Các bài trong tập này:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
CHƯƠNG VIII
XUNG QUANH VẤN ĐỀ
THIÊN CHÚA GIÁO VÀO VIỆT NAM
Qua 7 chương trên, chúng ta đã thấy rõ bản chất thực sự của Gia Tô La Mã Giáo. Chúng
ta đã biết sách lược truyền giáo dùng "cường quyền, bạo lực thắng công lý" của
tôn giáo này trên hoàn cầu; chúng ta cũng đã biết tư cách, đạo đức, và thái độ
của những giáo sĩ thừa sai đối với các dân tộc kém mở mang về văn minh vật chất;
và thực chất những tín đồ tân tòng trong các quốc gia này. Do đó, chẳng cần
phải nghiên cứu sâu xa gì, chúng ta cũng có thể đoán được bản sắc xâm nhập của
Gia Tô La Mã Giáo vào Việt Nam ra sao, và tôn giáo này đã mang lại những gì cho
dân tộc Việt Nam. Tôi không nghĩ rằng Việt Nam là một ngoại lệ. Và như vậy,
chúng ta có thể thấy tất cả những sắc thái nhơ nhớp, tàn bạo kể trên khi Gia Tô
La Mã Giáo xâm nhập vào Việt Nam, cũng như chúng ta đã thấy những sắc thái này ở
mọi nơi khác trên thế giới.
Trong cuốn
Việt Nam Giáo Sử, Linh mục Phan Phát Huồn viết:
"Giáo
hội (Gia Tô La Mã ở) Việt Nam cũng như bất cứ giáo hội (Gia Tô La Mã địa
phương) nào, là một giáo hội xây đắp bằng xương máu. Xương máu ấy là lý do
của sự sống dồi dào mãnh liệt của giáo hội.."
Linh mục Phan
Phát Huồn có ý nói là giáo hội Gia Tô La Mã tại Việt Nam được xây đắp bằng xương
máu của những tín đồ sẵn sàng "tử vì đạo". Nhưng lịch sử đã chứng minh rằng,
những tín đồ này không phải là "tử vì đạo" mà bị tàn sát vì phạm tội chống lại
nền văn hóa dân tộc, không tôn trọng luật pháp quốc gia, nổi loạn, làm tay sai
cho giặc ngoại xâm, phản bội quê hương v...v.... Vậy nếu họ không phải là "tử
vì đạo" thì xương máu nào đã xây đắp thành giáo hội? Qua những tài liệu về lịch
sử Gia Tô La Mã Giáo toàn cầu, câu viết trên của Linh Mục Huồn có thể đúng nhưng
theo một nghĩa khác, nếu chúng ta hiểu rằng xương máu trên là xương máu của
những người ngoại đạo, của những người "dị giáo", những người không có cùng tín
ngưỡng với Gia Tô La Mã giáo, những người bỏ mình trong những cuộc Thánh Chiến,
trong các Tòa Hình Án xử Dị Giáo, trong những cuộc chiến tranh xâm lược của Thực
Dân v...v... mà vai trò chủ chốt của Gia Tô La Mã giáo trong đó đã là những sự
kiện lịch sử.
Riêng ở Việt
Nam, chúng ta có thể nói rằng giáo hội Gia Tô tại Việt Nam đã được xây đắp bằng
xương máu của những người Việt Nam yêu nước, những người không chịu từ bỏ truyền
thống luân lý, đạo đức gia đình và dân tộc của mình, do đó đã phải hi sinh để
bảo vệ, gìn giữ những truyền thống cao đẹp của đất nước, trước cuộc xâm lược
song hành của thực dân và Gia Tô giáo, và trước chính sách kỳ thị tôn giáo tàn
bạo của Ngô Đình Diệm và tay sai trong 9 năm trời cai trị ở miền Nam, riêng
trong thời gian này số người ngoại đạo bị giết hại lên tới trên 300000 người.
Đúng vậy, những núi xương, sông máu của những người ngoại đạo vô tội chết dưới
cây "thập giá và lưỡi gươm" đã xây đắp đời sống dồi dào của các giáo hội Gia Tô,
và người Gia Tô không có cách nào có thể cất bỏ được những đống xương máu đó
trên bờ vai lương tâm của họ, dù Giáo hoàng John Paul II đã dạy con chiên của
ông phải ăn năn thống hối về những tội ác Gia Tô La Mã Giáo đã mang đến cho nhân
loại, và đã chính thức xưng thú 7 núi tội lỗi của giáo hội Gia-tô toàn cầu đối
với nhân loại..
Đây phải
chăng là những lời lộng ngôn của tác giả? Những bằng chứng trong các chương
trên và phần khảo luận sau đây sẽ cho chúng ta thấy rõ những lời phê phán trên
hoàn toàn dựa vào tài liệu lịch sử chứ không phải là tác giả đã đặt điều một
cách vô căn cứ, vô trách nhiệm.
Có lẽ luận
án Tiến Sĩ Quốc Gia về "Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp
Tại Việt Nam (1857-1914” của Cao Huy Thuần ở Đại Học Paris là nguồn tài liệu
phong phú và chính xác nhất về mối liên hệ giữa Gia Tô La Mã Giáo và chủ nghĩa
thực dân, cùng thực chất vai trò của các giáo sĩ thừa sai Gia Tô cùng con
chiên bản địa trong cuộc xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp. Độc giả nên
tìm đọc thiên khảo cứu này cùng với hai cuốn sử rất có giá trị khác, cuốn
Thập Giá và Lưỡi Gươm của Linh Mục Trần Tam Tĩnh, và cuốn Bước Mở
Đầu của sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897) của
Nguyễn Xuân Thọ, để thấy rõ những thảm họa do những giáo sĩ này mang tới đất
nước Việt Nam. Qua ba tác phẩm này và nhiều tác phầm khác của các sử gia ngoại
quốc, chúng ta có thể thấy rõ rằng, đạo Gia Tô La Mã đã mang tới Việt Nam bao
bất hạnh xui xẻo chứ không phải là đã gặp bao bất hạnh xui xẻo khi tới Việt Nam
như linh mục Kim Định đã viết. Điều này sẽ được chứng minh trong phần trình bày
sau đây.
Vấn nạn Gia
Tô ở Việt Nam là một vấn đề rộng lớn, cần có một công cuộc nghiên cứu nghiêm
chỉnh về mọi khía cạnh. Trong cuốn sách này, tôi chỉ xin luận về hai điểm mà
các "sử gia" Gia Tô Việt Nam thường đưa ra:
1. Các thừa
sai Gia Tô tới Việt Nam để rao giảng "tin mừng Phúc Âm" và "khai sáng dân tộc
Việt Nam"; và 2. Các triều đình nhà Nguyễn ngu dốt cùng với bọn quan lại Tống
Nho thủ cựu cấm đạo và bách hại giáo dân chỉ vì họ theo một đạo mới.
Các "sử
gia" này không bao giờ nhắc đến những hành động phá hoại, gây chia rẽ v...v...,
của các giáo sĩ thừa sai đối với dân tộc Việt Nam, và cũng không bao giờ nhắc
tới những nguyên nhân của sự cấm đạo.
Đọc những
cuốn sử viết về những hành động của các giáo sĩ và giáo dân tân tòng ở Việt
Nam chúng ta thấy các tác giả thường chia làm hai khuynh hướng: khuynh hướng
của các nhà viết sử thực dân, của các giáo sĩ và tay sai viết theo những quan
điểm chủ quan, gian dối, đầy thiên kiến và sai lạc; và khuynh hướng của các sử
gia, học giả vô tư, xét đoán sự việc dựa theo những tài liệu hiện hữu, sau khi
cân nhắc, phân tích kỹ càng, cặn kẽ những tài liệu này.
Hai khuynh
hướng trên đã được sử gia Mark W. McLeod, Giáo sư đại học, viết trong phần dẫn
nhập của cuốn The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874 như
sau:
"Những
tiểu luận sống động về lịch sử của Milton Osborne và Jean Chesneaux đã mô tả
sự phát triển về một truyền thống học thuật Pháp mà đặc tính của nó là
"quy-Pháp và thiên Pháp". Chúng ta có thể xét sự thiên vị này theo những giá
trị đã gây cảm hứng và thấm nhập vào sự nghiên cứu lịch sử, sự chú trọng vào
những chủ đề chính của tác phẩm, và sự chọn lựa những nguồn tài liệu. Giá trị
của những tác giả Pháp, đặc biệt là những người viết về thế kỷ 19, đều bị ảnh
hưởng bởi những thái độ thực dân thịnh hành, tự tôn, về nền văn hóa ưu việt Tây
phương, và đi cùng với "nhiệm vụ văn minh hóa" của nước Pháp. Để ra ngoài những
biệt lệ xuất sắc của Charles Maybon và Leopold Cadière, những binh sĩ Pháp,
nhân viên hành chánh thuộc địa, và những giáo sĩ thừa sai, những người mở đầu
cho cuộc nghiên cứu của Tây phương về lịch sử Việt Nam, thường thường đặt mình
vào trọng tâm của những câu chuyện do chính mình viết ra.
...Cũng như
ở trong những quốc gia đã được giải phóng khỏi ách thực dân gần đây, Việt Nam đã
làm sống lại việc viết lịch sử sau khi lấy lại được nền độc lập chính trị.
Tuy rằng sự phân chia chính trị sau thời kỳ thuộc địa đã tạo nên hai trường phái
nhìn lịch sử đối ngược nhau mà chúng ta có thể gọi một cách thuận tiện là trường
phái "Hà Nội" và "Sài Gòn", nhưng những sử gia Việt Nam mới này đều nhất trí bác
bỏ những luận điệu "quy Pháp" đã chi phối và còn đang là những đặc tính của hầu
hết các tác phẩm viết về sử Việt Nam.
Những sử
gia này đã phát động một sự phân tích vấn đề những giá trị thuộc địa trong những
tác phẩm của các tác giả Pháp trong thời xưa, họ nhấn mạnh vào cách tiếp cận
"quy - Á Châu" khi xét về lịch sử Việt Nam, và họ dựa vào sự nghiên cứu những
tài liệu bản xứ cũng như của Pháp. Một vài học giả Pháp và Tây phương đã theo
những sử gia Việt Nam trên đường hướng mới này.
... Tác
phẩm nghiên cứu này có mục đích sửa lại một phần vấn đề diễn giải lịch sử về một
thời kỳ quyết định mà các tác giả Tây phương hiện đại thường không để ý tới.
Trọng tâm của cuộc nghiên cứu này là Phản Ứng của Việt Nam Trước Sự Can Thiệp
của Pháp trong những năm 1862-1874, nghĩa là, trong thời kỳ mà Pháp thiết lập
địa vị của mình ở Nam Kỳ (1862, 1867), rồi tiến đến việc bảo hộ Bắc Kỳ và Trung
Kỳ (1873-1874).
Cuộc khảo cứu này phản bác lập trường "quy
Pháp và thiên Pháp" của những thừa sai Pháp, những tác giả và giới chức thực
dân, và của những tác giả Tây phương về sau, bằng cách đối chiếu sự diễn giải
lịch sử của họ với những bằng chứng trong các tài liệu chính của Việt Nam, hầu
hết những tài liệu này đều chưa được các nghiên cứu gia Tây phương sử dụng khi
viết về giai đoạn lịch sử Việt Nam này. Những tác phẩm của hai tác giả Gia Tô
Việt Nam - Phan Phát Huồn và Nicole Dominique Le, cũng sẽ được phê bình khi hiển
nhiên là họ đã dựa vào nguồn tư liệu của giới thừa sai Pháp, và không cân nhắc
tài liệu cẩn thận đến độ lập lại những sai lầm của những tác giả Pháp thời xưa;
điều này rõ rệt nhất khi họ thảo luận về cách đối xử của triều đình Huế đối với
các tín đồ Gia Tô sau khi ký hiệp ước 1862."
(Historiographical essays by Milton Osborne and Jean Chesneaux have described
the growth of a tradition of French scholarship on Vietnam that is characterized
by a "Franco-centric bias". This bias can be considered in terms of the values
that inspire and permeate the historical study, the focus of primary subject of
the work, and the selection of source material. The values of the French
authors, especially those who treated the 19th century, were influenced by the
prevalent, self-reinforcing colonial attitudes about European cultural
superiority and the concomitant "civilizing mission" of France. Brilliant
exceptions such as Charles Maybon and Leopold Cadière aside, the French
soldiers, colonial administrators, and missionaries who initiated Western
historical investigation of Vietnam generally made themselves the focus of their
own histories.
