KẾT LUẬN
Joshua
hay theo tiếng Hi Lạp, Jesus (Giê-su), có nghĩa là "cứu tinh"
(savior). Nhiều người có tên như vậy ở miền Trung Đông trước khi
Giê-su của Ki Tô Giáo sinh ra đời.
Niềm tin
trong Ki Tô Giáo là, một trong số rất nhiều người mang tên
Giê-su, Giê-su của Ki Tô Giáo, thực sự là Đấng Cứu Thế (Savior
of the World). Và chính vì lý do này mà Tây phương đã chia lịch
sử loài người ra làm hai: trước và sau ngày sinh của Giê-su, tuy
rằng không ai biết ngày sinh của Giê-su là ngày nào, và trước
khi Giê-su sinh ra đời thì lịch sử loài người đã diễn tiến ít ra
là trong vài triệu năm.
Hàng
triệu người trên thế giới ngày nay vẫn tin Giê-su là Đấng Cứu
Thế. Đối với họ, ông ta là hiện thân của Thượng đế, xuống đầu
thai trong một trinh nữ, và sinh ra trong một chuồng súc vật ở
Bethlehem
để cứu vớt tội lỗi của nhân loại. Tự nhận là Con Thượng Đế
trước một nhóm nhỏ 12 tín đồ, ông ta thuyết giảng về một nước
Trời hay nước Chúa. Nhưng những lời thuyết giảng này không cứu
được một ai. Con người không thể được cứu trừ phi có người hi
sinh trả giá để chuộc cái "tội tổ tông" cho họ. Cái giá này là
sự hi sinh vĩ đại của Giê-su, chịu một cái chết đau khổ bị đóng
đinh trên thập giá. Ba ngày sau, để chứng tỏ sự chiến thắng của
mình trên tội lỗi và thần chết, Giê-su đã tự mình sống lại, hiện
thân trước vài tông đồ, rồi bay trở lại lên trời ngồi trên ngai,
bên phải Thượng đế. Đến ngày tận thế, Giê-su sẽ trở lại trần
để phán xét người sống cũng như người chết, làm cho xác chết
sống lại, quyết định xem những ai xứng đáng được hưởng đời sống
đời đời bên ông ở trên thiên đường, những người tin ông, và
những ai bị luận phạt, phải đầy đọa vĩnh viễn dưới hỏa ngục,
những người không tin ông.
Đó là đại
cương đức tin trong Ki-Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành. Đức
tin này được xây dựng trên quan niệm về "tội tổ tông" (original
sin) và huyền thoại "Giê-su sống lại" của Thánh Phao-Lồ (Paul),
dẫn đến vai trò "cứu rỗi" của Giê-su. Đối với người ngoại đạo,
đức tin trên vừa làm cho họ lắc đầu mỉm cười, vừa là một thách
đố trí tuệ đối với họ, vì họ không thể nào hiểu nổi tại sao
trong thời buổi này mà, không kể hàng triệu người thuộc lớp dân
kém hiểu biết và ít học nhất trong mọi nước trên thế giới, nhất
là trong những nước nghèo khổ kém phát triển, vẫn có những người
tự xếp mình vào giới trí thức còn tin như vậy.
Họ không
thể hiểu vì trước những bằng chứng khoa học về nguồn gốc con
người và vũ trụ mà không ai có thể phủ nhận, kể cả Tòa Thánh
Vatican, thuyết Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài
trong 6 ngày cách đây khoảng 6000 năm, cũng như vai trò "cứu
rỗi" của Giê-su, đã trở thành vô nghĩa, ít ra là trong giới hiểu
biết, ở trong cũng như ở ngoài Ki Tô Giáo.
Ngày nay,
không ai có thể phủ nhận sự kiện là, vũ trụ đã thành hình cách
đây khoảng 15 tỷ năm, và trái đất mà chúng ta sống trên đó đã có
tuổi khoảng 4 tỷ rưỡi năm. Trong vũ trụ thì trái đất của chúng
ta chỉ là một hạt bụi, và con người cũng chỉ do các sinh thể ban
khai tiến hóa tạo thành, có nguồn gốc từ những hạt bụi của các
ngôi sao khi vũ trụ mới thành hình. Là một chuyên gia về thiên
văn học tại đại học Virginia, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết
trong cuốn L'Infini Dans La Paume de la Main: "Tiến
hóa từ những cát bụi của những ngôi sao, chúng ta chia sẻ cùng
một lịch sử vũ trụ với những con sư tử trong những vùng hoang
mạc và những bông hoa tỏa mùi thơm" (Poussières d'étoiles,
nous partageons la même histoire cosmique avec les lions des
savanes et les fleurs de lavande). Những khám phá trong các
ngành khoa học, đặc biệt là những môn Cổ Sinh Vật Học, Sinh Học,
Vật Lý.. đã chứng minh rằng con người hiện đại đã xuất hiện trên
trái đất cách đây hơn 2 triệu năm, và tổ tiên loài người, kể từ
các con vượn người (nhân hầu) cũng đã có mặt trên trái đất cách
đây khoảng 6 triệu năm.
Nói tóm
lại, thuyết tổ tiên loài người là Adam và Eve do Thiên Chúa tạo
ra từ đất sét (Thiên Chúa không biết rằng trong đất sét không có
chất hữu cơ và con người thì phần lớn lại là những chất hữu cơ)
chỉ là một huyền thoại của dân Do Thái tưởng tượng ra để giải
thích nguồn gốc loài người, phù hợp với quan niệm về một vị Thần
mà họ thờ phụng. Và chuyện "phục sinh" của Giê-su sau này chẳng
qua cũng chỉ là chuyện mà một số người theo Giê-su khi đó bày
đặt ra để tạo ra một hi vọng về một sự sống lại sau khi chết
trong đám tín đồ thấp kém mà trong thời đại đó, tuyệt đại đa số
là những kẻ mù chữ thất học. Thật vậy, học giả A.
N. Wilson đã viết trong cuốn Jesus: A Life,
trang 3: "Chúng ta đặt ra vấn đề Giê-su bay lên trời để làm
gì? Câu chuyện được đặt ra bởi những người tin rằng vòm trời
giống như một cái đĩa, người ta có thể bay qua đó để lên thiên
đường. Đối với một quan sát viên hiện đại, bất kể họ thuộc tôn
giáo nào, không ai mà không hiểu được rằng, một người mà bay
thẳng lên trời từ ngọn đồi Olives, bất kể là do sức đẩy của một
phép lạ nào đó, thì kết cục sẽ bay vòng vòng trên một quỹ đạo.
Chỉ có đối với những kẻ ngu đần mới phải nói cho họ
biết như vậy. " (Only dullards would need to be told
this).
Sự thực
về chuyện phục sinh ra sao, quý độc giả nên đọc trong cuốn
Công Giáo: Huyền Thoại và Tội Ác của một tín đồ Ca-Tô,
Dominic Nguyễn Chấn, bút hiệu Charlie Nguyễn, Giao Điểm xuất
bản, 2001.
Với trình
độ hiểu biết của nhân loại ngày nay, con người đã không còn có
thể chấp nhận những chuyện hoang đường của thời cổ xưa. Chúng
ta đã biết, Malachi Martin, giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh
Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma, đã đưa ra một sự kiện: "Hàng
trăm nhà thần học và giám mục đã từ bỏ niềm tin về
tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lý căn bản khác."
