|
Lời Tòa Soạn 
Những mục của tác giả Trần Chung Ngọc:
1
2
3
4
Những mục của tác giả Nguyễn Mạnh Quang:
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Lời Kết Chung
Mục II. Giê-su Sinh Ra Đời Để
Làm Gì?
Giê-su
sinh ra là một người Do Thái, bố
(không
biết là ai) và mẹ là người Do Thái, và theo lời khẳng định của Giê-su
trong Tân Ước, Giê-su sinh ra chỉ để cứu người Do Thái mà thôi [Matthew
15:24]. Nhưng điều kỳ lạ là chính người Do Thái lại không tin
Giê-su là cứu tinh của họ, và vì vậy trong suốt hai ngàn năm nay, mới
đầu là giáo hội Ca-Tô-Rô-ma trong 1500 năm, và sau này, từ thế kỷ 16,
thêm vào giáo hội Tin Lành, đã vu cho người Do Thái cái tội “giết Chúa”,
và bách hại người Do Thái bất cứ khi nào có thể, đưa đến cao điểm là
người Ca-Tô Hitler đã giết 6 triệu người Do Thái, lớn nhỏ, già trẻ.
Nhưng tại sao người Do Thái lại không tin Giê-su? Tôi không muốn đi vào
phần này vì khá dài. Nhưng tôi có thể giới thiệu một bài trên
aish.com, bài: “Tại Sao Người Do Thái Lại Không Tin
Giê-su?” (Why Don’t Jews Believe In Jesus?). Bài này đã giải
đáp cặn kẽ câu hòi trên. Ở đây tôi chỉ liệt kê 7 lý do tại sao người Do
Thái lại không tin Giê-su là cứu tinh của dân tộc Do Thái:
1) Giê-su không hoàn
thành những lời tiên tri về một đấng cứu tinh.
2) Giê-su không là
hiện thân những tư cách cá nhân của một đấng cứu tinh
3) [Trong Tân Ước] có
những đoạn dịch sai để nói về Giê-su
4) Niềm tin của Do
Thái là chỉ căn cứ trên sự mạc khải cho cả quốc gia (không chỉ cho một
cá nhân)
5) Ki Tô Giáo mâu
thuẫn với nền thần học Do Thái.
6) Do Thái không kỳ
thị dân Gentile [Giê-su kỳ thị, dạy đệ tử không được giảng đạo ở xứ dân
Gentile]
7) Điều kiện để đấng
cứu tinh xuất hiện chưa đến.
a) Jesus did not
fulfill the messianic prophecies
b) Jesus dis not
embody the personal qualifications of messiah
c) Mistranlated
verses “referring” to Jesus
d) Jewish belief is
based solely on national revelation
e) Christianity
contradicts Jewish theology
f) Jews and Gentiles
g) Not yet time for a Messiah
Vậy thực ra
Giê-su sinh ra đời để làm gì? Theo Tập San Tin Mừng (Good News
Magazine) thì:
Giê-su
phải sinh ra đời vì tội (tổ tông) của nhân loại.
Giê-su
phải sinh ra đời vì Thượng đế muốn bày tỏ đức tính của mình cho nhân
loại.
Giê-su
phải sinh ra đời để cất bỏ tội lỗi của nhân loại bằng một sự hi sinh
hoàn mỹ.
Giê-su phải sinh ra
đời để cho nhân loại có một đấng trung gian hòa giải
Giê-su
phải sinh ra đời để đáp ứng lời hứa hẹn về hậu duệ của Abraham
Giê-su
phải sinh ra đời để thay Thượng đế mang thánh linh đến cho nhân loại
Giê-su
phải sinh ra đời để thay Thượng đế chuộc tội cho nhân loại.
[Jesus had to be
born because of mankind’s sin.
Jesus had to be
born because God wanted to reveal His own character to humanity.
Jesus had to be
born to remove the sins of humankind through a perfect sacrifice.
Jesus had to be
born for mankind to have a Mediator.
Jesus had to be
born to provide the promised Seed of Abraham.
Jesus had to be
born for God to make His Spirit available to all humankind.
Jesus had to be
born for God to redeem mankind.]
Chúng ta thấy,
tất cả những giải thích trên về sự sinh ra của Giê-su chỉ là những
giải thích thần học dựa trên những huyền thoại trong Thánh Kinh, Cựu Ước
cũng như Tân Ước, và giải thích cho những đầu óc thấp kém. Thử hỏi
ngày nay, với những khám phá về vũ trụ nhân sinh, về thuyết Big Bang, về
thuyết Tiến Hóa, mà chính Giáo hoàng John Paul II đã phải công nhận, có
còn ai tin vào thuyết sáng tạo của Thượng đế, vào chuyện tội tổ tông
v..v.. ngoài những người ít học và kém hiểu biết, đầu óc mù mịt sống
trong những ốc đảo mê tín ngu dốt. Chứng minh?
Malachi Martin,
giáo sư tại viện nghiên cứu Thánh Kinh của giáo hoàng tại Rô-ma dưới
triều đại giáo hoàng John XXIII (Professor at the Pontifical Biblical
Institute of Rome, served in the Vatican under Pope John XXIII), đã viết
trong cuốn “Sự Suy Thoái Và Sụp Đổ của Giáo Hội Rô-Ma” (The
Decline and Fall of the Roman Church) như sau, trang 230:
Giáo Hoàng
John XXIII nói trong buổi khai mạc Công Đồng Vatican II ngày 11 tháng
10, 1962, rằng “những giáo lý và quan niệm sai lầm vẫn còn tồn tại
nhiều, nhưng ngày nay con người đã tự ý loại bỏ chúng… Nhưng nếu
Roncalli (John XXIII) không thấy là điều giảng dạy mới của mình dẫn tới
đâu, thì hàng trăm nhà thần học và giám mục đã thấy. Trong
những thập niên 1960-70, sau khi Roncalli chết, họ đã từ bỏ niềm tin về
tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lý căn bản khác.
