Toàn bộ : 0
1
2
3
4
5
6 7
8 9
10 11
--Giêsu đã giảng dạy những gì?
(tiếp theo)
Vậy thì,
Giê-su giảng dạy những gì?
Nhận định
sau đây của Joseph L. Daleiden trong cuốn The Final
Superstition, trg. 174, về cái gọi là giáo pháp của Giê-su
có thể giúp chúng ta nhìn rõ vấn đề một cách tổng quát:
Có rất
ít, nếu có, điều sáng tác độc đáo trong giáo pháp mà người ta
cho là của Giêsu. Giống như chính huyền thoại về Giêsu, những
quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những ngụ ngôn
và luân lý mà chúng ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai
Cập, Babylon, Ba Tư, Hi Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ... Một điều rõ
ràng: Ki Tô Giáo, một tôn giáo sinh sau đẻ muộn trong lịch sử
các tôn giáo, chỉ cóp nhặt (đạo văn) những quan điểm, ý kiến của
Do Thái Giáo và các tôn giáo gọi là dân gian. Trong cuốn
"Nguồn
Gốc Luân Lý Trong các Phúc Âm", Joseph McCabe (Một Linh
Mục Ca Tô. TCN) đã trích dẫn những quan điểm luân lý trong
Phúc Âm mà người ta cho là của Giêsu song song với những quan
điểm luân lý tương đương và y hệt của các tác giả Do Thái và
dân gian. 4
Thật vậy,
đọc Thánh Kinh và với một chút kiến thức về triết học và tôn
giáo, chúng ta có thể thấy rõ là nhận định của Daleiden không
phải là sai.
Bây giờ
chúng ta hãy đi vào chi tiết những lời giảng dạy của Giê su.
Trước
hết, chúng ta hãy xét đến những khẳng định về "cái Ta" của
Giê-su vì chính những khẳng định này đã được giáo hội khai thác
để cấy vào đầu tín đồ từ khi còn nhỏ, tạo nên một đức tin không
cần biết không cần hiểu. Vì "cái Ta" của Giê-su bắt nguồn từ
một tâm bệnh hoang tưởng như đã được chứng minh trong chương
trên, cho nên trong Tân Ước có rất nhiều "cái Ta" tự tôn
của Giê-su. Sau đây chỉ là vài trích dẫn những lời của Giê-su
trong Thánh Kinh với vài lời phân tích của tôi dựa trên lô-gic.
John 6:35:
Ta là thức ăn của đời sống. (I am the bread
of life)
John 8:12,
9:5: Ta là ánh sáng của thế gian (I am the
light of the world)
John 10: 11,
14: Ta là người chăn chiên chí thiện (I am
the good
shepherd)
John 11:25:
Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống (I am the
resurrection and the life)
John 14:6:
Ta là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (I am
the way, the truth, and the life)
John 10:30:
Ta với Cha Ta là một. (I and My Father are
one).
John 10:36:
Ta là Con Thiên Chúa (I am the Son of God).
John 12:49:
Ta không nói theo ý Ta; Chính người Cha sai
Ta xuống đây đã cho lệnh Ta phải nói những gì và
nói như thế nào. (I have not spoken on my own authority; the
Father who sent me has himself given me commandment what to say
and what to speak)
Những
khẳng định trên, và nhiều khẳng định khác về cái "Ta" của
Giê-su trong Tân Ước, rõ ràng là bắt nguồn từ một căn bệnh hoang
tưởng như chúng ta sẽ thấy trong phần phân tích sau đây. Đó
không phải là những lời dạy có tính cách giáo dục đạo lý. Trong
lịch sử nhân loại, chúng ta không hề thấy bất cứ một nhân vật
nổi danh nào như Đức Phật, Đức Khổng Tử, Lão Tử, Socrates v..v..
tự quảng cáo cho "cái Ta" của mình nhiều và hoang đường như
Giê-su. Hoang đường vì không phải là sự thật, vì mâu thuẫn, và
vì chúng trái ngược với con người thực của Giê-su như được mô tả
trong Thánh Kinh.
Những
"cái Ta" của Giê-su đã đặt trước chúng ta khá nhiều vấn đề, và
bắt buộc chúng ta phải có một sự chọn lựa dứt khoát, không thể
nhập nhằng.
Thật vậy,
Ta là Con Thiên Chúa khẳng định vai vế của Giê-su
đối với Thiên Chúa, và lẽ dĩ nhiên hoàn toàn mâu thuẫn với
Ta với Cha Ta là một. Dù chúng ta có nhắm mắt tin
bừa thuyết điên rồ toán học (mathematical insanity) Chúa Ba
Ngôi của giáo hội Ca-Tô đưa ra nhiều thế kỷ sau khi Giê-su đã
qua đời đi chăng nữa thì các câu trên cũng còn đưa tới vài vấn
đề khác. Thí dụ:
Chúng ta
hãy xét đến câu John 12: 49 ở trên: Ta không nói theo ý Ta;
Chính người Cha sai Ta xuống đây đã cho lệnh Ta phải nói những
gì và nói như thế nào.
Thứ nhất,
câu trên chứng tỏ Giê-su chỉ tự nhận, vì không có bất cứ bằng
chứng nào chứng tỏ đó là sự thật, là một sứ giả của Thiên Chúa,
được sai xuống trần để nói cho dân Do Thái, tuyệt đối không phải
cho dân Việt, những gì mà Thiên Chúa muốn nói. Điều này hoàn
toàn mâu thuẫn với lời tự nhận khác của Giê-su: John 10:30:
Ta với Cha Ta là một.
