài giảng trong
Matthew là kết quả góp nhặt từ nhiều bài giảng của
Giêsu thành một bài dài có thể nhớ được. Nói khác
đi, đó là những lời giảng của Giêsu được ghi lại một
cách trung thực và là "Những Lời Hay Ý Đẹp Nhất của
Giêsu" được gom lại thành một bài."
9
Chúng ta hãy đi vào vài chi tiết trong Tân
Ước để phân tích xem bài giảng đó hay như thế nào?
“Bài giảng trên núi” chiếm 3 đoạn trong Phúc Âm
Matthew: 5,6, và 7, và dạng rút ngắn trong Phúc Âm
Luke 6:17-45. Những trích dẫn sau đây là từ Phúc Âm
Luke.
Một trong những điều giảng dạy của Giêsu mà các
tín đồ cho là hay nhất là câu mà các nhà truyền giáo
gọi là "Luật Vàng" (Golden Rule), Luke 6: 31:
"Hãy làm cho người khác điều các con muốn người ta
làm cho mình". Nhưng đây không phải là một luật
do Giêsu sáng tác, vì chúng ta biết rằng, hơn 500
năm trước khi Giêsu sinh ra đời thì Đức Khổng Tử
cũng đã nói luật trên nhưng dưới một dạng khác:
"Những điều mà mình không muốn người ta làm cho mình
thì đừng có làm cho người khác" (Kỷ sở bất dục,
vật thi ư nhân). Và trong kinh Talmud của Do Thái
cũng có câu (Sabbath 31: 1): "Cái gì mà mình
không thích thì đừng có làm cho người khác"
(What thou does not like, do thou not to thy
neighbor).
Do đó, Luật Vàng mà các tín đồ Ki Tô thường cho
là của Giêsu, thật ra chỉ là cóp nhặt tư tưởng đã có
từ trước trong dân gian và thay đổi câu văn từ tiêu
cực (negative) sang tích cực (positive). Nhưng
cũng vì thế mà Luật Vàng của Giê-su không được hoàn
hảo, vì điều mà mình muốn người khác làm cho mình
chưa chắc đã là những điều đúng, lành thiện v..v..
mà có thể bắt nguồn từ tham dục, hay si ngốc. Và
cũng chưa chắc đó là những điều mà người khác cần
đến, hoặc muốn mình làm cho họ. Phân tích câu này,
William Floyd cho rằng đó chỉ là một cách xử thế
thuộc loại "có đi có lại mới toại lòng nhau"
của người xưa (the desirability of reprocity of the
ancients) chứ không phải là một tiêu chuẩn đạo đức
có tính cách phổ quát. Trái lại, luật của Đức Khổng
Tử có tính cách luân lý rộng lớn, khuyên ngăn chúng
ta không nên làm cho người khác những điều họ có thể
không muốn, vì chính mình cũng không muốn những điều
này. Đây là một cách xử thế khôn ngoan, tránh gây
bất hòa, vì "đừng làm" ngụ ý thận trọng, trong khi
"hãy làm" thường có tính cách áp đặt hay cưỡng bách.
Charles Bradlaugh, một tư tưởng gia tự do
(freethinker) nổi tiếng của Anh Quốc, đã phân tích
những điều giảng dạy của Giêsu trong một bài viết
đặc sắc: Giêsu Giảng Dạy Những Gì? (What Did
Jesus Teach?). Độc giả có thể lấy bài này trong
Internet (www.infidels.org). Ở đây, tôi không có ý
định phê bình toàn thể "Bài Giảng Trên Núi" cho nên
sau đây tôi chỉ phân tích tiếp vài lời dạy của
Giê-su mà một số trí thức Ca Tô cho đó là phản ánh
"đỉnh cao trí tuệ của Chúa":
1.
Mathhew 5:3: Phúc cho kẻ có tinh thần yếu kém, vì
nước thiên đàng thuộc về họ. (Blessed are the
poor in spirit, For theirs is the kingdom of
heaven).
Bình luận về câu trên, Charles Bradlaugh viết:
Tinh thần yếu kém có phải là đức tính chính mà
Giê-su đặt lên cao nhất trong những điều giảng dạy
của ông ta hay không? Thực ra đó có phải là một đức
tính không? Chắc chắn là không. Tinh thần dũng
cảm, tinh thần lương thiện, tinh thần đầy đủ những
mục đích công chính, đó là những đức tính; tinh thần
yếu kém là một tội ác... 10
Tại sao Charles Bradlaugh lại viết như vậy?
