|
Lời Tòa Soạn 
Những mục của tác giả Trần Chung Ngọc:
1
2
3
4
Những mục của tác giả Nguyễn Mạnh Quang:
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Lời Kết Chung
Mục VI. Thánh Kinh Ki Tô Giáo Viết Những Gì?

Cuối cùng là vấn đề thẩm quyền của cuốn Thánh
Kinh, nghĩa là cuốn Thánh Kinh có phải là những lời mạc khải không thể
sai lầm của Thiên Chúa hay không, và nội dung cuốn Thánh Kinh ra sao,
ngoài những câu vụn vặt mà các tín đồ thường hay trích dẫn làm hậu thuẫn
cho niềm tin của mình.
Ngày nay, những ai còn nói chuyện mạc khải, hay
thẩm quyền của Thánh Kinh, thật ra chỉ là những người còn sống trong
bóng tối, lạc hậu ít ra là vài thế kỷ. Bởi vì, thực tế là, Thánh Kinh
có phải là do Thiên Chúa mạc khải hay không thì trong Thánh Kinh, những
chuyện loạn luân vẫn là loạn luân, độc ác vẫn là độc ác, giết người vẫn
là giết người, phi lý phản khoa học vẫn là phi lý và phản khoa học
v..v… Và trong Thánh Kinh, chúng ta phải thành thực mà công nhận rằng,
không thiếu gì những chuyện thuộc những loại này. Thật vậy, tất cả
những chuyện thuộc các loại sau đây chiếm hơn nửa cuốn Kinh Thánh:
bạo hành giết người (Violence & Murder), giết người
hàng loạt (Mass Killing), loạn luân (Incest),
ăn thịt người (Human Cannibalism), độc ác đối với trẻ
con (Child cruelty), tục tĩu quá mức (Scatology),
trần truồng (Nakedness), đĩ điếm (Harlotry),
hiếp dâm (Rape), thù hận tôn giáo và chủng tộc
(Religious & Ethnic Hatred), nô lệ (Slavery), say
rượu (Drunkeness) v..v.. [Xin đọc cuốn Tất Cả Những Chuyện
Tục Tĩu Trong Kinh Thánh (All The Obscenities In The Bible)
của Gene Kamar], chưa kể là những lời “mạc khải” của Thiên Chúa
về vũ trụ, nhân sinh, đã chứng tỏ là hoàn toàn sai lầm trước những sự
kiện khoa học bất khả phủ bác ngày nay.
Chắc có độc giả, nhất là những tín đồ Ki Tô,
những người chưa từng đọc Thánh Kinh, không thể tin được như vậy. Xin
hãy mở cuốn Thánh Kinh ra và đọc với một đầu óc chưa bị nhiễm độc, đọc
từ đầu đến cuối, đừng bỏ sót phần nào. Đọc xong sẽ thấy rằng tất cả
những chuyện không nên đọc như trên đều nằm trong Thánh Kinh. Nếu ngại
công tìm kiếm những điều trên, có đầy trong Thánh Kinh, tôi xin giới
thiệu một số tác phẩm trong đó các tác giả đã trích dẫn sẵn những câu,
những đoạn trong Thánh Kinh mà lẽ dĩ nhiên các tín đồ Ki Tô Giáo không
bao giờ được nghe giảng trong nhà thờ:
- “Cuốn Thánh Kinh Thuộc Loại Dâm
Ô: Một Nghiên Cứu Bất Kính Về Tình Dục Trong Thánh Kinh” [The
X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scripture, AA Press,
Austin, Texas, 1989] của Ben Edward Akerley:
cuốn sách dày hơn
400 trang, liệt kê những chuyện tình dục dâm ô, loạn luân trong Thánh
Kinh.
- “Tất Cả Những Chuyện Tục Tĩu Trong Thánh Kinh”
[All The Obscenities in the Bible, Kas-mark Pub., MN, 1995] của
Kasmar Gene: cuốn sách dày hơn 500
trang, liệt kê tất cả những chuyện tục tĩu, tàn bạo, giết người, loạn
luân v..v.. (Human sacrifice, murder and
violence, hatred, sex, incest, child cruelty etc..) trong Thánh Kinh.
- “Sách Chỉ Nam Về Thánh Kinh” [The Bible
Handbook, AA Press, Ausrin, Texas, 1986] của W. P. Ball,
G.W.Foote, John Bowden, Richard M. Smith …: Liệt kê những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities),
bạo tàn (atrocities) v..v.. trong Thánh Kinh.
- “Sách Hướng Dẫn Đọc Thánh Kinh Của Người Tái Sinh
Nhưng Hoài Nghi” [The Born Again Skeptic’s Guide To The Bible,
Freedom From Religion Foundation, Wisconsin, 1979] của Bà Ruth Hurmence
Green: Bình luận những chuyện tàn
bạo, dâm ô, kỳ thị phái nữ trong Thánh Kinh.
- “Một Trăm Điều Mâu Thuẫn Trong Thánh Kinh”
[One Hundred Contradictions in the Bible, The Truth Seeker Company, New
York, 1922] của Marshall J. Gauvin:
Liệt kê 100 điều mâu thuẫn trong Thánh Kinh.
- “Lột mặt nạ Thánh Kinh” [The Bible Unmasked,
The Frethought Press Association, New York, 1941] của Joseph Lewis:
đưa ra những sai lầm trong Thánh Kinh.
- “Thẩm Vấn Ki Tô Giáo” [Christianity
Cross-Examined, Arbitrator Press, New York, 1941] của William Floyd:
Phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh.
- “Ki Tô Giáo Và Loạn Luân” [Christianity and
Incest, Fortress Press, MN, 1992] của Annie Imbens & Ineke Jonker:
Viết về Ki Tô Giáo và vấn đề loạn luân, những sự kiện về loạn luân và
kỳ thị phái nữ bắt nguồn từ Thánh Kinh.
Xin nhớ rằng, những cuốn sách khảo cứu về Thánh Kinh như trên mà
tác giả đều là những người sống trong quốc gia phần lớn theo đạo Giê-su,
Mỹ, đã được phổ biến rộng rãi trên đất Mỹ, và Ca-Tô Giáo cũng như Tin
Lành, dù có nhiều quyền thế và tiền bạc, cũng không có cách nào dẹp bỏ
những cuốn sách trên, hay đối thoại để phản bác, vì tất cả đều là sự
thật. Vì thế nên Khoa học gia Ira Cardiff đã đưa ra một nhận xét rất
chính xác như sau:
“Hầu như không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh. Cá
nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín đồ thông thường) chắc chắn là
có một cuốn Thánh kinh, có thể là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ
không bao giờ đọc nó – đừng nói là đọc cả cuốn.
Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một óc
phê phán thì chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi.”
(Virtually no one really reads the Bible. The above mentioned
individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but he
never reads it – much less reads all of it.
If an intelligent man should critically read it all, he would
certainly reject it.)
Nhưng rõ ràng hơn cả là những đoạn sau đây của Jack Bays viết
trong cuốn Hình Bóng Của Quỷ (The Shadow Of The Demon), trg. 6-7,
về những điều độc ác phi lý trong Thánh Kinh, những điều đã làm nguồn
cảm hứng cho những hành động của Giáo hội Ca Tô sau này:
“Theo Thánh Kinh, hơn 99% những sự trừng phạt của Chúa Cha
là đổ lên đầu những người vô tội – những người không hề dính líu
gì tới những trường hợp để Chúa phải trừng phạt.
Vì Adam ăn một trái táo mà cả nhân loại bị đày đọa: “Vì sự
xúc phạm của một người, cả nhân loại bị kết án và luận phạt” (Rom:
5:18). Những tư tưởng như vậy là từ đầu óc của một người
man rợ không hề có một mảy may ý niệm nào về công lý.
Chúng ta được biết Thần Ki Tô mang 10 tai họa
đến cho dân Ai Cập vì tim của Vua Ai Cập (Pharaoh) trai cứng
(nghĩa là tàn nhẫn. TCN). Những người dân này không liên quan gì
tới việc Pharaoh có trái tim trai cứng. Tuy vậy, gia súc của họ bị chết
hết, mùa màng hư hại, vườn tược suy sụp, nhà cửa đổ nát, và tất cả những
đứa con sinh đầu lòng đều bị giết. Nếu là lỗi của Pharaoh thì chỉ
mình Pharaoh phải gánh chịu tai họa mà thôi. Và chúng ta cũng biết,
chính Thiên Chúa đã làm cho trái tim của Pharaoh trai cứng.
Theo Thánh Kinh, Thiên Chúa đã dạy dân mà Ngài đặc biệt chọn
(Do Thái) làm tội ác và giúp dân này thực hiện những tội ác.
Thiên Chúa giúp Jacob lừa dối cậu của hắn ta (Gen: 30: 27-43),
và Thiên Chúa dạy dân ngài chọn (Do Thái) đi lừa dối dân Ai Cập
trong một cuộc lừa đảo lớn nhất trong lịch sử (Exo: 11: 2-4).
Dân Ai Cập không trả công đủ cho dân Do Thái (đang làm nô lệ ở Ai
Cập. TCN), cho nên, bài học luân lý vĩ đại của Thiên Chúa là: nếu
chủ ngươi không trả công xứng đáng cho ngươi thì ngươi hãy ăn cắp của
chủ để bù vào sự thiệt hại này.
Những chuyện này trong Thánh Kinh chứng tỏ những người viết
Thánh Kinh có đầu óc của những dân man rợ, không có một ý niệm nào về
công bằng và bác ái. Trong những cuộc chiến tranh chiếm đất phát
động bởi “dân được Thiên Chúa chọn”, lệnh truyền ra là phải giết sạch
mọi người, già hay trẻ. Ít ra là trẻ thơ không có tội tình gì và tội
lỗi duy nhất của những người lớn tuổi là họ có đất đai và con gái mà
những kẻ man dại, liều lĩnh, muốn chiếm hữu. Những nạn nhân này
cũng là người có tín ngưỡng khác, và sự khoan nhượng tín ngưỡng của
người khác là điều mà Thiên Chúa quyết định cấm, theo như Thánh
Kinh. Dân “thánh Chúa” được lệnh phải tiêu diệt tất cả những ai
không cùng tín ngưỡng. Thánh Kinh dạy chúng ta là phải giết ngay cả con
trai, con gái, cha, mẹ chúng ta nếu những người này không theo tôn giáo
của chúng ta. (Phục Truyền 13: 6-10).”
(More than 99% of all the punishment meted out by God, according
to the Bible, was upon innocent people – people not even accused of
having anything to do with the incidents that brought on the punishment.
Because Adam ate a certain apple all mankind is doomed: “By the
offense of one, judment came upon all men to condemnation” (Rom: 5:18).
Such thoughts came from the mind of a savage who never had the slightest
conception of justice.
We are told that God brought the ten scourges upon the Egyptians
because Pharaoh’s heart was hardened. These people had nothing to do
with the hardening of Pharaoh’s heart. Yet their stock was killed, their
crops ruined, their orchards destroyed, their buildings broken down, and
their first born killed. If it was Pharaoh’s fault then he alone should
have suffered. As the story goes it was God who hardened his heart..
According to the Bible, God taught his chosen people crime and
aided them in it. He helped Jacob cheat his uncle (Gen: 30: 27-43), and
he taught and helped his chosen people defraud the Egyptians in the
largest con game in history (Exo: 11: 2-4). The Egyptians did not pay
the Israelites enough, so the great moral lesson seems to be that if
your boss does not pay you enough you are supposed to steal from him to
make up for it.
These stories show that the Bible writers had the minds of
barbarians with no conception of mercy or justice. In the wars of
conquest waged by the “chosen people of God”, the command was for
slaughter of old and young. At least the children were innocent of
anything wrong and the only sin for which adults were being punished was
that they had lands and young daughters that these wild, ruthless
barbarians wanted. The victims had different religious ideas, too, and
religious tolerance was positively forbidden by God according to the
Bible. The “holy people” were to exterminate all who had a different
religion. The Bible commands that son, daughter, father or mother be
killed if they differ with us in religion. (Deut: 13: 6-10)).
Với nội dung cuốn Thánh Kinh như trên, chúng ta không lấy gì làm
lạ khi gần đây, ở Hồng Kông đang có phong trào đòi Ủy Ban Đạo Đức Hồng
Kông phải xếp lại Kinh Thánh của Ki Tô Giáo vào loại sách tục tĩu,
khiêu dâm, tàn bạo, loạn luân, và Kinh Thánh phải bọc kỹ và bên ngoài
phải khuyến cáo độc giả về nội dung, và không được bán cho trẻ em dưới
18 tuổi. [http://news.yahoo.com: More than 800 Hong
Kong residents have called on authorities to reclassify the Bible as
“indecent” due to its sexual and violent content.. The complaints
said the holy book “made one tremble” given its sexual and violent
content, including rape and incest. If the Bible is similarly
classified as “indecent” by authorities, only those over 18 could buy
the holy book and it would need to be sealed in a wrapper with a
statutory warning notice.]
Nhà Nước Việt Nam cũng nên theo gương Hồng Kông để ra điều luật về
sự truyền bá công khai cuốn Thánh Kinh, công bố rộng rãi trong quần
chúng, đó không phải là vi phạm tự do tín ngưỡng, mà là nội dung cuốn
Thánh Kinh không thích hợp với nền văn hóa của Việt Nam. Nếu cần, có
thể tổ chức một cuộc “trưng cầu dân ý” để quyết định về đạo luật này sau
khi bố cáo cho quần chúng biết đại cương về nội dung cuốn Thánh Kinh.
Trước những sự thực về cuốn Thánh Kinh, và trước những sự tiến bộ
của khoa học trong việc tìm hiểu vũ trụ và nhân sinh, con người trong
thời đại này không còn thể nào tiếp tục tin vào những điều hoang đường,
phi lý và không thể đọc được trong Thánh Kinh và trong những giáo lý của
Ca Tô Giáo Rô-ma nữa. Điều này phản ánh sự suy thoái trầm trọng của Ki
Tô Giáo đang xẩy ra ở phương trời Âu Châu, cái nôi của Ca-Tô Giáo Rô-ma
và Tin Lành trước đây. Tuy nhiên, điều đáng nói là, không phải là các
giáo hội con không biết đến những sự kiện này, mà vì những quyền lợi thế
tục về quyền lực cũng như về kinh tế, các giáo hội con ở các địa phương
kém phát triển vẫn tiếp tục lùa đám giáo dân thấp kém vào những ốc đảo
ngu dốt (từ của linh mục Trần Tam Tĩnh), bưng bít và dấu kín mọi tiến bộ
của con người. Tín đồ Ca Tô quả là những người đáng thương chứ không
đáng trách. Họ bị nhào nặn từ nhỏ để tin vào những điều không còn giá
trị gì trong thế giới tiến bộ vì chúng cực kỳ phi lý, phản khoa học,
chỉ phù hợp với đầu óc của những tín đồ Âu châu trong thời Trung Cổ.