Thứ nhì,
nếu chúng ta chấp nhận câu John 12: 49 ở trên như là sự thực,
thì những lời Giê-su nói đều là những lời của Thiên Chúa. Mà
Thiên Chúa thì không thể sai lầm, vì Thiên Chúa, theo niềm tin
của các tín đồ Ki-Tô, là bậc toàn năng, nghĩa là làm gì cũng
được, và toàn trí, nghĩa là cái gì cũng biết, kể cả quá khứ vị
lai, hai thuộc tính của Thiên Chúa có tính cách loại trừ hỗ
tương (mutual exclusive), nghĩa là có cái này thì không thể có
cái kia, mà giáo hội đã thành công cấy vào đầu óc tín đồ từ khi
còn nhỏ, khi họ chưa phát triển về trí tuệ cũng như về thân
xác. Điều này khiến chúng ta bắt buộc phải chọn một trong hai
điều sau đây chứ không thể chọn cùng lúc cả hai.
1. Nếu những
lời Giê-su nói không hề sai lầm, đúng trong mọi thời đại, thì
vai trò Thiên Chúa của Giê-su có thể tạm chấp nhận được.
2. Nếu trong
những lời nói và hành động của Giê-su có những sai lầm thì
Giê-su không thể nào là Thiên Chúa.
Nhưng
Thánh Kinh lại chứng tỏ rằng Giê-su có rất nhiều sai lầm. Vậy
thực ra những lời nói của Giê-su cũng chỉ là những lời nói của
một người thường, với sự hiểu biết giới hạn của một người
thường, ở trình độ của một người dân thường trong vùng dân Do
Thái cách đây 2000 năm. Và như vậy, Giê-su đã phạm tội nói láo
và lừa dối, vì ông ta khẳng định rằng những lời nói của ông là
của Thiên Chúa không thể sai lầm. Kết luận: Giê-su chỉ có thể
đóng một trong hai vai trò: Thiên Chúa hay một người thường phạm
tội nói láo và lừa dối chứ không thể cùng lúc cả hai. Vậy vai
trò nào là vai trò đích thực của Giê-su?
Điều này
không khó, chúng ta chỉ cần mở Thánh Kinh ra đọc thì sẽ thấy
ngay. Chúng ta đã biết trong chương trên, bác sĩ Nguyễn Văn
Thọ cũng như học giả Rubem Alves, dựa trên Thánh Kinh, đều viết
rằng Giê-su tin và khẳng định rằng Moses (Môise) là tác giả của
Ngũ Kinh trong khi thực sự thì Moses không viết. Huyền thoại về
Moses được viết ra khoảng 3, 4 trăm năm sau khi Moses đã chết,
trong 2 phẩm Xuất Ê-Díp-Tô (Exodus) và Dân Số (Numbers). Đây là
kết quả nghiên cứu của những chuyên gia nghiên cứu Thánh Kinh mà
chính giáo hội Ca-Tô cũng phải chấp nhận. Bằng chứng? Tên các
vị Vua xứ Edom viết trong
Sáng Thế 36 là những vị Vua sống trong những thời kỳ sau khi
Moses đã chết từ lâu. Trong Phục Truyền 34 có kể cả chuyện
Moses chết ra làm sao, chẳng lẽ Moses lại tả chuyện chính mình
chết? Cho nên Moses không thể là tác giả của Ngũ Kinh. Vậy,
nếu Giê-su đã sai lầm về một sự kiện lịch sử nhỏ nhặt như trên,
không biết đến cả tác giả Ngũ Kinh là ai mà lại cho đó là
Moses, thì làm sao chúng ta có thể tin được những lời nói về
những chuyện trên trời, và nhất là những lời tự tôn của Giê-su,
cho mình chính là Thiên Chúa toàn năng, toàn trí, và những lời
đó chính là của Thiên Chúa? Kết luận, những câu khẳng định về
cái "Ta" của Giê-su chẳng qua cũng chỉ là những điều hoang tưởng
bệnh hoạn, không khác gì những hoang tưởng của David Koresh,
James Jones và vô số người khác trong thời đại này.
Thứ ba,
nếu Giê-su tự cho mình chính là Thiên Chúa, Thiên Chúa ở đây
phải hiểu là Thiên Chúa trong Cựu Ước, thì Giê-su lại bị kẹt
trong vấn đề đạo đức. Vì trong Cựu Ước, Thiên Chúa được mô tả
như một vị Thần chiến tranh, ác độc, ghen tuông, ưa ủng hộ dân
này chém giết dân kia. Thật vậy, Thiên Chúa trong Cựu Ước dạy
dân Israel của Ngài "Vậy các ngươi sẽ ăn cướp của người Ai
cập" (Exodus 3, 22: So you shall plunder the Egyptians) và
dân ngài đã tuân theo lệnh của Ngài như được kể trong
Xuất-Ê-Díp-Tô (Exodus) 12, 35-36; Ngài dạy Moses: "Hãy báo
thù dân Midian cho dân Israel" (Numbers 31, 2: Take
vengeance for the children of Israel on the Midianites), Moses
tuân lệnh dạy dân mình: "Các ngươi hãy mang binh khí đi đánh
dân Midian để trả thù cho Thiên Chúa" (Numbers 31, 3: So
Moses spoke to the people, saying, "Arm yourselves for the war,
and let them go against the Midianites to take vengeance for the
Lord); "và chúng giao chiến cùng dân Midian, đúng như lời
Chúa ra lệnh cho Moses, giết sạch mọi người Nam" (Numbers
31, 7: And they warred against the Midianites, just as the Lord
commanded Moses, and they killed all the males); "Và dân
Israel bắt tất cả đàn bà Midian, và con nhỏ của họ, và cướp hết
thảy súc vật, bày chiên, và của cải của họ. Chúng cũng đốt sạch
những thành phố, thành trì mà dân Midian ở. Và đem theo tất cả
đồ cướp được, người và súc vật" (Numbers 31, 9-11: And the
children of Israel took all
the women of Midian captive, with their little ones, and took as
spoil all their cattle, all their flocks, and all their goods.