Chẳng có gì là khó hiểu. Giả thử bạn là một người
có tinh thần yếu kém và bị người ta tát cho một cái
vào má. Trong trường hợp này, Giê-su dạy bạn phải
hành động như thế nào? Luke 6:29 đã vạch rõ: "Nếu
các con bị ai tát má này, cứ đưa luôn má bên kia."
(To him who strikes you on the one cheek, offer the
other also). Đây có phải là điều thực tế hay
không. Tôi không khuyên bất cứ bạn đạo nào làm cuộc
thí nghiệm sau đây: đến trước mặt Hồng Y Nguyễn Văn
Thuận hay "Hồng Y thiết giáp" Ratzinger và tát cho
ông ta một cái xem các ông ấy phản ứng như thế nào,
có đưa má kia cho bạn tát thêm hay không. Dù chúng
ta có lòng nhân từ đến đâu thì, nếu chúng ta không
tát trả lại thì ít ra cũng phải có biện pháp ngăn
chận để cho khỏi bị tát thêm. Dung dưỡng sự bạo
hành là đồng lõa với bạo hành. Cho nên Charles
Bradlaugh đã viết "tinh thần yếu kém là một tội
ác", tội ác đối với xã hội, tội ác đối với nhân
loại, vì đã khuyến khích sự bất công và bạo hành.
2.
(Luke 6: 20: "Phúc cho các con đang nghèo khổ, vì
Nước Trời thuộc về các con" (Blessed are you
poor, For yours is the kingdom of God); Luke 6: 24: "Nhưng khốn cho các
con đang giàu có, vì các con đã được an ủi rối"
(But voe to you who are rich, For you have received
your consolation)
Đây có phải là giáo lý về luân lý đạo đức hay
không, hay chỉ là những lời hứa hẹn vô trách
nhiệm. Có ai biết "nước Trời" ở đâu? Người nghèo
khổ, chỉ vì lý do duy nhất là đang nghèo khổ, được
hứa hẹn một nước Trời chỉ có trong đầu óc bất bình
thường của Giê-su. Người giàu có, chỉ vì lý do duy
nhất là đang giàu có, bị Chúa nguyền rủa. Công bằng
và bác ái ở chỗ nào?
Thực tế là ở trên đời này có ai muốn mình nghèo
khổ đâu. Vì hoàn cảnh nên nghèo khổ và nếu có lòng
dũng cảm, có ý chí, chăm chỉ học hành, làm lụng thì
con người có thể vượt qua sự nghèo khó.
Nếu lời của Giê-su như trên là đúng thì trong
Ca-Tô giáo, từ Giáo Hoàng trở xuống cho tới các Linh
Mục, không ai có thể lên thiên đường được, vì đối
với lớp dân nghèo khổ, thì các giới chức trong giáo
hội toàn là những người giàu có, dư ăn dư mặc. Tài
sản của Giáo hội Ca-Tô Hoàn Vũ (Vatican) lên tới
hàng ngàn tỷ đô la, và các giáo hội địa phương cũng
chỉ vơ vét của cải thế gian, làm giàu trên sự đói
khổ của đám cùng đinh.
Người Việt Nam chúng ta có những câu: "Bần cùng
sinh đạo tặc" hay "Đói ăn vụng, túng làm càn".
Giê-su chắc không biết đến những câu này nên mới
phát ngôn như trên.
Phê bình hai câu trên, Charles Bradlaugh viết:
Giêsu đưa ra hình ảnh của một người xuống địa
ngục, cái tội duy nhất của người này là giàu có; và
một người khác lên thiên đường, đức tính duy nhất
của người này là nghèo khổ. Sau đó Giêsu còn khẳng
định là: "Người giàu vào Nước Trời thật khó. Lạc đà
chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước
Trời."
(Luke 18: 25) Ý định duy nhất của một giáo lý
như vậy có thể là làm cho người nghèo khổ an phận
nghèo khổ trong đời sống này trong hi vọng sẽ được
đền bù tốt hơn trong đời sau. Có thật là tốt đẹp
khi ta an phận với sự nghèo khó hay không? Có phải
là tốt hơn nhiều nếu chúng ta tìm hiểu nguyên do của
sự nghèo khổ để tìm cách giải quyết vấn đề hay ngăn
chận đừng để cho sự nghèo khổ xảy ra hay không?