(Martin, Malachi, The Decline and Fall of the
Roman Church, p. 230: Pope John XXIII told the opening session of
his council on October 11, 1962, that “false doctrines and opinions
still abound,” but that “today men spntaneously reject” them… But if
Roncalli did not see where his new teaching was leading, hundreds of
theologians and bishops did. In the sixties and the seventies after
Roncalli’s death, they drew these conclusions and abandoned belief in
original sin, in the Devil, and in many other fundamental doctrines.)
Tại sao các
nhà thần học và giám mục lại từ bỏ thuyết thần học về tội tổ tông,
về quỷ Satan và về nhiều giáo lý khác như “ơn cứu chuộc của Chúa”, “Chúa
sống lại”, hay “Đức Mẹ đồng trinh” v..v..? Vì ngày nay, những thuyết
này không còn phù hợp với trình độ hiểu biết tiến bộ của nhân loại, hơn
nữa lại còn chứa những mâu thuẫn mà không nhà thần học nào có thể biện
minh được.
Thật vậy,
nhận rõ được tính chất hoang đường, vô hiệu, lỗi thời của “bí tích rửa
tội”, của vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su, nên trong
cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why
Christianity Must Change or Die), Giám mục John Shelby Spong đã dành
riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một
Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To
Go). Trong chương này, Giám Mục Spong viết như sau, trang
98-99:
“Nhân loại chúng ta không sống
trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không
cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta
không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không
rửa tội. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng trước
khi sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời Darwin và một sự
vô nghĩa sau thời Darwin.”
(We human beings do not live in sin. We are not born in
sin. We do not need to have the stain of our original sin washed away
in baptism. We are not fallen creatures who will lose salvation if we
are not baptized… A savior who restores us to our prefallen status is
therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.)
Và trong cuốn
“Thiên Chúa Vẫn Sống: Từ Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Tự Do Tâm Linh”
(God Lives: From Religious Fear To Spiritual Freedom, Steven J. Nash
Publishing, IL., 1993), trang 114, Linh mục James Kavanaugh cũng
đưa ra nhận xét sau đây về tín điều “chuộc tội” trong Ca Tô Giáo:
“Đối với bất cứ người
nào trong thế giới cổ xưa đứng trước Thiên Chúa như là một nạn nhân bất
lực, tin rằng mình là một người có tội một cách vô vọng, coi Thiên Chúa
như là một ông quan tòa giận dữ không thể tới gần được, cái chết có tính
cách hi sinh của đức Ki Tô là một huyền thoại với đôi chút thực tế.
Nhưng đối với con người hiện đại, nó chẳng còn ý nghĩa gì mấy trừ khi
hắn đã bị làm cho sợ hãi và tẩy não một cách thích hợp từ khi mới sinh
ra đời. Đối với hắn, hắn là một nạn nhân tuyệt đối thụ động
của sắc luật của Thiên Chúa trong Thánh Kinh.
Đối với tôi, đó là một huyền thoại “cứu rỗi”
thuộc thời sơ khai miêu tả một người cha lấy cái chết của chính con mình
để bớt đi cơn giận dữ. Đó là một chuyện ác độc không thể tưởng tượng
được…
Tôi chấp nhận sự kiện là đức Ki Tô đã chết, ngay cả
chuyện ông ta bị đóng đinh trên thập giá. Nhưng tôi không thể chấp
nhận huyền thoại cho rằng cái chết của ông ta là để chuộc tội cho tôi.
Huyền thoại cứu rỗi như được viết trong Tân Ước chỉ là một lối diễn
giải.
Đó là một
huyền thoại của thời sơ khai, bản chất của nó tương đương với nhiều
huyền thoại cứu rỗi của nhiều dân tộc trong thời sơ khai ở khắp mọi nơi,
nhưng nó lại độc ác một cách không tưởng hơn là hầu hết các huyền thoại
khác. Nó phản ánh một thế giới mà con
người có thể làm nguôi cơn giận của những thần sấm sét trong một cơn
giông tố. Ngày nay, chó và mèo vẫn còn sợ sấm sét, nhưng con người thì
ngồi yên trong nhà và hiểu rõ cái hiện tượng thiên nhiên đang xảy ra…
Tôi sẽ không chấp nhận cái huyền thoại về một Chúa Cha
khắt khe đối xử với chính con của mình, Giêsu, bằng một công lý vô tình
cảm, và đòi hỏi con mình phải chết trên thập giá cho những tội lỗi của
tôi. Cái huyền thoại này cũng chẳng trở thành hấp dẫn hơn vì
Chúa Cha đã làm cho con sống lại, đội mồ mà lên một cách vinh quang.
Tôi không thể yêu mến một người cha như vậy hoặc phải biết ơn một người
con như vậy trong một câu chuyện mượn từ một câu chuyện truyền tụng của
nền thần học Do Thái cổ lỗ và thay đổi nó đi. Tôi không hề yêu cầu
Giêsu phải chịu khổ thay cho tôi và ngay cả muốn ông ta làm như vậy…”
(To any man in the ancient world who stood before God as a helpless
victim, who believed himself a hopeless sinner, who considered God an
unapprochable and angry judge, the sacrificial death of Christ was a
myth of some substance. But to modern man, it makes far less sense
unless he has been suitably frightened and brainwashed from birth. To
him, he is a voiceless victim of God’s decree in the Bible. To me, it
is a primitive ‘salvation” myth which portrays an angry father appeased
by the death of his own son. It is a tale of unbelievable cruelty…
I accept the fact that Jesus died, even that he was
crucified. But I cannot accept the myth that his death was an atonement
for my sins. The salvation myth as it appears in the New Testament is
an interpretation. It is a primitive myth, in essence parallel to the
salvation myths of primitive peoples everywhere, but it is more
unbelievable and cruel than most myths. It rings of a world in which
man could appease the gods of thunder during a storm. Now cats and dogs
are frightened during storms; man stays inside and understands the
natural phenomenon that is taking place…
I will not accept this mythical God-the-demanding-Father
Who could treat His own son Jesus in unfeeling justice and demand his
death on the cross to pay for my sins. Nor is the myth more appealing
because He brought His son gloriously from the tomb. I cannot love such
a Father or even be grateful for such a son in this borrowed and
modified tale of archaic semitic theology. I did not ask him to suffer
for me or even want him to..)