They also burned with fire all the cities they dwelt, and all
their forts. And they took all the spoil and all the booty,
both of man and beast). Đọc tiếp những phần sau trong chương
Numbers này chúng ta thấy Moses còn ra lệnh cho thuộc hạ giết
hết đàn bà và con trai chỉ để lại trinh nữ. Sau đó là mục chia
chác những "chiến lợi phẩm", Thiên Chúa cũng có phần như sau:
675 con chiên, 72 con bò, 61 con lừa, và 32 trinh nữ. Một Thiên
Chúa như vậy có đáng để cho chúng ta kính trọng hay không, khoan
nói đến việc thờ phụng. Thờ phụng Thiên Chúa hay thờ phụng
Giê-su thì cũng chẳng khác gì nhau vì Giê-su đã khẳng định ông
chính là Thiên Chúa. Phải chăng vì vậy mà Giám Mục John Shelby
Spong đã thú nhận: Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện
với quá nhiều vấn đề hơn là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một
Thiên Chúa mà tôi không thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.
(xin đọc Chương I, trang 84 ở trên.)
Như
trên đã nói, trong Thánh Kinh có nhiều chuyện chứng tỏ
Giê-su sai lầm. Sau đây là một chuyện điển hình: chuyện Giê-su
nguyền rủa cây sung.
Ông Đỗ
Mạnh Tri, một trí thức Ca-Tô, kể chuyện này trong cuốn Ngón
Tay Và Mặt Trăng như sau:
-Matthêu 21, 18-21: Sáng sớm, khi trở vào thành, Ngài cảm thấy
đói. Trông thấy cây vả bên đường. Người lại gần nhưng không tìm
được gì cả, chỉ thấy lá thôi. Nên Người nói: "Từ nay, không bao
giờ mày có trái nữa!" Cây vả chết khô ngay lập tức. Thấy vậy,
các môn đệ ngạc nhiên nói: "Sao cây vả lại chết ngay lập tức như
thế?" Đức Giêsu trả lời: "Thầy bảo thật anh em. nếu anh em tin
và không chút nghi nan, thì chẳng những anh em làm được điều
thầy làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có thể bảo núi này: Dời
chỗ đi, nhào xuống biển! thì sự việc sẽ xảy ra như thế."
Rồi ông bình luận và chê triết gia và nhà toán học nổi
tiếng hoàn cầu trong thế kỷ 20, Bertrand Russell, là không biết
đọc Thánh Kinh như sau:
"Chẳng cần phải là nhà Kinh Thánh học ta cũng biết rằng
đây là một lối giảng dạy bằng dụ ngôn, bằng tác động. (...) Đọc
dụ ngôn mà không biết uyển chuyển đôi chút, thật sự đáng tiếc
nơi một con người đặt nặng vấn đề ngôn ngữ như B. Russell."
Ông Đỗ Mạnh Tri đã thiếu lương thiện trí thức, trích dẫn
thiếu sót Thánh Kinh, bỏ đi đoạn trên nói về đầu đuôi câu chuyện
dẫn đến chuyện cây sung. Đoạn trên đó như sau:
"Thế rồi, khi Giêsu và các môn đồ tới Jerusalem, và tới
làng Bethphage ở gần núi Olives, Giêsu sai hai môn đồ đi trước
vào làng.....
...Giêsu đi thẳng vào đền thờ, đuổi hết những người mua bán
ra ngoài, lật đổ bàn của những kẻ đổi tiền, và ghế của những kẻ
bán chim bồ câu....
Rồi Giêsu bỏ họ, ra khỏi Jerusalem, về trọ tại làng Bethphage
đêm ấy."
Và chuyện cây sung bắt đầu: Sáng hôm sau, trên đường
trở vào thành phố, Ngài thấy đói bụng....
Chúng ta thấy ngay rằng, thật ra, chỉ những người đã bị nhồi
sọ một chiều từ khi còn nhỏ, hoặc có đầu mà không có óc, mới có
thể cho câu chuyện cây sung ở trên là "một lối giảng dạy bằng dụ
ngôn". Một dụ ngôn thường là một câu chuyện về những nhân vật
không dính dáng gì tới người đang kể chuyện hay những người đang
nghe, và có tính cách giáo dục, luân lý. Ở đây, Matthew kể
chuyện về một nhân vật Giê-su có thật, mới chết trước khi
Matthew viết Phúc Âm Matthew khoảng 3, 40 năm, và câu chuyện có
đầu có đuôi hẳn hoi. Mặt khác, ông Đỗ Mạnh Tri cũng không cho
độc giả biết cái mà ông Tri cho là dụ ngôn của Chúa trong chuyện
nguyền rủa cây sung dạy về cái gì? Luân lý, đạo đức, cách xử
thế đối với chúng sinh? Tất cả đều không phải. Câu chuyện về
cây sung chẳng phải là một "dụ ngôn" mà đã nói rõ một điều: ai
có lòng tin vào Thiên Chúa thì có thể làm được như Giêsu, nghĩa
là có thể nguyền rủa cho một cái cây chết héo queo ngay lập tức,
ngoài ra còn có khả năng bảo núi chuyển là núi tự động bò xuống
biển? Hay nói cách khác, ai tin vào Giê-su thì có thể làm được
bất cứ cái gì mà mình muốn.