Bởi vậy, ở Việt Nam chúng ta còn thấy xuất hiện những tấm bảng đề “Dòng
Tỳ Nữ Của Chúa Giê-su”; “Kính mừng Tông đồ Phê-rô”, hay “Chúa Giê-su
Chết Thay Cho Tôi” v.. v.. phản ánh một niềm tin không cần biết, không
cần hiểu như ông Giáo sư theo đạo Giê-su Đỗ Mạnh Tri đã viết không chút
ngượng ngùng trong cuốn “Ngón Tay Và Mặt Trăng” trước đây.
Cho nên, theo tôi, mọi người chúng ta cần phải nỗ lực giải hoặc cho họ,
giúp họ theo kịp đà tiến bộ của nhân loại, giúp họ biết rõ sự thật về
bản chất của tôn giáo họ, để từ đó họ có thể tự mình giải thoát ra khỏi
mớ xiềng xích tâm linh vô hình. Trong thế giới Tây phương, không thiếu
gì những bậc lãnh đạo Ca Tô, từ những nhà Thần học, các hồng y, giám
mục, linh mục, cho đến các học giả trí thức v..v.. đã làm công việc này.
Và viết bài này, tôi cũng không đi ra ngoài mục đích trên, một hành động
mà theo tôi, trong thời đại này, vì sự tiến bộ của quốc gia trên mọi
mặt, chúng ta không thể tự cho phép lơ là trước những vấn đề trọng đại
của đất nước.
Nhưng tại sao trên thế giới ngày nay vẫn có hàng triệu người,
không phải là Do Thái, thờ phụng Giê-su, tin vào sự cứu chuộc của
Giê-su? Nguyên nhân chính là Ki-tô Giáo đã ngự trị ở Âu Châu với thế
quyền và thần quyền tuyệt đối ở Âu Châu trên ngàn năm, từ thế kỷ 4 đến
thế kỷ 16, đã áp dụng chính sách khủng bố, tra tấn, thiêu sống người
ngoại đạo cũng như lạc đạo (không tin những gì giáo hội Ca-tô muốn con
người phải tin) để cưỡng bách mọi người phải theo đạo, và sau này, từ
thế kỷ 18, đã làm tiên phong hay đồng hành với các thế lực thực dân Âu
Châu đi xâm chiếm và “mang tin lành” [thật ra là “tin dữ”(bad news),
theo giáo sư David Voas trong cuốn The Bad News Bible : The New
Testament] đến các quốc gia nhỏ bé, kém phát triển, đặc biệt là ở
Nam Mỹ, Phi Châu và Á Châu. Ở những nơi đây, Ki Tô Giáo tập trung sự
truyền đạo trong những cộng đồng nghèo khổ, thấp kém, ít học hay vô học.
Điều này thật rõ ở khắp nơi, kể cả ở Việt Nam. Đây là những môi trường
thích hợp nhất để mê hoặc đầu óc những con người cùng đinh trong xã hội
vào trong vòng mê tín, dị đoan.
Trong những cộng đồng nghèo khổ, thấp kém, ít học hay vô học này,
lòng “tin Chúa” của các tân tòng đạo Giê-su là tin theo những lời giảng
của các linh mục, mục sư trong các nhà thờ về Giê-su qua những đoạn chọn
lọc một chiều rất kỹ trong Tân ước để chỉ đưa ra một khía cạnh về con
người của Giê-su mà họ tôn lên làm Chúa. Vì không đọc Thánh Kinh, và
phần lớn vì kém hiểu biết nên tuyệt đại đa số tín đồ không có khả năng
để biết là những điều họ nghe giảng trong nhà thờ, hay những đoạn trích
dẫn vụn vặt trong Thánh Kinh nhiều khi rất mâu thuẫn với những đoạn khác
trong Thánh Kinh, không nhất quán, và thường không đúng với những sự
thực về Giê-su như được viết rõ trong Thánh Kinh. Vả chăng lòng cả
tin hầu như tiềm ẩn trong mọi con người, cho nên họ rất dễ tin vào những
điều hứa hẹn về một thiên đường của giới truyền đạo nhất là khi họ được
nhồi sọ để mà tin, không cần biết, không cần hiểu. Họ không có khả năng
để nhận biết Giê-su có xứng đáng để cho họ kính ngưỡng hay không. Hơn
nữa, vì đầu óc yếu kém nên họ sợ hãi trước sự hù dọa về sự đầy đọa trong
hỏa ngục nếu không chịu tin những lời các nhà truyền giáo giảng dạy. Và
cũng vì đầu óc yếu kém nên họ đi theo con đường dễ dãi, chỉ cần tin là
có thể lên được thiên đường như họ được hứa hẹn. Và nhất là, họ không
biết đến những sự thật trong thế giới tiến bộ ngày nay mà chính Giáo
hoàng cũng như nhiều bậc lãnh đạo trong Ca Tô Giáo Rô Ma cũng như Tin
Lành đã phải chính thức thú nhận trước quần chúng là: Chẳng làm gì có
thiên đường cũng như chẳng làm gì có hỏa ngục. Đã không có thiên
đường thì họ hi vọng ở cái gì? và đã không có hỏa ngục thì họ còn sợ
hãi ở cái gì? Nhưng điều đáng buồn là, họ vẫn hi vọng, vẫn sợ hãi, và
kết quả là vẫn cần một cặp nạng.
Ở Á Châu sự truyền đạo của Ki Tô Giáo chỉ thành công ở Phi Luật
Tân vì nước này đã bị Tây Ban Nha xâm chiếm và áp dụng chính sách khủng
bố, diệt trừ mọi nền văn hóa bản địa. Nhưng khi gặp phải các nền văn
hóa cao hơn và thuần nhất như ở Trung Hoa, Nhật Bản, thì Ki Tô Giáo hoàn
toàn thất bại. Cho tới ngày nay, ở Trung Quốc chưa tới 1% người theo
đạo, và ở Nhật Bản, dù Nhật đã thất trận trong Đệ Nhị Thê Chiến và Ki Tô
Giáo được tự do truyền đạo ở đó, số người theo đạo cũng chưa lên tới 2%.
Riêng ở Việt Nam, sự truyền đạo của Ca Tô Giáo Rô Ma thành công phần
nào, chiếm được khoảng 7% dân số, phần lớn là do sách lược truyền đạo
vào những cộng đồng nghèo khổ, thấp kém, ít học hay vô học trong xã hội
Việt Nam ngày xưa, và bành trướng được về sau, từ hậu bán thế kỷ 19, vì
đã có công làm tay sai, hỗ trợ cuộc xâm chiếm Việt Nam bằng quân sự của
thực dân Pháp.. Đây là những sự kiện lịch sử không ai có thể chối cãi,
nếu chúng ta đã đọc những nhận định và tài liệu của Giám mục Puginier,
Toàn Quyền De Lanessan, và Linh mục Trần Tam Tĩnh v..v.. Về những
tài liệu này, xin đọc CHƯƠNG VIII:
XUNG QUANH VẤN ĐỀ THIÊN CHÚA GIÁO VÀO VIỆT NAM trong cuốn
Công Giáo Chính Sử Của Trần Chung Ngọc trên
http://sachhiem.net:
http://sachhiem.net/TCNtg/CGchinhsu/CGCS8.php
Nhưng sự thất bại của Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam, dù được thực
dân Pháp nâng đỡ trong thời kỳ đô hộ, và trong 9 năm cầm quyền ở miền
Nam của Ngô Đình Diệm với chính sách độc tài Ca-Tô giáo, là trong mấy
trăm năm, từ 1533, khi thừa sai đầu tiên xâm nhập Việt Nam để truyền
đạo, tỷ lệ trên dân số của Ca-Tô Giáo Rô-ma tại Việt Nam không tăng
được, dù có tất cả những lợi thế trong xã hội, cũng chỉ quanh quẩn ở mức
5-7%. Điều này chứng tỏ văn hóa Việt Nam không thích hợp với văn hóa
Ca-Tô Giáo Rô-ma, nếu chúng ta cho rằng Ca-Tô Giáo Rô-ma có một cái gì
gọi là văn hóa. Chúng ta cần phải coi đây như là nhờ hống phúc của
tổ tiên. Và, vì không ai có thể đi ngược lại sự tiến bộ trí thức của
nhân loại, cho nên tôi tin rằng, trước sau gì rồi đạo Giê-su cũng phải
suy thoái ở Việt Nam cũng như đã đang suy thoái trầm trọng ở Âu Châu.
Bởi vì con người không thể tiếp tục tin vào những điều không thể tin
được. Đây là một quá trình tiến hóa tự nhiên của nhân loại.
Chúng ta thấy rằng, những huyền thoại về Giê-su được giáo hội bịa
đặt và đưa ra rõ ràng là để khai thác tính tình nhạy cảm và khuynh hướng
cả tin, mê tín của con người ngay từ khi còn nhỏ. Chúng ta cũng
không thể phủ nhận là, trong các giáo hội Ki Tô có rất nhiều người thông
minh, hiểu nhiều. Nhưng thay vì dùng cái thông minh của mình để khai
sáng cho đám tín đồ thấp kém, dẫn dắt họ trên con đường mở mang trí tuệ,
thì họ lại cố vận dụng trí óc của mình để nghĩ ra những lý luận thần học
hoang đường, để nhồi sọ tín đồ từ khi còn nhỏ tuổi, huyễn hoặc những tín
đồ thấp kém và nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín, song song với những
thủ đoạn nhơ bẩn, lừa dối, cùng phát minh ra những dụng cụ tra tấn dã
man, tàn bạo nhất trong lịch sử loài người để chiêu dụ, cưỡng ép những
người ngoại đạo phải tin theo những điều mà họ cho là “chân lý mạc
khải”, không thể sai lầm. Đó là khổ nạn của thế giới ngày nay, nhất
là thế giới của những quốc gia kém phát triển, nghèo khó, dân trí chưa
mở mang. Người dân chất phác đâu có đủ khả năng để hiểu những lý luận
thần học ngụy biện. Họ đặt tất cả lòng tin vào những bậc lãnh đạo Ki Tô
Giáo mà họ yên trí đó là những người có ăn học, thông thái, lương thiện,
thành thật. Họ có biết đâu, vì tin vào vài hứa hẹn huyền hoặc mà họ
không đủ lý trí để suy luận và đánh giá, nên họ đã bị lùa vào trong một
định chế tôn giáo toàn trị mà mục đích chính chỉ để duy trì quyền lợi
vật chất và tinh thần của một số nhỏ. Và tệ hơn nữa, vì ở trong định
chế tôn giáo toàn trị với tâm cảnh “quên mình trong vâng phục” nên họ
trở thành phi-dân tộc và khó tránh khỏi phản dân tộc. Đây là những
kinh nghiệm lịch sử khá đau lòng.
Với mục đích làm sáng tỏ hơn những điều tôi viết trong phần trên,
tôi nghĩ trích dẫn thêm một số tài liệu thời đại về Thánh Kinh, về
Giê-su của các bậc thức giả trong thế giới Tây Phương không phải là vô
ích.
Trong một phần trên, chúng ta đã biết là Giám Mục James A. Pike
coi Giê-su không gì khác hơn một người thường và có một kiến thức giới
hạn. Học giả Colin Wilson còn đi xa hơn nữa, sau khi nghiên cứu về
nhiều nhân vật tự xưng là Đấng Cứu Thế trong lịch sử cổ xưa của loài
người, ông ta đã viết một cuốn sách với nhan đề: Những Đấng Cứu Thế
Lừa Đảo: Những Chuyện Về Những Đấng Cứu Thế Tự Phong (Rogue
Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors) trong đó có chương nói về
Giê-su. Sau đây là vài đoạn ngắn, trang 18-25:
Đấng Cứu Thế duy nhất trong thời kỳ đó mà ngày nay người ta còn
nhớ đến, tên là Joshua, được biết nhiều hơn dưới tên Hi Lạp, Giê-su…
Ông ta đọc Cựu Ước và tin rằng ngày tận thế sẽ đến ngay trong thời đại
của những người sống cùng thời với ông ta; khi đó sẽ có chiến tranh, nạn
đói, động đất, và người chết sẽ được làm cho sống lại.
Mặt Trời sẽ trở nên tối tăm và Mặt Trăng sẽ đỏ ngầu như máu, và
các ngôi sao sẽ từ trên trời rơi rụng xuống. [Như được viết
trong sách Khải Huyền. TCN]
Thông điệp làm cho chúng ta nhớ tới Giê-su – hãy yêu người láng
giềng và làm cho người ta những điều mà mình muốn người ta làm cho mình
– đã là một phần trong truyền thống Do Thái. Hơn 1000 năm bị
áp bức – người Do Thái đã bị nô lệ hóa bởi Vua Ai Cập từ 1250 năm trước
thời đại thông thường này – đã tạo nên cho người dân một tâm cảnh hòa
bình và tuân phục ý Chúa; do đó khi Giê-su dạy hãy yêu kẻ thù là ông ta
chỉ nhắc lại điều Moses dạy…
Một trong những niềm tin căn bản của Do Thái là những sự đau
khổ của người Do Thái bắt nguồn từ tội lỗi của ông tổ Adam của họ.
Phao-Lồ rao truyền rằng cái “tội tổ tông” này đã được hóa
giải bởi cái chết của Giê-su trên thập giá, cho nên người nào trở thành
tín đồ Ki-Tô thì nay cái tội tổ tông họ mang trên người đã được cứu
chuộc. [Đây chỉ là một luận điệu thần học ấu trĩ của thời bán khai,
vì nếu quả thật cái chết của Giê-su trên thập giá có thể chuộc được tội
thì đó là chuộc cái “tội tổ tông” cho cả dân Do Thái (Giới trí thức
trong thời đại này coi chuyện “tội tổ tông” là chuyện hoang đường nhất
trong những chuyện hoang đường, không những tầm bậy mà còn nói lên cái
tâm địa tàn nhẫn độc ác và phủ nhận trách nhiệm của chính Thiên Chúa),
chứ không phải chỉ chuộc tội cho những người Do Thái nào trở thành tín
đồ Ki Tô.]…
Đến năm 100 của thời đại thông thường này, mọi người đều
thấy rõ là lời tiên tri của Giê-su sẽ không thực hiện được.