Đây là
một vấn đề rất quan trọng trong nội bộ Giáo hội mà tuyệt đại đa
số các tín đồ không hề biết đến. Giáo hội cố bưng bít được
chừng nào hay chừng ấy, bởi vì nếu Giáo hội thú nhận công khai
cùng các tín đồ là không làm gì có "tội tổ tông", không làm gì
có quỷ Satan cùng sự vô nghĩa của một số tín lý khác, nghĩa là
những hệ luận của quan niệm về tội tổ tông, thí dụ như Đức Mẹ
đồng trinh, Chúa sống lại và bay lên trời, sự "cứu rỗi" của
Giê-su v..v.. thì cả cái lâu đài xây dựng trên những ngụy tạo và
dối trá của Giáo hội sẽ sụp đổ. Cho nên, Giáo hội cố duy trì
hình ảnh thần thánh của Giê-su trong đám nạn nhân thấp kém của
Giáo hội được chừng nào hay chừng đó. Nạn nhân đây gồm tất cả
những người đã bị Giáo hội và cha mẹ nhồi sọ từ khi còn nhỏ
những luận điệu thần học dối trá của Giáo hội cho nên không có
cách nào họ có thể gột bỏ được một niềm tin đã bị lạc dẫn.
Để giúp
họ phần nào nhìn rõ vấn đề, tôi nghĩ có lẽ tôi cần phải viết
thêm vài sự kiện về thực chất con người của Giê-su. Trong
chương II, qua những đoạn trích dẫn từ Thánh Kinh, chúng ta đã
biết rằng, Giê-su là một người mà những đặc tính tiêu biểu là:
lời nói không đi đôi với việc làm, tiền hậu bất nhất, khi nói
suôi, khi nói ngược, và phần lớn là về “cái Ta” của ông ta.
Trong
Thánh Kinh còn có nhiều chuyện có thể giúp chúng ta
hiểu rõ con người của Giê-su hơn. Sau đây là vài chuyện trích
từ Thánh Kinh.
Chúng ta
đã biết chuyện Giê-su nguyền rủa cây sung cho nó chết héo queo
chỉ vì nó không ra trái lúc trái mùa để cho Giê-su ăn khi đói
bụng.
Một chuyện khác trong Thánh Kinh, Matthew 8: 28 - 34, có thể
cho chúng ta thấy rõ tâm địa của Giê-su, được tóm tắt như sau:
Có
hai người bị quỷ ám gặp Chúa Giê-su và quỷ trong hai người đó
van nài Chúa Giê-su đuổi chúng ra và cho nhập vào một bày heo.
Chúa phán "đi ra", chúng liền nhập vào bầy heo và cả bầy heo
(độ 2000 con, theo Mark 5: 13) rông tuốt xuống sông chết đuối
hết. Trẻ con chăn heo chạy về làng kể chuyện lại cho dân làng
nghe, cả làng kéo ra khỏi làng gặp Chúa Giê-su và...van nài
(có nghĩa là đuổi) Ngài hãy đi ra khỏi vùng đất của họ.
Chúng
ta hãy tự hỏi, 2000 con heo có tội tình gì mà Chúa Giê-su "lòng
lành vô cùng" của các tín đồ Ki Tô Giáo lại phù phép làm cho 2
con quỷ nhập vào cả đàn, rồi bắt chúng nhào xuống sông chết đuối
hết? Như vậy có phải là Giê-su là người không có lòng nhân, vô
cớ tự nhiên đang tâm giết cả một đàn heo vô tội một cách tàn
nhẫn. Mà đàn heo cũng lại là những sản phẩm của chính Chúa Cha
“sáng tạo” ra, vì theo niềm tin Ki Tô thì mọi thứ trên đời này
đều là do Chúa Cha tạo ra cả. Bởi vậy dân làng mới coi Giê-su
như là một tên phù thủy, một kẻ đáng chê trách, đã vô cớ hủy đi
một nguồn lợi của dân làng, làm cho họ tự nhiên mất đi cả một
đàn heo tới 2000 con, cho nên họ kéo ra ngoài làng, chặn đuổi
Giê-su đi nơi khác, không dám để cho Giê-su vào làng.
Như đã viết rõ trong Thánh Kinh, Giê-Su sẽ cứu dân Do Thái ra
khỏi tội lỗi (Matthew 1: 21: for He will save His people from
their sins) và chỉ cho dân Do Thái mà thôi (Luke 1: 33: And He
will reign over the house of Jacob for ever). Cho nên tôi thật
thương hại những người không phải là dân Do Thái mà cứ sống
trong ảo vọng, mơ tưởng rằng sẽ được Giê-Su cứu rỗi và cho mình
sống đời đời trên Thiên Đường bên cạnh Thiên Chúa với thân phận
tôi tớ hầu hạ Chúa. Trong trang nhà mucsu.net của Tin Lành Việt
Nam ở Mỹ, có một bài viết về "Hãy Học làm đầy tớ hầu hạ Chúa"
với tất cả sự hân hoan và hãnh diện của người có đầu óc của một
đầy tớ.
Câu
chuyện sau đây trong Thánh Kinh sẽ chứng tỏ rằng sự ước mơ của
những tín đồ Việt Nam theo Ki Tô Giáo để được Giê-su
cứu rỗi đích thực là một ảo vọng. Chúng ta hãy đọc và đọc kỹ
đoạn sau đây trong Tân Ước, Matthew 15: 21-28:
"Thế rồi Giê-Su đi tới vùng Tyre và Sidon. Và có một người đàn bà người
Canaan đến từ vùng đó và kêu với Giê-Su "Hãy thương
tôi, Chúa ơi, Con của David. Con gái tôi đang bị quỷ
ám nặng." Nhưng Người không thèm trả lời bà ta một
tiếng. Và các đệ tử của Giê-Su tới và yêu cầu Giê-Su: "Hãy đưổi
bà ta đi, vì bà ta cứ kêu cứu cùng chúng ta." Nhưng Giê-Su trả
lời:
"Ta được phái xuống đây chỉ
để cứu dân Do Thái mà thôi." Rồi người đàn bà kia tới
và thờ phượng Giê-Su và nói: "Chúa ơi, hãy giúp tôi." Nhưng
Người trả lời: "Lấy bánh của con dân Do Thái mà ném cho mấy con
chó nhỏ ăn thì thật là chẳng tốt tí nào." Và người đàn bà kia
nói: "Đúng vậy, Chúa ơi, nhưng dù là những con chó nhỏ thì chúng
cũng được ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi từ trên bàn của chủ
chúng xuống chứ." Rồi Giê-Su trả lời: "Ô, Bà Già! Lòng tin của
bà thật là lớn lao! Thôi tôi cũng chiều theo ý bà." Và con gái
bà ta hết bị quỷ ám ngay từ gìờ phút đó."
(When
Jesus went out from there and departed to the region of
Tyre and
Sidon. And
behold, a woman of Canaan came from that region and cried out to Him, saying,
"Have mercy on me, O Lord, Son of David! My daughter is
severely demon-possessed." But He answered not a word. And His
disciples came and urged Him, saying, "Send her away, for she
cries out after us.". But He answered and said, "I was not sent except to the
lost sheep of the House of Israel." Then she came and
worshipped Him saying, "Lord, Help me!" But He answered and
said, " It is not good to take the children's bread and throw it
to the little dogs." And she said, "True, Lord, yet even the
little dogs eat the crumbs which fall from their masters'
table." Then Jesus answered and said to her, "O woman, great is
your faith! Let it be to you as you desire." And her daughter
was healed from that very hour.)