Chỉ có điều, trong 2000 năm nay, người tin Giêsu thì rất
nhiều, trong đó có các giáo hoàng tự xưng là đại diện của Giê-su
trên trần (Vicars of Christ), và tất nhiên có ông Đỗ Mạnh Tri,
nhưng nhân loại chưa thấy ai làm được những chuyện này. Vậy
phải chăng những lời của Giê-su trong "dụ ngôn" về cây sung
chẳng qua chỉ là những lời hứa hẹn hoang đường, vô trách nhiệm,
và chỉ có những người không đội trời chung với lý trí, với suy
luận v..v.. mới có thể tin vào những lời hứa hão của Giê-su.
Cũng vì vậy mà các chuyên gia phân tích Thánh Kinh kết luận
rằng: hành động của Giê-su trong câu chuyện về cây sung (hay cây
vả) chứng tỏ Giê-su đã vấp phải 4 sai lầm về kiến thức cũng như
về đạo đức cùng một lúc:
1)
Không biết là trong mùa đó cây sung không thể có trái, nghĩa là
thiếu kiến thức về mùa màng, cây cỏ.
2)
Hủy diệt vô lý vĩnh viễn một cây ra trái ăn được.
3)
Dễ nổi nóng, nổi quạu khi bị phật ý.
4)
Lừa dối các môn đồ bằng những lời hứa hẹn hoang đường: chỉ cần
có lòng tin là có thể thay đổi tình trạng vật chất thiên nhiên
bằng lời nguyền rủa hay ra lệnh.
Nhưng vấn đề chính trong chuyện cây sung là, một chi tiết
trong đó đã đương nhiên bác bỏ khả năng làm phép lạ của Giê-su
như đi trên sóng, biến 1 ổ bánh mì thành 100 ổ bánh mì, biến
nước thành rượu v..v.. Ngài là Thiên Chúa mà sáng ra Ngài lại
đói như người thường. Tại sao Ngài lại không biến cục đá ngoài
đường thành bánh mì để Ngài ăn cho đỡ đói mà lại hi vọng vào vài
quả sung lúc trái mùa? Để rồi Ngài phải nổi quạu và nguyền rủa
cây sung một cách phi lý? Ấy thế mà các tín đồ có đầu nhưng
không có óc vẫn tin rằng Ngài quả là Thiên Chúa "lòng lành vô
cùng" và có khả năng làm nhiều phép lạ.
Như chúng ta sẽ thấy, nhiều bằng chứng ngay trong Thánh
Kinh chứng tỏ Giê-su có đầy dẫy những sai lầm và có một kiến
thức rất giới hạn, tính tình dễ nổi nóng một cách bất thường
v..v.. Vậy chúng ta có thể chấp nhận những lời tự tôn của Giê-su
như "Ta với Cha Ta là một"
hay "Ta là Con Thiên Chúa", "Ta là con đường, là sự thật, là
sự sống" v..v.. được hay không? Trong chương trên, tôi đã
trình bày kết luận của nhiều học giả: Giê-su chỉ là một người
thường, không hơn không kém, khoan kể là kiến thức và đạo đức
của Giê-su không có gì đặc biệt, nếu không muốn nói là thấp kém
so với rất nhiều nhân vật trong lịch sử thế gian. Vậy mà Giê-su
dám tự nhận:
John 8,
12: Ta là ánh sáng của thế gian. (I am the light of the
world).
Ánh sáng
gì của thế gian? Ánh sáng soi sáng trí tuệ và đạo đức con
người? Tuyệt đối không phải. Đó là ánh sáng, thật ra là sự u
tối, của một đức tin mù quáng, không cần biết, không cần hiểu.
Lịch sử thế gian cho thấy, vì tin vào "ánh sáng thế gian" của
Giê-su, Ca-Tô giáo Rô-Ma đã chìm đắm trong bóng tối dày đặc của
2000 năm đầy tội ác và vẫn còn đang tiếp tục mưu toan lùa nhân
loại vào cảnh tối tăm nô lệ cho một định chế thế tục độc tài
tham lam vô độ mang danh nghĩa tôn giáo.
Trước khi
đi vào chính những lời của Giê-su trong Thánh Kinh để tìm hiểu
vấn đề Giê-su giảng dạy những gì, tôi hi vọng độc giả nhận thức
rõ một điều. Giới chăn chiên trong giáo hội Ca-Tô thường trích
dẫn những điều vụn vặt trong Tân Ước mà họ cho đó là những lời
hay ý đẹp của Giê-su để giảng dạy cho tín đồ, phần lớn những lời
này thuộc loại khẳng định tự tôn, với mục đích đề cao, thần
thánh hóa Giê-su trước đám tín đồ vốn không bao giờ đọc Thánh
Kinh và cũng không đủ trình độ để phân biệt chân giả. Họ không
bao giờ đưa ra những câu chứng tỏ "lời nói không đi đôi với việc
làm" của Giê-su. Thực chất của Giê-su là chỉ nói ngon nói ngọt
ngoài miệng, còn những hành động của Giê-su thì không bao giờ
làm theo lời nói, trái lại còn trái ngược hẳn với những lời nói
của mình. Do đó Giám Mục Spong đã phải đưa ra một nhận định:
"Có nhiều bằng chứng trong Thánh Kinh chứng tỏ Giê-su ở Nazareth
là con người thiển cận, đầy thù hận, và ngay cả đạo đức giả"
(xin đọc Chương I, trang 84). Chứng minh?