11
Tất cả các quốc gia trên thế gian này đều cố gắng
làm sao để cho dân giàu nước mạnh. Vậy có ai tin
theo lời Chúa đâu? Điều hiển nhiên là những người
nghèo khổ nhiều khi đến độ không có cơm ăn áo mặc.
Cảnh tượng này xảy ra khắp nơi trên thế giới. Không
có cơm ăn thì đói. Đối với những người này thì
Giê-su dạy ra sao?
3.
Luke 6: 21: "Phúc cho các con đang đói, rồi các
con sẽ no" (Blessed are you who hunger now, For
you shall be filled.); Luke 6:25: "Khốn cho những
kẻ đang no, Vì các ngươi sẽ bị đói" (Voe to you
who are full, For you shall hunger)
Trên thế gian này, thật sự có ai muốn mình đói để
được Giê-su ban phúc cho không? Chúng ta thấy trước
mắt những cảnh đói khổ ở khắp nơi trên thế giới,
nhất là ở những nơi như
Ethiopia, Rwanda, Congo v..v.. Hàng triệu người đói
này có ai cần đến cái "phúc" của Giê-su ban cho hay
cần đến cơm gạo, bánh mì để sống còn? Giê-su chỉ
hứa hão. Bao giờ no? Ông ta không hề khẳng định.
Bình luận câu trên, Charles Bradlaugh viết:
Giêsu dạy những gì?. "Phúc cho các con đang đói,
rồi các con sẽ no". Ông ta không nói bao giờ thì sẽ
được no. Hiển nhiên là thời điểm sẽ no đã được hoãn
lại cho đến khi con người không còn dạ dày đâu để mà
đầy bụng. Không phải là trong đời sống này mà người
đói sẽ no.
12
Giê-su cũng còn dạy:
4. Luke 6: 21: "Phúc cho các con đang than khóc,
rồi các con sẽ vui cười" .(Blessed are you who
weep now, for you shall laugh.); Luke 6:25: "Khốn
cho những kẻ đang cười, vì các ngươi sẽ than khóc."
(Woe to you who laugh now, For you shall mourn and
weep).
Thật vậy sao? Bao giờ thì cười? và bao giờ thì
than khóc? Con người ai chẳng có những lúc vui, lúc
buồn. Khi gặp chuyện mừng thì vui thì cười, khi gặp
chuyên bất hạnh thì than thì khóc. Có ai cười mãi
hay khóc mãi đâu? Những nạn nhân của Giáo hội Ca-Tô
trong ngục tối, bị tra tấn dã man trong thời Trung
Cổ vì không tin Chúa, tất nhiên phải than khóc rồi,
họ có được "phúc" của Chúa hay không?
Thật tôi không hiểu trong những lời dạy trên của
Giê-su hay ho ở chỗ nào mà các tín đồ Ca-Tô khen nức
khen nở là bài giảng trên núi thật là tuyệt vời ,
nhất là đoạn nói về "Phúc thật tám mối".
Chẳng thế mà Charles Bradlaugh đã đưa ra nhận
định:
Giêsu dạy: Những người nghèo, đói, khốn khổ, sẽ
được ân sủng của Thần Ki Tô, nhưng ân sủng này chỉ
tới khi họ đã hết nghèo, hết đói, hết khốn khổ
(nghĩa là đã chết. TCN). 13
Trên đây chỉ là vài trích dẫn từ Thánh Kinh những
"lời hay ý đẹp" điển hình của Giê-su. Dựa vào
những tư tưởng có tính cách mạ lị đầu óc con người
này, các nhà truyền giáo đi xâm lăng các nước chậm
tiến cũng đưa ra luận điệu hứa hẹn lừa dối: "nghèo
khổ là do ý Chúa", và khuyến khích các tín đồ hãy
chịu khó an phận như dân Do Thái ngày xưa, cứ giữ
niềm tin ở Chúa rồi sẽ có ngày Chúa sẽ đoái thương
và sẽ được ân sủng của Chúa. Chẳng biết cái ân sủng
này mặt mũi nó ra làm sao. vì từ xưa tới nay chưa có
ai, kể cả Giê-su, từ cõi chết trở về để mà cho bàn
dân thiên hạ biết cái ân sủng đó nó như thế nào.