...As in other
recently decolonized countries, a renaissance of historical writing followed
political independence in Vietnam. Although Vietnam's extended post-colonial
political division produced two antagonistic historical schools, which may
conveniently be termed those of "Hanoi" and "Saigon", the new Vietnamese
historians are unanimous in rejecting the "Franco-centric bias" that had
dominated and still characterizes much French historical writing on Vietnam.
These Vietnamese historians initiated a critical questioning of the colonial
values of the early French authors; they emphasized the "Asia-centric" approach
to Vietnamese history; and they based their research on indigenous as well as
French source. Some French and other Western scholars have followed the
Vietnamese historians in this new orientation.
...The present
study seeks to provide a partial corrective for the problems of historical
interpretation resulting from the neglect by modern Western scholars of this
decisive period in Vietnamese history. The focus is the official Vietnamese
response to French intervention during the years 1862-1874, that is, the period
during which the French established a foothold in Southern Vietnam (1862, 1867)
and extended their protectorate over the North and Center (1873-1874). The
study counters the "French-centric bias" of French missionaries, colonial
officials and authors, and subsequent Western scholars by confronting their
interpretation with evidence from primary Vietnamese documentation, most of
which has yet to be utilized by Western researchers for a history of this
period. The works of two Vietnamese Catholic authors - Phan Phat Huon and
Nicole-Dominique Le - are likewise to be criticized when it is evident that
their reliance on the French missionary source and/or their failure to
critically evaluate them has led to a reiteration of the errors of the early
French authors; this occurs most noticeably when they discuss the question of
Hue's treatment of the Catholics after the signing of the 1862 treaty.)
Cùng một
chiều hướng khảo cứu dựa trên những tài liệu chỉ mới xuất hiện sau khi chế độ
thực dân ở Việt Nam cáo chung, Tiến sĩ Cao Huy Thuần cũng đã viết trong cuốn
Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam, bản dịch đầu của luận án
tiến sĩ "Giáo Sĩ Thừa Sai Và Chính Sách Thuộc Địa Của Pháp Tại Việt Nam
(1857-1914”, trg. 502, như sau:
"Những
người viết sử "thực dân" và những người viết sử của Phái Bộ Truyền Giáo đã cho
xuất bản rất nhiều sách về điểm mà họ gọi là "sự đàn áp tôn giáo ở Việt Nam".
Một tác giả Thiên Chúa Giáo Việt Nam cũng đã có viết một tập giáo khoa - được
giải thưởng Hàn Lâm Viện Pháp - để dùng cho các học sinh trung học Pháp, trong
đó y giải thích cho các độc giả trẻ rằng các Vua Việt Nam, vào thế kỷ thứ 19, đã
"đàn áp" các tín đồ đạo cao quý của phương Tây như thế nào. Chúng tôi
hi vọng rằng các tài liệu công bố trong thiên khảo cứu này cũng đủ khá hùng hồn
để chấm dứt các ngụy tạo đó. Thật vậy, cái gọi là "đàn áp tôn giáo" đó sự thực
chỉ là những biện pháp tự vệ mà mọi nước bị ngọai xâm và nội loạn đe dọa đều bị
buộc phải dùng đến nếu không muốn nhận chịu nguy cơ sụp đổ. Nếu đạo Thiên Chúa
Việt Nam bị bài xích, thì việc đó, chính yếu là do các người đại diện cho đạo.
Những người này, bằng những hoạt động tai hại và ý muốn thống trị của họ, rút
cục đã làm cho người Việt Nam thấy Chúa Christ là tay sai của xâm lăng thuộc địa
và văn hóa".
Để đánh giá
những nhận định như trên của Giáo sư McLeod và của Tiến sĩ Cao Huy Thuần, chúng
ta cần trở lại lịch sử, bắt đầu từ khi các giáo sĩ thừa sai Gia Tô đầu tiên tới
Việt Nam và rồi sau đó họ đã làm những gì cho xã hội và đất nước Việt Nam.
8.1.
Vấn đề rao giảng "tin mừng Phúc Âm".
Có thể nói,
những Giáo sĩ Gia-Tô-Giáo La-Mã đầu tiên đã tới Việt Nam từ giữa thế kỷ thứ 16
(1533), nhưng thường chỉ ở lại một thời gian ngắn và những hoạt động của họ
không có gì quan trọng đáng phải để ý. Những người ngoại quốc tới Việt Nam với
tư cách là bạn luôn luôn được người Việt Nam đón tiếp niềm nở và coi như bạn.
Thí dụ, năm 1618, một linh mục dòng Tên người Bồ Đào Nha tên là Christoforo
Borri cùng với một số giáo sĩ khác tới Faifo, gần Đà Nẵng. Trong một văn
kiện được lưu trữ ông đã viết như sau, tỏ lòng cảm phục tính tình hiền hòa
và hiếu khách của người Việt Nam ( Helen B. Lamb, Ý Chí Sống Còn Của Việt
Nam (Vietnam's Will To Live), trg. 10):
"Trong
khi các dân tộc Đông Phương khác coi người Âu Châu như là đáng ghê tởm và lánh
xa khi những người này tới gần họ, thì ở Đàng Trong lại ngược lại. Họ niềm nở
bắt chuyện với chúng tôi. Họ rất tò mò và hỏi chúng tôi đủ chuyện. Rất lịch sự
và văn minh, họ mời chúng tôi về nhà dùng bữa cùng họ. Vì sự hiền hòa và thoải
mái trong vấn đề giao tiếp này nên chúng tôi có thể nói chuyện với họ, coi họ
như là bà con trong nhà vậy, ngay cả trước khi biết rõ họ."
(Whereas
other Oriental peoples hold the Europeans in abomination and flee from them when
they come, in Cochinchina it is just the opposite. The people want to talk to
us and are full of curiosity, asking us many questions. With great courtesy and
civility they invite us to their me to dine with them. Because of this natural
grace and customary ease of association, it is possible to communicate with
these people as if they were one's own kith and kin. This is so even before
knowing them well.)
Nhưng rồi
sau đó các giáo sĩ thừa sai Gia Tô, vì đã bị đuổi không còn có thể hành nghề xúi
dục và gián điệp ở Nhật Bản, như chúng ta đã biết, cho nên đã kéo tới Việt
Nam, lợi dụng tính hiền hòa và hiếu khách của dân tộc Việt Nam, không phải để
rao giảng tin mừng Phúc Âm, vì thật ra, theo nhận định của học giả David Voas,
cũng như của Giáo sư Schwartz, người đã từng dạy Thánh Kinh trong 20 năm tại hai
đại học lớn ở Hoa Kỳ, trong Phúc Âm không có chân lý mà cũng không có tin mừng,
trái lại, các giáo sĩ thừa sai chỉ chỉ mang đến những tin xấu, những chuyện
hoang đường để đưa con người vào vòng nô lệ tâm linh, mê tín dị đoan, tin vào
một cái bánh vẽ huyền hoặc trên trời và trong một đời sau, của một tôn giáo
ngoại lai mà lịch sử nhơ nhớp của nó là một sự kiện không ai có thể phủ nhận.
Trước khi
đi vào chi tiết, chúng ta cần nhớ kỹ trong đầu: sách lược truyền giáo của Gia Tô
La Mã Giáo là một sách lược chủ trương xóa bỏ mọi nền văn hóa phi Ki-Tô, dùng
bạo lực thắng công lý, dùng gian xảo để lừa dối dân gian, dùng bả vật chất và mê
tín dị đoan để thu nhặt và giữ tín đồ, dùng những phép lạ ngụy tạo để huyễn hoặc
đầu óc con người v...v..., như đã được trình bày trong những chương trên. Sách
lược này đã được áp dụng trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam, như sẽ được
chứng minh sau đây.
Trong những
giáo sĩ thừa sai có tên tuổi trong lịch sử Gia Tô Giáo ở Việt Nam, trước hết
chúng ta phải kể Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ). Ở đây, tôi sẽ không bàn tới
vấn đề Rhodes có phải là người sáng lập ra chữ Quốc Ngữ hay không. Vấn đề này
nay đã được giải quyết dứt khoát qua những tác phẩm như: "Ki-Tô Giáo: Từ Thực
Chất Đến Huyền Thoại", Nhiều Tác Giả, Văn Hóa, 1996; "A. De Rhodes: Người
Đầu Tiên Vận Động Pháp Chiếm Việt Nam Và Chữ Quốc Ngữ", Nhiều Tác Giả, Giao
Điểm 1998; "Gián Điệp Alexandre de Rhodes và Chữ Quốc Ngữ", Chu Văn
Trình, Văn Sử Địa, 1996.
Tuy nhiên,
để độc giả có một khái niệm về chữ Quốc Ngữ mà giáo sĩ Rhodes dùng để viết cuốn
"Phép Giảng 8 Ngày...", tôi xin trích nguyên văn một đoạn như sau:
"Ngày thứ
nhít. Ta cầu cừ đức Chúa blời giúp fưc cho ta biét tó tuầng đạo Chúa là nhuầng
nào vì bậy ta phải hay ở thế nầy chẳng có ai fòú lâu; vì chưng ké đến bảy tám
mươi tuếi chảng có nhiềo. Vì bậy ta nên tìm đàng nào cho ta được fòú lâu, thật
là viẹc người cuên tử, khác phép thế gian nầy, dù mà làm cho người được phú quí;
fâũ le chẳng làm được cho ta ngày fau... (Diễn Đàn số 8, 1992, Hoài Văn). "
Đó là chữ
Quốc Ngữ của Alexandre de Rhodes, người được các tín đồ Gia Tô Việt Nam tôn
vinh là có công với nền văn hóa Việt Nam.
Chúng ta
biết rằng, trong cuốn "Phép Giảng 8 Ngày...", giáo sĩ Rhodes đã mạ lỵ cả ba
tôn giáo lớn ở Việt Nam là Phật Giáo, Khổng Giáo, và Lão Giáo. Ông gọi đức
Phật và đức Khổng Phu Tử bằng những danh từ thiếu văn hóa, phản ánh tư cách của
một con người vô giáo dục, vô đạo đức tôn giáo, và cuồng tín. Ngoài những hoạt
động truyền giáo "thiếu văn hóa" để xâm lăng văn hóa như trên, và sự "đóng góp"
cho nền văn hóa Việt Nam bằng một tác phẩm truyền đạo hạ cấp như cuốn "Phép
Giảng 8 Ngày...", và một cuốn tự điển Việt-Bồ-La Tinh mà xuất xứ thuộc loại bất
minh, Rhodes đã làm những gì cho dân tộc Việt Nam? Sau đây là vài tài liệu về
những hoạt động của ông khi ông xâm nhập hợp pháp cũng như bất hợp pháp vào đất
nước Việt Nam. Rhodes bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1630, trở lại Việt Nam bất
hợp pháp năm 1640, và rồi lại bị trục xuất năm 1645.
Trong cuốn
Vietnam's Will To Live, trg. 11, Helen B. Lamb viết như sau:
"Cha
Alexandre de Rhodes, một thừa sai dòng Tên khác, cũng đã đã để lại cho hậu thế
một bản ghi chép lời tường thuật về những kinh nghiệm của ông ở miền Bắc
(người Tây phương gọi là Bắc Kỳ) cũng như ở Nam Kỳ trong thế kỷ 17. Là người
có đầu óc thực tế, những ấn tượng tốt của ông về Việt Nam không phải là sự duyên
dáng của người dân Việt mà là về những cái khác. Ông lấy làm kinh ngạc trước mức
độ buôn bán trong những thị trấn ở Việt Nam, và giải thích như sau: "Họ rất giầu
vì đất đai màu mỡ. Có 24 con sông chảy qua khắp nơi, rất thuận tiện cho
việc di chuyển bằng đường thuỷ đi tới nhiều nơi, rất dề dàng cho việc buôn
bán."