Nhưng khi đó thì Ki Tô Giáo đã lan rộng cho nên đó không thành vấn đề.
Sự mong đợi ngày tận thế nay được hoãn lại một thiên niên kỷ, tới năm
1000 – và từ ngữ “thiên niên kỷ” trở thành đồng nghĩa với “Ngày Phán
Xét”. Ki Tô Giáo đạt được chiến thắng lớn năm 313 khi
hoàng đế Constantine – một tên ngông cuồng ngu xuẩn khát máu và sa đọa
như nhiều hoàng đế La Mã – tuyên dương Ki Tô Giáo là tôn giáo chính thức
của đế quốc La Mã…
Làm sao mà những “Đấng Cứu Thế” này lại hấp dẫn như vậy. Thứ
nhất, họ đều là những người có năng khướu thuyết giảng. Nhưng không
phải chỉ có vậy. Chúng ta đã biết, Giáo hội Ki Tô, mới đầu là một tổ
chức nghèo nàn và bị bạo hành, nhiều người lãnh đạo bị ném cho những con
sư tử ăn thịt, đột nhiên trở thành tôn giáo chính thức của La Mã năm
313, dưới triều hoàng đế Constantine.
Khi có được quyền lực rồi, những tín đồ Ki Tô bắt đầu xử sự
ngay một cách tệ hại hơn kẻ thù của họ rất nhiều: phá hủy những đền đài
của dân gian, thiêu sống những kẻ ngoại đạo, và cãi vã với nhau. Thực
chất là, Giáo hội đã trở thành một tổ chức siêu độc tài. Và dân
nghèo, được lệnh phải đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, rên xiết dưới gánh
nặng thuế má, và bắt buộc phải trả lệ phí để cho tội lỗi của họ được tha
thứ, càng ngày càng trở nên bất mãn với những lãnh đạo tinh thần của
họ. Nhưng họ không thể làm gì được; Giáo hội đã đặt họ vào
trong gọng kìm sắt như là Đức Quốc Xã (Nazis) ở Đức hoặc Cọng Sản dưới
thời Stalin ở Nga.
[Wilson, Colin, Rogue
Messiahs: Tales of Self-Proclaimed Saviors, pp. 18-25: The only
messiah of that period who is remembered today was called Joshua, better
known by the Greek form of his name, Jesus… Study of the scriptures
had led him to believe the world would end within the lifetime of
people then alive; there would be wars, famines, and earthquakes, and
the dead would be brought back to life. The sun would be turned to
darkness and the moon to blood, and the stars would fall from the sky.
The message by which we remember Jesus – love one’s neighbor and
do to others as you’d have them do unto you – was already a part of the
Jewish tradition. More than a thousand years of oppression – the Jews
had been enslaved by the pharaoh Rameses II as long ago as 1250 B.C. –
had developed a spirit of pacifism and submission to the will of God; so
Jesus’s injunction to love your enemy was merely a restatement of the
Mosaic teaching…
…One of the most fundamental beliefs of Judaism was that the
sufferings of the Jews were caused by the sin of their forefather Adam.
Paul announced that this “original sin” had been canceled out by the
death of Jesus on the cross, so that anyone who became a Christian was
now redeemed…
Before 100 A.D. it was clear to everyone that Jesus’ prophecy was
not going to be fulfilled. But by that time, Christianity had became
widespread that this made no difference. The expectation of the end of
the world was now transferred to the Millennium itself – the year 1000
A.D. – and the word Millennium became a synonym for the Day of
Judgement. Christianity achieved its greatest triumph so far on 313
A.D. when the Emperor Constantine – as blodthirsty and vicious a maniac
as many of the Roman emperors – declared it the official religion of the
empire…
How did these “messiahs” become so powerful? To begin with, all
of them had the gift of preaching. But it was more than that. As we
have seen, the Christian Church, which began as as poor and persecuted
organization whose leaders were thrown to the lions, suddenly became the
official religion of Rome in 313 A.D., under the Emperor Constantine.
As soon as they gained power, the Christians began to behave far
worse than their enemies, destroying pagan temples, burning heretics,
and squabbling among themselves. In effect, the Church became the
supreme dictator. And the poor, ordered to go to church every Sunday,
groaning under heavy taxes, and forced to pay to have their sins
forgiven, became increasingly disenchanted with their spiritual
masters. But there was nothing they could do; the Church exerted the
same iron grip as the Nazis in Germany or the Communists in Stalin’s
Russia.]
Tuyệt đại đa số các tín đồ Ki-Tô Giáo không biết đến lịch sử tàn
bạo của các giáo hội Ki Tô, không biết đến những thủ đoạn “trí thức”
nhằm nhốt tín đồ vào trong vòng mê tín tối tăm của giới chăn chiên,
không biết đến những sự thay đổi trong não trạng của các cấp lãnh đạo
tôn giáo, và nhất là không biết đến những thú nhận sai lầm thần học
của giáo hội trước những sự kiện bất khả phủ bác của khoa học và thực tế
ở ngoài đời. Do đó, đức tin của họ vẫn thuộc đức tin của thời Trung
Cổ, tin vào những chuyện không thể tin được trong thời đại mới.
Theo Robert W. Funk, chủ tịch Hội Nghiên Cứu Nhân Vật Giê-su
(President of the Jesus Seminar), một Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh và nhân
vật Giê-su gồm hàng trăm học giả, chuyên gia, ở trong các giáo hội Ki
Tô, thì “thời đại mới” (New age) có nghĩa quan trọng nhất là sự
chấm dứt của thời đại Ki Tô (The “new age” refers first and foremost to
the end of the Christianized era). Trong cuốn Honest to Jesus,
trang 297, ông viết: “Định nghĩa “thời đại mới” như trên, tôi không
bảo rằng Ki Tô Giáo đã hết thời; tôi chỉ cho rằng Tây phương được Ki-Tô
hóa và kỹ nghệ hóa không còn giữ vai trò chỉ đạo trò chơi duy nhất trên
trái đất” (I am not thereby claiming that Christianity has come to
an end; I am only proposing that the Christianized, industrialized West
can no longer pretend to sponsor the only game on the planet)
Ông viết tiếp, trang 298:
…Ở Tây phương, cái biểu tượng của vũ trụ cổ xưa đang trên đà
suy thoái. Chắc chắn là, nó còn lay lắt, dưới một dạng thức yếu kém,
trong nhiều ốc đảo, nơi đây một hoạt động của đoàn quân hậu vệ [giới
chăn chiên] được tung ra để chống lại ảnh hưởng của những đầu óc hiện
đại có tác dụng soi mòn và phá hoại của những chất a-cít. Những ai còn
bám víu vào những quan niệm cổ xưa càng ngày càng thấy khó khăn hơn
trong việc làm cho những câu trong Thánh Kinh như “ông ta bay lên trời”
có ý nghĩa. Những sự hấp dẫn về một Thiên Chúa mà ta xác
nhận, về thiên đường và hỏa ngục, về một đấng cứu chuộc thần thánh, về
Chúa Ki-Tô như là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và
nhân loại, đã bắt đầu mất đi tác dụng và thường là rơi vào những
cặp tai không còn ai muốn nghe.
(.. in the West, the old symbolic universe is on the
decline. It lingers on, to be sure, in weakened form, in many pockets
where a rearguard action is being waged against the erosive and
corrosive acids of the modern mind. Those who cling to the old are
having increasing difficulties in assigning meaning to such biblical
statements as “he ascended into heaven”. Appeals to an endorsing God,
to heaven and hell, to a divine redeemer, to Christ as the sole mediator
between God and humankind, have begun to lose their bite and more
frequently fall on unhearing ears.)
Tuy rằng về phương diện trí thức và hiểu biết, tôi nghĩ không
có lý do gì chính đáng để người Việt Nam theo đạo Giê-su, nhưng về
phương diện tín ngưỡng thuộc vấn đề tâm linh, tôi không thể nói được
điều gì. Do đó tôi tuyệt đối không ngăn cản, không phản đối bất cứ người
Việt Nam nào muốn theo đạo Giê-su. Đó là quyền tự do tuyệt đối của họ.
Để cho vấn đề được đầy đủ, tôi nghĩ cũng nên duyệt qua vài lý luận quen
thuộc biện minh cho việc theo đạo Giê-su của một số người Việt Nam theo
đạo.
Người theo đạo Giê-su cho rằng “Đạo nào cũng tốt, cũmg dạy
con người làm lành, tránh ác”, vậy thì họ đâu có vấn đề gì khi
theo đạo Giê-su. Họ cũng tin rằng, một khi gia nhập đạo Giê-su là họ
được ở trong một “Hội Thánh”, do đó đương nhiên là họ ở một vị
thế cao hơn, thánh thiện hơn, những người ngoại đạo. Họ được các “bề
trên” dạy như vậy. Họ cũng được dạy để tin rằng, Kinh Thánh là những
lời mạc khải của Thiên Chúa, và vì đã là những lời mạc khải của
Thiên Chúa thì không thể sai lầm. Vì vậy chúng ta thường thấy những
người Ki-Tô Giáo hay trích dẫn một vài câu trong Kinh Thánh mà họ cho là
những “chân lý mạc khải” để bảo đảm niềm tin của mình chứ không phải để
thuyết phục người đối thoại.. Chúng ta hãy thử phân tích những chủ đề
trên để xem đâu là sự thực.
Dạy con người “làm lành tránh ác” không phải là giáo lý đặc thù
của bất cứ một tôn giáo nào, mà là một điều rất phổ quát trong dân gian,
trong tôn giáo cũng như ngoài tôn giáo. Bố mẹ nào mà chẳng dạy con cái
“làm lành tránh ác”. Nhưng nếu trong một tôn giáo, ngoài những điều dạy
“làm lành tránh ác” lại có những điều dạy “làm ác” thì chúng ta tính
sao? Vấn đề đặt ra với đạo Giê-su là có phải đạo này chỉ dạy con người
làm lành tránh ác, hay ngoài ra, còn cái gì khác nữa không. Để nhìn một
cách đứng đắn vào bất cứ một tôn giáo nào, chúng ta không thể chỉ lượm
lặt ra vài điều thuộc loại “làm lành tránh ác” ở trong đó, mà phải nhìn
vào toàn bộ tôn giáo đó: a) tư cách giáo chủ; b) cốt tủy giáo
lý; và c) nhất là những hành xử của tín đồ trong xã hội, trong cộng
đồng thế giới, bởi vì những hành xử của tín đồ thường bắt nguồn từ
niềm tin vào giáo lý.
1. Tư Cách Giáo Chủ: Trong phần khảo luận Mục V
ở trên, chúng ta đã xét đến Trí Tuệ Và Đạo Đức Của Giê-su,
Giê-su, theo Ca-Tô Giáo Rô-ma, là Giáo chủ của Ca-Tô Giáo Rô-ma.
Dựa trên những điều viết trong Tân Ước và những tác phẩm nghiên cứu về
Giê-su của các học giả và các bậc lãnh đạo trong Ki Tô Giáo, chúng ta đã
đi tới kết luận: “Trí tuệ và đạo đức của Giê-su không có gì
đáng để chúng ta kính ngưỡng, khoan nói đến chuyện đáng để cho chúng ta
tôn thờ là Thiên Chúa” [Xin đọc lại Mục V ở trên].
2. Cốt Tủy Giáo Lý Và Thực Chất “Hội Thánh” Ki Tô Giáo:
Chúng ta đã biết, Giê-su không hề có một giáo lý nào mà tất cả những
quan điểm mà Giêsu diễn đạt chỉ là một mớ hổ lốn những điều mà chúng
ta có thể thấy trong những đạo cổ xưa của Ai Cập, Babylon, Ba Tư, Hi
Lạp, Phật, Khổng, Ấn Độ… như học giả Ca Tô Joseph L. Daleiden đã nghiên
cứu và khẳng định. Tôi cũng đã chứng minh là Giê-su chỉ có cái
Ta như Giáo sư George Dennis O’Brien đã nhận định dựa trên những
điều viết trong Tân ước. Tuy nhiên, về phương diện giáo lý thì ai cũng
biết giáo lý bắt nguồn từ kinh điển của mỗi tôn giáo. Ki-Tô Giáo thì có
cuốn Thánh Kinh gồm Cựu Ước và Tân Ước. Nhưng trước khi đi vào nội
dung cuốn Thánh Kinh, chúng ta hãy đi thêm vào chủ đề này với nhiều chi
tiết để cho vấn đề được rõ ràng hơn.
Cốt tủy giáo lý của Ki Tô Giáo nằm ở đâu, nếu không phải là ở
trong cuốn Thánh Kinh? Nhưng đọc Thánh Kinh chúng ta thấy
trong đó điều cốt yếu không phải là dạy tín đồ làm lành tránh ác như một
số giáo dân thường đưa ra luận điệu “tôn giáo nào cũng tốt, cũng dạy
người ta làm lành tránh ác”. Thật vậy, cả Ca-Tô giáo cũng như
Tin Lành đều dạy tín đồ là họ được Chúa “chọn” không phải vì đã làm lành
tránh ác, mà sự lựa chọn này tùy thuộc hứng của Thiên Chúa, muốn ban ân
sủng cho ai thì cho. Trong cuốn “Chứng Nhân Hi Vọng”, Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận đã viết: “Chúng ta không được lựa chọn vì công trạng
của mình, nhưng chỉ vì lòng từ bi (sic) của Chúa.” Và trong cuốn
“Protestantism and Repression”, mục sư Tin Lành Rubem Alves
viết, trang 34, là Tin Lành cấy vào đầu tân tòng mặc cảm tội lỗi,
và để có thể vào trong cộng đồng Tin Lành, người tân tòng phải tin
rằng mình sinh ra trong tội lỗi, và vì cái bản chất tội lỗi đó con người
không thể làm điều gì tốt (Believe that you were born in sin, and
that by nature you are incapable of doing good.). Để thoát ra khỏi cái
bản chất tội lỗi đó, con người chỉ có một cách: chấp nhận Giê-su Ki-Tô
là đấng cứu chuộc duy nhất và đầy đủ (Accepting Christ as the
sole and sufficient savior). Cái công thức này không khuyến khích
làm thiện mà chỉ cần đầu phục Giê-su Ki-Tô (The formula calls not
for doing good but for surrendering to Christ). Thật vậy, rất mực
đạo đức còn thường được coi là một chướng ngại trong sự cải đạo
(Indeed moral excellence is often considered an obstacle to
conversion). Chúng ta thấy rõ, “làm lành tránh ác” không phải là giáo
lý căn bản của Ca-tô Giáo Rô-ma cũng như của Tin Lành.