1.
Chúa Giê-su dạy: " Hãy lấy cây sà trong mắt ngươi ra trước
rồi hãy lấy cây kim trong mắt người khác ra sau. Đừng phê phán
ai để ngươi cũng không bị phê phán." nhưng rồi chính ông lại
đi phê phán người khác: Matthew 23: 13: Khốn cho giới dạy
luật và Biệt Lập, hạng đạo đức giả; Matthew 23:15: Khốn
cho các ông, hạng giả nhân giả nghĩa; Matthew 23: 16:
Khốn cho các ông, hạng lãnh đạo mù quáng và còn nhiều lời
phê phán tương tự khác đầy dãy trong Tân Ước.
Vậy trước
khi phê phán họ, Chúa Giê-su đã lấy cây sà trong mắt mình ra
chưa?
2.
Chúa Giê-su dạy môn đồ "phải yêu kẻ thù và cầu nguyện
cho người khủng bố hành hạ các con" (Matthew 5: 44), nhưng
chính Giê-su thì lại hành động ngược lại:
Giê-su
phán, Matthew 12:30: Kẻ nào không theo ta, ở với ta, là
chống đối ta., và coi những người không tin và tuân phục
Giê-su là kẻ thù và dạy môn đồ:
Luke
19:27 : Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những
người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước
mặt Ta.
3. Chúa Giê-su dạy: "Người
nào nguyền rủa anh em sẽ bị xuống hỏa ngục" (Matthew 5:
22) nhưng chính Giê- su
lại đi
nguyền rủa những người không chịu theo Giê-su:
Luke 8:
24: Nếu ngươi không tin ta là con Thượng Đế, ngươi sẽ chết
trong tội lỗi của ngươi.
Matthew
12: 34: Ôi thế hệ của những loài rắn độc, ác như các
ngươi làm sao có thể nói những lời tốt lành?
Matthew
23: 33: Ngươi là loài rắn, ngươi là thế hệ của những rắn độc,
làm sao các ngươi thoát khỏi hỏa ngục?
Vậy bây
giờ Chúa Giê-su đang ở đâu? Dưới hỏa ngục hay trên thiên đường?
4.
Chúa Giê-su dạy, Matthew 23: 11-12: Các con càng khiêm tốn
phục vụ người thì càng được tôn trọng... Ai tự đề cao sẽ bị hạ
thấp, ai khiêm tốn hạ mình sẽ được nâng cao, nhưng chính
Chúa lại tự tôn một cách quá cống cao ngã mạn như trong những
câu tôi đã trích dẫn ở trên. Cái tính khiêm tốn mà Giê-su dạy
các môn đồ, Giê-su để vào đâu mà lại đưa ra những lời tự nhận
quá huênh hoang như trên?
Nói tóm
lại, khi tìm hiểu về thực chất con người của Giê-su, chúng ta
cần giữ thái độ: "Đừng tin những gì các Linh mục nói về
Giê-su trong các nhà thờ, mà hãy nhìn kỹ những gì Giê-su nói và
làm trong Thánh Kinh". Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể
có những nhận định trung thực và chính xác về Giê-su, do đó
tránh được những sự mê hoặc của những luận điệu thần học về
những thuộc tính thần thánh của Giê-su, một nền thần học của
giới giáo sĩ đưa ra, chỉ cốt để tự tạo quyền lực thế gian trên
đám tín đồ thấp kém, khai thác sự yếu kém tinh thần và lòng mê
tín cả tin của họ.
Đi sâu
vào vấn đề, xét về mặt trí tuệ cũng như đạo đức thì nhiều chuyện
trong Tân Ước chứng tỏ tư cách của Giê-su còn kém cả nhiều người
thường nữa. Điều này chúng ta có thể chứng minh dễ dàng qua sự
phân tích những lời và hành động của Giê-su trong Tân ước. Tôi
cũng xin độc giả nhớ cho rằng, hầu hết những "lời giảng dạy" của
Giê-su là những khẳng định hoang đường vô căn cứ phản ánh những
niềm tin của người Do Thái trong bối cảnh lịch sử và xã hội của
dân tộc Do Thái cách đây 2000 năm. Cho nên ngày nay, tuyệt đại
đa số các bậc thức giả đã bác bỏ những khẳng định này, như tôi
sẽ chứng minh trong các phần sau.
Để độc
giả có một nhận định rõ ràng về vấn đề "Giê-su giảng dạy những
gì?", tôi xin xếp những lời của Giê-su trong Tân Ước theo hai
chủ đề chính: gia đình và quốc gia. Sau đó tôi sẽ bàn đến "Bài
Giảng Trên Núi". Ngoài ra, để cho đầy đủ hơn tôi sẽ đưa ra một
số những lời lặt vặt khác của Giê-su ở trong Tân Ước để quý độc
giả thấy rõ con người lịch sử Giê-su là con người như thế nào.