Tôi xin để cho các độc giả tùy ý nhận định về tư cách,
đạo đức và lòng vị tha của Giê-Su trong câu chuyện trên. Tôi
không hiểu các đồng bào Ki-Tô của tôi nghĩ thế nào khi đọc đoạn
trên trong Thánh Kinh, biết đâu họ chẳng cho mình có cùng một
thân phận và lòng tin mãnh liệt như bà già trong câu chuyện kể
trên để được Giê-Su cứu giúp, dù bây giờ Giê-Su không còn trên
thế gian nữa.
Đọc
Thánh Kinh tôi nhận thấy tin theo Chúa kể cũng khá mất nhân vị:
khi thì bị mắng là Satan (Phê rô), khi thì bị mắng là chó, khi
thì bị mắng là đồ điên và mù, khi thì bị rủa là đồ rắn độc, bị
đày đọa hỏa ngục v..v.. Hình ảnh của một Chúa nhân từ, được rao
giảng là "quá thương yêu thế gian" v..v.., quả thật không phù
hợp với những ngôn từ Chúa nói trong Thánh Kinh.
Về chuyện Giê-su gọi người phi-Do Thái là chó ở trên, Tiến Sĩ
Madalyn O'Hair bình luận như sau:
Trừ khi anh là người Do Thái, chẳng ai muốn anh trong tôn giáo
này. Đối với người nào thực sự "thực tâm cảm thấy Giê-Su là
đấng cứu thế của họ" tôi xin giới thiệu một nhà phân-tâm học.
(Unless you are a Jew, you are not wanted in this religion. For
someone who really "truly feels in his heart that Jesus is his
Savior" I would recommend a psychiatrist.)
Và, Frederick Heese Eaton bình luận như sau trong cuốn
Scandalous Saints, trang 214:
Giê-Su thường nhắc nhở đệ tử là phải thương yêu nhau, và thương
yêu ngay cả kẻ thù (John 13:35; Matthew 5:44) Nhưng khi một
người đàn bà không phải là người Do Thái tới nhờ Giê-Su chữa
lành bệnh cho con gái, thì Giê-Su lại bảo bà ta rằng, "Không thể
lấy bánh của con dân Do Thái vứt cho chó ăn." (Matthew 15:26)
Nói một cách khác, ông nói, "Người phi Do Thái là đồ
chó. Tại sao ta lại phải làm bất cứ gì cho ngươi?" Anh cảm thấy thế nào khi
Jesus gọi anh là chó? Gọi người phi Do-Thái là đồ chó không
phải là sự biểu thị của lòng thương yêu. Giê-Su thật là hỗn hào, kiêu
căng và tự phụ khi gọi người đàn bà kia là chó. Vậy trong vấn đề thực hành,
Thánh Giê-Su chẳng có chút gì là Thánh cả. Những sự
kiện cho thấy Giê-Su thực sự ghét những người phi Do-Thái.
Thánh Phao-Lồ (Paul) viết rằng, theo lời mặc khải của Thiên
Chúa,
"Giê-Su luôn luôn như vậy,
ngày hôm qua, ngày hôm nay và cho tới mãi mãi, không bao giờ
thay đổi." (Hebrew 13:8) Vậy nếu
anh dự định lên Thiên Đường ở cùng Giê-su đầy tình
thương, và anh không phải là người Do Thái, anh nên nghĩ lại
đi thì vừa. 1
Thánh
Kinh có đầy những chuyện chứng tỏ nhân cách và đạo đức thấp kém
của Giê-su như trên, nhưng trên khắp thế giới, các tín đồ vẫn
được dạy là "Chúa toàn hảo", "Tình Yêu của Chúa" bao trùm thế
gian v..v.. nên phải "Kính Chúa" và hãy hãnh diện là "đầy tớ hầu
hạ Chúa", "thờ phụng Chúa". Nhưng Giám Mục John Shelby Spong
thì lại nghĩ khác, vì sự lương thiện trí thức không cho phép ông
ta tin nhảm nhí. Do đó, ông đã viết:
Chúng ta có thấy hấp dẫn đối với một Chúa phải giết cả một bày
heo để đuổi một con quỷ ra khỏi thân người hay không? Chúng ta
có nên khâm phục và kính trọng người mà chúng ta gọi là Chúa đã
nguyền rủa một cây sung khi nó không ra trái lúc trái mùa
không?...
Cuốn Thánh Kinh đã làm cho tôi đối diện với quá nhiều vấn đề hơn
là giá trị. Nó đưa đến cho tôi một Thiên Chúa mà tôi không
thể kính trọng, đừng nói đến thờ phụng.2
Thật
là tội nghiệp cho những tín đồ trong thời buổi này mà vẫn còn
tin vào những chuyện thuộc loại huyền thoại phản khoa học,
đầy mâu thuẫn và phi lý, kể cả những chuyện không hề có trong
Thánh Kinh. Thật là tội nghiệp vì họ đã được cấy vào đầu óc, từ
khi còn nhỏ, những huyền thoại mà giáo hội dạy rằng đó là những
sự thực lịch sử. Do đó những huyền thoại mà họ tin là thực đã
ăn sâu vào đầu óc họ, không có cách gì có thể làm cho họ thay
đổi niềm tin, nhất là khi lớn lên, họ không bao giờ đọc Thánh
Kinh, rất ít khi dùng đến đầu óc suy luận của mình, chỉ biết phó
mặc tư duy của mình cho giới chăn chiên. Ngoài ra, họ còn bị
giới chăn chiên đe dọa là nghi ngờ những lời giảng dạy của giáo
hội là mang tội với Chúa. Ngay gần đây, ở Việt Nam, nếu có tín đồ Ca-Tô nào phàn nàn
về đạo đức của một số linh mục thì được "bề trên" dạy rằng:
"Các con đừng nói hành các cha mà mang tội với Chúa." Cho
nên, có thể nói là họ đã bị buộc chặt bởi một mớ xiềng xích trí
tuệ. Đó là cái giá mà họ phải trả cho một viễn tượng không chắc
chắn: một đời sống đời đời ở trên thiên đường.
Nhưng
đối với giới trí thức thì khác, chúng ta hãy đọc một đoạn ngắn
trong chương mở đầu cuốn Jesus: A Life của học giả A. N.
Wilson, để thấy rõ ảnh hưởng của những huyền thoại trên đầu óc
con người, nhất là đối với những thành phần thấp kém, ít học,
những thành phần chiếm đa số tín đồ Ki Tô trên thế giới.