(Father
Alexandre de Rhodes, another Jesuit missionary, has also left a record for
posterity; his account tells of his experiences in the North (called Tonkin by
Westerners) as well as in Cochinchina in the 17th century. Being of a seemingly
practical turn of mind, he was impressed by other things than the grace of the
people. He was amazed by the amount of trade carried on in Vietnamese towns,
and gave the following explanations: "They are very rich because the land there
is fertile. It is watered by twenty-four rivers, which are marvellously
convenient for traveling by water to all places in the country, and this serves
to facilitate trade and travel.)
Trong cuốn
Catholic Imperialism Against The Asiatic Continent, trg. 352, Avro
Manhattan đã viết về những hoạt động gián điệp của giáo sĩ Đắc Lộ như sau:
"Cha
Alexandre de Rhodes, một giáo sĩ dòng Tên, tới Đông Dương vào năm 1610, và chỉ
10 năm sau ông đã có thể gửi về một phúc trình mô tả chính xác những khả năng
của Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Những giáo sĩ thừa sai dòng Tên được tuyển mộ ngay và
phái sang Việt Nam để giúp Alexandre de Rhodes trong hai nhiệm vu: cải đạo người
dân ở hai miền vào tín ngưỡng Gia Tô và thăm dò những tiềm lực thương mại của
các miền này cho vương quốc Pháp. Những sứ mạng này, theo quan điểm của La Mã
và Ba Lê (Paris), không thể tách rời nhau được vì chúng là những bước đầu quan
trọng nhất dẫn tới sự xâm chiếm chính trị vá quân sự những xứ này."
(Père
Alexandre de Rhodes, a Jesuit, arrived in Indochina about 1610, and only a
decade later he was able to send a very accurate description of the
possibilities of Annam and Tonkin. French Jesuits were promptly recruited and
were sent to help him in his double work of converting those nations to the
Catholic faith and of exploring the commercial potentialities of these regions
for the French crown. These tasks, in the eyes of both Rome and Paris, could
not separated, being the two most important stepping-stones which would lead
eventually to the political and military occupation of these countries.)
Cao Huy
Thuần đã trích dẫn một tài liệu như sau trong cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ
Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam..., trg. 48, vạch rõ ý đồ thực dân của Rhodes:
"Tôi tin
rằng nước Pháp," ông (Rhodes) viết, " vì là nước ngoan đạo nhất trên thế giới
nên sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh lính để đi chinh phục toàn thể phương Đông, ở
đó tôi sẽ kiếm ra cách để có những giám mục vốn là những Cha và Thầy của chúng
ta trong những giáo hội đó. Tôi rời La Mã ngày 11 thàng 9, 1652 với ý định đó.
"
(J'ai cru
que la France, écrivait il, étant le plus pieux royaume du monde, me
fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout l'Orient, que j'y
trouverais moyen d'avoir des évêques qui fussent nos Pères et nos Maitres en ces
Églises. Je suis sorti de Rome à ce dessein, le 11 Septembre 1652.)
Câu văn
trên phân biệt rõ ràng lính chiến, binh lính (soldats) với các giám mục
(évêques) thế mà vẫn có người cho rằng "soldats" chỉ các thừa sai. Ngoài ra,
nếu đã dùng các thừa sai để đi chinh phục toàn thể phương Đông thì thừa sai đã
có sẵn đó rồi, việc gì phải nói là "tôi sẽ kiếm ra cách để có các giám mục thừa
sai"? Dịch "soldat" là thừa sai một cách gượng gạo như trên để chạy tội cho một
tên giáo sĩ chủ mưu xâm chiếm Việt Nam bằng võ lực mà cũng có người viết ra được
thì chúng ta phải hiểu cái di sản Đắc Lộ đã để lại cho một số người dân Việt Nam
nó tệ hại như thế nào..
Và
Yoshiharu Tsuboi viết trong cuốn Catholicism et Sociétés Asiatiques,
trg. 136, về "nghệ thuật" phóng đại sự việc để lừa dối chính quyền Pháp cũng như
Tòa Thánh Vatican của Rhodes như sau:
"Vào
khoảng 1650, Alexandre de Rhodes tuyên bố rằng, người Việt Nam cải đạo theo Gia
Tô giáo với nhịp độ 15000 một năm, con số mà khoảng hai mươi năm sau, những
thừa sai Pháp cho rằng đã phóng đại, vì họ chỉ thấy có độ 60000 thay vì 200000 tín
đồ Ki Tô như các giáo sĩ dòng Tên đã tuyên bố."
(Alexandre
de Rhodes annonce, vers 1650, que les Vietnamiens se convertissent au rythme de
15000 par an, chiffre que, quelque vingt années plus tard, les missionaires
francais jugeront exagéré, ne comptant quant à eux qu'environ 60 000 chrétiens
au lieu de 200 000 annoncés par les jésuites.
Qua bốn tài
liệu vừa trích dẫn ở trên, chúng ta có thể rút tỉa những gì?
Thứ nhất,
Alexandre de Rhodes đến Việt nam để làm công việc của một gián điệp: nghiên cứu
tình hình chính trị, kinh tế, địa thế, dân tình v...v... của Việt Nam để hoạch
định kế hoạch xâm chiếm Việt Nam bằng võ lực và sau đó dùng bạo lực để truyền bá
đạo.
Thứ nhì,
Rhodes, tối mắt bởi đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú của Việt Nam, là giáo
sĩ Gia Tô đầu tiên tích cực vận động chính phủ Pháp đánh chiếm Việt Nam bằng hai
cách: gợi lòng tham của Pháp và báo cáo sai sự thực, phóng đại về tình hình cải
đạo của dân chúng Việt Nam.
Thứ ba,
với một đầu óc cuồng tín của những sản phẩm xuất thân từ cái lò đào tạo dòng
Tên, Rhodes đã xuyên tạc sự thật, cũng có thể là ngu đần không biết đến sự thật,
nên đã viết cuốn Phép Giảng 8 Ngày.... trong đó ông mạ lỵ cả ba tôn giáo lớn ở
Việt Nam là Phật Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, cũng như mạ lỵ những truyền thống
văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Rhodes đã
thành công trong ý định xâm chiếm Việt Nam bằng võ lực của mình, nhưng thành
công nhất là Rhodes đã để lại cho giáo dân Việt Nam một nền đạo lý mà giáo sư sử
Nguyễn Mạnh Quang, trong cuốn Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư, 1954-1963,
(1998), gọi là nền đạo lý Thiên La - Đắc Lộ. Nền đạo lý Thiên (Chúa Giáo) La
(Mã) - Đắc Lộ này, theo định nghĩa của Giáo sư Quang, là "sự tổng hợp của
sách lược truyền đạo tàn bạo, cường quyền thắng công lý, của giáo hội Công giáo
và sự cuồng tín, gian manh, xuyên tạc, cùng cách dùng ngôn từ hạ cấp của giáo sĩ
Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes)."
Thật là khó
hiểu, một giáo sĩ ngoại quốc thuộc loại cuồng tín, đạo đức kém cỏi, đã hai lần
bị trục xuất khỏi Việt Nam vì những hành động gián điệp, phá hoại, mạ lỵ tôn
giáo và nền văn hóa Việt Nam như vậy mà ngày nay vẫn còn những người có đầu mà
không có óc muốn tôn vinh ông, dựng bia đá tượng đồng thờ phụng, đặt tên ông
trên đường phố cùng hàng với tên của các danh nhân lịch sử Việt Nam, những anh
hùng liệt sĩ Việt Nam đã bỏ mình vì nước. Với một tâm cảnh cuồng tín, vọng
ngoại, nô lệ như vậy, thử hỏi những người này làm sao có thể tạo một chỗ đứng
trong lòng đại khối dân tộc?
Nối nghiệp
Alexandre de Rhodes là hai Giám mục Francois Pallu và Lambert de la Motte,
được Giáo hoàng bổ nhiệm cai quản hai địa phận truyền giáo đàng ngoài và đàng
trong tại Việt Nam, năm 1658. Theo tài liệu trong cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ
Nghĩa Thực Dân tại Việt Nam của Cao Huy Thuần và cuốn Thập Giá và Lưỡi
Gươm của Linh mục Trần Tam Tĩnh thì hai Giám mục Pallu và Lambert đã quan
tâm nhiều đến việc thành lập các công ty buôn bán, ngụy trang giáo sĩ dưới dạng
lái buôn, để xúc tiến việc rao giảng "tin mừng Phúc Âm" qua "tham vọng và óc
xâm lăng của các nhà truyền giáo muốn bành trướng, xây dựng các hãng buôn khắp
nơi, nhất là ở Bắc Kỳ để thiết lập các phái bộ truyền giáo của họ"; Cao Huy
Thuần, Sđd., trg. 49.)
Trong cuốn
Việt Nam: Một Lịch Sử Chính Trị (Vietnam: A Political History), Joseph
Buttinger viết:
"Đặc
biệt, Francois Pallu, một thừa sai, là một tên chủ mưu chính trị đã đi quá những
huấn thị trao cho hắn. Người ta có thể gọi hắn là người sáng chế ra thủ đoạn
thực dân tạo chính sách ở Paris bằng phương pháp "đặt chính quyền Pháp trước sự
đã rồi."
(Francois
Pallu, a missionary, in particular was a political schemer who went far beyond
his instructions. He might be called the inventor of the colonial practice of
shaping policy in Paris by the method of "fait accompli".)
Xét lịch
sử, chúng ta có thể nói, Gia Tô La Mã Giáo chỉ phát triển mạnh ở Việt Nam từ khi
Giám Mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, và sau đó, các giáo sĩ
thừa sai Pháp thuyết phục thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam. Sau đây, tôi sẽ
trình bày phần nào chi tiết vai trò của các Giáo sĩ thừa sai xâm nhập Việt Nam
để truyền đạo, thường được các giáo sĩ và đám nô lệ bản địa cho rằng để rao
giảng "tin mừng Phúc Âm" cùng khai sáng, văn minh hóa dân tộc Việt Nam, kể từ
Giám mục Bá Đa Lộc trở về sau.
Trước hết,
chúng ta hãy xét đến bản chất của Giám mục Bá Đa Lộc qua vài tài liệu sau đây:
1. Helen
B. Lamb, Ibid., trg. 63:
"Bá
đa Lộc biết rõ rằng người mà hắn bao che giúp đỡ (Nguyễn Ánh) không được sự ủng
hộ của dân chúng. Năm 1791 Giám mục viết: "Hiện nay hắn (Nguyễn Ánh) đã chồng
chất trên dân tộc hắn gánh nặng thuế má và cưỡng bức lao động, và có vẻ như đám
dân nghèo khổ quá đau khổ bởi đói kém này mong muốn sự tiến tới của nhà Tây Sơn.
Giám mục
đã góp những gì cho cuộc chiến thắng sau cùng của Nguyễn Ánh? Ông ta là một
chiến thuật gia giỏi với một kiến thức sâu rộng về binh bị và một tinh thần kiên
trì, và ông ta đã xin được tiền của các thương gia Viễn Đông để cung cấp cho
Nguyễn Ánh những tàu chiến, vũ khí, và vài trăm lính đánh thuê Tây phương, hầu
hết là dân Pháp."
(Pigneau
de Béhaine became acutely aware that his protégé did not really command
Vietnamese support. In 1791 the Bishop wrote: "He (Nguyen Anh) has overwhelmed
his people at this moment with taxes and forced labors, and the poor people are
so tormented by famine that they desire, it seems, the arrival of the Tay Son."
What did
the Bishop contribute to the final victory of Nguyen Anh? He was a good
strategist with an extensive knowledge of the military arts and an indomitable
spirit, and he raised money from Far Eastern traders to provide Nguyen Anh with
ships, arms, and a few hundred European mercenaries, mostly French.)
2. Harry
Hass & Nguyen Bao Cong trong Vietnam: The Other Conflict, trg. 3:
"Năm
1787 Giám mục thừa sai (Bá Đa Lộc), nhân danh Nguyễn Ánh, ký một hiệp ước ở
Versailles, theo đó Pháp hứa sẽ dùng những lợi thế thương mại để giúp (Nguyễn
Ánh). Khi những lời hứa của triều đình Pháp chỉ là những lời hứa suông, Giám
mục Bá Đa Lộc đã vận dộng những thương gia Pháp ở Mauritius và Pondicherry giúp
đủ tiền để ông thành lập một đoàn quân lính đánh thuê nhỏ. Những tên lính đánh
thuê và cố vấn này đã giúp Nguyễn Ánh rất nhiều trong việc đánh bại nhà Tây Sơn.