Hơn nữa, Tân Ước đã viết rất rõ: Điều kiện cần và đủ
để được Chúa chọn là phải tin Chúa, nếu không tin thì dù làm lành tránh
ác cách mấy đi chăng nữa thì cũng bị Chúa đầy xuống hỏa ngục để bị thiêu
đốt bởi ngọn lửa vĩnh hằng. Trong thời Trung Cổ, những thập ác
quân, vì tin Chúa và nghe lệnh của giáo hoàng làm theo “Ý Chúa”, đi tàn
sát những người Hồi Giáo, Do Thái Giáo và Ki-Tô lạc đạo, nghĩa là những
người không tin theo giáo lý Ca-Tô, không thần phục Ca-Tô Giáo, cho nên
được được giáo hoàng giải mọi tội lỗi và cấp vé cho lên thiên đường sau
khi chết. Vậy thì “làm lành tránh ác” có giá trị nào trong Ca-Tô Giáo
Rô–ma?
Theo định nghĩa tôn giáo (Religion) của Tây phương trong Tự
Điển thì đó là một “Niềm tin và tôn kính vào một quyền lực siêu nhiên
được biết là đấng sáng tạo và cai quản vũ trụ” (Belief in and
reverence for a supernatural power recognized as the creator and
governor of the universe); hoặc “thái độ tâm linh và tình cảm của
một người chấp nhận sự hiện hữu của một quyền lực siêu nhân” (The
spiritual or emotional attitude of one who recognizes the existence of a
superhuman power). Ki Tô Giáo là tôn giáo đúng như định nghĩa này. Một
tôn giáo thường có ba mục đích chính. “Thứ nhất, tôn giáo là để dạy
và khuyến khích đạo đức cho con người.” (First, religion is there to
teach and encourage morality.) “Thứ nhì, tôn giáo hiện hữu như là
một gia đình thứ hai để hỗ trợ cho nhóm người có cùng đức tin trong cách
sống lành thiện” (Second, it exists as a extra familiar support
group of people with similar, or at least compatible, beliefs in how to
live life correctly.) Và “Thứ ba, tôn giáo giúp chúng ta khai sáng
tâm linh” (Third, it helps us achieve spiritual enlightenment.)
Ki Tô Giáo không những không thực hiện ba mục đích trên mà còn
làm trái lại. Thật vậy, Lịch sử đẫm máu của Ca-Tô Giáo Rô-ma cũng như
của Tin Lành đã chứng tỏ hơn gì hết các tôn giáo này, thay vì dạy và
khuyến khích đạo đức con người, đã khuyến khích con người làm những việc
đại ác như đi giết người cho Chúa trong những cuộc Thập Ác Chinh, thiết
lập những Tòa Án Xử Dị Giáo để tra tấn, giết chóc và cướp của của các
nạn nhân, cùng phát động những chiến dịch săn lùng phù thủy thiêu sống
vô số người vô tội, thiêu sống luôn cả khoa học gia Bruno, nạn nhân của
sự ngu xuẩn của Giáo hội Ca Tô Rô-ma về vũ trụ học, nhưng lại nắm quyền
sinh sát trong tay. Tất cả những việc đại gian, đại ác như trên đều
được thực hiện nhân danh đức tin vào một Thiên Chúa của Do Thái mà nền
thần học Ki Tô Giáo đôn lên làm Thiên Chúa của cả loài người. Thứ đến,
một tôn giáo mà các con chiên phải tuyệt đối tuân phục các “bề trên” và
được dạy để mà tin không cần biết, không cần hiểu, có nghĩa là một tôn
giáo trong đó lý trí trở nên thừa thãi, thì không thể gọi là một tôn
giáo giúp tín đồ khai sáng tâm linh.
Một tôn giáo như vậy mà vẫn tự nhận là một “hội thánh”, và
các tín đồ cũng vẫn tin như vậy. Theo giáo hội Ca-Tô Rô-ma dạy thì một
đứa con nít mới sinh ra được một tuần, bị bố mẹ vác đi “rửa cái tội
không hề có” [theo Giám mục John Shelby Spong] của nó là đứa bé đương
nhiên ở trong “hội thánh” rồi. Các giáo hội Ki Tô Giáo tự nhận là các
“hội thánh” tuy rằng trên thực tế đều là các “hội phàm”, rất phàm,
phàm hơn cả phàm tục, xét đến lịch sử, cấu trúc, và những hoạt động rất
thế tục của chính các giáo hội và những bậc lãnh đạo trong giáo hội.
Thật vậy, ngày Chủ Nhật 12 tháng 3, 2000, một tuần lễ trước ngày
đi hành hương nơi “Thánh địa” Jerusalem, trong một cuộc “Thánh lễ” công
cộng tại “Thánh đường” Phê-rô, trước nhiều chục ngàn con chiên, người
Chủ Chiên, Đức “Thánh cha” Gion Pôn Hai (John Paul II), đại diện cho
“hội Thánh” Gia Tô gồm gần một tỷ tín đồ, trong đó có khoảng 5 triệu tín
đồ Việt Nam, đã chính thức “xưng thú 7 núi tội ác” đối với nhân loại của
Ca Tô Giáo Rô ma, một tôn giáo tự nhận là “thiên khải”, “duy nhất”,
“thánh thiện”, “mầu nhiệm”, “tông truyền”, “vương quốc của Thiên Chúa”,
“cao quý”, “ánh sáng của nhân loại”, “hiền thê của Chúa Giê-su” v…v…,
và xin thế giới tha thứ cho những hành động phi Thánh phi phàm, đặc thù
Ca Tô, của những con cái giáo hội Ca Tô “thánh thiện”. Những hành động
này, qua gần 20 thế kỷ, đã đưa đến những thảm họa to lớn cho nhân loại
như Thánh Chiến, Tòa Hình Án xử Dị Giáo, kỳ thị phái nữ, xâm lăng văn
hóa, ý muốn thống trị và thái độ thù nghịch đối với những tôn giáo khác,
bách hại dân Do Thái, gây chia rẽ trong cộng đồng Ki Tô, liên kết với
những thế lực thực dân, phát xít v…v… như đã được nhắc tới hết sức đại
cương trong những lời xưng thú 7 núi tội ác của Ca Tô Giáo Rô ma (Công
Giáo). Xin đọc chi tiết những núi tội ác của Ca Tô Giáo Rô-ma đối
với nhân loại trong:
http://sachhiem.net/TCNtg/CGchinhsu/CGCS3.php
Dù giáo hội có giải thích hành động xưng thú tội lỗi của giáo
hoàng như thế nào đi chăng nữa, là hành động can đảm hay theo đúng tinh
thần tự kiểm ăn năn thống hối của Ca Tô Giáo, là để thanh tẩy ký ức hay
để tiến tới sự hòa hợp tôn giáo v…v…, các tín đồ Ca Tô vẫn không thể nào
giải đáp được thỏa đáng những câu hỏi như:
Tại sao một giáo hội do chính Chúa thành lập,
thường tự xưng là “thánh thiện”, “duy nhất”, “tông truyền”, là “ánh
sáng của nhân loại”, quán quân về “công bằng và bác ái”, được “thánh
linh hướng dẫn” v…v… lại có thể phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu
trong suốt 2000 năm nay đối với nhân loại như vậy?
Chúng ta không thể không đặt ra một câu hỏi: “Giáo lý của mỗi
tôn giáo là để làm gì, nếu không phải là để cho tín đồ theo đó mà ăn ở
hay tu tập. Nhưng tại sao, lịch sử đạo Giê-su lại là một lịch sử
ô nhục đẫm máu nhất trên thế gian, mang trên bờ vai trên dưới 200 triệu
sinh mạng vô tội gồm già trẻ lớn bé? Người Tây phương vẫn tự nhận là
văn minh tiến bộ nhất, mang Ki Tô Giáo đi khắp thế giới, đặc biệt là Á
Châu, để Ki Tô hóa những dân tộc mọi rợ theo các đạo dân gian. Nhưng họ
giải thích làm sao cho sự kiện là chính Ki Tô Giáo lại là tôn giáo duy
nhất trên thế gian đã phạm quá nhiều tội ác đối với nhân loại. “
Những câu hỏi này sẽ luôn luôn ám ảnh những tín đồ Ca Tô có đầu
óc, còn đôi chút lương tri và óc suy luận. Vì một tôn giáo mà gây ra
nhiều tội đại ác như tra tấn, tù đầy, thiêu sống v..v.., giết hại hàng
trăm triệu sinh mạng vô tội, gồm cả đàn bà và trẻ con, bất cứ vì lý do
nào, thì không thể được coi là một tôn giáo nữa. Đó chẳng qua chỉ
là một tổ chức núp sau bình phong tôn giáo để duy trì những quyền lực
thế tục. Lương tâm trí thức của họ bắt họ phải trực diện với sự thực
này. Phải chăng họ đã bị lừa dối từ bao thế kỷ nay bởi một cái bánh
vẽ trên trời mà không cần đếm xỉa gì tới vấn đề đạo đức, luân lý? Phải
chăng họ đã bị nhào nặn từ nhỏ để có một tâm cảnh vô cùng ích kỷ, chỉ
ham hố một sự “cứu rỗi” tưởng tượng cho riêng mình mà không cần biết đến
cái cộng đồng tôn giáo của mình ra sao? Phải chăng họ đã bị nhồi sọ từ
nhỏ đến độ chỉ còn có thể tin một cách mù quáng, không còn khả năng suy
nghĩ để tìm ra lẽ thật? v..v..
3. Tín Đồ Đạo Giê-su Đã Thực Hành Giáo Lý Trong Thánh
Kinh Như Thế Nào?
Trườc hết, chúng ta hãy đọc một đoạn của Robert G. Ingersoll xem
Ca-tô giáo đã thực hành giáo lý của họ như thế nào. Trong cuốn
“Ingersoll: The Magnificent” do Joseph Lewis xuất bản, Robert G.
Ingersoll, một nhà tư tưởng tự do nổi tiếng nhất của Mỹ vào cuối thế kỷ
19, đã viết, trang 119:
“Nhân danh chúa Ki Tô, hàng triệu nam nữ đã bị tù đầy,
tra tấn và giết hại, hàng triệu người đã bị làm nô lệ. Nhân danh hắn
những tư tưởng gia, khảo cứu gia, bị coi như là những kẻ tội phạm, và
những tín đồ theo hắn đã làm đổ máu của những người thông thái, giỏi
nhất. Nhân danh hắn, sự tiến bộ của nhiều quốc gia bị chặn đứng cả
ngàn năm. Trong Phúc Âm của hắn chúng ta thấy cái tín lý về sự đau khổ
vĩnh viễn (đày hỏa ngục. TCN), và những lời của hắn đã thêm vào sự chết
sự kinh khủng vô tận. Phúc Âm [Tin mừng] của hắn chất đầy thế
giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí thức như một tội
ác, hạnh phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống địa ngục, tố cáo tình
yêu thương như là thấp hèn và như súc vật, thánh hóa sự nhẹ dạ cả tin,
tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của con người. Nhân loại sẽ
tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng được viết ra – chúa Ki Tô theo
quan niệm thần học chưa từng được sinh ra.”
(In Christ name millions of men and women have been imprisoned,
tortured and killed. In his name millions and millions have been
enslaved. In his name the thinkers, the investigators, have been
branded criminals, and his followers have shed the blood of the wisest
and the best. In his name the progress of many nations was stayed for a
thousand years. In his gospel was found the dogma of eternal pain, and
his words added an infinite horror to death. His gospel filled the
world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime,, made
happiness here the road to hell, denounced love as base and bestial,
canonized credulity, crowned bigotry and destroyed the liberty of man.
It would be far better had the New Testament never been written – far
better had the theological Christ never lived.)
Về phương diện thực hành giáo lý thì chúng ta đã biết lịch sử của
CaTô Giáo Rô-ma đã mang tới bao nhiêu bất hạnh cho nhân loại qua 1000
năm của thời kỳ đen tối (Dark Ages) ở Âu Châu với 9 cuộc Thánh Chiến,
400 năm của các tòa án xử dị giáo, những cuộc săn lùng phù thủy v..v..
và song hành với các thế lực thực dân ở Âu Châu đi xâm chiếm các dân tộc
ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh, Nam Mỹ, Á Châu để truyền đạo với những sách
lược như dựa vào quyền thế vua chúa, dựa vào những thế lực thực dân hay
dùng bả vật chất để cưỡng ép những người ngoại đạo phải vào đạo, cùng
phá hủy chùa chiền, miếu mạo của những người dân bản xứ. Cái lịch sử ô
nhục đầy máu và nước mắt này đã được giáo hoàng chính thức cáo thú cùng
thế giới một cách đại cương vào ngày 12 tháng 3 năm 2000 tại tòa thánh
Vatican. Cả thế giới đều biết trừ những tín đồ sống trong bóng tối nên
vẫn tin rằng giáo hội Ca-tô Rô-ma là một hội thánh “thánh thiện”.
Lịch sử cận đại Việt Nam đã chứng tỏ Ca-Tô Giáo Rô-ma ở Việt Nam,
qua những hành động vì một tín ngưỡng mù quáng, đã là một tập thể “vừa
phi dân tộc, vừa phản dân tộc”. Đây là một sự kiện bất khả phủ bác như
đã được chứng minh qua một số tài liệu ở phần trên. Phi dân tộc ở đây
chúng ta cần hiểu là không tương hợp với truyền thống dân tộc, và phản
dân tộc là theo lệnh ngoại bang hay hỗ trợ ngoại bang bằng những hành
động phản bội quốc gia, có phương hại đến chủ quyền của dân tộc, hoặc
đặt quyền lợi dân tộc sau quyền lợi tín ngưỡng riêng tư. Nhưng chúng ta
cần phải hiểu rằng, đa số tín đồ Ca-Tô Việt Nam không biết là mình ở
trong một tập thể như vậy. Vì cấu trúc quyền hành trong Ca-Tô Giáo nên
những tín đồ thấp kém được dạy là phải tuyệt đối vâng phục các “bề
trên” nếu họ muốn được một vé lên thiên đường sau khi chết, và vì thuộc
tầng lớp thấp kém trong xã hội nên không ý thức được việc mình làm là
những hành động phản bội quốc gia, gây tổn hại đến nền độc lập và chủ
quyền của quốc gia. Cho nên, trách nhiệm tạo ra một tập thể “vừa phi
dân tộc, vừa phản dân tộc” như trên là trách nhiệm của “giới chăn
chiên”, nghĩa là của tập đoàn giám mục, linh mục v..v.., trách nhiệm
tiếp tục lùa những người thiếu hiểu biết vào trong một ngục tù tâm linh.