Sự từ bỏ
những niềm tin về tội tổ tông, về quỷ Satan, và về nhiều giáo lý căn bản
khác không đâu rõ hơn trong những thú nhận của Vatican trong vài
thập niên qua. Thật vậy, từ năm 1981, tòa thánh Vatican đã mời một
số chuyên gia đến để cố vấn cho tòa thánh về vũ trụ học. Cuối cuộc hội
thảo, các chuyên gia được giáo hoàng John Paul II tiếp kiến. Ông ta nói
với các khoa học gia là “cứ tự nhiên nghiên cứu sự tiến hóa của vũ
trụ sau sự nổ lớn (big bang), nhưng không nên tìm hiểu về chính
lúc nổ vì đó là lúc sáng tạo, do đó là tác phẩm của Thượng đế.”
(Stephen Hawking, A Brief History of Time, p. 116: He told us
that it was all right to study the evolution of the universe after the
big bang, but we should not inquire into the big bang itself because
that was the moment of Creation and therefore the work of God). Chúng
ta nên để ý, Big Bang là hiện tượng nổ bùng của một dị điểm
(singularity) vô cùng đặc, vô cùng nóng, nguồn gốc của vũ trụ ngày nay,
và đã xảy ra cách đây khoảng 13.7 tỷ năm chứ không phải là chỉ có từ
6000-10000 năm do sự “sáng tạo” (sic) trong 6 ngày của Thượng đế Ki-tô
giáo như được viết trong Kinh Thánh, được coi như những lời không thể
sai lầm của Thượng đế. Và giáo hoàng nói câu trên chẳng qua chỉ để vớt
vát phần nào mặt mũi của Thượng đế, Thượng đế của những khoảng trống
(God of the Gaps), một mặt mũi đã không còn chỗ đứng trong thế giới tiến
bộ trí thức và khoa học của nhân loại.
Rồi, trước những
khám phá khoa học liên hệ đến thuyết Tiến Hóa bất khả phủ bác trong
nhiều bộ môn của khoa học, năm 1996, Giáo hoàng John Paul II đã thú nhận
trước thế giới là “thân xác con người có thể không phải là một sự
sáng tạo tức thời của Thượng đế, mà là kết quả của một quá trình tiến
hóa dần dần”. Ngài nói: “những kiến thức mới nhất
dẫn đến việc phải chấp nhận thuyết tiến hóa hơn là một giả thuyết”.
(Pope John Paul II has put the teaching authority of the Roman Catholic
Church firmly behind the view that “the human body may not have been the
immediate creation of God, but is the product of a gradual process of
evolution.. The pope said that “fresh knowledge leads to recognition of
the theory of evolution as more than just a hypothesis”).
Còn nữa, tháng
7 năm 1999, trước những khám phá xác tín nhất của khoa vũ trụ học, và
trước những hiểu biết của con người ngày nay về cấu trúc của trái đất,
Giáo Hoàng đã bắt buộc phải tuyên bố: “thiên đường không phải là
một nơi trừu tượng mà cũng chẳng phải là một nơi cụ thể ở trên các tầng
mây” (Heaven is neither an abstraction nor a physical place in
the clouds), và “Hỏa ngục không phải là sự trừng phạt áp đặt từ
bên ngoài bởi Thượng đế, mà là trạng thái hậu quả của những thái độ và
hành động mà con người đã làm trong đời này” (Hell is not a
punishment imposed externally by God, but the condition resulting from
attitudes and actions which people adopt in this life).
Chấp nhận thuyết
Big Bang, thuyết tiến hóa, chấp nhận con người không phải là do Thượng
đế tạo ra tức thời mà chính là kết quả của một quá trình tiến hóa dần
dần và lâu dài, thú nhận không làm gì có thiên đường (một cái bánh vẽ
trên trời để dụ những người đầu óc mê mẩn, yếu kém), và hỏa ngục
(một nơi để hù dọa những người không tin Chúa), Giáo hoàng đã chính
thức bác bỏ thuyết “sáng tạo” của Ki Tô Giáo, phá tan huyền thoại về
Adam và Eve là tổ tông loài người do Thượng đế tạo dựng từ đất sét, và
kéo theo không làm gì có chuyện Adam và Eve sa ngã tạo thành tội tổ
tông.
Do đó,
vai trò “chuộc tội” và “cứu rỗi” của Giê-su chỉ là những luận điệu thần
học lừa dối của giới giáo sĩ Ki Tô Giáo khi xưa, được tiếp tục đưa ra
không ngoài mục đích khai thác lòng mê tín của một số người, huyễn hoặc
và khuyến dụ họ tin vào những điều
không thực.
Thật vậy, sự kiện là, Giáo
hoàng đã bác bỏ đức tin quan trọng nhất trong Ki-tô giáo: Quyền năng
“cứu chuộc”, “cứu rỗi” , “luận phạt” của Giê-su, do đó hi vọng của các
tín đồ Ki-tô về một cuộc sống đời đời trên thiên đường cùng Giê-su chẳng
qua chỉ là một ảo vọng, và sự luận phạt của Giê-su đối với những tín đồ
đạo Giê-su không tin ông ta chẳng qua chỉ là một sự hù dọa đã không còn
ý nghĩa.