1. Giê-su Và
Gia Đình:
Gia đình
là nền tảng của xã hội. Không ai có thể phủ nhận là ảnh hưởng
tư tưởng Khổng Giáo đã thấm nhuần vào xã hội Việt Nam với phương châm "Tu thân, tề gia,
trị quốc, bình thiên hạ". Do đó, về "tề gia" thì người Việt Nam rất coi trọng về hiếu đễ với cha
mẹ, thờ cúng tổ tiên, tình nghĩa vợ chồng, bổn phận giữa cha mẹ
và con cái và giữa anh chị em trong nhà. Trong văn học bình dân
có nhiều câu dạy con người từ khi còn nhỏ phải biết đến ơn cha
nghĩa mẹ. Điển hình là hai câu: "Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra." dạy đạo làm con cần
phải hiếu kính cha mẹ. Phật Giáo cũng coi trọng chữ hiếu. Đức
Phật đã chẳng dạy rằng: "hiếu kính với cha mẹ hiện tiền chính
là hiếu kính với Phật" hay sao? Tục lệ thờ cúng tổ tiên,
ông bà, cha mẹ của người dân Việt cũng chỉ nói lên lòng hiếu
kính của con người đối với các bậc đã sinh thành ra mình. Nhưng
khi Ca-Tô Giáo Rô-ma du nhập Việt Nam thì tôn giáo này, với quan
niệm vô gia đình vô tổ quốc, chỉ biết đến Chúa v..v.. đã biến
những tín đồ tân tòng thành lớp người vô tổ quốc, vô chính phủ,
vô gia đình, vô tổ tiên. Họ chỉ có một tổ quốc: đó là nước
Chúa, thật ra chỉ là nước Vatican vì có ai biết nước Chúa ở đâu
đâu?; một chính phủ: đó là hệ thống quyền lực của giáo hoàng vì
họ được giáo hội dạy rằng thần quyền đứng trên thế quyền, giáo
hoàng là "đại diện của Chúa" trên trần, và các linh mục là "cha
cũng như Chúa" v..v..; một gia đình: đó là gia đình những người
theo đạo; và một tổ tiên: đó là ông Adam và bà Eve trong huyền
thoại sáng tạo cổ xưa của Do Thái. Cho nên các tín đồ tân tòng
Việt Nam đã mù quáng dẹp bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ vào xó
trong hơn 400 năm, kể từ 1533, cho tới gần đây, vì trước sự tiến
bộ của nhân loại, để giữ tín đồ, giáo hội đã bắt buộc phải cởi
trói, cho phép giáo dân được thờ cúng ông bà tổ tiên, cho nên họ
mới lác đác trở lại thờ cúng tổ tiên. Họ thường tự biện rằng
ngày nay họ đã thờ cúng tổ tiên trở lại, hay ăn giỗ ăn Tết, và
do đó Ca-Tô giáo cũng có tinh thần dân tộc. Nhưng điều này lại
nói rõ hơn gì hết cái tinh thần nô lệ Vatican của họ, vì chuyện
thờ cúng tổ tiên không phải là họ tự động trở lại với truyền
thống dân tộc mà chỉ là họ được Vatican cho phép sau Công Đồng
Vatican II. Tại sao trong hơn 400 năm họ không hề có thái độ gì
đối với lệnh cấm thờ cúng tổ tiên của
Vatican? Tại sao họ phải nhắm mắt
tuân theo cái lý thuyết thần học quái gở của Ca-Tô Giáo:
không được thờ cúng tổ tiên?
Các tín
đồ Ca-Tô thường nhắc đến câu Giêsu dạy "Phải hiếu kính với
cha mẹ.." (Matthew 19: 19: Honor your father and your
mother..) làm như đó là đạo lý đặc thù của Ki Tô Giáo, chỉ mình
Ki Tô Giáo có mà thôi. Nhưng vì không đọc Thánh Kinh nên họ
không biết rằng, trong thực tế, hành động của Giê-su lại trái
ngược hẳn lại, không có gì có thể gọi là hiếu kính với cha mẹ
hay có tình nghĩa với gia đình. Qua những chuyện viết trong
Thánh Kinh, chúng ta không thể nghĩ khác hơn là: những thái độ
và hành động hỗn hào bất kính với cha mẹ, vô tình vô nghĩa với
gia đình, là những thuộc tính đặc thù của Chúa Ki-Tô.
Thật vậy,
đọc Thánh Kinh chúng ta thấy Giê-su không coi gia đình ra gì,
có lẽ vì ông ta có mặc cảm với cái thân thế bất minh, là đứa con
hoang của mẹ mình. Trong nhiều trường hợp ông ta còn để lộ thái
độ thù ghét gia đình. Trước hết, chúng ta hãy xem cách đối xử
của ông ta với chính mẹ mình.
Trong các
Phúc Âm, chúng ta không bao giờ thấy Giê-su gọi mẹ mình, bà
Maria, là "Mẹ". Trong bản Thánh Kinh của Vua James (King James
Version), cuốn Thánh Kinh được chấp nhận rộng rãi và dùng trong
nhiều thế kỷ cho đến tận ngày nay, từ mà Giê-su dùng để gọi bà
Maria là "Người đàn bà kia" (Woman), một cách gọi xách mé
hỗn xược. Thật là tội nghiệp cho bà Maria. Đây không phải là
điều khó hiểu. Vì phân tích những lời hỗn hào của Giê-su đối
với mẹ và gia đình trong nhiều trường hợp được viết trong Thánh
Kinh, một số học giả đã cho rằng, đúng là Giê-su có cái mặc cảm
của một đứa con hoang, bị thiên hạ khinh khi đàm tiếu cho nên
hận gia đình, hận mẹ, hận thân phận nghèo khó của mình v..v..
kết thành những thái độ và lời nói với mẹ và gia đình như vậy.