Giống như mọi Ki Tô hữu, tôi biết rằng tôn giáo của tôi nhận
là có căn cứ trên lịch sử. Đức tin của tôi được xây dựng trên
một vài câu chuyện, với những ngày tháng kèm theo. Nhưng tôi
không phải là trở thành một tín đồ Ki Tô vì tôi tin những
chuyện đó. Tôi trở thành một tín đồ Ki Tô từ khi tôi còn là một
đứa con nít được mang đi rửa tội. Năm này qua năm khác, trong
những ngày lễ lớn của giáo hội Ki Tô, tôi lại được nghe nhắc lại
tính cách lịch sử của tôn giáo tôi. Nhưng ngay cả khi đó, tôi
thấm nhập những chuyện trên vì chúng có tác dụng mạnh mẽ trên
đầu óc, chứ không phải là vì tôi đã kiểm chứng những chuyện trên
qua sự phân tích lịch sử. Do đó, đến ngày lễ Giáng Sinh, tôi
nghe kể rằng thiên thần Gabriel đã đến thị trấn Nazareth và bảo
cho Mary biết là nàng sẽ sinh một đứa con, và đặt tên nó là
Giê-su, Đấng Cứu Thế. Không giao hợp với đàn ông, nhưng Mary đã
sinh ra một bé trai, không phải ở Nazareth, mà là ở Bethlehem. Mary sinh
Giê-su ở trong một chuồng súc vật vì không có phòng cho bà ta và
vị hôn phu, Joseph, ở trong quán trọ. Sự sinh ra Giê-su được
các thiên thần báo hiệu trước; và Mary đặt đứa bé trong một máng
cỏ, gia đình Thánh này được những người chăn chiên, và những
nhà thông thái miền Đông do một ngôi
sao dẫn
đến, thăm viếng .
Câu chuyện trên ăn sâu vào óc tưởng tượng của tôi từ lâu,
trước khi tôi học lịch sử ở trường học. Tác dụng mạnh mẽ của
câu chuyện khiến tôi không nghĩ đến việc đặt nó trong phương pháp phân tích lịch sử
thông thường. Tôi tiếp tục tin rằng đó là một câu chuyện có
thực trong lịch sử. Phúc Âm Luke đặt chắc câu chuyện sinh ra
Giê-su vào thời điểm mà Ceasar Augustus đòi hỏi mọi người trong
đế quốc La mã phải dự cuộc kiểm tra dân số. Cuộc kiểm tra dân
số này xảy ra trong thời Quirinius làm Thống đốc ở Syria (Luke 2: 2). Khi đó Herod là
vua của xứ Judea. Những chi tiết về sự sinh ra của Giê-su như trên có
vẻ là rất chính xác, cho đến khi người ta khám phá ra rằng Herod
đã chết 4 năm trước khi thời đại thông thường này bắt đầu
(nghĩa là trước khi Giê-su sinh ra. TCN) và Quirinius không
phải là Thống đốc ở Syria cùng thời với Herod. Không có
một sử gia nào trong đế quốc La Mã ghi lại một cuộc kiểm tra dân
số dưới thời vua Augustus.
Câu chuyện về một đứa bé sinh ra trong một chuồng súc vật ở Bethlehem vì không có
phòng cho nó ở trong quán trọ là một trong những huyền thoại có
tác dụng mạnh mẽ nhất của nhân loại. Một huyền thoại, tuy
nhiên, cũng chỉ là một huyền thoại. Dù rằng chúng ta nhất định
cho rằng mọi điều viết trong Thánh Kinh đều đúng, chúng ta cũng
không thể tìm thấy ở đâu trong Thánh Kinh huyền thoại Giê-su
sinh ra trong một chuồng súc vật. Không có một Phúc Âm nào viết
là Giê-su sinh ra trong một chuồng súc vật, và hầu như mọi chi
tiết về sự sinh ra của Giê-su, những chi tiết đã gây cảm hứng
cho nhiều nghệ thuật gia nổi tiếng, và nhiều thế hệ của những
người đi đến nhà thờ trong đêm Giáng Sinh, không hề thấy ở đâu
trong lịch sử hay trong Thánh Kinh, mà chỉ là những chuyện
truyền tụng trong dân gian. Một khi chúng ta đi sâu vào vấn đề,
chúng ta khám phá ra rằng con người thật của Giê-su, Giê-su lịch
sử, nhất định không thể sinh ra ở Bethlehem. Nhiều phần chắc là ông ta sinh ra
ở Galilee, nơi ông ta trưởng thành.
3
Chúng ta thấy rằng, những huyền thoại về Giê-su được giáo
hội bịa đặt và đưa ra rõ ràng là để khai thác tính tình nhạy cảm
và khuynh hướng cả tin, mê tín của con người ngay từ khi còn
nhỏ. Chúng ta cũng không thể phủ nhận là, trong các giáo hội Ki
Tô có rất nhiều người thông minh, hiểu nhiều. Nhưng thay vì
dùng cái thông minh của mình để khai sáng cho đám tín đồ thấp
kém, dẫn dắt họ trên con đường mở mang trí tuệ, thì họ lại cố
vận dụng trí óc của mình để nghĩ ra những lý luận thần học hoang
đường, để nhồi sọ tín đồ từ khi còn nhỏ tuổi, huyễn hoặc những
tín đồ thấp kém và nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín, song song
với những thủ đoạn nhơ bẩn, lừa dối, cùng phát minh ra những
dụng cụ tra tấn dã man, tàn bạo nhất trong lịch sử loài người để
chiêu dụ, cưỡng ép những người ngoại đạo phải tin theo những
điều mà họ cho là "chân lý mạc khải", không thể sai lầm. Đó là
khổ nạn của thế giới ngày nay, nhất là thế giới của những quốc
gia kém phát triển, nghèo khó, dân trí chưa mở mang. Người dân
chất phác đâu có đủ khả năng để hiểu những lý luận thần học ngụy
biện. Họ đặt tất cả lòng tin vào những bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo
mà họ yên trí đó là những người có ăn học, thông thái, lương
thiện, thành thật. Họ có biết đâu, vì tin vào vài hứa hẹn huyền
hoặc mà họ không đủ lý trí để suy luận và đánh giá, nên họ đã bị
lùa vào trong một định chế tôn giáo toàn trị mà mục đích chính
chỉ để duy trì quyền lợi vật chất và tinh thần của một số nhỏ.
Ở các nước Âu Mỹ tân tiến thì vấn đề có khác. Giám Mục James A.
Pike viết trong cuốn Một Thời Để Cho Sự Thành Thật Của Ki Tô
Giáo (A Time For Christian Candor), trang 108, như sau: "Cuốn
Tân Ước thật là rõ ràng. Thật vậy, những sự kiện (trong Tân
Ước. TCN) tự bao giờ vẫn luôn luôn rõ ràng cho bất cứ ai nhìn
thấy chúng. Giê-su sinh ra ở một địa phương đặc biệt, vào một
thời điểm đặc biệt. Mẹ và các em ông ta không cho rằng ông ta
có một nhiệm vụ nào khác với nhiệm vụ của một con người."
(The new Testament is clear enough. Indeed, the facts have
always been clear enough for any man to behold. Jesus was born
in a particuliar place at a particular time. His mother and
brothers did not understand that He had more than a human role
to perform.)
Học
giả Colin Wilson còn đi xa hơn. Sau khi nghiên cứu về nhiều
nhân vật tự xưng là Đấng Cứu Thế trong lịch sử cổ xưa của loài
người, ông ta đã viết một cuốn sách với nhan đề: Những Đấng
Cứu Thế Lừa Đảo: Những Chuyện Về Những Đấng Cứu Thế Tự Phong
(Rogue Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors) trong đó có
chương nói về Giê-su. Sau đây là vài đoạn ngắn, trang 18-25:
Đấng Cứu Thế duy nhất trong thời kỳ đó mà ngày nay người ta
còn nhớ đến, tên là Joshua, được biết nhiều hơn dưới tên Hi Lạp,
Giê-su... Ông ta đọc Cựu Ước và tin rằng ngày tận thế sẽ đến
ngay trong thời đại của những người sống cùng thời với ông ta;
khi đó sẽ có chiến tranh, nạn đói, động đất, và người chết sẽ
được làm cho sống lại. Mặt Trời sẽ trở nên tối
tăm và Mặt Trăng sẽ đỏ ngầu như máu, và các ngôi sao sẽ từ trên
trời rơi rụng xuống.