Tôi tự
hỏi, có bao nhiêu tín đồ Ki-tô, Ca-tô cũng như Tin Lành, biết đến những
thay đổi trong nội bộ các giáo hội Ki-tô về căn bản tín ngưỡng trong
Ki-tô Giáo, biết đến những sự kiện lịch sử này, và biết đến những quan
niệm sai lầm bắt nguồn từ Kinh Thánh?
Tôi nghĩ đa số chưa bao giờ nghe đến tên Copernicus hay Galileo, chưa
bao giờ nghe đến những lời tuyên bố trước thế giới của giáo hoàng John
Paul II. Tôi cũng nghĩ tuyệt đại đa số tín đồ Ki-tô chưa từng đọc
đến Kinh Thánh và lẽ dĩ nhiên không có một kiến thức nào, dù là tối
thiểu, về những tiến bộ của khoa học và đầu óc con người trên thế giới.
Và lẽ
dĩ nhiên, các tín đồ cũng chưa bao giờ được nghe các linh mục, mục sư
cho biết những điều này trong nhà thờ, dù có thể chính họ cũng đã biết
nhưng vẫn dấu kín trước đám tín đồ thấp kém ở dưới để giữ đức tin của
tín đồ không bị chao đảo.
Thật vậy,
Russell Shorto đã viết trong cuốn Sự Thật Của Phúc Âm (Gospel
Truth) như sau:
Điều quan
trọng nhất là, tác động của quan điểm khoa học ngày nay đã khiến cho các
học giả, ngay cả những người được giáo hội Ca-Tô bảo thủ cho phép nghiên
cứu, cũng phải đồng ý là phần lớn những điều chúng ta biết về Giê-su
chỉ là huyền thoại… Các học giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập
niên nay – rằng Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với
một ảo tưởng –
họ đã
dạy điều này cho nhiều thế hệ các linh mục và mục sư. Nhưng những vị này vẫn giữ
kín không cho đám con chiên biết vì sợ gây ra những phản ứng xúc
động dữ dội trong đám tín đồ. Do đó, những người còn sống trong
bóng tối là những tín đồ Ki Tô bình thường.
(Most important,
the impact of the scientific perspective is having now that even
scholars working under a conservative Catholic imprimatur agree that
much of what we know of Jesus is myth… Scholars have known the truth –
that Jesus was nothing more than a man with a vision – for decades; they
have taught it to generations of priests and ministers, who do not pass
it along to their flocks because they fear a backlash of anger. So the
only ones left in the dark are ordinary Christians.)
Nhưng có phải
rằng “Giê-su chẳng gì khác hơn là một người thường sống với một ảo
tưởng” hay còn gì khác nữa? Nghiên cứu về sự sinh ra của
Giê-su trong Tân Ước, nhiều học giả cho rằng, rất có thể những chuyện
“giáng sinh” về Giêsu, sinh ra từ một trinh nữ trong Matthew và Luke đã
được tạo ra để che đậy những phê bình phân tích về Ki Tô Giáo trong thế
kỷ đầu: Giê-su là một đứa con hoang của Mary. Rải rác trong các
Phúc Âm có những chi tiết chứng tỏ như vậy, nếu chúng ta biết đọc những
bản văn này. Cũng vì vậy mà Giám Mục Spong, trong cuốn Sinh Ra Từ Một
Người Đàn Bà: Một Giám Mục Nghĩ Lại Chuyện Sinh Ra Đời Của Giê-su
(Born of a woman: A Bishop Rethinks The Birth of Jesus, Harper,
SanFrancisco, 1992) đã đưa ra nhận xét, trang 41:
Giê-su đã được
“ sinh ra từ một người đàn bà”. Nguồn gốc sinh ra đời của Giê-su
cũng gây nhiều tai tiếng như cách ông ta chết. Ông ta
(Giê-su) không
là ai cả, một đứa trẻ ở Nazareth, chẳng có gì tốt đẹp có thể rút tỉa ra
từ sự sinh ra đời này. Chẳng có ai biết cha ông ta là ai. Rất có
thể ông ta là một đứa con hoang. Rải rác trong miền đất truyền thống Ki
Tô lúc đầu (4 Phúc Âm), có những chi tiết chứng tỏ như
vậy, giống như những thỏi mìn chưa kiếm ra và chưa nổ .
(But he was “born
of a woman”… His origins were as scandalous as his means of death. He
(Jesus) was a nobody, a child of Nazareth out of which nothing good was
thought to come. No one seemed to know his father. He might well have
been illegitimate. Hints of that are scattered like undetected and
unexploded nuggets of dynamite in the landscape of the the early
Christian tradition.)
Trước những sự
thật khó ai có thể phủ bác như được viết trong Tân ước, có phải thật
là tội nghiệp cho các tín đồ không, sống trong bóng tối, tin tưởng vào
sự lừa dối vĩ đại của các “bề trên” về một huyền thoại xung quanh việc
sinh ra đời của Giê-su?.
Sau đây, chúng
ta sẽ nghiên cứu về vài sự kiện trong Tân Ước để có thể có một cái nhìn
tổng quát hơn về nhân vật Giê-su trong lịch sử Do Thái.
Giê-su Nói Gì Về Sự “Sinh Ra” Của Minh?.