Đây là một sự kiện lịch sử không ai có thể chối cãi. Cũng vì vậy
mà Charlie Nguyễn, một trí thức Ca Tô Giáo Rô-ma đã viết trong bài “VẤN
ĐỀ TRÁCH NHIỆM của HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC” như sau:
Nhưng sự thật lịch sử xưa và nay đều chứng minh rằng tập thể Công
Giáo Việt Nam chỉ là một bầy cừu hèn hạ luôn nép mình dưới cái gậy chỉ
huy độc đoán và cực kỳ nham hiểm của Vatican. Vì cuồng tín, họ đã tự
biến mình thành một tập thể Việt gian luôn luôn có hành động đi ngược
lại quyền lợi của dân tộc. Trách nhiệm hàng đầu thuộc về cái gọi là
Hội Đồng Giám Mục. Xét cho cùng, mọi hành vi xuẩn động phản quốc của
tập thể Công Giáo là do hậu quả của những bài kinh cầu xin Chúa cho làm
súc vật: "Xin Chúa hãy lùa tôi vào một đoàn cùng các con chiên Chúa." NK
721). "Vì công nghiệp Đức Mẹ chuyển cầu, xin cho cả dân Đông Dương
(Indochine Francaise) thảy nên một ràn cùng một kẻ chăn" (NK 170-172).
Thiên Chúa là đấng thiêng liêng chẳng thấy đâu, cho nên đoàn chiên gọi
là của Chúa trong thực tế chỉ là một bầy cừu khờ dại của Vatican!.
Trong thời đại này, nếu còn có đôi chút lương thiện trí thức, các
tín đồ đạo Giê-su cần phải chấp nhận những sự kiện lịch sử về tôn giáo
của mình như trên, và nhận thức được rằng những sự kiện lịch sử đó, dù
muốn dù không, cũng đã tạo thành những vết nhơ không sao tẩy xóa được
trên khuôn mặt của một tôn giáo tự nhận là thiên khải, thánh thiện, tông
truyền mà những tín đồ trong đó tin rằng mình đang ở trong một “hội
Thánh”. Dù muốn dù không các tín đồ cũng bị ràng buộc vào một giáo
hội, về vật chất cũng như về tinh thần. Và đó là trách nhiệm tập thể.
Không ai có thể nói rằng, lịch sử đẫm máu của giáo hội chẳng liên quan
gì đến tôi, đó chỉ là sự sai lầm của một số cá nhân trong giáo hội.
Một cá nhân theo một tôn giáo nào đó có thể vì bản tính, cho nên
đã có những hành động ác, vô đạo đức v.. v.. . Nhưng một tôn giáo,
đúng nghĩa là một tôn giáo, như một tập thể, thì không thể có những chủ
trương tàn ác, phi luân, vô đạo đức v..v.. trong kinh điển, giáo lý của
mình. Những tôn giáo Đông phương như Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo,
tuy không phải là những tôn giáo theo đúng định nghĩa tôn giáo của Tây
Phương, đều chủ trương hòa bình, nâng cao phẩm giá, thắng tiến trí tuệ
của con người. Phật Giáo có “thiên kinh, vạn quyển”, nhưng chúng ta
không thể tìm thấy trong đó bất cứ một lời lẽ độc ác nào, tất cả đều là
“khuyến thiện, trừng ác” và đề ra những phương pháp tu tập với mục đích
phát triển trí tuệ, khai sáng tâm linh, đưa con người đạt tới một cảnh
giới cao hơn. Do đó, lịch sử truyền bá Đạo Phật trong hơn 25 thế kỷ
không hề cưỡng bách bất cứ ai phải theo đạo Phật, không hề làm đổ một
giọt máu vì truyền đạo, không hề có ý đồ xâm lăng văn hóa, và không hề
khuyến khích con người đi vào một niềm tin mù quáng, không cần biết,
không cần hiểu.
Nhưng đối với Ca-Tô Giáo Rô-ma thì có khác. Chúng ta hãy đọc đoạn
sau đây của Tiến sĩ Loraine Boettner trong cuốn “Roman Catholicism”,
trang 27:
Giáo hội Ca-Tô Rô-ma tự khoác lên mình từ “thánh”, nhưng
thật ra qua các thời đại và trong quyền lực của giáo hội Rô-ma, sự kiện
là giáo hội đã phạm phải những tội ác khủng khiếp nhất, thực hành nhân
danh tôn giáo, gồm có giết người, cướp bóc, bạo hành đủ mọi hình thức,
hối lộ, gian xảo, lừa dối, và hầu hết mọi tội ác mà con người biết đến.
Những tội ác như vậy không phải là chỉ do những giáo dân của giáo
hội gây ra, mà là do các giáo hoàng, hồng y, giám mục, và linh
mục, mà như sự nghiên cứu về lịch sử của giáo hội sẽ chứng tỏ, không
còn chối cãi gì được nữa, họ đều là những kẻ ác.
John Calvin đã từng gọi giáo hội Rô-ma là con điếm điên dại
thay vì là hiền thê của Chúa, vì mức tiêu chuẩn đạo đức quá thấp mà các
linh mục của giáo hội hành xử và dung dưỡng.
[Loraine Boettner, Roman Catholicism, p. 27: The
Roman Catholic Church applies to herself the term “holy”, but the fact
is that through the ages and in he official capacity the Roman Church
has been guilty of the most atrocious crimes, practiced in the name of
religion, including murder, robbery, persecution of all kinds, bribery,
fraud, deception, and practically every other crime known to man. Such
crimes have been practiced not merely by church members, but by popes,
cardinals, bishops, and priests who, as a study of church history will
show, undeniably were evil men…
John Calvin called the church of Rome in his day a foul harlot
rather than the spouse of Christ, because of the low moral standard
practiced and tolerated by her priests.]
Cho nên, các tín đồ Ca-Tô muốn tôn vinh quyền năng của Chúa Cha,
Chúa Con, Chúa Thánh Thần, và Giáo hoàng thế nào thì tôn vinh, nhưng họ
không bao giờ có thể xóa bỏ được những sự thực lịch sử về Ca Tô Giáo,
những sự thực đã làm cho cả thế giới phải ghê sợ, và đã bị phanh phui
đến mức độ giáo hội không thể làm gì khác là đưa giáo hoàng ra xưng tội
cùng thế giới loài người về những tội ác của Giáo hội Ca Tô để xoa dịu
dư luận thế giới. Những tội lỗi của Ca Tô Giáo đối với nhân loại,
qua lời xưng thú tội lỗi của giáo hoàng, sẽ ám ảnh lương tri của người
Ca Tô suốt đời, không phải vì họ phải chịu trách nhiệm về những việc làm
của giáo hội trong quá khứ, mà vì dù muốn dù không, họ cũng thuộc một
đoàn thể có một lịch sử quá đen tối, trái ngược với những lời tuyên
truyền giả dối đã tạo thành niềm tin của họ. Từ nay, họ không còn có thể tự đề cao mà không ngượng miệng
những điều họ được nhồi vào đầu óc từ khi còn nhỏ, ví dụ như Ca Tô
Giáo là một tôn giáo thánh thiện, duy nhất thiên khải, văn minh, tiến
bộ, cao quý hơn tất cả các tôn giáo khác, hoặc như, người trong đạo là
những người lành thiện, đạo đức hơn tất cả những người “ngoại đạo” v…v… Thế giới đã thấy rõ từ lâu, tất cả những lời tự tôn, tự ca tụng, tự
tôn vinh v..v.. của Giáo hội Ca Tô chỉ là những lời tuyên truyền huênh
hoang giả dối cho đám tín đồ thấp kém, trái hẳn với bản chất mê tín,
hoang đường, thấp kém, tàn ác v..v.. của giáo hội Ca Tô.
Có những sự kiện ngay trước mắt mà các tín đồ đạo Giê-su ở Việt
Nam không bao giờ biết đến, vì không bao giờ được các “bề trên” nói đến,
và vì không có phương tiện và khả năng để tìm hiểu. Hiện nay, Âu Châu,
trước là thành trì của Ca Tô giáo Rô Ma, nay hầu hết theo Tin Lành.
Nước Pháp, trước là “trưởng nữ” của giáo hội Ca Tô Rô Ma mẹ với 94% dân
chúng được rửa tội theo Ca-Tô giáo, chỉ có 2% là thường đi lễ nhà nhờ
ngày chủ nhật. Cũng trong thế kỷ 16, Giáo hội Ca Tô Rô Ma tại Anh quốc
đã tách ra thành Anh Giáo, không công nhận quyền hạn của Giáo Hoàng cũng
như không theo các giáo điều của Tòa Thánh Vatican đưa ra. Điển hình là
gần đây Giáo hội Anh đã tấn phong chức linh mục cho phái nữ bất kể sự
phản đối của John Paul II. Ngoài ra, từ thế kỷ 16, sau cuộc cải cách
của Martin Luther, nhiều quốc gia Ca Tô ở châu Âu như Na-Uy,
Thụy-Điển, Ích-Lan, Đan Mạch, Phần-Lan, Anh Quốc, Tô-Cách-Lan và Thụy-Sĩ
[Norway, Sweden, Iceland, Denmark, Finland, England, Scotland and
Switzerland..] cũng chống chế độ Giáo hoàng và bỏ đạo Ca Tô Rô Ma.
Hơn nữa, số Linh Mục và tín đồ CaTô bỏ đạo càng ngày càng nhiều
trên khắp thế giới, điển hình là hiện nay ở châu Mỹ La Tinh, số tín đồ
bỏ đạo để theo Tin Lành lên tới 8000 người mỗi ngày, làm cho Giáo Hoàng
John Paul II lo sợ, không tự kiềm chế được, phải thốt ra những lời chỉ
trích các nhà truyền giáo Tin Lành là “những con chó sói đói mồi, gây
bất hòa chia rẽ trong cộng đồng Ca Tô của chúng ta” (John Paul
denounces the Protestants as “ravenous wolves..causing discord and
division in our (catholic) communities” Newsweek, Feb. 12, 1996). Câu
này nay đã đi vào lịch sử cùng với vô lượng những lời tuyên bố cùng
hành động phi đạo đức tôn giáo của các Giáo Hoàng trong lịch sử Ca Tô
Giáo Rô Ma.
Hiện nay hơn 70% tín đồ Ca-Tô Giáo Rô-ma thuộc các nước Phi
Châu, Nam Mỹ , Phi Luật Tân ở Á Châu, và một số ốc đảo ở Việt Nam. Vài
nhận xét sau đây cho chúng ta thấy rõ vấn đề.
Philip Jenkins, trong cuốn nghiên cứu về những phong trào chống Ca
Tô Giáo Rô ma trên thế giới, đã viết về một thủ đoạn dạy giáo dân trong
cuốn Giáo lý của Ca-Tô Giáo Rô-ma như sau [Philip Jenkins, Baltimore
Catechism, Question 514-15; http//bible.crosswalk.com/]:
Đối với giới ưu tú trong xã hội, đạo Ca-Tô hiển nhiên là
tôn giáo của kẻ ngu dốt và cuồng tín, những khối dân dơ dáy thấy rõ
ở Boston và New York. Cho đến thế kỷ 20, chính người Ca Tô cũng không
thể phủ nhận là số người nghèo khổ chiếm đa số trong Giáo hội Ca Tô Mỹ.
Trong sách Giáo Lý xuất bản ở Baltimore, giáo dân Ca Tô được dạy để trả
lời nhận định là “có quá nhiều người nghèo và ngu dốt trong Giáo hội
Ca-Tô”. Giáo dân được dạy là chấp nhận sự kiện căn bản trên, nhưng diễn
giảng nó thành một đức tính. Giáo dân phải lý luận như sau: “Bảo rằng
có nhiều người nghèo và ngu dốt trong Giáo hội Ca Tô là khẳng định đó là
Giáo hội của Chúa Ki Tô; vì Chúa luôn luôn dạy người nghèo và ngu dốt,
và chỉ thị cho Giáo hội phải tiếp tục công việc dạy dỗ người nghèo và
ngu dốt.”
(For the social elite, Catholicism was evidently the religion of
the ignorant and fanatical, the unwashed masses who were visibly
annexing cities such as Boston and New York. Well into the 20th
century, Catholics themselves could scarcely deny that the very poor
were overrepresented in the American Church. In the Baltimore
Catechism, ordinary Catholics are taught to answer the statement that
“there are too many poor and ignorant people in the Catholic Church.”
In response, Catholics were told to concede the basic fact, but to make
virtue of it. They should go on to argue that “to say there are many
poor and ignorant in the Catholic Church is to declare that it is
Christ’s Church; for He always taught the poor and ignorant and
instructed His Church to continue the work.”)
Điều hiển nhiên là người nghèo và ngu dốt thì không có mấy
người có đủ đầu óc sáng suốt, đủ hiểu biết để mà phân biệt chân giả, cho
nên rất dễ bị đưa vào vòng mê tín và cuồng tín. Giáo Hội Ca Tô
Rô-ma vẫn hãnh diện về số giáo dân đông đảo của mình, gần một tỷ người.
Và đây là một thành công nhất của Giáo hội. Còn thực chất của giáo dân
ra sao không phải là điều giáo hội quan tâm. Ngu dân dễ trị vốn là
tiêu chuẩn hành đạo từ xưa của tập đoàn chỉ đạo Ca Tô giáo Rô-ma ở khắp
nơi trên thế giới, kể cả ở Việt Nam, ngồi ở trên cai trị đám giáo dân ở
dưới. Tập đoàn ở Vatican đâu có nghèo khổ và ngu dốt. Tài sản của
Vatican lên tới cả ngàn tỷ đô-la, và tập đoàn ở Vatican rất thông minh
trong những thủ đoạn để lùa người dân ngu dốt vào cái thòng lọng của
Vatican. Tiền ở đâu mà Giáo hội Ca-Tô Rô-ma ở Mỹ có để trả tiền bồi
thường cho các nạn nhân tình dục của các “Cha cũng như Chúa”, nay đã lên
tới trên 2 tỷ đô-la. Ai dám phủ nhận điều này xin lên tiếng.
Cùng một ý tưởng, Bruce Bawer viết trong cuốn Stealing Jesus,
Three Rivers Press, New York, 1998, p. 164:
Trong thế kỷ 19, những người thuộc giai cấp cao, có học,
và nhiều người thuộc mọi giai cấp, đã hàng loạt thôi không dự các lễ ở
nhà thờ, để lại đàng sau một Giáo hội gồm hầu hết những kẻ ít học.