Ngoài ra, chính gia đình của Giê-su gồm có cha, mẹ (Joseph và
Maria) và các em trai, em gái của Giê-su cũng không tin Giê-su
là đấng cứu tinh của dân tộc Do Thái, đôi khi còn cho ông ta là
không có đầu óc bình thường nếu không muốn nói là điên (out of
his mind), cho nên thái độ của Giê-su đối với gia đình rất
là hỗn hào, xấc láo.
Chúng ta
chắc ai cũng đã biết chuyện sau đây được kể trong Thánh Kinh:
Nhân ngày lễ vượt qua, vợ chồng Joseph, Mary và Giê-su, khi đó
mới 12 tuổi, cùng đến Jerusalem. Sau ngày lễ thì hai vợ chồng
Joseph thấy biến mất ông con. Tưởng rằng ông con đã đi cùng bạn
bè đi về nhà nên ông bà cũng trở về nhà. Nhưng đi suốt cả ngày
cũng không thấy Giê-su đâu, lúc bấy giờ mới hỏi thăm và đi tìm
Giê-su. Hai ông bà quay trở lại Jerusalem và ba ngày sau
thì thấy Giê-su đang ngồi đối đáp với mấy thầy thông thái trong
một đền thờ. Sau đây là những lời qua lại giữa bà Mary và ông
con Giê-su, Lu-Ca (Luke) 2 : 48 -50:
Khi cha
mẹ thấy Ngài, thì lấy làm lạ, và mẹ hỏi rằng: Hỡi con, sao con
làm cho hai ta thế này? Này, cha và mẹ đã khó nhọc lắm mà tìm
con. Ngài trả lời: Các người kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết
tôi phải lo việc Cha tôi hay sao? Nhưng hai người không hiểu
lời ngài nói chi hết.
Quý vị có
thấy một đứa bé 12 tuổi nào hỗn hào với cha mẹ như vậy chưa, trừ
phi nó là một nghiệp chướng của một gia đình vô phúc. Trước hết
nó ở lại Jerusalem một mình mà
không hề xin phép cha mẹ. Sau đó khi cha mẹ tìm được nó, trách
nó, thì nó lại sẵng giọng cùng cha mẹ và hỏi họ kiếm nó làm
chi? Nhưng câu chót “Nhưng hai người không hiểu lời ngài nói
chi hết” đã chứng minh rằng cả Joseph và Mary đều biết,
nhất là Mary, người biết rõ hơn ai hết ai là cha thực của
Giê-su, rằng Giê-su không phải là ân sủng đặc biệt của Thiên
Chúa, không phải là con của Chúa Thánh Thần, không phải là Chúa
Cứu Thế v..v.. cho nên mới không hiểu Giê-su nói gì khi Giê-su
nói là đang lo việc của Cha, nghĩa là việc của Chúa Cha alias
Thần Gia-vê của Do Thái.
Chuyện
cha mẹ lo lắng cho con là chuyện tự nhiên, nhưng chuyện “Chúa
tôi” đối đáp với cha mẹ như vậy thì quả thật là đặc biệt, hiếm
có trên thế gian, và ít ra là không hợp với nền luân lý của Việt
Nam.
Chúng ta
cũng biết, trong Tân Ước, ngoài trường hợp hỗn hào với bố mẹ khi
Giê-su 12 tuổi ở trên, chỉ có hai trường hợp khác Giê-su trực
tiếp nói cùng bà Maria, và cả trong hai trường hợp đó Giê-su đều
gọi mẹ là "Người đàn bà kia". Trường hợp thứ nhất, John
2: 1-4 kể rằng: Trong một tiệc cưới có cả hai mẹ con Mary và
Giê-su dự, khi rượu hết bà Mary đến nói với Giê-su là "Họ đã
hết rượu rồi". Giê-su trả lời bà như sau: "Người đàn bà
kia! Sự quan tâm của bà thì có liên can gì tới Ta? Giờ của Ta
còn chưa tới" (Woman, what does your concern have to do with
Me? My hour has not yet come). Giờ gì? Đọc tiếp Thánh Kinh
chúng ta mới thấy rằng đó là giờ Giê-su trổ tài làm phép lạ,
biến 6 vại nước thành rượu. Kinh Thánh tiếng Việt của American
Bible Societies xuất bản năm 1998 dịch đoạn trên như sau:
"Hỡi đàn bà kia, Ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ Ta chưa đến".
[Gần đây, con chiên Việt Nam dịch láo “woman” là “thưa mẹ” để
đánh bóng Giê-su] Đó là câu nói "hiếu kính với cha mẹ" của
"Chúa tôi" của những tín đồ Ca-Tô Việt Nam. Vậy họ còn đợi gì
mà không noi gương Chúa, đối xử với cha mẹ như Chúa?
Trường
hợp thứ hai là khi Giê-su đã bị đóng đinh trên thập giá, đang
hấp hối sắp chết. John 19: 26 kể rằng: Chúa Giê-su thấy mẹ
mình, và một môn đồ Ngài yêu đứng gần người, thì nói cùng mẹ
rằng: "Người đàn bà kia, đó là con của ngươi.." (When
Jesus therefore saw His mother, and the disciple whom he loved
standing by, He said to His mother: "Woman, behold your son!")