Một tác
giả người Anh đã gọi cái xí nghiệp này là "bộ truyền giáo quân sự Tây phương
đầu tiên, chỉ huy bởi một Giám mục Gia Tô."
..Cũng cần phải nói thêm rằng một loại trợ giúp
quân sự khác của các nhà truyền giáo cho các phe đánh nhau ở Việt Nam là: súng
ống và nghệ thuật chế tạo cùng sử dụng chúng."
(In 1787
the missionary Bishop (Behaine) signed a treaty in Versailles on behalf of his
client (Nguyen Anh), which promised aid from the commercial advantages for
France. When the Court's favor proved to be empty promises, Bishop Pigneau de
Béhaine obtained help from French merchants at Mauritius and Pondicherry,
enabling him to raise a small mercenary army. Mercenaries and advisers were of
great help to Prince Nguyen Anh in defeating his adversary.
A British
author called his enterprise the first Western military mission, commanded by a
Catholic Bishop...
...Something has to be said here about another sort of military aid which was
provided by Missionaries to warring Vietnamese dynasties: guns and the art of
using and making them.)
3. Hal
Dareff trong The Story of Vietnam, trg. 28:
"Điều đặc
biệt là vị hoàng tử 16 tuổi, Nguyễn Ánh, đang chạy trốn nhà Tây Sơn và được Giám
mục Gia Tô Bá Đa Lộc che trở, cung cấp cho chỗ ăn chỗ ở. Kể từ khi Giám mục có
hành động ban ơn huệ này, đời sống của vị hoàng tử trẻ tuổi đã thay đổi và có
một ý nghĩa mới. Đứng về một phe trong một cuộc nổi loạn là một hành động
chính trị, và Bá Đa Lộc hiểu rõ như vậy. Ông đã chọn đứng về phe Nguyễn Ánh và
bây giờ ông phải tiếp tục dù thắng hay bại. Có một khía cạnh cá nhân trong
quyết định của Bá Đa Lộc, vì Giám mục, một người với nhiều tham vọng, có những
kế hoạch riêng để chinh phục môt vương quốc. Suốt 20 năm còn lại của cuộc đời,
ông đã theo đuổi hai mục tiêu chính: giúp cho Nguyễn Ánh lên làm vua, và chiếm
Nam Kỳ cho nước Pháp.
Những
thành quả của Bá Đa Lộc thật là đáng kể, nhưng ông đã thất bại trong mưu đồ thực
hiện hai điều mà ông mong muốn nhất: thiết lập một vương quốc cho Pháp và làm
cho Nguyễn Ánh cải đạo theo Ki Tô Giáo, do đó Nam kỳ sẽ đặt dưới quyền cai trị
của một ông Vua theo đạo Gia Tô.
.. Thật là
khôi hài khi chúng ta thấy rằng, dưới những triều Nguyễn xây dựng bởi Nguyễn Ánh
khi ông thực sự lên làm Vua, những tín đồ Gia Tô lại bị bạo hành dữ dội như chưa
bao giờ từng bị như vậy."
(...The one
exception was the 16-year old Prince Nguyen Anh, who in that same year fled the
avenging Tay Son and found sanctuary with the Catholic Bishop Pigneau de
Béhaine. Pigneau took the young prince in and gave his shelter. From the very
moment he performed this act of mercy, the life of the youthful prelate changed
and took on new meaning. To take sides in a revolt is a political act, and
Pigneau understood this very well. He had made his choices now he would have
to stand or fall by it. There was a personal side as well to Pigneau de
Béhaine's decision, for the Bishop, a man of large ambition, had plans for his
own for conquest an empire. The remaining 20 years of his life would be spent
in pursuit of two main goals - to make his young prince an emperor and to win
Cochinchina for France.
...Pigneau's
accomplishments had indeed been noteworthy, but he had failed at two things he
wanted most to achieve - to carve out an empire for France and to convert Nguyen
Anh to Christianity so that Cochinchina would be ruled by its first Catholic
emperor.
It is
therefore ironic to note that under the dynasty founded by Nguyen Anh when he
did become emperor, Catholics were more violently persecuted than they had ever
been before.)
Qua những
tài liệu vừa trích dẫn, chúng ta không thể không tự hỏi: Cái thứ Giám mục Gia Tô
như Bá Đa Lộc ở trên là thứ Giám mục gì vậy? Bá Đa Lộc là một Giám mục, nhưng
bản chất của ông, cũng như của nhiều giáo sĩ thừa sai khác, là một tên lính đánh
thuê chuyên nghiệp (professional mercenary). Ông biết Nguyễn Ánh không được
lòng dân, và đám dân nghèo đang chịu đựng những cảnh bất công trong xã hội,
nhưng ông lại gây quỹ, tuyển mộ lính đánh thuê để giúp Nguyễn Ánh, đi ngược lại
lòng dân. Vậy ông đến Việt Nam để "giải thoát" người nghèo, như các "sử gia"
Gia Tô thường ca tụng, hay là mưu đồ dựng lên một vị Vua theo Gia Tô Giáo để dễ
dàng việc truyền đạo, dù vị vua đó không được lòng dân?
Sau Giám
mục Bá Đa Lộc là những Linh mục, Giám mục tới Việt Nam với mục đích rõ rệt là
phá hủy nền văn hóa Việt Nam, và vận động chính phủ Pháp xâm chiếm Việt Nam,
biến Việt Nam thành thuộc địa của Pháp. Trong số này chúng ta phải kể đến những
Giám mục Huc, Retord, Pellerin, Gauthier, Puginier v..v.. Tất cả đều có những
hoạt động gián điệp với sự tiếp tay của một số không nhỏ tín đồ Gia Tô bản xứ.
Hiện nay, những sử liệu về hoạt động gián điệp và gian ác thế tục của họ không
thiếu. Sau đây tôi chỉ đưa ra vài tài liệu để cho chúng ta thấy bộ mặt thật của
những người đi rao giảng "tin mừng Phúc Âm" .
Trong cuốn
Vietnam's Will to Live, trg. 79, Helen B. Lamb viết châm biếm như sau:
"Những
công tác của những giáo sĩ như là Cha Retord gồm có thu thập tin tức về vùng bờ
biển, sông ngòi, và sự phòng vệ Huế. Ngoài việc là một nguồn tin tức chủ yếu
cho hải quân Pháp, những giáo sĩ còn làm những xách-động viên, nhân danh 450,000
giáo dân mà họ tuyên nạp vào giữa thế kỷ thứ 19, sẵn sàng đưa một quốc gia 10
triệu người vào vòng chết chóc và tàn phá toàn diện - lẽ dĩ nhiên là để cứu quốc
gia này."
(The labors
of such missionaries as Father Retord had included intelligence on coastal
areas, rivers, and the defense of Hue. Besides being a vital source of
information for the French navy, the missionaries played the role of outside
agitators who, in the name of 450,000 Vietnamese converts they claimed by the
mid-19th century, were willing to plunge a country of 10 million people into
wholesale death and destruction - in order, of course, to save it.)
Trong cuốn
Việt Nam Pháp Thuộc Sử, Giáo sư Phan Khoang viết:
"Những
người đề xướng cuộc chinh phục nước Nam là mấy sĩ quan hải quân của hạm đội Pháp
ở biển Trung Quốc..nhưng hoạt động hăng hái hơn cả để làm cho chính phủ Pháp
quyết định là các giáo sĩ, nhứt là giáo sĩ Huc, Giám mục Retord, Giáo sĩ Libois
và Giám Mục Pellerin..
Vậy thì,
những lời hoa mỹ như "rao giảng tin mừng Phúc Âm", "văn minh hóa" dân tộc mọi rợ
Việt Nam v...v... của các giáo sĩ thừa sai chẳng qua chỉ là những lời tuyên
truyền giả dối để che đậy thực chất nhơ bẩn, đồi bại của những kẻ cuồng tín mà
lịch sử đã chứng minh rằng, một tay cầm cuốn Thánh Kinh, còn tay kia cầm gươm
giáo hoặc súng ống để "thuyết phục" những người đần độn , thường thuộc giai cấp
cùng đinh, đầu óc mù mịt, tin theo những điều hoang đường nhất trong những điều
hoang đường, như những nhà nghiên cứu tôn giáo đã chứng minh.
Sau đây,
tôi sẽ đi vào vấn đề cấm đạo và bách hại giáo dân mà các giáo sĩ thừa sai và
những "tôi tớ hèn mọn" của họ thường xuyên tạc, phóng đại để thuyết phục chính
phủ Pháp xâm chiếm Việt Nam.
8.2. Vấn
Đề Cấm Đạo và Bách Hại Giáo Dân.
Không ai có
thể phủ nhận sự kiện lịch sử là ở Việt Nam có hiện tượng cấm đạo và bách hại
những người theo đạo Gia Tô, từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh cho tới hết triều
Tự Đức, khi mà Pháp đã dùng vũ lực hoàn tất việc xâm chiếm Việt Nam.
Luận cứ của
các giáo sĩ thừa sai Gia Tô và những tay sai bản địa là: sở dĩ có những cuộc
bách hại giáo dân là vì, từ Vua tới quan cho tới hàng sĩ phu và dân thường ở
Việt Nam đều thuộc loại ngu dốt, không chịu chấp nhận "tin mừng Phúc Âm", nghĩa
là chấp nhận làm tôi tớ hèn mọn cho Chúa Giê-su, một người Do Thái đã khẳng định
rằng: "Ta được sai đến đây để cứu giúp đàn chiên đi lạc của nhà Israel
(nghĩa là dân Do Thái) mà thôi - chứ không phải để lo cho người nước ngoài"
(Mã-Thi 15: 24, Thánh Kinh, Cựu Ước và Tân Ước, Nguồn Sống, 1994), nhưng
thực ra chỉ làm tôi tớ hèn mọn cho Tòa Thánh Vatican, cho Giáo hoàng và các
Giám mục, Linh mục, những kẻ tiếm vị Chúa trên trần, tự cho mình những thần
quyền hoang đường phi lý như đại diện của Chúa trên trần, thay Chúa để tha tội
cho con chiên... trong khi lịch sử đã chứng minh trong số những Giáo hoàng, Giám
mục, Linh mục này không thiếu gì những kẻ sát nhân, vô luân, vô đạo đức, trí tuệ
đần độn, tư cách hèn hạ v...v... Luận cứ này phản ánh những tâm cảnh cuồng
tín, trí tuệ kém cỏi, kiến thức hẹp hòi, xuyên tạc sự thật và không có gì xa sự
thật hơn.
Chúng ta đã
biết, trong phần nói về "phép lạ" La Vang, việc cấm đạo dưới thời Tây Sơn không
phải vì lý do tôn giáo. Trước khi đi sâu vào vấn đề cấm đạo với nhiều chi tiết
đầy đủ hơn, tôi muốn đưa ra dây hai nhận định điển hình.
Ông Lý Chánh
Trung, một nhà trí thức Gia Tô, trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc nhận định
rằng:
"Tuy nhiên
lịch sử đã cho thấy rằng từ khi Giáo hội (La Mã) đã trở thành quốc giáo thì cây
gươm tinh thần của Thánh Phao-Lồ đã luôn luôn bị cám dỗ để biến thành cây gươm
thép thực sự. Kể từ dạo ấy, mỗi khi hoàn cảnh cho phép, giáo hội đã không ngần
ngại để dùng thế lực tiêu diệt các tôn giáo khác, đập phá các đền thờ "Tà Thần",
đốt sách vở ngoại đạo, và đốt luôn bọn người bị xem là "lạc đạo" nếu không chịu
sửa sai.