Để xoa dịu tình cảm mê tín của những người còn lại này, Vatican đưa
vào thêm những giáo lý mới về Mary đồng trinh, nghĩa là giáo lý về Thụ
Thai Vô Nhiễm (1854) và Thăng Thiên của Mary
(1950). Cả hai ý tưởng này – đối với một tín hữu có đầu óc thì
thật là vô nghĩa – không có căn cứ trên phúc âm mà chỉ là lòng mộ đạo
dân gian.
(During the 19th century, members of the educated
upper classes, and men of all classes, ceased attending service in
droves, leaving behind a church composed mostly of the under-educated.
To appease these members’ sentimental superstitions, the Vatican added
new doctrines about the Virgin Mary, namely the Immaculate Conception
(1854) and the Assumption (1950). Both ideas – “which, to a thingking
believer, were meaningless – had their basis not in scripture but in
folk piety.)
Khi trí tuệ nhân loại chưa mở mang thì những giáo lý và “tín lý”
(dogma) mà Giáo hội đưa ra đều được tín đồ tin theo, không bàn cãi.
Nhưng tiến hóa là một định luật của vũ trụ trong đó có con người, cho
nên, với trình độ hiểu biết của con người ngày nay, những niềm tin mù
quáng vào những điều vô căn cứ, hoang đường, phi lôgic, phản lý trí,
phản khoa học v..v.. trong Ca Tô Giáo Rô Ma không còn chỗ đứng nữa, ít
ra là trong giới có học, trí thức và khoa học, ở trong cũng như ở ngoài
giáo hội. Trong những xã hội Âu Mỹ, số người đi lễ nhà thờ giảm sút một
cách rõ rệt. Điều này chứng tỏ quần chúng không còn sợ hãi sự hù dọa
của Giáo hội về một trọng tội nếu không đi lễ nhà thờ mỗi tuần,
không còn thấy hấp dẫn trước những lời giảng đạo tẻ nhạt đã lỗi thời của
các Linh mục mà nhiều khi sự hiểu biết về tôn giáo còn kém giáo dân, ít
ra là đối với những tín đồ có một trình độ hiểu biết nào đó. Hiện
tượng nhà thờ vắng khách ở Âu Châu là một sự kiện không ai có thể phủ
nhận. Trong khi đó, tại những nước chậm tiến như Phi Châu, Nam Mỹ,
Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân và một số ốc đảo ở Việt Nam cũng như trong những
cộng đồng đông đảo người Việt di cư, trình độ dân trí còn thấp,
cho nên tín đồ Ca Tô Giáo vẫn còn đi lễ nhà thờ đông đảo và tin vào
những cái gọi là “bí tích” mà Giáo hội dạy các tín đồ là do Chúa đặt ra,
nhưng thực ra chỉ là Giáo hội đặt ra để tạo quyền lực tự ban cho giới
chăn chiên trong việc kiểm soát và nắm giữ đầu óc tín đồ. Tuy
nhiên, ngày nay có nhiều dấu hiệu cho thấy các quốc gia Phi Châu, Nam Mỹ
và ngay cả trong những ốc đảo Ca Tô ở Việt Nam, con người đã bắt đầu
thức tỉnh, song song với sự mở mang dân trí trong những quốc gia này.
Người Ca Tô Việt Nam cần phải biết rõ nhiều hơn nữa về chính tôn giáo
của mình để có thể thấy rằng, lệ thuộc Vatican, dù là về tâm linh là
chuyện phi lý, không có cơ sở trong Thánh Kinh, khoan kể như vậy là tự
đặt mình ra khỏi cộng đồng dân tộc, vì Vatican, như một quốc gia, là một
ngoại bang, và như một tôn giáo, chỉ là một giáo hội ngụy tạo mượn danh
Giê-su, đã có một lịch sử đẫm máu hàng triệu người vô tội và một lịch sử
không mấy tốt đẹp khi truyền vào Việt Nam, biến các tín đồ Ca Tô
Việt Nam thành tập đoàn những kẻ phản bội quốc gia, và gây nên sự bất
hòa giữa Lương và Giáo mà theo Linh Mục Lương Kim Định, xem ra không sao
xóa sạch được. Ngày nay, người Ca Tô Việt Nam có khuynh hướng trở
về với Dân Tộc, ít nhất là theo sự tuyên truyền của Giáo hội Ca Tô,
nhưng nếu còn lệ thuộc Vatican, còn không chịu chấp nhận những sự thực
lịch sử, thì con đường này khó có thể thực hiện với thành tâm. Đây là
một vấn nạn mà người Ca Tô Việt Nam nên để tâm suy nghĩ kỹ.
Đến đây, bài viết này kể ra cũng đã dài nhưng không thể gọi là đầy
đủ. Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang cho rằng muốn viết tạm đủ về Ca-Tô Giáo
Rô-ma, chúng ta cần ít ra là một cuốn sách trên 4000 trang, một cuốn
sách mà giáo sư đang thực hiện. Chúng ta hãy đón coi tác phẩm đồ sộ
này. Vì cuốn Thánh Kinh là cuốn mà Ki Tô Giáo nói chung dựa vào đó, nói
đúng ra là dựa vào một phần rất nhỏ trong đó, để truyền đạo. Cho nên
tôi muốn đưa ra hai tài liệu có thể nói là khá tổng quát về cuốn Thánh
Kinh của Ki Tô Giáo.
Trước hết là nhận xét tổng quát sau đây của một học giả Ca Tô về
cuốn Thánh Kinh:
Trong cuốn “Những vị Thần cuối cùng của Huyền Thoại: GiaVê và
Giêsu” (“Mythology’s Last Gods: Yahweh and Jesus”, p. 16), Tiến sĩ
William Harwood, một tín đồ CaTô đã tỉnh ngộ và bỏ được một niềm tin sai
lầm sau khi nghiên cứu lịch sử các tôn giáo trong đế quốc La Mã và khám
phá ra rằng “bí tích” ăn thịt uống máu Chúa (Eucharist) mà ông
đã tin và thọ hưởng cái bí tích rùng rợn này hàng tuần và trong nhiều
năm, đã có từ 3000 năm trước khi Giêsu ra đời, và rằng các Thần
hay Thượng Đế (Gods) chỉ là những sản phẩm tưởng tượng của con
người (Dr. Harwood..discovered that the “god-eating” ritual in which
he participated weekly as a believing Christian had existed three
thousand years before Jesus’ birth. Not for three years, however, could
he fully abandon the disproved beliefs to which he had been emotionally
committed, and acknowledge that gods are as imaginary as fairies), đã
viết:
“Người ta đã khám phá ra rằng, từng quyển một trong Thánh
Kinh đều chứa những sai lầm về sự kiện, những phỏng đoán không chính
xác, những kỹ thuật làm hợp lý hóa, những điều tiên tri về những sự việc
đã xảy ra, ghép với những điều tiên tri về tương lai đã được chứng tỏ
là không chính xác, và không còn sai lầm gì nữa là chứa những lời nói
láo cố ý. Nếu sự khám phá này được phổ biến tới đại chúng thì cái
huyền thoại Do Thái – KiTô đã bị quật nhào bởi một cơn gió lốc khó có hi
vọng phục hồi. [Quần chúng càng ngày càng biết nhiều hơn về sự kiện
này. TCN]
Trước nguy cơ bị loại bỏ này, Giáo Hoàng đương thời (John Paul
II) bổ nhiệm một số sử gia của chính ông ta để khảo sát những kết luận
về Thánh Kinh của những sử gia thế tục và tìm ra trong những bằng chứng
của họ những sơ hở mà Giáo Hoàng tin rằng thể nào cũng phải có. Kết
quả là những sử gia của Giáo Hoàng cũng phải xác nhận là cuốn Thánh Kinh
của Ki Tô Giáo thực ra chỉ là một ảo tưởng sai sự thực. Họ phúc
trình kết quả lên Giáo Hoàng, và khi Ngài lập tức dẹp bỏ cái phúc trình
này đi thì họ không còn là tín đồ CaTô nữa. Rồi Giáo Hoàng ra lệnh cho
bộ máy tuyên truyền của Ngài phát minh ra một phương pháp luận khác để
đánh đổ phương pháp của những sử gia trên, một phương pháp luận được
tạo ra với mục đích rõ rệt là phải đi đến kết luận là cuốn Thánh Kinh
của Do Thái – KiTô không phải là một tác phẩm hoang đường, không cần để
ý đến chuyện phải xuyên tạc những bằng chứng đến cỡ nào để đi tới mục
đích trên. Cái phương pháp luận đó là “Thần học”…
Đó là quyền lực của chính trị Thần quyền của thế giới mà,
mặc dù đã có hàng ngàn tác phẩm nghiên cứu và bài khảo cứu phủ bác toàn
bộ Thánh Kinh Do Thái – KiTô, cho tới ngày nay, 90% dân chúng trong
những xã hội mà tôn giáo chính là KiTô Giáo không hề biết đến sự hiện
hữu của những bằng chứng bất khả phủ bác là quyển Thánh Kinh chỉ là một
tác phẩm giả tưởng.”
(One by one the various books of the bible were discovered to
contain errors of fact; inaccurate guesses; rationalizations; prophecies
ex-post-facto, usually combined with prophecies of the future
that proved inaccurate; and unmistakable, deliberate lies. Had this
discovery been allowed to reach general public, Judeo-Christian
mythology would have suffered a blow from which it could not have hoped
to recover.
Facing elimination, the current Pope appointed his own historians
to examine the secular historians’ conclusions and find the flaw in
their evidence that he believed must be there. The outcome was that the
Papal historians confirmed that their bible really was falsifiable
fantasy. They presented the Pope with their reports and, when he
promptly suppressed them, they all ceased to be Catholics. So the Pope
ordered his propaganda machine to invent an alternative methodology to
combat that of the historians, a methodology created for the specific
purpose of reaching the conclusion that the Judeo-Christian bible is
nonfiction, no matter how severely the evidence had to be distorted in
order to achieve that objective. That methodology was ‘theology’..
…Such was the power of the world’s theocracies that, despite the
publication of thousands of scholarly books and articles refuting every
part of the Judeo-Christian bible, to this day the existence of
unchallengeable proof that the bible is a work of fiction is unknown to
ninety percent of the population of Christian-dominated
societies.)
Thứ đến là bài “Những Lời Châu Ngọc về Thánh Kinh” (Gems
Concerning the Holy Bible) của Robert G. Ingersoll trong cuốn
“Ingersoll: Con Người Kỳ Diệu” (Ingersoll, the Magnificient), biên
tập bởi Joseph Lewis, trg. 59-85. Qua bài này, chúng ta sẽ thấy thực
chất cuốn Thánh Kinh của Ki Tô Giáo là như thế nào, và hi vọng mọi tín
đồ của đạo Giê-su sẽ nhận thức được “chân giá trị” của một cuốn sách mà
họ tin đó là những lời mạc khải không thể sai lầm của Thiên Chúa, và
nhất là ảnh hưởng tác hại của cuốn Thánh Kinh trên nhân loại. Xin
quý độc giả ghi nhận, tất cả những gì Ingersoll viết đều dựa trên nội
dung Thánh Kinh và lịch sử Ki Tô Giáo. Cũng như những bài tôi đã
dịch về các chủ đề liên hệ đến Ki Tô Giáo, để tránh bài dịch quá dài,
tôi đã lược bớt một số đoạn thuộc triết lý cá nhân của Ingersoll mà tôi
cho là đã đi xa đầu đề của bài viết, tuy trong những đoạn này có những
tư tưởng rất hay của Ingersoll về nhân chủ và nhân bản. Xin mời quý độc
giả thưởng thức một bài viết ở cuối thế kỷ 19 của một danh nhân Hoa Kỳ:
Đại Tá Robert G. Ingersoll, một chính trị gia, một luật sư, một diễn
giả, một nhà hùng biện, và nhất là, một nhà tư tưởng tự do (Freethinker)
lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19. Ông có tên trong lịch sử Hoa Kỳ,
trong Tự Điển, trong Bách Khoa Tự Điển, trong Tự Điển điện tử (CD-ROM,
Grolier Electronic Publishing, 1997) và những tác phẩm của ông có trong
mọi thư viện ở Hoa Kỳ. Tượng đài ghi công ông hiện nay còn ở Peoria,
tiểu bang Illinois. Sau đây là những lời đanh thép của ông về cuốn
Thánh Kinh, có thể coi như là một bản án trong tài hùng biện của một
luật sư.
“Một người nào đó phải nói lên sự thực về cuốn Thánh Kinh.
Những nhà giảng đạo [trong nước Mỹ. TCN] không dám vì họ sẽ bị
đuổi khỏi các bục giảng. Những giáo sư đại học không dám, vì họ sẽ mất
đi đồng lương. Các chính trị gia không dám. Họ sẽ bị đánh bại. Các
chủ biên không dám. Họ sẽ mất độc giả. Các thương gia không dám, vì họ
có thể mất khách hàng. Ngay cả những công chức thường cũng không dám,
vì họ có thể bị đuổi. Vậy thì tôi nghĩ chính tôi sẽ phải làm việc này.
[Xin nhắc lại, Ingersoll viết bài này vào cuối thế kỷ 19]
Có nhiều triệu người [do nền thần học ngụy tạo của các
giáo hội Ki Tô] tin rằng Thánh Kinh là lời mặc khải của Thiên Chúa –
nhiều triệu người nghĩ rằng cuốn sách này là cây gậy dẫn đường, là nguồn
cố vấn và an ủi; rằng nó chứa đầy hòa bình trong hiện tại, hi vọng
trong tương lai – nhiều triệu người tin rằng đó là suối nguồn của luật
pháp, công lý và tình thương, và nhờ có những giáo lý thông thái và lành
tốt mà thế giới có được tự do, thịnh vượng, và văn minh – nhiều triệu
người tưởng tượng rằng cuốn sách này là sự mặc khải từ trí tuệ và lòng
thương yêu của Thiên Chúa đến với tâm thức con người – nhiều triệu người
coi cuốn sách này như là ngọn đuốc chinh phục được sự tối tăm của chết
chóc, và tỏa ánh sáng trên một thế giới khác – một thế giới không có
nước mắt.
Họ quên đi cái sự ngu tối và man rợ, sự thù ghét tự do, sự
tàn sát tôn giáo ở trong Thánh Kinh; họ nhớ tới Thiên đường, nhưng quên
đi những ngục tù tăm tối và sự đau khổ vĩnh viễn ở dưới hỏa ngục.