Thông điệp làm cho chúng ta nhớ tới Giê-su - hãy yêu người láng
giềng và làm cho người ta những điều mà mình muốn người ta làm
cho mình - đã là một phần trong truyền thống Do Thái. Hơn 1000
năm bị áp bức - người Do Thái đã bị nô lệ hóa bởi Vua Ai Cập từ
1250 năm trước thời đại thông thường này - đã tạo nên cho người
dân một tâm cảnh hòa bình và tuân phục ý Chúa; do đó khi Giê-su
dạy hãy yêu kẻ thù là ông ta chỉ nhắc lại điều Moses dạy...
Một trong những niềm tin căn bản của Do Thái là những sự đau
khổ của người Do Thái bắt nguồn từ tội lỗi của ông tổ Adam của
họ. Phao-Lồ rao truyền rằng cái "tội tổ tông" này đã được hóa
giải bởi cái chết của Giê-su trên thập giá, cho nên người nào
trở thành tín đồ Ki-Tô thì nay cái tội tổ tông họ mang trên
người đã được cứu chuộc. (Đây chỉ là một luận điệu thần học
ấu trĩ của thời bán khai, vì nếu quả thật cái chết của Giê-su
trên thập giá có thể chuộc được tội thì đó là chuộc cái "tội tổ
tông" cho cả dân Do Thái (dân Việt Nam coi chuyện "tội tổ
tông" là chuyện hoang đường nhất trong những chuyện hoang
đường, không những tầm bậy mà còn nói lên cái tâm địa tàn nhẫn
độc ác và phủ nhận trách nhiệm của chính Thiên Chúa), chứ
không phải chỉ chuộc tội cho những người Do Thái nào trở thành
tín đồ Ki Tô.)...
Đến năm 100 của thời đại thông thường này, mọi người đều
thấy rõ là lời tiên tri của Giê-su sẽ không thực hiện được.
Nhưng khi đó thì Ki Tô Giáo đã lan rộng cho nên đó không thành
vấn đề. Sự mong đợi ngày tận thế nay được hoãn lại một thiên
niên kỷ, tới năm 1000 - và từ ngữ "thiên niên kỷ" trở thành đồng
nghĩa với "Ngày Phán Xét". Ki Tô Giáo đạt được
chiến thắng lớn năm 313 khi hoàng đế Constantine - một tên ngông
cuồng ngu xuẩn khát máu và sa đọa như nhiều hoàng đế La Mã -
tuyên dương Ki Tô Giáo là tôn giáo chính thức của đế quốc La
Mã...
Làm sao mà những "Đấng Cứu Thế" này lại hấp dẫn như vậy. Thứ
nhất, họ đều là những người có năng khướu thuyết giảng. Nhưng
không phải chỉ có vậy. Chúng ta đã biết, Giáo hội Ki Tô, mới
đầu là một tổ chức nghèo nàn và bị bạo hành, nhiều người lãnh
đạo bị ném cho những con sư tử ăn thịt, đột nhiên trở thành tôn
giáo chính thức của La Mã năm 313, dưới triều hoàng đế
Constantine.
Khi
có được quyền lực rồi, những tín đồ Ki Tô bắt đầu xử sự
ngay
một cách tệ hại hơn kẻ thù của họ rất nhiều: phá hủy những đền
đài của dân gian, thiêu sống những kẻ ngoại đạo, và cãi vã với
nhau. Thực chất là, Giáo hội đã trở thành một tổ chức siêu độc
tài. Và dân nghèo, được lệnh phải đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật,
rên xiết dưới gánh nặng thuế má, và bắt buộc phải trả lệ phí để
cho tội lỗi của họ được tha thứ, càng ngày càng trở nên bất mãn
với những lãnh đạo tinh thần của họ. Nhưng họ không thể làm gì
được; Giáo hội đã đặt họ vào trong gọng kìm sắt như là Đức Quốc
Xã (Nazis) ở Đức hoặc Cọng Sản dưới thời Stalin ở Nga.
4
Tuyệt đại
đa số các tín đồ Ki-Tô Giáo không biết đến lịch sử nhơ nhớp của
các giáo hội Ki Tô, không biết đến những thủ đoạn "trí thức"
nhằm nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín tối tăm của giới chăn
chiên, không biết đến những sự thay đổi trong não trạng của các
cấp lãnh đạo tôn giáo, và nhất là không biết đến những thú nhận
sai lầm thần học của giáo hội trước những sự kiện bất khả phủ
bác của khoa học và thực tế ở ngoài đời. Do đó, đức tin của họ
vẫn thuộc đức tin của thời Trung Cổ, tin vào những chuyện đã
không còn chỗ đứng trong thời đại mới. Theo Robert W. Funk,
chủ tịch Hội Nghiên Cứu Nhân Vật Giê-su (President of the
Jesus Seminar), một Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh và nhân vật Giê-su
gồm hàng trăm học giả, chuyên gia, ở trong các giáo hội Ki Tô,
thì "thời đại mới" (New age) có nghĩa quan trọng nhất là sự chấm
dứt của thời đại Ki Tô (The “new age” refers first and foremost
to the end of the Christianized era). Trong cuốn Honest to
Jesus, trang 297, ông viết: "Định nghĩa "thời đại mới"
như trên, tôi không bảo rằng Ki Tô Giáo đã hết thời; tôi chỉ cho
rằng Tây phương được Ki-Tô hóa và kỹ nghệ hóa không còn giữ vai
trò chỉ đạo trò chơi duy nhất trên trái đất" (I am
not thereby claiming that Christianity has come to an end; I am
only proposing that the Christianized, industrialized West can
no longer pretend to sponsor the only game on the planet...)
Ông viết
tiếp, trang 298:
...Ở
Tây phương, cái biểu tượng của vũ trụ cổ xưa đang trên đà suy
thoái. Chắc chắn là, nó còn lay lắt, dưới một dạng thức yếu
kém, trong nhiều ốc đảo, nơi đây một hoạt động của đoàn quân hậu
vệ được tung ra để chống lại ảnh hưởng của những đầu óc hiện đại
có tác dụng soi mòn và phá hoại của những chất a-cít. Những ai
còn bám víu vào những quan niệm cổ xưa càng ngày càng thấy khó
khăn hơn trong việc làm cho những câu trong Thánh Kinh như "ông
ta bay lên trời" có ý nghĩa. Những sự hấp dẫn về một Thiên Chúa
chứng thực, về thiên đường và hỏa ngục, về một đấng cứu chuộc
thần thánh, về Chúa Ki-Tô như là trung gian duy nhất giữa
Thiên Chúa và nhân loại, đã bắt đầu mất đi tác dụng và
thường là rơi vào những cặp tai không còn muốn nghe.