Chúng ta
nên để ý là Giê-su đã dùng cùng danh từ "Người đàn bà kia"
(Woman) để gọi một người đàn bà từ xứ Canaan đến xin chữa bệnh
cho con gái mà mới đầu Giê-su không chịu chữa mà còn gọi người
ta là chó vì không phải là dân Do Thái, và một người đàn bà khác
can tội tà dâm (John 8:10, Matthew 15:28). Ngoài ra, Matthew
12:48 cũng còn kể: Trong khi Giê-su đang đứng giữa đám đông,
Bà Mary và các em trai của Giê-su đến và nhờ người nhắn với
Giê-su là Mẹ và các em đang ở phía ngoài muốn gặp Giê-su thì
Giê-su sẵng giọng nói: "Ai là mẹ Ta? Ai là các em Ta?"
(Who is my mother? and who are my brothers?).
Giê-su
ghét gia đình là chuyện của ông ta, nhưng ông ta lại muốn những
kẻ theo ông cũng phải ghét gia đình của họ như ông ta đã ghét
gia đình mình. Do đó ông ta đã dạy các môn đồ như sau:
Luke 14,
26: Nếu kẻ nào đến với ta mà không "căm ghét" cha mẹ, vợ
con, anh chị em, và ngay cả đời sống của hắn, thì hắn không thể
là môn đồ của Ta. (If anyone who comes to me and does not
hate his father and mother, wife and children, brothers and
sisters, yes, and his life also, he cannot be My disciples.)
Theo
Gene Kasmar trong cuốn Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu
Trong Thánh Kinh (All The Obscenities in the Bible), trang
359, thì chữ "căm ghét" là dịch từ tiếng Hi Lạp (Thánh Kinh gốc
viết bằng tiếng Hi Lạp) "miseo", có nghĩa là ghét tởm và khinh
khi (detest and despise).
Và khi
một đệ tử của Giê-su nói, Matthew 8: 21-22: “Xin để con đi
chôn cất cha con xong con sẽ đi theo Ngài" Giê-su trả lời:
"Hãy đi theo ta ngay, hãy để cho người chết lo mai táng người
chết của họ.
Tôi cảm
thấy quá tội nghiệp cho những tín đồ Ki-Tô Việt
Nam, Ca-Tô cũng như Tin Lành. Họ
trông ngóng gì ở con người đối xử với mẹ và gia đình như trên?
Một con người tư cách như vậy có đáng để cho họ thờ phụng hay
không? Tại sao họ vẫn còn ham hố một sự "cứu rỗi" hoang đường,
giả tưởng từ một con người tư cách đạo đức đáng chê trách như
vậy? Bởi vì từ khi sinh ra đời họ đã bị lừa dối bởi những xảo
thuật nhồi sọ tinh vi của giáo hội qua vai trò "chăn dắt con
chiên" của những giám mục, linh mục, với sự phụ giúp vô tình và
bắt nguồn từ vô minh của các bậc cha mẹ, tất cả vốn cũng đã bị
nhồi sọ như họ từ khi còn nhỏ.
Tại sao
"Chúa" Giê-su lại có những hành động đối với gia đình như vậy?
Tân Ước, Matthew 10: 34-36, đã viết rõ, Giê-su khẳng định:
Đừng
tưởng rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta
không xuống đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì Ta
xuống đây để làm cho con chống lại cha, con gái chống lại mẹ,
con dâu chống lại mẹ chồng, và kẻ thù của con người ở ngay trong
nhà hắn.
Và Lưu-Ca 12: 51-53 cũng xác
định lại khẳng định của Giê-su như sau:
Đừng
tưởng Ta đến để đem hòa bình cho thế giới. Không, Ta đến để
chia loài người làm hai. Từ đây, một nhà có năm người sẽ chia
rẽ chống đối nhau: hai chống ba, và ba chống hai. Mâu thuẫn sẽ
diễn ra giữa con trai với cha, con gái với mẹ, con dâu với mẹ
chồng.
Qua những
quan niệm và cách hành xử đối với gia đình như tôi vừa trích dẫn
từ "Thánh Kinh" ở trên, Giê-su đã tự mình "làm gương" cho những
người theo ông. Và lịch sử cũng đã chứng tỏ, Ki Tô Giáo đi đến
đâu cũng làm cho gia đình, xã hội chia rẽ chống lại nhau một khi
trong gia đình, trong xã hội, có những con người tân tòng mù
quáng tin vào Giê-su mà không biết gì về thực chất con người của
Giê-su, và nhất là tin vào những giáo lý vô tổ quốc, phản dân
tộc, vô gia đình, vô tổ tiên v..v.. của giáo hội Ca-Tô. Tất cả
chỉ vì mù quáng tin vào những lời giảng dạy của giới chăn chiên
trong giáo hội, dựa theo một nền Thần học ngụy tạo, lạc dẫn.
Kinh
nghiệm Việt Nam
từ khi khi đạo "Chúa" bắt đầu du nhập đã cho chúng ta thấy rõ
điều này qua những sự kiện, bằng chứng lịch sử (Xin đọc Chương
VIII trong cuốn Công Giáo Chính Sử của Trần Chung Ngọc
viết về Công Giáo Việt
Nam).
Nhận xét
về những tác hại mà Ki Tô Giáo đã mang đến cho nhân loại trong
vấn đề chia rẽ trong gia đình, quốc gia, và dân tộc, học giả
Ca-Tô Joseph L. Daleiden đã đưa ra một nhận định về lời phán
trên của Giê-su trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final
Superstition), trang 177, như sau:
Thảm
thay, đây là một trong vài hứa hẹn mà lịch sử chứng tỏ là Giê-su
đã thành công thực hiện. 5
(xem chú thích >>)
Các bài tôn giáo cùng tác giả
|