Họ quên rằng cuốn sách này giam hãm đầu óc con người và
làm cho lòng người đồi bại. Họ quên rằng cuốn sách này là kẻ thù của tự
do trí thức.
Các linh mục, mục sư phân vân là làm sao tôi lại có thể tồi tệ
đến độ công kích cuốn Thánh kinh.
Tôi sẽ nói cho họ biết:
Cuốn sách này, cuốn Thánh Kinh, đã truy tố cho đến chết
những người thông thái nhất và tốt nhất. Cuốn sách này đã chặn đứng sự
tiến bộ của loài người. Cuốn sách này đã đầu độc những nguồn kiến thức
và lạc dẫn năng lực của con người.
Cuốn sách này là kẻ thù của tự do, là cột chống của
chế độ nô lệ. Cuốn sách này đã gieo những hạt giống thù hận trong gia
đình và quốc gia, nhúm ngọn lửa chiến tranh, và làm cho thế giới
nghèo khổ. Cuốn sách này là công sự của hôn quân bạo chúa – là chủ nhân
của các nô lệ phụ nữ và trẻ em. Cuốn sách này đã làm đồi bại nghị viện
và triều chính. Cuốn sách này đã biến các trường đại học [Ki Tô
Giáo] thành thầy dạy của sự sai trái và kẻ thù ghét khoa học.
Cuốn sách này chất đầy những nước theo KiTô giáo với những tông phái
thù hận, độc ác, ngu tối, chém giết lẫn nhau. Cuốn sách này dạy con
người giết đồng loại vì tôn giáo. Cuốn sách này đã lập nên Tòa Hình Án
xử dị giáo, phát minh ra những hình cụ tra tấn, thiết lập những ngục tù
tối tăm trong đó người lương thiện và nhân từ mai một dần; rèn những
chuỗi xích trở thành rỉ xét trong da thịt họ, dựng lên những đoạn đầu
đài để chặt đầu họ. Cuốn sách này đã xếp những đống củi dưới chân của
người lành. Cuốn sách này đã trục lý trí ra khỏi đầu óc của nhiều triệu
người và đưa những kẻ khùng vào đầy nhà thương điên.
Cuốn sách này đã gây nên cảnh cha mẹ làm đổ máu những trẻ
sơ sinh. Cuốn sách này đã là trường bán đấu giá trên đó người mẹ nô lệ
đứng nhìn đứa con nhỏ phải bị chia lìa khi bà được bán đi. Cuốn sách
này chứa đầy thuyền kẻ buôn nô lệ và làm da thịt con người thành món
hàng hóa. Cuốn sách này đã nhúm lửa thiêu sống những “mụ phù thủy” và
những “thầy pháp”. Cuốn sách này chứa đầy tối tăm với những quỷ và ma
[Satan và Holy Ghost], và thân thể con người với những ác quỷ
[demons]. Cuốn sách này đã làm ô nhiễm đầu óc con người với
giáo điều ô nhục về hình phạt đầy đọa vĩnh viễn [của Giê-su].
Cuốn sách này coi sự cả tin như là đức tính cao nhất, và sự tìm tòi hiểu
biết như là tội ác lớn nhất. Cuốn sách này đã đặt kẻ ngu dốt và
những vị Thánh nhơ bẩn lên trên triết gia và người nhân đức. Cuốn
sách này dạy con người coi thường những niềm vui của đời sống này, để có
thể sung sướng ở đời sau – bỏ phí thế giới này vì thế giới sau.
Tôi công kích cuốn sách này vì nó là kẻ thù của sự tự do
của con người – là sự cản trở lớn nhất của sự tiến bộ của con người.
Tôi xin hỏi các linh mục, mục sư một câu: làm sao mà các
ông có thể tồi tệ đến mức bào chữa cho cuốn sách này.
Cuốn Thánh Kinh đã là thành trì chống đỡ của hầu hết các tội
ác.
Ngang qua cuốn Thánh kinh mở là thanh gươm (để giết người)
và bó củi (để thiêu sống người).
Chúng ta hãy thoát ra khỏi sự tàn bạo của một cuốn sách, ra
khỏi sự nô lệ của sự ngu tối cùng cực, của cái không khí quý tộc thống
trị [của các giáo sĩ].
Một trong những việc đầu tiên mà tôi (Ingersoll) muốn
làm là giải phóng giới giáo sĩ. Tôi là bạn tốt của họ, và mặc dù tất cả
những gì họ có thể nói về tôi, tôi sẽ giúp họ một đại sự lâu dài.
Trên cổ họ là những vết hằn của cái cổ áo linh mục, và sau lưng họ là
những vết roi. Họ không được phép đọc và tự mình suy nghĩ. Họ được dạy
như những con vẹt, và những người giỏi nhất là những người có thể nhắc
lại đúng những câu mà họ được dạy. Họ ngồi như những con cú vọ
[Người Việt Nam dùng danh từ “quạ đen” (corbeau noir)] trên một cành
cây khô của cái cây hiểu biết và phát ra những tiếng cú kêu giống y như
những tiếng cú kêu đã kêu trong 1800 năm nay. (They sit like owls
upon some dead limb of the tree of knowledge, and hoot the same old
hoots that have been hooted for eighteen hundred years). [Những luận
điệu thần học cũ kỹ, hoang đường đã lỗi thời. TCN]
Có một ông bác sĩ giải phẫu đến thăm một người tàn tật đáng
thương và đề nghị giúp anh ta trong khả năng của ông ta. Ông bác sĩ bắt
đầu phân tích về bản chất và nguồn gốc chứng tật của người kia, về những
loại thuốc có thể giúp anh ta, về sự lợi ích của tập luyện, của không
khí trong lành và ánh sáng, và nhiều điều khác có thể giúp chữa lành
được chứng tật của người kia. Tất cả những hành động này đều do thiện ý
của một bác sĩ có những kiến thức chính xác. Nhưng người kia hoảng sợ
và kêu lên, “Tôi xin ông, đừng lấy đi cặp nạng của tôi. Đó là cái
tôi phải tựa vào, nếu không thì tôi sẽ khốn khổ.” Ông bác sĩ giải
phẫu nói: “Tôi không có lấy đi cặp nạng của anh, tôi sẽ chữa lành
cho anh, và rồi tự anh sẽ vứt bỏ cái cặp nạng ấy đi.” [Đây chính là chủ
trương của Ingersoll đối với giới giáo sĩ Ki Tô Giáo vào cuối thế kỷ 19,
và ngày nay, TCN cũng chỉ đi theo con đường này để giúp các đồng bào
đáng thương vứt đi những cặp nạng không cần thiết của họ].
Lấy cái gì để thay thế cho một sự trừng phạt vĩnh viễn? Chỉ
cần chứng tỏ là sự trừng phạt đó không hề có. Một người có bệnh tật
muốn gì? Sức khỏe.
Bất kể sự kiện là những người ngoại đạo trong mọi thời đại
đã chiến đấu cho nhân quyền, và đã là những người ủng hộ tự do và công
lý, nhưng chúng tôi thường xuyên bị giáo hội Ki Tô cáo buộc là chỉ biết
phá đổ mà không biết xây dựng.
Tôi không chống con người. Tôi chống những giáo lý mà tôi
cho là sai lầm. Không cần thiết phải chống con người – chúng ta hãy
chống sự sai lầm.. Chúng ta hãy làm hết sức để cung cấp sự hiểu biết,
giáo dục, vì sự lợi ích của đồng bào chúng ta.
Những người tin vào Thánh Kinh ồn ào tố cáo những cái mà họ
gọi là văn phẩm phi luân của thế giới. Nhưng thật ra thì ít có cuốn
sách nào đã được xuất bản mà chứa những sự dơ dáy về luân lý đạo đức
nhiều hơn là những lời mạc khải của Thiên Chúa. Những chuyện trong
Thánh Kinh không loé lên một điểm thông minh dí dỏm nào. Chúng không
bao giờ lên quá được mức buồn tẻ về những chi tiết của những thói xấu
ngu đần. Tôi là người không muốn làm nhơ những trang giấy của tôi với
những câu trích dẫn từ Thánh Kinh. (I cannot afford to soil my pages
with extracts from them); và tất cả những đoạn đó trong Thánh Kinh, tôi
để cho giới giáo sĩ xem xét, bình luận và giải thích. Các ông giáo sĩ
đó có thể kiếm ra cách nào đó để lấy mật ong ra từ những bông hoa đó.
Cuốn Thánh Kinh không phải là cuốn sách để cho già cũng
như trẻ đáng đọc. Nó chứa những trang sách mà không một ông mục
sư nào ở Mỹ dám đọc trước cộng đồng dân Chúa bất kể là phần thưởng dành
cho ông ta là cái gì. Có những chương mà không một người cha nào muốn
đọc cho con nghe. Có những câu chuyện không thể kể; và sẽ có ngày cả
nhân loại sẽ phân vân là sao mà một cuốn sách như vậy lại có thể gọi là
được Thiên Chúa mạc khải.
Chúng ta thường xuyên được bảo rằng Thánh Kinh là nền tảng
của sự khiêm tốn và đạo đức; trong khi thật ra thì những trang sách
trong đó chẳng có gì là khiêm tốn và đạo đức [Xin dọc những lời tự
nhận rất huênh hoang và những lời vô đạo đức của Giê-su trong Tân Ước.
TCN], mà nếu một mục sư đọc chúng trên bục giảng thì ngay lập tức
ông ta sẽ bị tố cáo là đồ khốn nạn dơ dáy (unclean wretch).
Mọi phụ nữ sẽ bước ngay ra khỏi nhà thờ, và nếu nam giới có ở lại thì
chỉ với mục đích là nghiêm khắc trừng phạt ông mục sư đó
(chastising that minister).
Có phải tốt hơn là hãy coi Thánh Kinh như là được viết bởi
những người man rợ trong một thời đại man rợ, thô thiển không? Có phải
đúng hơn là có những tên Do Thái ngu đần nào đó đã viết lên những lời
tầm thường đó. Những Ki Tô hữu bảo tôi rằng chính Thiên Chúa là tác
giả của những điều đê tiện và ngu xuẩn (vile and stupid)
này.
Sự kiện là, những điều hay trong một cuốn sách không chứng
minh được là cuốn sách đó đã được Thiên Chúa mạc khải, nhưng những điều
xấu xa và sai lầm trong đó đích thực đã chứng minh rằng đó không phải là
một cuốn sách đã được mạc khải.
Vấn đề thực sự không phải là cuốn Thánh Kinh có được mạc
khải hay không, mà là nó có đúng hay không. Nếu nó đúng, nó không cần
phải được mạc khải. Nếu nó đúng thì không có gì khác biệt là
nó đã được viết bởi một người hay một ông thần; và nếu nó không đúng thì
không thể bảo nó là do sự mạc khải của thần mà viết lên. Một bản cửu
chương (multiplication table) thì cũng có ích, cũng đúng như là
một thần đã xếp đặt những con số trong đó. Nếu Thánh Kinh thực sự đúng,
không cần phải đề cao nó là do sự mạc khải của thần.
Thật ra thì, chân lý không cần phải được mạc khải. Không có
gì phải cần đến sự mạc khải trừ sự giả mạo hay sai lầm [nghĩa là
muốn sự giả mạo trở thành chân thật, sự sai lầm trở thành đúng bằng cách
khoác cho nó bộ áo “do Thiên Chúa mạc khải”. TCN]. Ở đâu mà sự thật
chấm dứt, ở đâu mà xác suất (probability) ngưng lại, thì ở đó sự
mạc khải bắt đầu. Một sự kiện không bao giờ đi cùng với một phép lạ.
Chân lý không bao giờ cần đến sự trợ giúp của phép lạ.
Sự mạc khải của cuốn Thánh Kinh tùy thuộc sự cả tin của người
đọc. Đã có một thời, những điều viết trong đó về địa chất, về thiên
văn, lịch sử thiên nhiên, đều được cho là do sự mạc khải của thần và do
đó không thể sai lầm; thời đại đó đã qua. Đã có một thời, những
quan niệm về luân lý đạo đức trong đó đã làm hài lòng những con người
nắm quyền thống trị tư tưởng của nhân loại; thời đại đó đã qua.
Có một người thông minh nào trên thế giới ngày nay còn có thể
tin được câu chuyện vườn Eden? Nếu bạn thấy người nào còn tin như vậy,
hãy gõ lên trán anh ta, bạn sẽ nghe thấy một tiếng vang [vì đầu óc
hắn ta rỗng tuếch. TCN]. Có một người thông minh nào mà ngày nay còn
có thể tin là Thiên Chúa đã tạo ra người đàn ông từ đất sét, và người
đàn bà từ một cái xương sườn, rồi đặt hai người vào trong một cái vườn,
và đặt một cái cây ở giữa vườn? Không có chỗ nào ngoài cái vườn để đặt
cái cây đó hay sao, nếu ông ta không muốn cho họ ăn trái cây trên cây
đó? Có còn người nào ngày nay còn có thể tin vào chuyện con rắn
(xúi Adam và Eve ăn trái cấm)? Tôi thật thương hại bất cứ ai,
trong thế kỷ 19 này, còn tin vào những chuyện trẻ con như vậy.
Tại sao Adam và Eve bất tuân điều cấm của Thiên Chúa? Tại
sao họ bị cám dỗ? Bởi ai? Bởi quỷ (hiện thân thành con rắn).
Ai tạo ra quỷ? Thiên Chúa. Ông ta tạo ra quỷ để làm gì? Tại sao ông
ta không nói cho Adam và Eve biết về con rắn? Tại sao ông ta không canh
chừng con quỷ mà lại đi canh chừng Adam và Eve? Tại sao ông ta không
gây ra nạn hồng thủy trước, và dìm chết con quỷ, trước khi ông ta tạo ra
Adam và Eve?
Vậy mà, những người tự cho là mình thông minh – giáo sư
đại học và viện trưởng các học viện [Ki Tô ở Mỹ trong thế kỷ 19]
danh tiếng – đã dạy trẻ con và lớp trẻ rằng chuyện vườn Eden là một
sự kiện lịch sử tuyệt đối. Cái ông Thiên Chúa này của họ, đứng chờ
xung quanh cái vườn Eden – biết rằng cái gì sẽ xảy ra – đã tạo nên Adam
và Eve với mục đích duy nhất là điều xảy ra sẽ phải xảy ra, rồi sao
nữa? Bắt tất cả chúng ta phải chịu trách nhiệm, và chúng ta không hề có
mặt ở đó. Adam và Eve là đại diện của những người chưa được sinh ra.