...Ngày nay
mọi người đều đồng ý rằng việc cấm đạo dưới các Vua triều Nguyễn là một hành
động bất nhân và sai lầm. Nhưng nếu chúng ta tự đặt mình vào địa vị các vị Vua
ấy, và cái khung cảnh tâm lý thời đó, thì có lẽ chúng ta khó có thể làm khác
hơn" (Ông Lý Chánh Trung đã
không xét đến những khung cảnh xã hội, chính trị đã tạo ra cái khung cảnh tâm lý
đó. So với những hành động cấm đạo, diệt đạo rất quyết liệt và tàn nhẫn của Nhật
Bản thì sự cấm đạo ở Việt Nam không thể gọi là bất nhân hay sai lầm. Đó là biện
pháp cực chẳng đã để đối phó với những kẻ phản bội quốc gia và rất là nhân
nhượng vì các triều Nguyễn luôn luôn chủ trương giáo dục trước khi dùng đến bạo
hành như những tài liệu trong một phần sau chứng tỏ. TCN)
Và, Tiến sĩ
Cao Huy Thuần cũng viết trong cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân
tại Việt Nam, trg. 502, như sau:
"... cái
gọi là "đàn áp tôn giáo" đó sự thực chỉ là những biện pháp tự vệ mà mọi nước bị
ngọai xâm và nội loạn đe dọa đều bị buộc phải dùng đến nếu không muốn nhận chịu
nguy cơ sụp đổ. Nếu đạo Thiên Chúa Việt Nam bị bài xích, thì việc đó, chính yếu
là do các người đại diện cho đạo. Những người này, bằng những hoạt động tai hại
và ý muốn thống trị của họ, rút cục đã làm cho người Việt Nam thấy Chúa Christ
là tay sai của xâm lăng thuộc địa và văn hóa".
Nhận định
của ông Lý Chánh Trung cho chúng ta biết sách lược truyền đạo man rợ của Gia Tô
La Mã Giáo, và nhận định của Tiến sĩ Cao Huy Thuần cho chúng ta thấy những biện
pháp tự vệ của Việt Nam trước sách lược truyền đạo trên. Xét theo bối cảnh lịch
sử thế giới trong những thế kỷ 16-19 thì chúng ta phải nói rằng, căn bản căm
phẫn của các giáo sĩ thừa sai ngoại quốc và tay sai bản địa về việc cấm đạo
và bách hại giáo dân ở Việt Nam thật là yếu ớt một cách lố bịch: "Vì chính
trong những khoảng thời gian này, Gia Tô Giáo đang tàn sát những tín đồ Tin Lành
ở Netherlands, tra tấn hàng ngàn dân Huguenots ở Pháp, và Văn Phòng Thánh Vấn
(Holy Office of the Inquisition = Cơ Quan Chỉ Đạo các Tòa Hình Án xử dị giáo)
còn đang bận thiêu sống những kẻ dị giáo từ Granada tới Goa." (Dennis
Bloodworth)
Như vậy,
căn bản căm phẫn của họ thực ra là đặt trên cái lý lẽ đầy bất công và man rợ của
kẻ mạnh, mạnh vì gươm giáo, súng ống, chứ không phải mạnh về tinh thần hay đạo
đức: là con Chúa thì có quyền đi tra tấn, tàn sát, thiêu sống người ngoại đạo vì
họ không có cùng một niềm tin như các con Chúa, còn người ngoại đạo thì không có
quyền đụng tới con Chúa ngay cả khi những con Chúa này thuộc loại phản quốc.
Sau đây
chúng ta hãy thử phân tích vấn đề cấm đạo và bách hại giáo dân ở Việt Nam qua
một số tài liệu. Một trong những tài liệu có tính cách tổng hợp về sự du nhập
của Gia Tô Giáo vào Việt Nam là của Helen B. Lamb, trong cuốn Vietnam's Will
to Live. Sau đây là vài đoạn trong đó, xin độc giả để ý đến những lời văn
châm biếm rất ý nhị của tác giả..
"Những
sự giao tiếp giữa Pháp và Việt Nam từ thế kỷ 17 trở đi đều theo một mô thức cổ
điển xâm nhập Á Châu của Tây phương. Mới đầu là các thừa sai và con buôn. Rồi
các nhà ngoại giao đến can thiệp, nhân danh cả hai, và cuối cùng, quân lính
tiến vào, áp đặt sự thống trị của ngoại quốc - lẽ dĩ nhiên là để làm tốt cho
dân bản xứ.
Động cơ
chính để một nước đi chiếm thuộc địa và những vùng ảnh hưởng là sự chiếm hữu một
cái gì đó, quyền lực, uy tín, của cải, hay những thứ cưỡng đoạt được...Trong
trường hợp nước Pháp, họ đặt nặng vấn đề tôn giáo. Là những người cầm đuốc soi
sáng cho những người khác về chủ thuyết Gia Tô, người Pháp đã lao mình vào một
cuộc Thánh chiến để mang tới cho dân Việt Nam món quà vô giá, cơ hội để sống đời
đời, bất tử.
Chỉ khi nước Pháp trở thành thế tục hơn trong
thế kỷ 19, họ mới đặt nặng chiêu bài "nhiệm vụ văn minh hóa" - trong những quốc
gia mà niềm tự hào về nền văn minh cổ của họ rất là chính đáng.
...Dù các
con buôn bị đối đãi lạnh nhạt đến đâu thì các thừa sai Tây phương còn bị nghi
ngờ hơn nữa. Sau năm 1645, khi Alexandre de Rhodes bị bắt cầm tù và rồi bị trục
xuất, theo những con buôn người Anh tới giao thương ở Việt Nam thì các thừa sai
phải ngụy trang dưới dạng con buôn.
...Một
triết gia Đông phương hiện đại, khi giải thích về sự đối kháng của Á Châu đối
với những nhà rao bán Phúc Âm Ki Tô Giáo (truyền giáo), đã nhấn mạnh đến thái độ
kiêu căng điển hình của thừa sai Ki Tô như sau:
"Cái óc
Tây phương của các ông thường quá bị ám ảnh bởi ý tưởng chinh phục và chiếm hữu,
cái thói quen dụ người khác vào đạo đã ăn sâu trong đầu óc các ông cũng là một
hình thức chinh phục và chiếm hữu... Rao giảng về giáo thuyết của các ông
chẳng phải là một sự hi sinh, mà là đắm mình trong một sự xa xỉ nguy hiểm hơn
mọi xa xỉ vật chất rất nhiều. Nó nuôi dưỡng trong tâm các ông một ảo tưởng là
các ông đang làm bổn phận - rằng các ông khôn ngoan hơn và giỏi hơn đồng loại
của các ông.."
...Ngay cả
khi chính quyền Việt Nam cho ra những đạo dụ chống sự truyền đạo Gia Tô, họ vẫn
cho phép những Thánh nhân Phật giáo từ Trung Hoa vào truyền đạo ở Việt Nam.
Điều này chứng tỏ giới quan lại không chống đối bản thân sự truyền đạo.
Sự phỉ
báng tất cả những gì của Á Châu được thấy rõ, ngay từ lúc đầu, trong thái độ của
những thừa sai Pháp đối với những tôn giáo ở Việt Nam, như chúng ta đã thấy
trong những thư từ liên lạc và tác phẩm của họ.
...Trước
khi những người Ki Tô Giáo tới, Việt Nam có ba tôn giáo lớn: Phật Giáo, Lão
Giáo, và Khổng Giáo. Ba tôn giáo của Việt Nam này sống chung hòa bình với nhau
hầu như trong suốt giòng lịch sử. Theo một mức độ nào đó, các tôn giáo này hòa
hợp làm một, một nơi thờ tự tôn giáo có thể được dựng lên để thờ cả ba vị giáo
chủ của ba đạo sống khác nhau. Về vấn đề tôn giáo, Việt Nam là một xã hội đa
tôn giáo, điều này có thể giải thích sự kiện các thừa sai Tây phương thành công
ở Việt Nam hơn là ở những nơi khác tại Đông Nam Á.
...Bất kể
là những sự khác biệt giữa các tôn giáo ở Việt Nam như thế nào, chúng thật không
đáng kể so với cái vực thẳm ngăn cách những tôn giáo này với giáo hội hiếu
chiến Gia Tô.. Các Vua Việt Nam coi chủ thuyết Gia Tô như là một sự đe dọa
đến quyền hành của họ, và coi những người Việt Nam theo đạo như thuộc hạng chót
trong một hệ thống quyền lực tôn giáo chặt chẽ dưới quyền những giám mục ngoại
quốc. (Bị ngoại nhân hoàn toàn thống trị đến độ giáo hội Gia Tô Việt Nam không
có một giám mục Việt Nam nào được bổ nhiệm cho tới thập niên 1930, 400 năm sau
khi những giáo sĩ thừa sai Gia Tô đầu tiên tới Việt Nam) Ở trên những giám
mục ngoại quốc là một giáo hoàng ngoại quốc ở tận La Mã xa xôi, và những tín đồ
Việt Nam này trung thành và tuân lệnh giáo hoàng thay vì hoàng đế Việt Nam.
Những
thừa sai thì hoàn toàn xa lạ với Việt Nam và với ý tưởng hòa hợp giữa các lý
tưởng tôn giáo khác nhau. Đối với dân ngoan đạo Gia Tô thời đó thì chỉ có hai
quan điểm đối ngược, hoặc đúng hoặc sai, không thể có một sự thỏa hiệp hay đối
thoại nào giữa hai quan điểm trên. Các thừa sai coi thường tín ngưỡng và cách
hành đạo địa phương, cho chúng là sai lầm...
Nhiều
bản báo cáo thời đó mô tả sự việc các thừa sai đã mang vào Việt Nam một số lượng
lớn Âu dược chữa bệnh cho dân chúng để "chiếm lòng họ."
(Linh mục de Courtaulin, trích trong tác
phẩm của Taboulet, trg. 42).
Nhưng trong những hoạt động dụ người vào đạo, các thừa sai Gia Tô đã khai thác
sự sợ hãi và hi vọng của đám dân ngu dốt và nhẹ dạ cả tin. Những kẻ tân tòng
coi Ki Tô Giáo như là một hệ thống ma thuật mới. Nước thánh Gia Tô được dùng với
hi vọng có thể đuổi được quỷ ám, cứu người chết sống lại, làm cho người mù
sáng mắt trở lại v...v..
Tin vào
sự không thể sai lầm của Gia Tô Giáo, những hội viên trong Hội Truyền Giáo Hải
Ngoại đã tấn công Phật Giáo, coi Phật Giáo như là vô thần và thờ hình tượng, và
chỉ trích nặng nề Khổng giáo về tục lệ thờ cúng tổ tiên.
...Đối với những nhà lãnh đạo Việt Nam, toàn
thể giáo thuyết Ki Tô bị coi là không thực. Theo quan điểm của Nho gia thì bản
chất con người là tốt; chỉ cần được huấn luyện cho tốt để có thể sử dụng lý trí
của mình mà phân biệt giữa tốt và xấu. Con người không cần phải được "cứu rỗi"
bởi sự can thiệp của Chúa Ki Tô với Thượng-đế, và nếu cho rằng Chúa Ki Tô có
khả năng như vậy thì đối với giới Nho sĩ, đó cũng không khác gì một sự mê tín.
Giáo
điều Ki Tô, ngoài tính chất thô thiển và không hợp lý, còn bị coi như là thật sự
nguy hiểm, vì nó làm cho con người xa cách với gia đình để tìm sự giải thoát cho
riêng mình.
... Bằng sự
đe dọa hỏa ngục và sự đày đọa đời đời, các giáo sĩ thừa sai bắt buộc những đàn
chiên Việt Nam của họ phải theo đuổi ly rượu Thánh cho sự sống đời đời của mình
trong một thế giới sau thay vì làm những bổn phận hiếu thảo trong đời này.
Những nhà cấm quyền Việt Nam đặc biệt lo ngại về giáo điều xưng tội của Gia Tô
Giáo, coi đó như là một cách áp đặt quyền lực trên giáo dân. (Không những thế,
đây cũng là một cách lấy tin tức tình báo quân sự rất hữu hiệu. TCN).
...Như
là một sự thách đố đối với thiên tài của Khổng giáo trong việc hòa hợp các tín
ngưỡng khác nhau, Gia Tô Giáo đã chứng tỏ là một tôn giáo hoàn toàn không thể
tiêu hóa nổi. Trong bốn thế kỷ, Gia Tô Giáo vẫn còn như là một lực lượng chia
rẽ trong xã hội Việt Nam. Để tăng cường cái vực thẳm ý thức hệ giữa những tín
dồ Gia Tô và đại khối dân tộc, những tín đồ Gia Tô thường sống trong những làng
mạc riêng biệt, dưới quyền thống trị của các linh mục, y như những làng mạc
trong thời Trung Cổ ở Âu Châu cách đây 500 năm.