Trước hết, chúng ta
hãy bỏ qua chuyện Giê-su “sinh ra” bằng cách nào, qua đường thụ thai
sinh nở bình thường của một người mẹ, hay qua đường bất thường của một
con Ma Thánh (Holy Ghost) trong nền thần học Ki Tô Giáo. Ai muốn tin sao
cũng được. Các tín đồ Ki Tô Giáo nói chung được dạy Giê-su là con Thượng
đế [God] xuống trần, chịu khổ nạn đóng đinh trên cây thập giá để chuộc
cái tội tổ tông của nhân loại như được viết trong Cựu Ước, là người hòa
giải giữa sự thịnh nộ của Cha ông ta như ông ta tự nhận, đối với loài
người, và đối với cả súc vật nữa, cho nên con người nếu tin ông ta thì
ông ta sẽ hóa giải những cơn thịnh nộ của Thượng đế đối với con người và
do đó con người, bị thất sủng bởi cái tội tổ tông, sẽ được trở lại trong
tình thương yêu của Thượng đế [sic] và sẽ được sống đời đời trên thiên
đường, lẽ dĩ nhiên là sau khi chết. Nhưng chúng ta đã biết trong phần
trên, những luận điệu thần học này nay đã không còn giá trị trong những
xã hội văn minh, tân tiến, ít ra là trong giới những người hiểu biết..
Chúng ta hãy đọc vài lời do chính Giê-su nói về mục đích của ông ta sinh
ra ở thế gian.
1. Trong
Matthew 10: 34-36, Giê-su khẳng định:
Đừng tưởng
rằng Ta xuống trần để mang lại hòa bình trên trái đất. Ta không xuống
đây để mang lại hòa bình mà là gươm giáo. Vì Ta xuống đây để làm cho
con chống lại cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng, và
kẻ thù của con người ở ngay trong nhà hắn.
2. Và Luke
12: 51-53 cũng xác định lại khẳng định của Giê-su như sau:
Đừng tưởng Ta
đến để đem hòa bình cho thế giới. Không, Ta đến để chia loài người làm
hai. Từ đây, một nhà có năm người sẽ chia rẽ chống đối nhau: hai chống
ba, và ba chống hai. Mâu thuẫn sẽ diễn ra giữa con trai với cha, con
gái với mẹ, con dâu với mẹ chồng.
Thực ra, những
lời nói trên của Giê-su, phản ánh những điều Giê-su đã đọc trong Cựu ước
và lòng kỳ thị chủng tộc, ghét những người phi Do Thái, cho nên chỉ áp
dụng cho vài dân tộc trong vùng Trung Đông ngày xưa mà thôi, nhưng đạo
Giê-su đã bành trướng trên thế giới, và ảnh hưởng của nó đã biến những
câu trên như là những lời tiên tri, không những cho vùng Trung Đông mà
còn cho bất cứ nơi nào mà đạo Giê-su truyền tới.
Nhận xét về những
tác hại mà đạo Giê-su đã mang đến cho nhân loại trong vấn đề chia rẽ
trong gia đình, quốc gia, và dân tộc, học giả Ca-Tô Joseph L.
Daleiden đã đưa ra một nhận định về lời phán trên của Giê-su trong cuốn
Sự Mê Tín Cuối Cùng (The Final Superstition), trang 177, như
sau: “Thảm thay, đây là một trong vài hứa hẹn mà lịch sử chứng tỏ là
Giê-su đã thành công hoàn thành.” [Tragically, this is one of the
few promises that history shows Jesus was successful in fulfilling.]
Thật vậy,
trong những lời của Giê-su trong Tân Ước thì chỉ có những điều trên là
được ứng nghiệm, vì đi đến đâu, đạo Giê-su cũng đưa đến những cảnh chia
rẽ, đối nghịch nhau, trong quốc gia, trong cộng đồng , và trong gia
đình. Và những cảnh này xẩy ra vì giới truyền đạo đã thành công tạo
nên một tâm cảnh cuồng tín trong đám tín đồ tân tòng mà tuyệt đại đa số
là đám dân thấp kém, ít học hay vô học, tin vào những điều dã man trong
Thánh Kinh mà họ được dạy là làm như vậy để vui lòng Chúa của họ..
Về đạo Giê-su
truyền vào Việt Nam, Linh mục Lương Kim Định đã đưa ra nhận xét sau đây
trong cuốn
Cẩm Nang Triết Việt:
“Sự truyền đạo
Thiên Chúa vào Việt Nam đã đưa đến sự chia khối dân tộc đang thống nhất
thành hai phe Lương, Giáo làm cho sự liên lạc giữa đôi bên trở nên nhức
nhối đầy e dè nghi kỵ. Đấy là một tai nạn lịch sử mà thời gian tuy có
làm giảm đi nhưng xem ra không sao xóa sạch được.”
Và
Nicole-Dominique Lê cũng viết trong cuốn
Những Hội Truyền
Giáo Hải Ngoại Và Sự Xâm Nhập Vào Việt Nam (Les Missions Étrangères et la
Pénétration Francaise au Vietnam) như sau:
“Các thừa sai đã
phạm tội thúc đẩy giáo dân bất tuân luật lệ quốc gia. Từ bỏ những thờ
phượng tôn giáo, những giá trị xã hội đã khiến cho họ sống ở ngoài lề
của xã hội truyền thống. Nhưng nghiêm trọng hơn là, người ta trách cứ các giáo
sĩ và giáo dân đã tạo nên sự phân chia quốc gia thành 2 khối tôn giáo
đối nghịch nhau.”
(Les
missionaires étaient coupables de pousser les Chrétiens à rejeter les
lois de leur pays. Rejet des cultes religieux, des valeurs sociales qui
les faisaient vivre en marge de la socíeté traditionnelle. Mais chose
plus grave, on reprochait au prêtres et aux chrétiens la scission du
pays en deux clans religieux opposés)
Như vậy, chúng
ta thấy rằng, mục đích “giáng trần” của Giê-su, qua chính lời phán của
Giê-su, đã ứng nghiệm trên khắp thế giới, ở bất cứ nơi nào mà đạo Giê-su
lan đến, đặc biệt là ở Việt Nam. Vậy Giê-su có đáng để chúng
ta ngưỡng mộ, tôn kính và thờ phụng không? Nói cách khác, người
Việt chúng ta có nên theo đạo Giê-su không? Câu trả lời nằm trong
câu hỏi.