(.. in the West, the old
symbolic universe is on the decline. It lingers on, to be sure,
in weakened form, in many pockets where a rearguard action is
being waged against the erosice and corrosive acids of the
modern mind. Those who cling to the old are having increasing
difficulties in assigning meaning to such biblical statements as
“he ascended into heaven”. Appeals to an endorsing God, to
heaven and hell, to a divine redeemer, to Christ as the sole
mediator between God and humankind, have begun to lose their
bite and more frequently fall on unhearing ears.)
Trong
những xã hội Tây phương, phần lớn giới hiểu biết trong các giáo
hội Ki Tô đã không còn tin vào những huyền thoại trong Thánh
Kinh nữa. Tuy nhiên, không phải là chỉ trong thời đại mới con
người mới bác bỏ những luận điệu thần học sai lầm của Giáo hội.
Trong lịch sử các giáo hội, nhiều người từ xưa đã "không tin
rằng vai trò của giáo hội là cần thiết để được "cứu rỗi". Con
người có thể đến với Thiên Chúa trực tiếp mà không cần đến các
linh mục, mục sư hay những bí tích." (Colin Wilson, Ibid.,
p. 25: Many members of the Church did not believe that the
Church was essential for "salvation". Man can know God
directly, without the need of priests and sacraments.).
Có lẽ
chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy ở phương trời Âu Mỹ, Ki
Tô Giáo, Ca-Tô cũng như Tin Lành, đang bị suy thoái, nhất là
Ca-Tô Giáo Rô Ma. Sự suy thoái này có nhiều nguyên nhân. Một
trong những nguyên nhân là trong Ca-Tô Giáo đã xảy ra hết chuyện
mang tai tiếng này đến chuyện mang tai tiếng khác, ngay trong
thời đại này, chứ không phải là trong lịch sử quá khứ. Vấn đề
Giáo hội đã biết rõ nhưng vẫn cố tình dung dưỡng và che dấu tội
lỗi của giới linh mục trong nhiều thập niên về các vụ cưỡng bách
tình dục các trẻ em phụ tế, nữ tín đồ, và ngay cả các sơ trong
23 quốc gia mà gần đây, vì không thể bưng bít mãi được nên Tòa
Thánh đã phải lên tiếng thú nhận, nay đã được báo chí phổ biến
rầm rộ. Từ một thập niên trước đây, giáo hội đã phải bỏ ra đến
gần tỷ đô la để nộp phạt và dàn xếp ngoài tòa cho hàng trăm linh
mục tội lỗi. Vụ cựu linh mục Ca-Tô John Geoghan mới ra tòa gần
đây ở Boston chỉ là một trong hơn 80 vụ che dấu khác của giáo
hội trong Giáo Phận Boston. Cho đến nay, Giáo hội đã bỏ ra hơn
10 triệu đô la để bồi thường cho các nạn nhân của Geoghan, và
người ta ước tính giáo hội sẽ phải bỏ ra nhiều trăm triệu nữa
cho các vụ xảy ra ở Boston và trên khắp nước Mỹ. (Newsweek,
February 25, 2002: The Church has reportedly paid more than $10
million in settlements so far in the Geoghan case alone. And
mounting lawsuits in Boston and nationwide, lawyers speculate, coukd
total hundreds of millions more.). Giáo dân ở
Boston đã giận dữ biểu tình trước tư gia
của Hồng Y Bernard Law yêu cầu ông ta từ chức. Lẽ dĩ nhiên ông
ta từ chối. Nhiều giáo dân đang cổ động tín đồ không đóng tiền
cho nhà thờ nữa vì không muốn tiền của mình bị lạm dụng, dùng
trong các vụ bồi thường và dàn xếp này. Chuyện tai tiếng này và
nhiều chuyện tai tiếng khác ở khắp nơi trên thế giới, thí dụ như
chuyện một số sơ ở Rwanda bị truy tố về tội góp phần trong chính
sách diệt chủng dân Tutsis, chuyện Mẹ Teresa dấu nhiều triệu đô
la, tiền người ta cúng cho bà để làm việc thiện theo lời kêu gọi
và quảng cáo của bà, trong ngân hàng trong khi để cho tình trạng
các "cơ sở từ thiện" của bà sập sệ, thiếu thuốc men, thiếu sự
chăm sóc v..v.. cho những người xấu số được "dòng tu bác ái" của
bà mang về nuôi nấng, đã khiến cho quần chúng thấy rõ bộ mặt giả
nhân giả nghĩa của giáo hội và giới chăn chiên.
Nhưng
nguyên nhân chính là con người trong thế giới tiến bộ Âu Mỹ đã
thường ngày đối diện với những tác phẩm nghiên cứu của nhiều học
giả về tôn giáo của họ, chưa kể đến những tin tức hàng ngày trên
báo chí và TV, những cuộc tranh luận về tôn giáo công khai trên
TV. Với những thông tin tràn ngập về mọi mặt, giáo hội không
còn có thể che dấu sự thật trước đám tín đồ có ăn học được nữa.
Do đó, trong những xã hội tân tiến này đã xảy ra tình trạng linh
mục, nữ tu, và con chiên bỏ đạo hàng loạt, khoan kể đến việc một
số đã viết sách vạch trần thực chất phi nhân của giáo hội cũng
như những chuyện hoang đường, dâm ô, tục tĩu trong Thánh Kinh.
Thống kê cho biết, sau vụ 11 tháng 9 tại New York, số người đi
lễ nhà thờ tăng vọt từ hơn 30% đến gần 60%, nhưng chỉ vài tuần
lễ sau số người đi lễ nhà thờ lại trở lại mức hơn 30%. Đó là ở
Mỹ. Còn ở Âu Châu thì tình trạng thê thảm hơn nhiều.
Không còn
thuyết phục được người dân trong những xã hội văn minh tiến bộ,
Ca-Tô Giáo Rô-Ma cũng như Tin Lành đang mở chiến dịch đi truyền
đạo ở các nước nghèo và kém mở mang, nấp sau những bình phong
như "tự do tín ngưỡng" và "nhân quyền". Ở Á Châu, họ tung ra ra
cái gọi là nền "thần học theo cung cách Á Châu". Riêng đối với
Việt Nam, họ viết sách và bỏ tiền ra mua lương tâm của những tên
trí thức dỏm viết sách viết báo xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử Việt
Nam, hạ thấp Phật Giáo, và đánh bóng những tên đại Việt gian như
Trần Lục, Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Ký cùng quan thầy Alexandre
de Rhodes. Tin Lành thì len lỏi vào các vùng Thượng Du Bắc
Việt, mang tiền ra khuyến dụ những người Thượng nghèo khổ, xúi
bẩy họ đòi tự trị với quốc giáo là Ki Tô Giáo, gây xáo trộn
trong xã hội Việt
Nam.
Họ có
thành công hay không, tất cả tùy thuộc ở trình độ hiểu biết của
người dân về vấn đề tôn giáo. Cái vũ khí hữu hiệu nhất để vô
hiệu hóa những lý luận hoang đường của Ki Tô Giáo về vai trò cứu
rỗi của Giê-su và vai trò của "hội Thánh" Ki-Tô là giáo dục để
cho người dân biết rõ về những sự thực về Ki Tô Giáo. Chính
quyền có nhiệm vụ đưa ra một chính sách giáo dục mở mang dân
trí. Đây là cái chìa khóa để bảo vệ truyền thống và văn hóa Việt Nam.