[Linh Mục Trần Tam Tĩnh đã gọi những làng
mạc riêng biệt này là những “ốc đảo ngu dốt”]
Về mặt
văn hóa cũng vậy, những người Việt Nam tân tòng Gia Tô trở thành cô lập với nền
văn hóa chủ đạo. Để phổ biến giáo lý Gia Tô, các thừa sai đã nghĩ ra một dạng
chữ mới theo mẫu tự La Mã gọi là Quốc Ngữ, một cách phiên âm tiếng Việt họ dùng
để dạy những đàn chiên của họ. Họ dịch những sách cầu nguyện hay kinh sách Gia
Tô khác ra loại chữ mới này, nhưng không dịch văn chương Việt Nam. Điều này có
nghĩa là những tín đồ Gia Tô Việt Nam, vì không còn học ở các trường làng do các
thầy Nho dạy, không thể đọc được tiếng Việt, gọi là chữ Nôm, hay chữ Hán được
dùng trong mọi văn kiện công cộng. Chữ Quốc Ngữ là một trong vài đóng góp có
ảnh hưởng lâu dài vào nền văn minh Việt Nam của Tây phương, nhưng ảnh hưởng tức
thời của nó là chia rẽ quốc gia và đánh thẳng vào gốc rễ văn hóa của Việt Nam.
Đối với một quốc gia mà lý tưởng là sự hòa đồng
trong cộng đồng và lối sống theo những qui định giao thiệp giữa con người với
nhau, sự xâm nhập của Gia Tô Giáo biểu thị cho sự xáo trộn và bất hòa trong xã
hội.
Ngay từ
ngày đầu, những người xây dựng Gia Tô Giáo ở Việt Nam đã cố ý coi thường chính
quyền Việt Nam và đã dùng đến phương cách hối lộ và gian lận để đạt được những
mục đích của họ."
(Franco-Vietnamese relations from the 17th century on followed the classic
pattern of Western penetration of Asia. First came the missionaries and
traders. In time, diplomats arrived to intercede on behalf of both and, in the
end, soldiers marched in to impose foreign rule - for the subject people's own
good, of course.
A country's
chief motive in acquiring colonies and spheres of influence would seem to be
acquisition - to get something, be it power, prestige, wealth, or plunder...In
the French case the chief emphasis was on religion. As the torchbearers of
Catholicism, the French were engaged in a religious crusade to give the people
of Vietnam that most priceless of gifts, the opportunity to achieve
immortality. Only when France became more secular in the 19th century did it
place emphasis on its "civilizing mission" - in countries justly proud of their
ancient civilization.
...However
unwelcome the traders were, Western missionaries were even more suspect. After
1645, when Alexandre de Rhodes was first imprisoned and then expelled,
missionaries had to disguise themselves as traders, according to English
merchants who came to Vietnam to open up trade channels.
...A modern
Eastern philosopher, in attempting to explain Asia's antagonism toward Christian
evangelists, stressed the arrogance of the typical Christian missionary:
"You Western
mind is too much obsessed with the idea of conquest and possession, you
inveterate habit of proselytism is another form of it.. Preaching your doctrine
is no sacrifice at all - it is indulging in a luxury far more dangerous than all
luxuries of material living. It breeds an illusion in your mind that you are
doing your duty - that you are wiser and better than your fellow-beings..."
...Yet even
while these Vietnamese authorities were passing edicts against Catholic
proselytizing, they allowed Buddhist holy men to enter Vietnam from China and
seek converts among the Vietnamese. This would suggest that the mandarins did
not oppose evangelism per se.
A
denigration of everything Asian is implicit in the attitudes of early French
missionaries toward the religions they found in Vietnam, as can be seen in their
correspondence and writings.
...There were
three world-famous religions in Vietnam prior to the arrival of the Christians:
Buddhism, Taism, and Confucianism...Vietnam's three religions coexisted, leaving
peacefully side by side most of the time. The a certain extent they were even
fused into one, with the same religious temple built to honor collectively the
founders of all three ways of life under one roof...
Vietnam was,
in religious terms, a pluralistic society, which may help account for the
greater success of Christian missionaries in Vietnam than in other parts of
Southeast Asia.
...Whatever
the difference between Vietnam's various religions, they were minor compared
with the gulf separating them from the militant Catholic Church.. Vietnamese
emperors regarded Catholicism as a threat to their authority and the local
Vietnamese converts as the bottom rung of a tight religious hierarchy under
foreign bishops. (So completely dominated by foreigners was the Vietnamese
Catholic Church that there were no Vietnamese bishops appointed until the 1930s,
almost 400 years after the first Catholic missionaries arrived in Vietnam.)
Above the foreign bishops was the foreign pope in far-off Rome, and they owned
their loyalty and obedience to him rather than to the Vietnamese emperor.
The
missionaries were totally alien to Vietnam and to the very idea of mutual
accomodation between different religious viewpoints. To the Catholic faithful
of this period there was truth and error, with no possibility of compromise or
"dialogue" between the two. Missionaries looked down on local beliefs and
practices, calling them false.
...Early
reports describe how a large quantity of Western medicines was brought to
Vietnam so that the missionaries could administer them "in order to win the
hearts of these peoples" (Father de Courtaulin, quoted in Taboulet, p.42). But
in their proselytizing activities many Catholic missionaries exploited the fears
and hopes of the ignorant and the credulous. Christianity was regarded by those
who adopted it as a new system of magic. Catholic holy water was used,
hopefully, to exorcise devils, raise the dead, and restore sight to the blind...
True to
their belief in Catholic infallibility, members of the Society of Foreign
Mission attacked Buddhism as both atheistic and idolatrous and excoriated
Confucianism because of its rites of ancestor worship.
...To
Vietnam's rulers, the entire Christian doctrine was suspect. In the Confucian
view, man is essentially good; all he needs is good training and the use of his
reasoning powers to ascertain the difference between good and evil. He does not
have to be "saved" by Christ's intercession with God, and the supposition that
he did, struck the educated Confucian as just so much superstitious.
Besides
being considered crude and implausible, Christian dogma was viewed as positively
dangerous, since it alineated a person from his family by emphasizing individual
salvation.
The
missionaries enjoined their Vietnamese flocks, under the threat of hell fire and
damnation, to pursue the Holy Grail of personal immortality in the next world
instead of fulfilling the duties of filial piety in this one. The Vietnamese
authorities were particularly alarmed over the Catholic confessional as a means
of exercising power over people.
...As if
challenging the Confucian genius for merging and tempering alien creeds,
Catholic proved to be completely indigestible. For four centuries the Catholic
faith has remained a divisive force in the society. Reinforcing the ideological
gulf between Vietnamese Catholics and the rest of the population, Christian
converts have tended to live apart in separate villages dominated by their
priests, much as the villages of medieval Europe were dominated five hundred
years ago.
In a
cultural sense, too, Vietnamese converts to Catholicism became isolated from the
mainstream. In order to dissiminate Christian teachings in Vietnam, the
missionaries worked out a new form of Romanized script called Quoc Ngu, a
phonetic rendering of Vietnamese which they taught their flocks. They
translated prayer books and religious tracts into this new script, but no
Vietnamese literature. This meant that Vietnamese Catholics, who no longer
attended village schools run by Confucian scholars, could read neither the
Vietnamese script, called "Nom", nor the Chinese characters used for all public
documents. The Romanized script was one of the few lasting Western
contributions to Vietnamese civilization, but its immediate effect was to divide
the nation and strike at the roots of Vietnamese culture.
For a
nation whose ideal was a harmonious community living according to well -
defined human relationships, this Catholic intrusion represented disorder and
dissension..
From the
start the Church fathers in Vietnam had been willing to defy Vietnamese
authority and resorted to bribery and fraud to gain their ends.)
Trên đây
chỉ là một cái nhìn đại cương về một vài khía cạnh của vấn đề Gia Tô La Mã Giáo
xâm nhập vào Việt Nam. Muốn biết rõ thực chất của sự xâm nhập này, chúng ta cần
đi thêm vào một số chi tiết để tìm ra nguyên nhân của việc cấm đạo ở Việt Nam.
Các nhà
khảo sử không ai phủ nhận việc cấm đạo và chính sách khắc nghiệt của các triều
Nguyễn đối với Gia Tô Giáo, nhưng tất cả đều đồng ý ở một điểm: Việt Nam là một
dân tộc hiền hòa, hiếu khách, dễ dãi, và có tinh thần khoan dung tôn giáo rất
cao, do đó không có truyền thống cấm đạo hay bách hại giáo dân vì lý do tôn
giáo. Điều này chúng ta có thể thấy rõ trong tài liệu của Helen Lamb vừa trích
dẫn ỏ trên, và trong vài tài liệu sau đây.
Trong cuốn
“L'Empire Vietnamien Face à la France et à la Chine", bản dịch ra tiếng
Việt của Nguyễn Đình Đầu, Yoshiharu Tsuboi viết như sau:
"...lập luận ấy đã cho biết sự thật lịch sử: tại
Việt Nam, nơi mà tinh thần hòa đồng tôn giáo đã thấm sâu vào xã hội, không có lý
do gì, nhất là khi vẫn có trật tự xã hội, lại đi bách hại đạo công giáo với
tính cách là một đạo giáo."
Trong cuốn
French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam,
1857-1914. A Documentary Survey, Patrick J. N. Tuck nhận xét như sau, trg.
28:
"Động cơ
của sự bách hại đạo Ki Tô ở Việt Nam chưa bao giờ vì những vấn đề siêu hình
(tôn giáo). Truyền thống tôn giáo Việt Nam thường mang đặc tính chiết trung
(không bị thu hẹp vào một nguồn tư tưởng nào; TCN) và chấp nhận rộng rãi
các tín ngưỡng khác.
Xét về
toàn bộ, truyền thống tôn giáo Việt Nam là một truyền thống dễ hấp thụ, pha
trộn, để cho con người có thể theo nhiều con đường khác nhau đi đến chân lý."
(...The
persecution of Christianity in Vietnam was never motivated by purely
metaphysical issues. Vietnamese religious tradition was usually eclectic and
broadly tolerant of other beliefs.
Overall,
Vietnamese religious tradition was absorbant and syncretic, allowing for the
pursuit of many paths to the Truth.)
Vậy tại sao
lại xẩy ra chuyện cấm đạo và bách hại giáo dân? Tất nhiên những biện pháp khắc
nghiệt, trái với truyền thống khoan nhượng tôn giáo của Việt Nam, phải có nguyên
nhân. Những nguyên nhân này không bao giờ được các nhà viết sử thực dân hay
tay sai Gia-Tô bản địa nhắc tới. Những nguyên nhân này là gì, hiện nay tài liệu
có khá đầy đủ, tôi có thể tóm tắt những nguyên nhân đó trong ba điều sau đây:
i). Các
giáo sĩ thừa sai Gia Tô Giáo khi tới Việt Nam truyền đạo đã không giữ đúng vai
trò truyền giáo thuần túy của mình. Họ có những thái độ ngạo mạn, khinh rẻ
chính quyền địa phương vì tự cho là văn minh tiến bộ trong khi bản chất của họ,
ít ra là về phương diện tâm linh, luân lý, và đạo đức, thật là hẹp hòi và chậm
tiến. Với tâm cảnh cuồng tín, tổng hợp của ngu dốt và huênh hoang, cộng với sự
kiêu căng lố bịch, cho rằng đạo của mình là đạo "thiên khải" chân thật duy
nhất, họ đã dùng những phương pháp truyền đạo gian xảo, xuyên tạc sự thật để mạ
lỵ, xâm phạm tới toàn bộ tín ngưỡng, đạo đức, và cấu trúc văn hóa truyền thống
của xã hội Việt Nam. Họ đã trắng trợn can thiệp vào chính trị nội bộ của Việt
Nam và trong nhiều trường hợp đã xúi dục nội loạn và gây nên sự chia rẽ, bất
hòa, xáo trộn trong xã hội Việt Nam.
ii). Các
giáo sĩ thừa sai Gia Tô đã giữ những vai trò then chốt trong việc thực hiện âm
mưu phá hủy nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, vận động chính quyền Pháp xâm lược
Việt Nam, tích cực đóng góp cho việc xâm lược Việt Nam, và đào tạo một đạo
quân thứ 5 bản địa, biến những kẻ tân tòng đần độn trong tầng lớp cặn bã của
xã hội Việt Nam thành một đám nô lệ cho Vatican, coi thường luật lệ quốc gia và
không ngần ngại phản bội quê hương.
iii). Một
số không nhỏ giáo dân Việt Nam đã hợp tác, tiếp tay với thực dân Pháp, đem nước
ta vào vòng nô lệ Pháp để được hưởng những quyền lợi đặc biệt tôn giáo của một
thiểu số cam phận làm thân trâu ngựa, phục tùng tuyệt đối các giáo sĩ ngoại
quốc, bất kể đến sự đau thương của cả một dân tộc bị nô lệ ngoại bang.