Nhưng mục đích
“giáng trần” của Giê-su không chỉ có vậy. Ông ta khẳng định trong
Matthew 5: 17-18:
Các ngươi đừng
tưởng ta đến để phá luật
[của Cha ta]
hoặc các lời tiên tri [trong Cựu Ước]; ta đến không phải
để phá, mà để hoàn thành. Vì ta nói thật cùng các ngươi, cho đến khi
trời đất không còn nữa, một chấm một nét cũng không được ra ngoài luật
cho đến khi tất cả đều hoàn thành.
Những luật của
Cha Giê-su trong Cựu Ước là những luật như thế nào? Có bao nhiêu tín đồ
Ki Tô Giáo biết rằng trong Cựu Ước, Cha của Giê-su ta đã nhiều lần ra
lệnh hay đích thân giết người tập thể (mass killing) vô số người vô tội:
đàn ông, đàn bà, trẻ con, [con số lên đến hàng nhiều triệu] và
hủy diệt nhà cửa, thị trấn, và các tôn giáo khác [How many
Christians know that in the Old Testament, there are many examples of
their God ordering or personally murdered innocent men, women, and
children, along with the destruction of buildings, cities, and other
religions?]. Đọc Cựu Ước chúng ta thấy Cha của Giê-su đã ra nhiều luật
rất buồn cười và quái gở. Thí dụ như trong trại lính, quân sĩ đi cầu
phải chôn phân vì “Ngài” không muốn nhìn thấy hay hít hà những đống phân
đó khi Ngài đi dạo trong trại. Ngài chưa bao giờ tưởng tượng được là
con người lại tiến bộ đến độ phát minh ra cái cầu tiêu máy, giật đến xòe
một cái là xong chuyện. Ngài cũng còn kỳ thị nam nữ một cách quái gở
như về phụ nữ sinh xong bao nhiêu ngày sau thì sạch, sinh con trai thì 7
ngày và phải thanh tẩy trong 33 ngày tiếp theo trước khi được bước vào
nhà thờ, nhưng sinh con gái thì là 14 ngày và phải thanh tẩy trong 66
ngày v… v…. 66 ngày không được buớc vào nhà thờ thì mấy ông linh mục và
mục sư hơi phiền, vì cái rỏ đưa ra để hứng tiền thiếu mất một phần.
Nhưng cũng may là chẳng có ai buồn theo những luật này của Cha Giê-su mà
Giê-su khẳng định không được thay đổi một chấm, một nét cho đến ngày tận
thế.
Sau đây là vài
luật điển hình của cha Giê-su:
Deuteronomy
12: 2-3: Phàm nơi nào những dân
tộc, mà các người sẽ tước quyền, đã thờ các thần của chúng nó, hoặc trên
núi cao, hoặc trên đồi, hoặc dưới bóng cây xanh, thì các ngươi phải phải
hủy sạch đi. Và các ngươi phải phá hủy bàn thờ của chúng, triệt hạ
những cây trụ thiêng liêng của chúng, và thiêu những pho tượng gỗ của
chúng; các ngươi phải chặt những hình tượng đã được khắc lên của các
thần và xóa bỏ tên các thần ở nơi đó.
(You shall
utterly destroy all the places where the nations which you shall
dispossess served their gods, on the high mountains and on the hills and
under every green tree.
And you shall
destroy their altars, break their sacred pillars, and burn their wooden
images with fire; you shall cut down the carved images of their gods and
destroy their names from that place)
Và thêm một luật
nữa của Cha Giê-su ban cho Saul:
I Samuel
15:3: Bây giờ hãy tấn công Amalek, và hủy sạch tất cả mọi
thứ mà chúng có, và giết sạch đừng chừa một ai. Hãy giết cả đàn ông,
đàn bà, trẻ nít và trẻ sơ sinh, trâu cừu, lạc đà và lừa.
(Now go and
attack Amalek, and utterly destroy all that they have, and do not spare
them. But kill both man and woman, infant and nursing child, ox and
sheep, camel and donkey.)
Numbers 25: 3-5: Và Israel theo thờ thần
Baal (Bò con) của Peor; và cơn giận của Thiên Chúa nổi lên đối với
Israel. Rồi Thiên Chúa bảo Moses, “hãy mang các tộc trưởng của Israel
ra treo cổ trước mặt Ta, ở ngoài nắng, để Ta nguôi cơn giận đối với
Israel. Và Moses ra lệnh cho các trưởng tộc: “Mọi người hãy đi giết
những kẻ nào trong tộc mình theo thần Ball của Peor”
(So Israel was
joined to Baal of Peor: and the anger of the LORD was aroused against
Israel. Then the LORD said to Moses, 'Take all the leaders of the people
and hang the offenders before the LORD, out in the sun, that the fierce
anger of the LORD may turn away from Israel.” So Moses said to the
judges of Israel, “Every one of you kill his men who were joined to Baal
of Peor.”)
Chúng ta thấy,
Israel là dân được Thiên Chúa chọn (chosen people), nhưng nếu có người
dân nào theo thờ thần khác thì lệnh của Thiên Chúa là phải giết họ.
Chẳng trách là con cái Chúa đã từng áp dụng luật lệ này khắp nơi bất cứ
khi nào có thể. Nhưng ngày nay, sự tiến bộ trí thức của nhân loại đã
tiến bộ nhiều, nên các giáo hội Ki Tô không còn có thể áp dụng những
luật lệ ác ôn, tàn bạo, bất nhân của Thiên Chúa nữa. Ngày nay, con
người muốn thờ thần nào thì thờ, muốn theo tôn giáo nào thì theo, ngoại
trừ ở một số địa phương lạc hậu chậm tiến, và chính Thiên Chúa cũng bất
lực trước sự kiện này. Nhưng khi xưa thì khác.