Trong cuốn Tiếng Kêu Than Của Người
Dân Penny Lernoux viết:
Những nhà truyền giáo ngoại quốc góp phần nhồi
vào đầu óc dân bản xứ ý tưởng là họ nghèo và ngu dốt
là do ý muốn của Thiên Chúa. Như Tổng Giám Mục ờ
Lima bảo các thổ dân rằng: "Nghèo khổ là con đường
chắc chắn nhất đi tới hạnh phúc." người thổ dân nào
hay dân Phi Châu nào mà liều lĩnh nghi ngờ điều dạy
khôn ngoan đó bằng cách chống lại hệ thống đều bị
giết ngay...Giáo Hội Ca-Tô phải gánh rất nhiều trách
nhiệm về tình trạng này.
14
Chúng ta hãy tiếp tục xét đến lời dạy của Giê-su như
sau:
4.
Luke 6: 22-23: Phúc cho các con khi bị người ta
ghét, xua đuổi, nhục mạ, bêu xấu tên tuổi vì Ta.
Ngày đó, các con hãy lấy đó làm điều mừng và vui
mừng nhảy múa, vì sẽ được phần thưởng lớn dành sẵn
trên trời. Ngày xưa các nhà tiên tri cũng từng bị
đối xử như thế. (Blessed are you when men hate
you, and when they exclude you, and revile you, and
cast out your name as evil, For the Son of Man's
sake. Rejoice in that day and leap for joy! For
indeed your reward is great in heaven, For in like
manner their fathers did to the prophets.); Luke 6:
26: Khốn cho những người được quần chúng ca ngợi,
vì các tiên tri giả ngày xưa cũng từng được ca ngợi
như thế. (Woe to you when all men speak well of
you, For so did their fathers to the false
prophets.)
Theo đúng lời Chúa không thể sai lầm như trên thì
các tín đồ Ki Tô, Ca-Tô cũng như Tin Lành, nên mừng
khi bị người ta ghét mới phải, vì đó chính là phúc
của Chúa ban cho họ. Bị người ta ghét là con đường
chắc chắn nhất để lên thiên đàng, lẽ dĩ nhiên, sau
khi chết. Muốn được người ta ghét thì cũng dễ thôi,
cứ tiếp tục đi theo con đường phi dân tộc, phản dân
tộc như trong quá khứ, chỉ cần biết đến nước Chúa,
không cần biết đến quốc gia dân tộc là gì. Tại sao
mỗi khi có người nói hay viết những điều gì không
hợp với những lời "giáo hội dạy rằng" thì các tín đồ
Ki-Tô lại chụp lên đầu họ cái mũ thù ghét và chống
Ki Tô Giáo? Các tín đồ Ki-Tô không biết rằng người
ta thù ghét hay chống Ki Tô Giáo chính là để giúp
cho họ được hưởng phúc của Chúa, giúp họ được phần
thưởng lớn ở trên thiên đàng hay sao, nếu họ tin
những lời của Chúa phải là đúng.
Các tín đồ Ki Tô Giáo cũng thường hết lời ca ngợi
Chúa của họ. Nhưng như vậy là họ đã nguyền rủa Chúa
vì Chúa đã khẳng định là "Khốn cho những người
được quần chúng ca ngợi, vì các tiên tri giả ngày
xưa cũng từng được ca ngợi như thế ". Có thể vì
họ tin rằng Chúa Giê-su của họ là tiên tri thật chứ
không phải là tiên tri giả. Nhưng Thánh Kinh lại
viết rõ, và ngày nay tất cả các học giả nghiên cứu
Thánh Kinh đều đồng ý ở điểm này, là Giê-su tin rằng
ngày tận thế đã gần kề, sẽ xảy ra ngay trong thời
đại mà vài tông đồ của ông còn sống, khi đó ông sẽ
trở lại trần để phán xét người sống cũng như người
chết. (Xin xem lại chương I, trang 62-63). Điều này
đã không xảy ra. Lại nữa, Matthew 12: 40 kể rằng:
Chúa Giê-su nói: "Như Giô-na đã nằm trong bụng
cá ba ngày ba đêm, Ta sẽ vào lòng đất ba ngày ba
đêm" (For as Jonas was three days and three
nights in the whale's belly; so shall I be three
days and three nights in the heart of the earth).