Đó là những
gì mà các thừa sai Gia Tô La Mã Giáo đã mang đến cho dân tộc Việt Nam với kết
quả là, sau khi chế độ thực dân cáo chung, là để lại cho dân tộc Việt Nam một di
sản nghi kỵ nhức nhối giữa đại khối dân tộc và khoảng 7% dân số theo Gia Tô
Giáo, trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, từ Công trường Phê-rô đến Bolsa ở
Little Saigon, một di sản không biết tới bao giờ mới xóa sạch được, như linh mục
Kim Dịnh đã nhận định.
Sau đây là
phần chứng minh 3 nhận định nêu trên qua các tài liệu.
Chúng ta đã
biết sách lược truyền đạo thiếu văn hóa của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, chúng
ta đã biết việc dính vào chính trị nội bộ của Việt Nam cùng việc tuyển mộ, chỉ
huy một đoàn quân lính đánh thuê để giúp Nguyễn Ánh của Giám mục Bá Đa Lộc, và
chúng ta cũng đã biết những hoạt động gián điệp của các Giám mục Gauthier,
Retord, Huc, Pellerin, Puginier v..v.. Những tài liệu sau đây sẽ cho chúng ta
thấy rõ thực chất những hoạt động "truyền giáo" của các thừa sai Gia Tô ngoại
quốc, tâm cảnh và hoạt động tiếp tay cho giặc của những giáo dân Việt Nam, và từ
đó chúng ta có thể suy ra những nguyên nhân cấm đạo hay bách hại giáo dân.
1. Trong cuốn
“L'Empire Vietnamien Face à la France et à la Chine", bản dịch ra tiếng
Việt, Nước Đại Nam Đối Diện Với Pháp và Trung Hoa, của Nguyễn Đình Đầu,
Yoshiharu Tsuboi viết như sau:
"Linh
mục Louvet gợi lại việc phái bộ Montigny đã tới Đà Nẵng năm 1847 để diệu võ
dương oai rồi thảm bại rút lui để lại bao khó khăn cho thừa sai và tín hữu.
Theo Louvet, phái bộ Montigny đã gây chuyển hướng trong tính cách của sự bách
hại như sau: "...từ phạm vi tôn giáo chuyển sang phạm vi chính trị, người công
giáo không chỉ nguyên thuần là một kẻ theo tà đạo, tự mình tách rời ra khỏi đời
sống công dân và gia đình do chối từ việc thờ cúng tổ tiên, mà còn là bạn bè của
người ngoại quốc, là kẻ phản bội và phản nghịch từng kêu gọi quân xâm lăng đến
chiếm lĩnh nước mình." Sự thật Louvet chỉ nhắc lại một lập luận mà giám mục
Pellerin đã quảng diễn từ trước...
Một
lập luận như vậy đánh dấu thật rõ ràng sự thay đổi trong não trạng các thành
viên hội Thừa Sai của Paris, vì lập luận ấy đã cho biết sự thật lịch sử: tại
Việt Nam, nơi mà tinh thần hòa đồng tôn giáo đã thấm sâu vào xã hội, không có lý
do gì, nhất là khi vẫn có trật tự xã hội, lại đi bách hại đạo công giáo với tính
cách là một đạo giáo. Đã từ lâu, điều làm cho người ta e ngại là sự hiện diện
và hoạt động của các thừa sai bị coi như là những điệp viên của Tây phương có
nhiệm vụ phá hại nền đạo đức và chính trị của nước Việt Nam. Chúng tôi đã xem
xét kỹ hoạt động của các thừa sai, bởi vì chúng tôi tin là hội thừa sai Paris và
các giáo sĩ của hội này đã là những kẻ "dẫn đường" chính cho chính quyền Pháp
tại Việt Nam"
2. Trong cuốn
Những Hội Truyền Giáo Hải Ngoại và Sự Xâm Nhập của Pháp Vào Việt Nam (Les
Missions Étrangères et la Pénétration Francaise au Viet-Nam), Nicole-Dominique
Lê viết:
"Theo
quan điểm của những nhà lãnh đạo Việt Nam thì các thừa sai đã phạm tội thúc đẩy
giáo dân bất tuân luật lệ quốc gia. Từ bỏ những thờ phượng tôn giáo, những giá
trị xã hội đã khiến cho họ sống ở ngoài lề của xã hội truyền thống. Nhưng
nghiêm trọng hơn là, người ta trách cứ các giáo sĩ và giáo dân đã tạo nên sự
phân chia quốc gia thành 2 khối tôn giáo đối nghịch nhau."
(Les
missionaires, selon l'optique des dirrigeants Vietnamiens, étaient coupables de
pousser les Chrétiens à rejeter les lois de leur pays. Rejet des cultes
religieux, des valeurs sociales qui les faisaient vivre en marge de la société
traditionnelle. Mais chose plus grave, on reprochait aux prêtres et aux
chrétiens la scission du pays en deux clans religieux opposés.)
"Được
thành lập một cách cuồng tín, những người Ki Tô Giáo Việt Nam đã có một ý thức
giai cấp; họ tự cảm thấy tách biệt khỏi đại khối dân tộc, khác biệt và cao quý
hơn, vì họ đã nhận được "ánh sáng của Thượng Đế." Họ khinh miệt những người
phi-Ki Tô, những người đã theo những nghi lễ "mọi rợ và mê tín". Nhưng những
người phi-Ki Tô cũng khinh miệt không kém những kẻ theo đạo, thường là xuất thân
từ giai cấp hạ tiện, những người chẳng mất mát gì khi theo một tôn giáo khác,
một tôn giáo từ chối gia tài của xứ sở. Nhất là giai cấp văn thân càng ghét họ
hơn, vì, không những họ từ bỏ những truyền thống tổ tiên, mà tệ hơn nữa, kêu gọi
ngoại nhân đến với họ, xin ngoại nhân che trở và cho họ việc làm, hầu hạ và phục
tùng ngoại nhân như là các ông chủ duy nhất. Về phía Gia-Tô giáo, họ không làm
gì để xóa bỏ hay ít ra là làm giảm bớt cái tiếng xấu của họ, trái lại, khi chắc
rằng người Pháp sẽ ngự trị ở ngoài Bắc, và tin rằng thời cơ của họ đã tới, họ đã
phạm nhiều sự lạm dụng không thể tha thứ được."
(Formés
fanatiquement, les chrétiens Vietnamiens ont acquis une conscience de classes;
ils se sentaient à part du reste de la nation, différents et supérieurs, car ils
avaient recu la lumière du Dieu. Ils méprisaient les non-chrétiens, qui
pratiquaient des rites barbares et superstitieux. Mais les
non-catholiques ne méprisaient pas moins les convertis qui, le plus souvent de
basse extraction, n'avaient rien à perdre en suivant une autre religion qui
niait à elle seule l'héritage du pays. La classe lettrée surtout les détestait
car, non seulement ils reniaient leurs traditions ancestrales, mais pire encore,
ils appelaient à eux les étrangers, leur demandant protection et emploi, les
servant et leur obéissant comme à des maitres incontestés. Du côté catholique,
rien ne fut entrepris pour effacer ou tout au moins atténuer la mauvaise
réputation qui leur était faite. Bien au contraire, lorsqu'ils furent certains
que la France allait désormais s'installer au Nord, ils commirent d'impardonable
abus, croyant leur heure est arrivée.)
3. Trong cuốn
Trung Kỳ - Bắc Kỳ 1885-1896 (Annam-Tonkin 1885-1896), Charles Fourniaux
viết:
"Căn bản
của lực lượng này (với mục đích đồng hóa toàn phần dân chúng để tạo một "Đông
Dương của Pháp", bằng cách phá hoại văn minh cổ truyền và những văn thân gìn giữ
nền văn minh này) nằm trong 600,000 giáo dân Thiên Chúa Giáo mà các thừa sai là
những ông chủ tuyệt đối. Họ sống trong các làng mạc hoặc phần làng mạc riêng
biệt, vì các thừa sai nhất định bảo vệ họ để khỏi bị ảnh hưởng xấu của người
"Lương" và người Âu châu. Nhưng nhất là vì niềm tin và tác phong của họ đã làm
cho đồng bào của họ coi họ như là những kẻ bội giáo và phản bội quốc gia. Họ
không còn trung thành với sự thờ cúng tổ tiên, không tôn trọng những lễ lạc cổ
truyền và phong tục tập quán. Thật vậy, có phải là từ những năm 70 họ đã chẳng
là những "nội ứng của Pháp", làm tình báo cho kẻ thù và giúp đỡ kẻ thù, và cung
cấp đa số trợ quân cùng những kẻ phản bội quốc gia khát máu như tên Trần Bá
Lộc?"
(La base de
cette force (visant à l'assimilation complète de la population pour construire
une "France Indochinoise", en détruisant la civilisation traditionnelle et ses
gardiens que sont les Lettrés) réside dans les 600,000 chrétiens sur lesquels
règnent en maitres absolus les missionnaires. Ils vivent en villages ou
quartiers de villages séparées, car les missionnaires tiennent à les protéger
des influences néfastes des "paiens" et des européens. Mais surtout leur foi et
leur comportement les fait apparaitre à leurs compatriotes comme des rénégats et
des traitres. Ils sont infidèles aux pratiques du culte des ancêtres, ne
respectent ni les fêtes traditionnelles ni les coutumes. Enfin n'ont-ils pas
été depuis le début des années 70 les "Francais de l'intérieur", renseignent et
aident l'ennemi, fournissant le gros des recrues de forces supplétives et des
traitres sanglants comme Trần Bá Lộc?)
(Trần Bá
Lộc là tên tay sai Gia-Tô đắc lực nhất của Pháp trong sự đàn áp các cuộc khởi
nghĩa ở miền Nam, nổi tiếng là tàn bạo và tham lam. Leo từ lính cơ của Pháp lên
tới tri phủ (1886) hắn đã "chặt nhiều đầu" kháng chiến quân, chính hắn viết như
thế, và còn bắt bớ những người có liên hệ với kháng chiến để tống tiền dưới hình
thức "bồi thường", được Pháp khen thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh hạng 3: theo tài liệu
A30 (75), hộp 19, Thư Khố Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại.)
4. Trong cuốn
Việt Nam Chiến Sử, tác giả Phạm Văn Sơn viết:
"Dưới
mắt Vua Minh Mạng các tu sĩ Tây phương ngoài việc truyền giáo còn là những gián
điệp lợi hại nhất của đế quốc và các tàu buôn cùng sứ thần của họ cũng có những
công tác bí mật, vậy "kính nhi viễn chi" là hơn."
5. Trong cuốn
The Vietnam Response to French Intervention, 1862-1874 của Mark W.
McLeod, chúng ta có thể đọc được những đoạn sau đây:
"Nguyên
tắc của Vua Minh Mạng để đối phó với những người Gia Tô Việt Nam như sau: trước
hãy giáo dục sau mới dùng đến hình phạt. Như vậy, các viên chức trước hết phải
khuyên hóa những người Gia Tô để cho họ tỉnh ngộ và hối cải những tội ác của
họ.."
(Minh
Menh's principle for dealing with the Vietnamese Catholics was the following:
"first we must educate; only afterward do we punish". Accordingly, officials
were first to "advise and instruct" the Catholics so that they would "awaken"
and repent their crimes.)
"Sau đó, những đạo dụ khắc nghiệt hơn được ban
hành mỗi khi Vua Tự Đức phải đối diện với bằng chứng là các giáo sĩ Gia Tô và
các giáo dân dính líu vào những cuộc nội loạn hay đứng về phía một quyền lực
ngoại quốc."
(Subsequent, more severe edicts were issued whenever Tu Duc was confronted with
evidence that the Catholic missionaries or the indigeneous Catholics were
involved in internal rebellions or were in league with a foreign power.)