Riêng
tôi, tôi cho rằng mưu toan Ki Tô hóa Á Châu của Ca-Tô cũng như
Tin Lành không thể thành công, dù họ có nấp sau những chiêu bài
như "trở về với dân tộc", "góp phần vào nền văn hóa Việt Nam"
qua những luận điệu của cái gọi là "thần học theo cung cách Á
Châu".
Thứ nhất,
thần học Ki Tô Giáo, dù mang tên gì đi chăng nữa, Á Châu hay Phi
Châu, Giải phóng hay của phái nữ, cũng đều là thần học. Thần
học là môn học đặt tiền đề trên sự hiện hữu của một vị Thần mà
họ gọi là Thượng đế, trên sự "cứu rỗi" của Giê-su như là có
thực, rồi mới tìm cách lý luận để biện giải cho những tiền đề
trên. Nhưng ngày nay, những khám phá của khoa học trong nhiều
bộ môn, và nhất là thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ và thuyết
Tiến Hóa về nguồn gốc loài người, đã dứt khoát phá đổ thuyết
Sáng Tạo trong Cựu Ước cũng như chức năng "cứu rỗi" của Giê-su
trong Tân Ước. Khi mà chuyện Adam và Eve chỉ là một huyền thoại
như mọi người, kể cả các bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo, đều công nhận,
đặc biệt là ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức Ca-Tô, cũng phải công
nhận như vậy trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng, thì không
ai còn có thể tin vào chuyện một nhân vật hoang đường, ăn một
trái trên một cái cây hoang đường, trong một cái vườn hoang
đường, do một ông Thượng đế hoang đường tạo ra, cho nên cả nhân
loại đều bị phạt đời đời kiếp kiếp. Thời buổi này mà ông Thượng
đế đó xử sự như vậy , hoặc mang con ông ấy lên thập giá đóng
đinh thì ông sẽ vào ngồi đếm lịch trong nhà tù. Không có tội
tổ tông thì ai cần ai cứu rỗi? Giê-su sẽ thất nghiệp vì đâu có
còn ai cần đến sự cứu rỗi của ông ấy. Hơn nữa lý thuyết "chuộc
tội" của giáo hội chỉ có tính cách lừa bịp, vì nếu Giê-su đã
chuộc tội cho loài người bằng cách chịu "tử nạn" đóng đinh trên
thập giá, thì tại sao trong 2000 năm nay con người vẫn chết, vẫn
phải làm việc đầu tắt mặt tối, phái nữ vẫn mang nặng đẻ đau, như
lời nguyền rủa của Thượng đế đối với loài ngươi sau khi một Adam
giả tưởng ăn một trái trên một cây giả tưởng trong một vườn địa
đàng giả tưởng của một ông Thượng đế giả tưởng.
Thứ nhì,
người Á Đông có đầu óc thực tế, hướng về nhân bản và nhân chủ.
Người Việt Nam luôn luôn
hãnh diện vì mình là Con Rồng Cháu Tiên, dù đây chỉ là một huyền
sử, chứ chẳng ai muốn nhận một anh Adam trong huyền thoại của
dân Do Thái làm tổ tiên của mình. Nền văn hóa Á Đông cũng không
thể nào phù hợp với nền văn hóa Ki Tô của các ông mắt sâu, râu
rậm, mũi lõ, mắt xanh.
Thứ ba là
những sự kiện lịch sử. Ai cũng biết, nhiệm vụ của tôn giáo là
hướng dẫn vấn đề tinh thần, dạy đạo đức cho con người để cho con
người đi vào con đường hướng Thiện. Nhưng Ki Tô Giáo, Ca-Tô
cũng như Tin Lành, là tôn giáo loại gì mà lại đi giết người chỉ
vì họ không có cùng một niềm tin với những tín đồ Ki Tô. Cái
lịch sử ô nhục đầy máu và nước mắt của Ca-Tô Giáo Rô-ma cũng như
của Tin Lành có thể biện minh cho những sắc thái cao đẹp của một
tôn giáo theo đúng nghĩa là một tôn giáo được hay không? Bao
nhiêu triệu người bị tra tấn, tù đầy, giết chóc, thiêu sống dưới
tay của các Linh Mục Ca-Tô và Mục Sư Tin Lành? Có một cá nhân
nào bị Phật Giáo, một tôn giáo mà các tín đồ Ki Tô cho là thấp
kém, của ma quỉ, tra tấn, tù đầy, giết chóc và thiêu sống hay
không? Tại sao Giáo Hoàng John Paul II phải đi đến các nước
trong thế giới thứ ba để đã hơn 100 lần xin lỗi những quốc gia
này vì những tác hại và bất hạnh mà Ki Tô Giáo đã mang đến cho
đất nước của ho? Tại sao Tòa Thánh phải xưng thú 7 núi tội lỗi
của Giáo hội đối với nhân loại? Tại sao các Giám Mục, Mục Sư
Tin Lành phải lên tiếng xin lỗi thổ dân da đỏ ở Mỹ Châu và thổ
dân ở Phi Châu và Nam Mỹ?
Những tín
đồ Ca-Tô Việt Nam có đầu mà không có óc lên tiếng
ca tụng giáo hoàng là người can đảm, dám công khai nhận lỗi của
Giáo hội trước bàn dân thiên hạ, và ăn năn thống hối. Nhưng vấn
đề không phải là ở chỗ xin lỗi hay không xin lỗi, ăn năn thống
hối hay không ăn năn thống hối. Vấn đề là ở chỗ tại sao một tôn
giáo tự xưng là "mạc khải", "thánh thiện", "duy nhất", "được
Thánh Linh hướng dẫn", "do Chúa Giê-su thành lập" v..v.. mà lại
phạm phải những tội lỗi ác độc, tàn bạo, nhơ nhớp đối với nhân
loại trong suốt 2000 năm qua với hàng trăm triệu xác chết trên
bờ vai lương tâm của Giáo hội? Tại sao được Thánh Linh tuyển
chọn và hướng dẫn, cùng với tín lý "Giáo hoàng không thể sai
lầm" mà trong lịch sử Ca-Tô Giáo lại có những triều đại Giáo
hoàng dâm loạn, tội ác tầytrời? Tại sao khi rửa tội thì có
Thánh Linh vào ngự trong người mà hàng trăm linh mục lại đi hiếp
dâm trẻ con, nữ tín đồ, và cả những sơ rồi bắt họ uống thuốc
ngừa thai hay phá thai?
Nếu người
dân được mở mang kiến thức để biết về những sự thực về Ki-Tô
Giáo thì đương nhiên họ sẽ đặt những câu hỏi như trên với những
nhà truyền giáo trước khi họ chấp nhận những luận điệu mê hoặc
của những người đi truyền giáo nhưng không bao giờ đọc kỹ Thánh
Kinh hoặc không bao giờ biết rõ về lịch sử của chính tôn giáo
họ. Robert W. Funk cũng chủ trương phải đặt vấn đề với Ki Tô
Giáo, xét đến những sự kiện trong lịch sử Ki Tô Giáo. Ông viết,
Ibid., p. 199:
Từ nay
trở đi, chúng ta phải luôn luôn hỏi rằng, truyền thống Ki Tô
Giáo có cái gì để dạy chúng ta, và nếu có, thì đó là cái gì.