Khoan kể đến việc Giê-su tin vào câu chuyện hoang
đường trong Cựu Ước: Jonas nằm trong bụng cá voi 3
ngày 3 đêm, đây là lời tiên tri của Giê-su về cái
chết giả của mình. Nhưng Thánh Kinh cũng lại viết
rõ rằng Giê-su chỉ "vào trong lòng đất" có hai đêm
và một ngày, từ 3 giờ chiều thứ Sáu (Matthew 27: 46)
đến sáng sớm Chủ Nhật, trời mới rạng đông (Matthew
28:1). Từ hai chuyện "tiên tri" trên của Giê-su
trong Tân Ước, chúng ta bắt buộc phải kết luận:
Giê-su chẳng qua cũng chỉ là một nhà tiên tri giả.
Có vẻ như không có tín đồ Ki Tô nào nghĩ ra điều
hiển nhiên này nên họ vẫn tiếp tục ca ngợi Chúa
Giê-su của họ cũng như ngày xưa, các tiên tri giả đã
được ca ngợi.
Dựa vào
những lời dạy trên của Giê-su, nền Thần học Ki Tô
Giáo giảng rằng đạo Giê-su là đạo của người nghèo
khổ, vì Chúa đã ban phúc cho những người nghèo. Tuy
nhiên, một câu hỏi được đặt ra là, tại sao Chúa lại
cần phải nguyền rủa người giàu? Một "lý luận" thần
học khác là, nghèo khổ là sự thử thách của Thiên
Chúa về lòng tin Thiên Chúa của con người. Lý luận
này hạ thấp Thiên Chúa xuống hàng một cái máy dò đức
tin (faith-detector). Thật ra thì, theo nhiều nhà
phân tích Thánh Kinh, những lời dạy trên bắt nguồn
từ những điều hoang tưởng và hi vọng của chính
Giê-su. Với những mặc cảm về thân phận của chính
mình: là một đứa con hoang, sinh ra trong sự nghèo
khổ của gia đình một ông thợ mộc đông con, ít nhất
là Joseph và Mary có 7 người con, do đó đời sống vật
chất khó khăn, cho nên Giê-su hi vọng rằng, cứ tin ở
Thiên Chúa thì có ngày Thiên Chúa sẽ đền bù xứng
đáng. Đây cũng chẳng phải là niềm tin riêng của
Giê-su mà là niềm tin của cả dân tộc Do Thái trong
tâm trạng bị bắt làm nô lệ, tù đầy. Cho nên, thông
điệp chính của Giê-su trong những lời giảng dạy trên
là suy diễn từ mơ ước và hi vọng của chính mình
thành những lời có mục đích khuyến khích những người
nghèo khổ hãy an phận nghèo khổ, giữ vũng niềm tin
vào Thiên Chúa thì Thiên Chúa sẽ cho hưởng phần
thưởng trên nước trời. Những lời dạy này không phải
là để tôn vinh người nghèo, vì trước Thiên Chúa, con
người tuyệt đối bình đẳng, vì cùng là tạo vật của
Thiên Chúa.
Tới đây, tôi nghĩ chắc quý độc giả đã thấy
rõ những tư tưởng của Giê-su thuộc loại nào, và tôi
thấy không cần phải tiếp tục phê bình dài dòng những
cái gọi là "lời hay ý đẹp" của Giê-su nữa. Những
lời hay ý đẹp của Giê-su thường được giảng theo luận
điệu thần học một chiều và trước đám tín đồ vốn lười
suy nghĩ và không bao giờ đọc đến Thánh Kinh. Những
mâu thuẫn và những điều phi lý, phản khoa học cũng
như những lời chứng tỏ đạo đức thấp kém của Giê su
tuyệt đối không bao giờ được các "thày giảng" nhắc
tới. Để cho quý độc giả tự mình nhận rõ thực chất
những lời giảng dạy của Giê-su hơn nữa, tôi xin
trích dẫn thêm vài tư tưởng của Giê-su từ Thánh
Kinh và chỉ ghi kèm một vài nhận định ngắn, nếu cần,
mà thôi.
(xem chú thích >>)
Các bài tôn giáo cùng tác giả