Thật vậy, với
những luật lệnh ác ôn của Thiên Chúa như trên, cho nên chúng ta không
lấy làm lạ khi thấy trong Thánh Kinh, chính Cha Giê-su đã tự mình ra tay
thi hành luật của mình đặt ra qua hành động giết người tập thể. Thí
dụ:
Cha Giê-su tự
mình ra tay thi hành hình phạt đối với dân Ai Cập như sau chỉ vì chính
ông ta đã làm cho trái tim của Pharaoh trai cứng không chịu thả dân Do
Thái ra khỏi cảnh nô lệ:
Exodus 12:
29: Vả, khi giữa đêm, Chúa Cha [Cha của Giê-su]
giết hại mọi đứa con đầu lòng ở trong xứ Ê-díp-tô, từ đứa con đầu lòng
của Pharaoh đang ngồi trên ngai, cho đến đứa con đầu lòng của người bắt
giam trong ngục tối, và hết thẩy con đầu lòng của súc vật.
(And it came to
pass at midnight that the Lord struck all the firstborn of Pharaoh who
sat on his throne to the firstborn of the captive who was in the
dungeon, and all the firstborn of live stock)
Thế này là thế
nào? Cha của Giê-su là bậc toàn năng, nghĩa là làm gì cũng được, nhưng
phải chăng vì tính khát máu nên thay vì trổ tài đưa Moses và dân Israel
ra khỏi Ai Cập, nếu muốn, lại đi giết hại mọi đứa con đầu lòng trong xứ
Ai Cập, rồi trong cơn say máu lại giết thêm cả những con vật đầu lòng
của súc vật nữa. Thế mà người ta vẫn ca tụng là “Thiên Chúa nhân từ”,
“Thiên Chúa quá yêu thương thế gian” v..v.. Nhưng tại sao Ai Cập lại bắt
dân Do Thái làm nô lệ? Theo nhà đại trí thức nghiện đạo Giê-su nặng là
Đỗ Mạnh Tri viết trong cuốn “Ngón Tay Và Mặt Trăng” thì “Các
Ông Vua Ai Cập hành hạ dân Do Thái nhưng các ông không biết rằng chính
Thiên Chúa đã dùng các ông như phương tiện để giáo dục Dân Chúa”.
Bắt “dân Chúa” làm nô lệ để giáo dục là phương tiện giáo dục đặc thù của
Thiên Chúa, và Vatican đã áp dụng triệt để phương tiện giáo dục này.
Chẳng vậy mà trong Ca-Tô Giáo Rô-ma, ngoại trừ giáo hoàng là đại diện
của Chúa trên trần, còn toàn là nô lệ cả, trong đó có các tín đồ Việt
Nam, vì họ đều là “Dân Chúa” cả. Nhưng thật ra họ đâu có phải là “dân
Chúa” mà chỉ là “đàn chiên của Chúa”, mà cũng chẳng phải là “đàn chiên
của Chúa”, chỉ là “đàn chiên“ của các “bề trên”, của những người chăn
chiên trong giáo hội. Chuyện khó hiểu là giáo dục Dân Chúa xong rồi,
Thiên Chúa lại ra tay thực hiện những hành động vô cùng tàn bạo ác ôn
như trên đối với ông Vua Ai Cập và dân Ai Cập mà Thiên Chúa đã dùng để
giáo dục dân Do Thái.. Phải chăng là để giáo dục dân Ai Cập? Hành động
này của Thiên Chúa, người Việt Nam gọi là “ăn cháo đá bát”. Tôi thực sự
mong rằng “Dân Chúa” ở Việt Nam không bao giờ phải gánh chịu một nền
giáo dục của Thiên Chúa như vậy. Thật là tội nghiệp cho những đầu óc
của những con chiên thuộc giới trí thức mà ngày nay còn coi chuyện Ai
Cập bắt dân Do Thái làm nô lệ là một phương tiện giáo dục của Thiên
Chúa...
Trong Thánh Kinh
“Thiên Chúa quá thương yêu thế gian” (John 3:16:) đã giết
bao nhiêu người? Không ai biết rõ. Nhưng Steve Wells đã nghiên cứu xem
giữa Thiên Chúa và Satan ở trong Thánh Kinh, ai giết người nhiều hơn.
Và sau đây là kết quả: Thiên Chúa đã giết
2,270,365 [2 triệu, 2 trăm 70 ngàn, 365]
người, và đây chỉ là một con số rất khiêm tốn, đếm được trong Kinh
Thánh, còn những số người chết không được ghi trong nạn Hồng Thủy, trong
những vụ hủy diệt thành Sodom và Gomorrah, và trong những thiên tai
v..v.. thì không thể biết rõ được. Trong khi đó thì Satan chỉ giết có
10, mà một số trong đó đã được Thiên Chúa cho phép trong cuộc
thách thức về gia đình Job. Thật vậy, ngày 9 tháng 8, 2006, Steve
Wells đã viết trên Internet: “In
a previous post, I counted the number of people that were killed by
God in the Bible. I came up with 2,270,365, which, of course, greatly
underestimates God’s total death toll, since it only includes those
killings for which specific numbers are given. No attempt was made
to include the victims of Noah’s flood, Sodom and Gomorrah, or
the many plagues, famines, fiery serpents, etc., with which the good
book is filled. Still, 2 million is a respectable number even for
world class killers. But how does this compare with Satan? How many
did he kill in the Bible? Well I can only find ten, and even these he
shares with God, since God allowed him to do it as a part of a bet. I’m
talking about the seven sons and three daughters of Job.”]
Đọc lịch sử
Ca-Tô Giáo Rô-ma truyền vào Việt nam, chúng ta thấy các tín đồ Ca-Tô
Việt Nam đã bị mê hoặc để thi hành luật trên của Cha Giê-su khi có cơ
hội, luật mà Giê-su đã khẳng định là ông ta xuống trần để thi hành những
luật của cha ông ta như trên mà không được thay đổi một chấm một nét.