Trước khi tôi bị ràng buộc vào một đại diện, tôi muốn có cơ hội để bỏ
phiếu chọn anh ta hay không? Và nếu tôi ở đó (vườn Eden), và
biết mọi trường hợp đã xảy ra, tôi đã bỏ phiếu “không chấp nhận”. Tuy
vậy, trách nhiệm vẫn về phần tôi.
Chúng ta được Thánh Kinh và Giáo hội dạy, vì sự “sa ngã” này
của Adam và Eve, “tội lỗi và cái chết đã đi vào nhân loại”. Theo như
vậy thì, ngay sau khi Adam và Eve ăn trái cấm, Thiên Chúa bắt đầu bày
đặt ra những phương pháp để tiêu diệt sự sống của các con cái của ông
ta. Ông ta đã “sáng tạo” ra mọi bệnh tật – nóng sốt, ho hắng và cảm cúm
– tất cả những sự đau đớn cho thể xác và sự truyền nhiễm của bệnh dịch
hạch, bệnh sốt rét và những vi khuẩn, để cho khi thở chúng ta hít vào
những tên sát nhân mà chúng ta không thể nhìn thấy; và, sợ rằng có người
sống thọ, Thiên Chúa phát minh ra động đất và núi lửa, bão tố và sấm
sét; và các vi sinh vật tràn ngập vào tim óc, quá nhỏ đến nỗi mắt không
nhìn thấy được.. Tất cả chỉ vì Adam và Eve không nghe lời ông ta.
Với lòng tốt vô tận (infinite goodness), Thiên Chúa
phát minh ra bệnh nhức xương và đau khớp xương, chứng khó tiêu
(dyspepsia), ung thư và chứng đau thần kinh, và vẫn còn tiếp tục phát
minh ra những chứng bệnh mới. Như vậy cũng chưa đủ, ông ta còn làm cho
các bà mẹ phải đau đớn (khi sinh đẻ), và qua lòng thương yêu của
ông ta, sự chết sẽ đến với mọi người. Ông ta nguyền rủa cả thế giớ.
(He cursed the world). Nhưng tất cả những cái này chỉ là bước mở đầu
cho sự trả thù của một ông Thiên Chúa chí thiện (Good God).
Quý vị có thể nói đến một cách không rõ ràng, nhưng không bao giờ có thể
quan niệm nổi những sự khủng khiếp vô cùng tận của cái giáo lý gọi là
“Sự sa ngã của con người”. (the infinite horrors of the
doctrine called “The fall of man”).
Theo Thánh Kinh thì Thiên Chúa đã chọn lựa dân tộc Do Thái để
loan báo một sự kiện vĩ đại: rằng ông ta là ông Thần duy nhất trên thế
gian. Để đạt được mục đích này, ông ta hiện ra nhiều lần trước mặt
Môi-se (Moses) – từ trên mây xuống núi Sinai, trong bụi cây bốc lửa, và
làm hàng ngàn phép lạ để giáo dục và giữ dân Do Thái. Ông ta rẽ nước
biển ngay trước mắt họ. Ông ta làm cho bánh rơi từ trên trời xuống để
nuôi họ. Ông ta làm cho nước phọt ra từ tảng đá để cho họ uống cho đỡ
khát. Những kẻ thù của ông ta đều bị tiêu diệt một cách rất lạ lùng; và
trong 40 năm, cái ông Thiên Chúa này đích thân cai trị dân Do Thái. Tuy
nhiên, sau tất cả những phép lạ này, một số người trong dân của ông ta
lại vẫn cứ tin vào các Thần Cây, Thần Đá hơn là tin vào ông ta.
Cái ông Thiên Chúa này, với tất cả quyền năng và sự sáng
suốt, lại không thể thuyết phục được một số dân du mục man rợ rằng ông
ta thì mạnh hơn là các hình tượng của dân Ai Cập. Ông Thiên Chúa này
không muốn cho dân Do Thái của ông ta có đầu óc suy tư và óc tìm hiểu.
Đối với những người có đầu óc, sự trừng phạt là tử hình. Ở đâu
mà ông Thiên Chúa này trị vì, sự tự do trí thức không được biết đến.
Ông ta chỉ trông cậy vào bạo lực; đòi hỏi sự thờ phụng ông ta bằng
gươm giáo và ngọn lửa thiêu đốt; ông ta xử sự như một điệp viên (spy),
một phán quan của tòa án xử dị giáo (inquisitor), một quan tòa (judge),
và một đao phủ (executioner).
Khi tôi đọc lịch sử của dân tộc Do Thái, từ nô lệ đến chết
chóc, với những bạo chúa v..v.., tôi phải thú nhận là tôi thật thương
xót họ. Họ bị gian lận, lừa dối và đối đãi rất tệ hại. Cái ông
Thiên Chúa của họ rất dễ nổi nóng, vô lý, tàn ác, hận thù và bất lương.
(Their God was quick-tempered, unreasonable, cruel, revengeful and
dishonest). Ông ta luôn luôn hứa hẹn nhưng không bao giờ giữ lời.
Ông ta phí thì giờ về những chi tiết nhỏ nhặt, trẻ con, và phóng đại
những việc ông ta làm. Tôi không thể quan niệm được một cá tính nào
đáng ghét hơn là cá tính của cái ông Thiên Chúa của người Do Thái. Ông
ta long trọng hứa với dân Do Thái là mang họ ra khỏi Ai Cập đến một nơi
tràn đầy sữa và mật ong.
Ông ta làm cho họ tin tưởng rằng trong tương lai gần,
mọi khổ nạn của họ sẽ qua đi, và họ sẽ trở về vùng đất Canaan với vợ
con, quên đi những sự cực khổ ở Ai Cập. Sau khi hứa hẹn đi, hứa hẹn lại
(again and again) với đám dân du mục Do Thái khốn khổ là ông ta
sẽ dẫn họ đến vùng đất hứa tràn đầy thực phẩm và vui sướng, cái ông
Thiên Chúa này, quên hết mọi điều hứa hẹn của mình, và nói với đám dân
khốn khổ đang ở dưới quyền ông ta: “Súc vật của các ngươi sẽ cùng các
ngươi đi vào vùng sa mạc hoang dại và con cái các ngươi sẽ lang thang
cho đến khi súc vật của các ngươi chết hết”. Lời nguyền rủa trên là kết
luận của mọi vấn đề. Trong vùng sa mạc của thần chết và tối tăm, tất cả
những lời hứa hẹn của Thiên Chúa đều phai nhạt. Trong sự cực khổ và
thất vọng của đám dân du mục, tất cả những hi vọng về tự do và định cư
đều biến mất [cho đến năm 1947. TCN]. Hàng triệu dân Chúa bỏ
thây trong sa mạc, và mỗi xác chết là một nhân chứng của sự bất lương
của Thiên Chúa (each corpse certified to the dishonesty of God). Những
điều quá độc ác và vô tâm như vậy thật đã ra ngoài mọi ý niệm về công lý
của tôi.
Khi chúng ta nghĩ tới những người Do Thái khốn nạn, sợ hãi,
giết nhau, bị giết chóc, rắn cắn, bệnh truyền nhiễm, lừa dối, lột hết
của cải…chúng ta phải cám ơn trời đất là chúng ta đã không phải là
dân tộc được Thiên Chúa chọn lựa (how thankful we should be that we
are not the chosen people of God) [Việt Nam ta, trừ một số mất
gốc, nhờ hồng phúc tổ tiên, cho nên không rơi vào số phận của những kẻ
nô lệ tin tưởng và thờ phụng Thiên Chúa, một vị Thần độc ác ngoài sức
tưởng tượng của con người tiến bộ ngày nay. TCN]. So sánh
với Thiên Chúa (Jehovah), Pharaoh (vua Ai Cập) là kẻ nhân từ, và
cách hành xử độc đoán của Ai Cập là sự giải thoát cho những người phải
chịu đựng ý tưởng về tự do của Thiên Chúa.
Đọc Ngũ Kinh, tôi cảm thấy vô cùng phẫn nộ, ghê sợ và đầy sự
thương hại. Không có gì đáng buồn thảm hơn là lịch sử của một dân tộc
du mục thiếu ăn, lang thang trong sa mạc, làm mồi cho đói khát, bệnh
tật. Cực kỳ ngu đần và mê tín, bị thống trị bởi sự lừa dối, đạo đức
giả, họ là trò chơi của giới giáo sĩ. Thiên Chúa là kẻ thù lớn nhất
của họ, và họ chỉ có một người bạn, đó là cái chết. Chúng ta không
thể nào quan niệm nổi một sinh vật nào quá chừng đê tiện, đáng ghét, và
kiêu căng hơn là Thiên Chúa của người Do Thái. (It is impossible to
conceive a more thoroughly despicable, hateful, and arrogant being, than
the Jewish God) [Thảm thay, đây cũng lại là chính Thiên Chúa mà
những người Ki Tô Giáo Việt Nam, Ca Tô cũng như Tin Lành thờ phụng. TCN]
Trong những huyền thoại của dân gian, không có Thần nào như hắn ta. Chỉ
có hắn là chưa từng bị đau khổ cùng cực về thể xác cũng như tinh thần,
chưa từng chảy nước mắt. Hắn chỉ thích thú với máu đổ và sự đau đớn
của con người. Tình cảm con người không nghĩa lý gì đối với hắn. Hắn
ta không biết gì là tình yêu thương, ca nhạc, hạnh phúc. Là một người
bạn giả dối, một quan tòa bất công, một kẻ khoác lác (a
braggart), đạo đức giả, độc đoán, hận thù, ghen tuông, ưa trả thù,
hứa hão, ưa nguyền rủa, ngu đần, đồng bóng, đồi bại và ghê tởm
(infamous and hideous) – đó là Thiên Chúa trong Ngũ Kinh.
[Chúng ta không nên lấy làm lạ khi thấy trong Tân Ước, Thiên Chúa
Con, alias Giê-su, cũng có không ít cùng những đặc tính được mô tả ở
trên. Cũng giả dối, khoác lác, đạo đức giả, độc đoán, ác độc, hận thù,
ưa trả thù, hứa hão, ưa nguyền rủa, ngu đần v..v.. Việc chứng minh
rất dễ dàng. Chỉ cần mở cuốn Tân Ước ra là thấy ngay. Tôi sẽ trình bày
chi tiết dẫn chứng từ Tân Ước trong một bài khác. TCN]
Trong nhiều năm, (trong thế giới Ki Tô) người ta đã
cho rằng 10 điều răn trong Cựu Ước là nền tảng của mọi ý tưởng về công
lý và luật pháp. Nhiều nhà luật học nổi danh đã phải cúi đầu trước
thành kiến phổ thông, và đã méo mó nghề nghiệp đến độ cho rằng luật của
Môi-se là suối nguồn của mọi ý tưởng về công chính. Không có gì sai
lầm một cách ngu đần hơn. Hàng ngàn năm trước khi Môi-se sinh ra
đời, dân Ai Cập đã có một bộ luật. Họ đã có những luật chống phỉ báng,
giết người, ngoại tình, ăn trộm, ăn cướp, luật đòi nợ, tôn trọng hợp
đồng, bồi thường, chuộc đồ, và hầu như về mọi khía cạnh của đời sống xã
hội.
Người ta thường bảo với tôi rằng, nếu không có cuốn Thánh
Kinh thì không làm gì có nền văn minh nào. Người Do Thái có một Thánh
Kinh. Người La Mã không có. Nhưng dân nào có một chính quyền tốt hơn?
Chúng ta hãy lương thiện. La Mã không có Thánh Kinh, Thiên Chúa không
quan tâm đến đế quốc La Mã. Ông ta không có thì giờ. Tất cả thì giờ
ông ta để cho người Do Thái. Nhưng La Mã đã chinh phục thế giới, kể cả
dân Thần lựa chọn. Dân tộc có Thánh Kinh bị dân tộc không có Thánh Kinh
đánh bại. [Điều này cũng đúng trong thời hiện đại. Mỹ và Pháp đều
có Thánh Kinh, Việt Nam không có Thánh Kinh, nhưng đã đánh bại cả hai].
Và chúng ta có thể nói gì về Hi Lạp? Không Thánh Kinh. Hãy so sánh
Athens với Jerusalem. Athens là trung tâm nghệ thuật và trí thức của
thế giới. [Có lẽ tác giả chỉ biết đến lịch sử Trung Đông và Tây
Phương]. Hãy so sánh những huyền thoại của Hi Lạp với những huyền
thoại của Do Thái. Huyền thoại Hi Lạp đẹp đẽ biết bao, còn huyền thoại
Do Thái thì đầy những hận thù và bất công.
Do Thái đã trở thành thế nào vì có Thánh Kinh? Đền thờ Thần
của họ bị phá hủy, thành thị bị chiếm cứ; và họ chưa bao giờ trở nên
thịnh vượng cho đến khi họ bị Thần bỏ rơi.
Nền tảng văn minh của chúng ta đã khởi đầu từ nhiều thế kỷ
trước khi Ki Tô Giáo xuất hiện. Tất cả những gì đóng góp cho nền văn
minh: sự tiến bộ trí thức, lòng can đảm, tổ chức chính phủ, kỹ nghệ
v..v.. không đến từ Ki Tô Giáo mà là do sự đóng góp của mọi quốc gia
trên thế giới từ xưa.
Có nhiều người cho rằng chính phủ của chúng ta là một chính
phủ Ki Tô, đặt nền tảng trên Thánh Kinh, và người nào coi Thánh Kinh như
là sai lầm và điên rồ (false and foolish) là phá hủy nền tảng của đất
nước. Sự thực là, chính phủ của chúng ta không đặt nền tảng trên
quyền của Thiên Chúa mà là trên quyền của con người. Hiến pháp của
chúng ta được đóng khung trên sự thiêng liêng của nhân loại chứ không
tuyên bố và không ủng hộ tư cách thần thánh của Giê-su. Chính phủ của
chúng ta là chính phủ đầu tiên do dân và vì dân. Đây là quốc gia duy
nhất mà Thiên Chúa không có quyền gì trong đó. Tuy vậy mà cũng còn có
một số người bất lương và hèn nhát đến độ (dishonest and
cowardly enough) long trọng quyết định đây là một quốc gia Ki Tô,
và định chế tự do của chúng ta được đặt căn bản trên những luật ô nhục
của Thần Gia-vê (infamous laws of Jehovah).
Và ở đây, tôi xin nói dứt khoát, khi tôi nói đ |