Chúng ta không còn trao khoán cho Ki Tô Giáo một sự đồng ý
trước, như là một phần của sự mua bán, mà không xác định những
điều chúng ta chấp nhận là những cái gì. 5
Tôi thành
thực mong rằng, một ngày nào đó, người dân Việt Nam sẽ biết đến,
không nhiều thì ít, qua những tác phẩm thuộc loại nghiên cứu của
Giao Điểm, Trần Văn Kha, Lê Trọng Văn, Cao Huy Thuần, Nguyễn
Xuân Thọ, Nguyễn Mạnh Quang, Charlie Nguyễn, Nguyên Vũ v..v..,
những sự thật trong lịch sử Ki Tô Giáo cũng như những sai lầm,
mâu thuẫn, và những chuyện phi luân, dâm ô, ác độc có đầy trong
Thánh Kinh. Ngoài ra họ cũng nên có một kiến thức tối thiểu về
những tiến bộ của khoa học, nhất là về vũ trụ học và nhân chủng
học. Chỉ có như vậy họ mới có thể tránh được cái thòng lọng mà
Ki Tô Giáo luôn luôn dùng mọi thủ đoạn để xiết vào cổ họ.
Chú Thích - Kết Luận
1.
Frederick Heese Eaton, Scandalous Saints, p. 214: Jesus
repeatedly admonished his disciples to love one another, and
even to love their enemies. (John 13:35; Matthew 5:44) Yet when
a non-Jewish woman begged him to heal her daughter, Jesus told
her, "It is not fit to take the children (of Israel's) bread and to cast it to
dogs." (Matthew 15:26) In other words he said, "You non-Jews
are dogs. Why should I do anything for you?" How would you
like to have Jesus call you a dog? Calling people dog who were
not Jews is hardly an expression of love. Jesus was insolent,
arrogant and conceited in calling this woman a dog. So in
actual practice, Jesus the Saint was not so saintly after all.
The facts show that Jesus actually hated those who were not
Jews.
Saint Paul writes, allegedly under inspiration
of God, "Jesus Christ the same yesterday, and today, and for
ever." (Hebrew 13:8) So if you were planning to go to heaven
to be with the loving Jesus, and you are not a Jew, you had
better think it over again.)
2. John
Shelby Spong, Rescuing The Bible From Fundamentalism, pp.
21,24: Are we drawn to a Lord who would destroy a herd of pigs
in order to exorcise a demon? Are we impressed when the one we
call Lord curses a fig tree because it did not bear fruit out of
season?...
A
literal Bible presents me with far more problems than assets.
It offers me a God I cannot respect, much less worship.
3. Wilson, A. A., Jesus: A
Life, Preface: Like all Christians, I was aware that my
religion claimed to be rooted in history. There were certains
stories, which verifiable dates attached to them, on which my
faith was founded. But I did not become a Christian because I
believed those stories. I became a Christian as an infant when
I was baptized. Year by year, at the great festivals of the
Christian Church, I heard these historical claims rehearsed.
But even then, I absorbed the stories because they were powerful
in themselves, and not because I had tested them by means of
historical analysis. So, at Christmas, I heard that the Angel
Gabriel went to a town called
Nazareth and
told Mary that she was going to give birth to a baby, and she
was to call him Jesus, the Saviour. Without having sexual
intercourse with a man, Mary gave birth to the boy, not in Nazareth, but in the town of Bethlehem. Mary gave birth to Jesus in a
stable, because there was no room for her and her fiancé,
Joseph, in the inn. The birth was heralded by angels; and Mary
had laid the little child in a manger, the Holy Family was
visited by shepherds and by wise men from the East, who had been
led there by a star.
This story had been taken hold of my imagination long
before I ever studied history at school. So powerful was it
that I would not readily subject it to the ordinary processes of
historical analysis.. I continued, however, to suppose that it
was a story with a real historical setting. The Gospel
according to Luke dates it most specifically to a time when
Ceasar Augustus required that everyone in the
Roman Empire should take part in a census. It
happened at the time when Quirinius was governor of Syria (Luke 2: 2). Herod was King of
Judea at the time (Matthew 2: 1). This would seem to place the
birth of Jesus very accurately, until you discover that Herod
died four years before the Common Era began, and that Quirinius
was not the Governor of Syria during the reign of Herod. No
historian of the Roman Empire makes any mention of a universal census
during the reign of Emperor Augustus...
The story of the baby being born in a stable at Bethlehem because there was no room for him at
the inn is one of the most powerful myths ever given to the
human race. A myth, however, is what it is. Even if we insist
on taking every word of the Bible as literally true, we shall
still not be able to find there the myth of Jesus being born in
a stable. None of the Gospels state that he was born in a
stable, and nearly all the details of the nativity scenes which
have inspired great artists, and delighted generations of
churhgoers on Christmas Eve, stem neither from history nor from
Scripture, but from folk-lore. Once we go into the matter, we
discover that the real Jesus, the Jesus of History, is extremely
unlikely to have been born in Bethlehem. It is much more probable that he
was born in Galilee, where he grew up.
4.
Wilson, Colin, Rogue Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors,
pp. 18-25: The only messiah of that period who is remembered
today was called Joshua, better known by the Greek form of his
name, Jesus... Study of the scriptures had led him to
believe the world would end within the lifetime of people then
alive; there would be wars, famines, and earthquakes, and the
dead would be brought back to life. The sun would be turned
to darkness and the moon to blood, and the stars would fall
from the sky.
The
message by which we remember Jesus – love one’s neighbor and do
to others as you’d have them do unto you – was already a part of
the Jewish tradition. More than a thousand years of oppression
– the Jews had been enslaved by the pharaoh Rameses II as long
ago as 1250 B.C. – had developed a spirit of pacifism and
submission to the will of God; so Jesus’s injunction to love
your enemy was merely a restatement of the Mosaic teaching...
...One
of the most fundamental beliefs of Judaism was that the
sufferings of the Jews were caused by the sin of their
forefather Adam. Paul announced that this “original sin” had
been canceled out by the death of Jesus on the cross, so that
anyone who became a Christian was now redeemed...
Before 100 A.D. it was clear to everyone that Jesus’ prophecy
was not going to be fulfilled. But by that time, Christianity
had became widespread that this made no difference. The
expectation of the end of the world was now transferred to the
Millennium itself – the year 1000 A.D. – and the word Millennium
became a synonym for the Day of Judgement. Christianity
achieved its greatest triumph so far on 313 A.D. when the
Emperor Constantine – as blodthirsty and vicious a maniac as
many of the Roman emperors – declared it the official religion
of the empire...
How
did these “messiahs” become so powerful? To begin with, all of
them had the gift of preaching. But it was more than that. As
we have seen, the Christian Church, which began as as poor and
persecuted organization whose leaders were thrown to the lions,
suddenly became the official religion of
Rome in 313
A.D., under the Emperor Constantine.
As
soon as they gained power, the Christians began to behave far
worse than their enemies, destroying pagan temples, burning
heretics, and squabbling among themselves. In effect, the
Church became the supreme dictator. And the poor, ordered to go
to church every Sunday, groaning under heavy taxes, and forced
to pay to have their sins forgiven, became increasingly
disenchanted with their spiritual masters. But there was
nothing they could do; the Church exerted the same iron grip as
the Nazis in Germany or the Communists in Stalin’s Russia.
5. Funk,
Robert W., Honest to Jesus, p. 299: From now on we must always
ask whether the Christian tradition has something to teach us
and, if it does, what that something is. We can no longer give
Christianity prior consent without determining what we are
embracing as part of the bargain.
Các bài tôn giáo cùng tác giả