Chúng ta có vài tài liệu để chứng minh điều trên.
Ông Lý Chánh Trung, một nhà trí thức
Ca Tô, trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc nhận định rằng:
“Tuy nhiên lịch sử đã cho thấy rằng từ khi Giáo hội
(Ca-Tô Rô-ma) đã trở thành quốc giáo thì cây gươm tinh thần của Thánh
Phao-Lồ đã luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm thép thực sự. Kể
từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, giáo hội đã không ngần ngại để
dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ “Tà Thần”,
đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là “lạc đạo” nếu
không chịu sửa sai.”
Trong cuốn The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874
của Mark W. McLeod, chúng ta có thể đọc được những đoạn sau đây:
Trang 45:
khi nghe tin thành Saigon thất thủ, những tín đồ Ca-Tô Việt Nam ở
miền Nam đã lợi dụng tình thế để khủng bố người “lương” hay “tốt”
(nghĩa là, người phi- Ca-Tô) và đi làm “tay sai và mật thám cho
Tây Dương “
(..upon hearing of the fall of Saigon citadel, the Vietnamese Catholics
of the South were taking advantage of the situation in order to
terrorize the “luong” or “good” (that is non-Catholics) people and to
serve as “lackeys and spies for the Westerners)
Trang 114: Sự phân tích những hành động này cho
thấy, trong những cuộc tấn công vào những cứ điểm của chính quyền
Việt Nam, quân đội Pháp đã nhận được một mức độ hỗ trợ rất đáng kể từ
những thừa sai và những tín đồ Ca Tô Việt Nam. Hơn nữa, những
phương pháp mà các sĩ quan Pháp và những cộng tác viên Ca-Tô dùng tuyệt
đối không thể coi là có đạo đức cao theo những tiêu chuẩn đương thời của
ngay chính họ, vì những phái bộ truyền giáo Ca Tô đã dùng sức lao
động (của tín đồ Ca Tô bản xứ; TCN), tài nguyên, và
tin tức tình báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để thực hiện sự tàn sát
liên miên người “lương”, mạo phạm những công trình xây dựng của Phật
Giáo, thiêu hủy những làng mạc phi-Ca-Tô, và cướp bóc những thành phố
của nhà Vua. Sự cộng tác với chủ nghĩa đế quốc Pháp của
những tín đồ Ca Tô thường không được các sử gia nhận biết đầy đủ, nhưng
đó chính là một yếu tố đáng kể góp phần thắng lợi cho Pháp ở Bắc Kỳ.”
[The
analysis reveals that the French were far from alone in their attacks on
the loci of Vietnamese authority because the invaders received a
significant level of support from the missionaries and the Vietnamese
Catholics. Moreover, the methods of the French officers and their
Catholic collaborators could hardly be considered as evidence of a
superior morality even by their own contemporary standards, for the
Catholic Missions exchanged labor, resources, and information in return
for French assistance in perpetuating summary executions, desecreations
of Buddhist religious edifices, burning of non-Catholic villages, and
pillaging of imperial citadels. This Catholic collaboration with French
imperialism has not been adequately recognized by historians, but it was
a significant contributing factor to the French success in Tonkin.]
Chúng ta nên để
ý là giáo dân Việt Nam chỉ là một thiểu số, và những hành động man rợ
phá hủy những công trình Phật Giáo chỉ có thể thực hiện được khi họ có
cơ hội theo sau đoàn quân viễn chinh Pháp. Nếu Ca-Tô Giáo trở thành
quốc giáo thì không hiểu các tín đồ Ca-Tô còn có thể có những hành động
như thế nào để tàn sát liên
miên người “lương”, mạo phạm những công trình xây dựng của Phật Giáo,
thiêu hủy những làng mạc phi-Ca Tô để làm hài lòng Chúa
của họ. Thời Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam đã phần nào thực hiện những
điều này, thường ở các vùng xa xôi, và cũng có giới hạn vì có tai mắt
ngoại quốc.
Giáo hội Ca-Tô
Rô-ma, một thời trong những bàn tay đẫm máu đã nắm những thanh gươm (để
giết người) và những bó củi (để thiêu sống người) để thi hành những lệnh
luật ác ôn phi tự do, dân chủ của Thượng đế của họ trên thế giới. Nhưng
ngày nay, như John Remsburg đã viết trong cuốn “False Claims”, những
thanh gươm và bó củi đã bị tước ra khỏi những bàn tay đẫm máu của Giáo
hội Ca-Tô cho nên Giáo hội chỉ còn lại hai vũ khí là gây thù hận và
xuyên tạc phỉ báng những người không đồng ý hay không tuân phục Giáo
hội.
Kết Luận Cho Mục II: Các học
giả đã biết rõ sự thật từ nhiều thập niên nay – rằng Giê-su chẳng gì
khác hơn là một người thường sống với một ảo tưởng –
họ đã dạy điều này cho nhiều thế hệ các
linh mục và mục sư.
Rất có thể Giê-su chỉ là một đứa con hoang, theo như nhận định của
Giám Mục John Shelby Spong.
Khi chấp nhận thuyết Big Bang, thuyết Tiến Hóa và thú nhận không làm gì
có thiên đường ở trên các tầng mây, cũng như không làm gì có hỏa ngục ở
dưới lòng đất, Giáo hoàng John Paul II đã chính thức bác bỏ cái gọi là
“tội tổ tông” đồng thời đã bác bỏ quyền năng “cứu chuộc”, “cứu rỗi” ,
“luận phạt” của Giê-su.
Vậy thì, người Việt Nam theo Ca-Tô Giáo Rô-ma hay đạo Giê-su là vì cái
gì?
(xem tiếp)
© sachhiem.net
|