6. Trong cuốn
La Place du Catholicisme dans les Relations Entre la France et le Vietnam, de
1851 à 1870, nhà trí thức Gia Tô Étienne Võ Đức Hạnh viết:
"Dưới
triều Vua Tự Đức, một số lớn tín đồ Gia Tô Việt Nam làm tình báo cho Pháp...Dưới
triều Tự Đức, do sự xúi dục của các giáo sĩ, người Ki Tô Giáo và phi-Ki Tô, âm
thầm hoặc công khai, chống đối lại vị Vua tại vị hơn là nhà Nguyễn vì nhiều lý
do...Chỉ có một điều khác biệt: người Ki Tô Giáo có cùng chung mục tiêu với nước
Pháp, còn người phi- Ki Tô thì không."
(Sous Tu
Duc, un grand nombre de catholiques Vietnamiens sont d'intelligence avec les
Francais... Au jours de Tu Duc, Chrétiens et non-chrétiens, à l'instigation des
missionnaires, résistent ici sourdement, là ouvertement au roi régnant mieux à
la dynastie des Nguyen pour plusieurs motifs.. Une seule différence: les
chrétiens font cause commune avec la France, les non-chrétiens les
combattent)
7. Trong
cuốn French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam,
1857-1914, Patrick J. N. Tuck viết, trg. 28:
"Xét về
toàn bộ, truyền thống tôn giáo Việt Nam là một truyền thống dễ hấp thụ, pha
trộn, để cho con người có thể theo nhiều con đường khác nhau đi đến chân lý.
Đối ngược
với điều trên, những điều tự nhận của Ki Tô Giáo về một tâm linh duy nhất thật
là phi lý và kỳ cục đối với người Việt Nam. Ngoài ra, chiến thuật dụ người vào
đạo của các thừa sai có tính cách xâm nhập độc chiếm. Ảnh hưởng xã hội và chính
trị của sự truyền đạo này có tính cách phá hại cao độ. Chính điều này đã gây
nên thái độ thù nghịch trong giới sĩ phu cũng như trong đại chúng"
(Overall,
Vietnamese religious tradition was absorbant and syncretic, allowing for the
pursuit of many paths to the Truth. In contrast with this, the exclusive
spiritual claims of Christianity seemed irrational and eccentric to the
Vietnamese. However, missionaries strategies of conversion were exceptionally
intrusive. The social and political effects of their proselytism could be
highly disruptive. It was this which aroused popular as well as elite
hostility)
"Theo
quan điểm của người Việt Nam, những sự tàn sát tín đồ Ki Tô Giáo không chỉ là
một biểu thị của sự hoang mang chính trị. Nó có một mục đích thực tế là
đánh thẳng vào một chiều kích đáng kể trong nỗ lực quân sự của Pháp. Về phần
Pháp, sau những do dự ban đầu (Tài liệu 106), đã tận dụng những tín đồ Ki Tô
Việt Nam như là các trợ quân trong cuộc chiến. Những tín đồ Ki Tô Việt Nam được
sử dụng làm cu-li, thông ngôn và lính chiến đấu; và giáo dân Việt Nam đã góp
tiền tổ chức những lực lượng riêng thí dụ như "đoàn quân Joseph" khoảng 7000
người.. Thật vậy, như Giám mục Puginier đã vạch rõ, Giáo dân rất hữu dụng trong
việc lấy tin tức tình báo quân sự về những sửa soạn của kháng chiến quân Việt
Nam và về sự chuyển quân của quân Trung Hoa (Tài liệu 116). Một đạo luật chống
Ki Tô mà Thuyết (Tôn Thất) ban ra năm 1885 xác nhận là chính cái nhiệm vụ lấy
tin tức tình báo này của những cộng đồng Ki Tô mới thật là đáng sợ (Tài liệu
113)."
(...From a
Vietnamese point of view, the massacres of Christians were not merely an
expression of political frustration. It served a practical purpose in striking
at a significant dimension of French military effort. For the French, after
initial hesitations (Doc. 106), were making considerable use of Vietnamese
Christians as axiliaries in the war. Christian Vietnamese were employed as
coolies, interpreters and miliciens; and Vietnamese Christians also financed and
organized privates forces such as the "armée Joseph", a body of about 7000
irregulars.. Above all, as Bishop Puginier pointed out, Christians were useful
in gathering field intelligence on Vietnamese resistance preparations and
on Chinese force deployments (Doc. 116). A later anti-Christian decree of
Thuyet, issued in 1885, confirms that it was the intelligence gathering function
of the Christian communes that was particularly feared (Doc. 113).
Những tín
đồ Gia Tô Việt Nam hợp tác và làm tay sai cho quân xâm lăng Pháp, ngay từ ngày
đầu cho tới ngày cuối, nay đã là những sự kiện lịch sử không ai có thể phủ
nhận. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong cuốn viết về giai đoạn lịch sử Việt Nam
trên của Mark L. McLeod, Ibid., trg. 45-47:
"Vai trò
của những tín đồ Gia Tô trong cuộc xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha là
gì?..Sự thực là, theo những tài liệu lưu trữ trong văn khố Pháp thì, ngay từ
tháng 9, 1858, nhiều toán tín đồ Gia Tô Việt Nam đã tới liên lạc với những đoàn
quân chiến đấu của Tây phương. Rigauld de Genouilly (tướng chỉ huy liên quân
Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng; TCN) đã họp họ lại thành hai chi đội và huấn luyện
họ trong một doanh trại ở Tiên Trà. Một trong hai chi đội trên chiến đấu sát
cánh với quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng, còn chi đội kia di chuyển xuống miền
Nam, dự phần chiếa đấu trong cuộc xâm lược "lục tỉnh" và họ đã dự trận Kỳ Hòa.
Sau trận Kỳ Hòa, những lính chiến đấu Gia Tô Việt Nam đã phục vụ những người Tây
phương ở Đà Nẵng tiếp tục phục vụ người Pháp, làm lính chiến, thông ngôn, cu-li
và thám báo, trong những vùng chiếm được ở miền Nam. Vì những dịch vụ này, họ
được Đô Dốc - Toàn Quyền de la Grandière ban thưởng cho một số đất quanh vùng
Sài-gòn.
Trong
cuộc xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha từ 1858 đến 1862, những biện pháp
cấm đạo của Vua Tự Đức càng ngày càng khắc nghiệt và dễ hiểu. Đó chính là vì
Triều đình Huế tin rằng những tín đồ Gia Tô Việt Nam đã hỗ trợ những đoàn quân
xâm lăng. Những đạo Dụ trong thời chiến này thường nhằm mục đích ngăn cản những
tín đồ Gia Tô Việt Nam liên lạc với những lực lượng Pháp - Tây Ban Nha. Thí dụ,
một đạo Dụ ban hành vào tháng 5, 1859, nêu rõ rằng, khi nghe tin thành Saigon
thất thủ, những tín đồ Gia Tô Việt Nam ở miền Nam đã lợi dụng tình thế để khủng
bố người "lương" hay "tốt" (nghĩa là, người phi- Gia Tô) và đi làm "tay sai và
mật thám cho Tây Dương "
.. Theo
quan niệm của Vua Tự Đức thì sự khắc nghiệt của những đạo Dụ cấm đạo trong thời
chiến rất là chính đáng, vì những tín đồ Gia Tô Việt Nam "đã mang người Tây
Dương vào trong xứ sở."
...Với những tài liệu hiện hữu, chúng ta chỉ có
thể kết luận là triều đình nhà Vua tin rằng những tín đồ Gia Tô đã giúp đỡ quân
đội Pháp và Tây Ban Nha, và triều đình không hẳn là hoàn toàn sai lầm trong nhận
thức này. Do đó, những đạo Dụ chống Gia Tô quá khắc nghiệt của Vua Tự Đức trong
thời chiến chỉ nhằm mục đích ngăn ngừa tín đồ Gia Tô bản xứ khỏi phối hợp cới
những lực lượng xâm lược."
(What was the
role of the Vietnamese Catholics during the Franco-Spanish invasion?... In
fact, French archival sources show clearly that, as early as September 1858,
groups of Catholics began to reach the embattled European armies. Rigauld de
Genouilly formed the men into two indigenous detachments and trained them at a
camp at Tien Cha. One of these detachments fought alongside the Franco-Spanish
soldiers at Da-nang; the other went southward to participate in the invasion of
the "luc tinh" and fought in the battle of Ky Hoa. After the battle of Ky Hoa,
the indigenous Catholics militamen who entered the service of the Europeans at
Da nang continued to serve the French in the occupied south as soldiers,
interpreters, coolies, and guides. They were rewarded for their services by
Admiral-Governor de la Grandière, who granted them concessions of land in the
Saigon area.
During the
Franco-Spanish invasion of 1858-1862, the Tu Duc Emperor's interdictions of
Catholicism grew increasingly severe and comprehensive. This was primarily
because the Hue court believed that the Vietnamese Catholics supported the
invading armies. The wartime edicts were thus largely directed to the problem
of preventing the Vietnamese Catholics from communicating with the
Franco-Spanish forces. An edict of May 1859, for example, stated that, upon
hearing of the fall of the Saigon citadel, the Vietnamese Catholics of the south
were taking advantage of the situation in order to terrorize the "luong" or
"good" (that is, non-Catholics) people and to serve as "lackeys and spies for
the Westerners".
... The
severity of the wartime edicts was justified, in the emperor's opinion, because
the Catholics had "brought the Westerners into the country."
...With the
existing documentation it can only be concluded that the imperial court believed
that the Catholics were aiding the French and Spanish troops and that the court
was not entirely wrong in this perception. Accordingly, the Tu Duc Emperor's
wartime anti-Catholic edicts reached new extremes of severity primarily in order
to keep the indigenous Catholics from linking with the invading forces.)
Đọc lại
lịch sử Việt Nam trong giai đoạn Francis Garnier chiếm thành Hà Nội và các tỉnh
lân cận như Phủ Lý, Nam Định, Hải Dương v..v.. chúng ta sẽ thấy sự thực về vai
trò cộng tác, tiếp tay, hỗ trợ của giáo dân Gia Tô Việt Nam cho những đoàn quân
xâm lăng ngoại quốc như thế nào. Mark L. McLeod, Ibid., trg. 114-122:
"Bản
chất và mức độ hỗ trợ những đoàn quân viễn chinh Pháp của những tín đồ Gia Tô là
như thế nào?
Những thư từ liên lạc và phúc trình của Balny
và Harmand. được Garnier phái đi chinh phục nhiều tỉnh lỵ và những điểm trọng
yếu trong miền đồng bằng, cho chúng ta thấy một kiểu hỗ trợ đáng kể của những
tín đồ Gia Tô bao gồm - nhưng không chỉ giới hạn ở - những nhiệm vụ hành chánh
và quân sự. Những nguồn tài liệu này cũng cho chúng ta thấy một kiểu xoay sở
lẫn nhau giữa các sĩ quan Pháp và các thừa sai Gia Tô với kết quả là những kẻ
"tình nguyện" thường cũng được lợi bằng hay hơn những sĩ quan Pháp.
... Để giúp
chúng ta hiểu rõ hơn, chúng ta hãy xét tới những hành động của Balny tại Phủ Lý
và Hải Dương và của Harmand ở Nam Định, và nhấn mạnh đến sự liên hệ giữa Bộ
Truyền Giáo Gia Tô và các lực lượng quân sự Pháp. Sự phân tích những hành động
này cho thấy, trong những cuộc tấn công vào những cứ điểm của chính quyền Việt
Nam, quân đội Pháp đã nhận được một mức độ hỗ trợ rất đáng kể từ những thừa sai
và những tín đồ Gia Tô Việt Nam. Hơn nữa, những phương pháp mà các sĩ quan Pháp
và những cộng tác viên Gia Tô dùng tuyệt đối không thể coi là có đạo đức cao
theo những tiêu chuẩn đương thời của ngay chính họ, vì những phái bộ truyền giáo
Gia Tô đã dùng sức lao động (của tín đồ Gia Tô bản xứ; TCN), tài nguyên, và tin
tức tình báo, đổi lấy hậu thuẫn của Pháp để thực hiện sự tàn sát liên miên người
"lương", mạo phạm những công trình xây dựng của Phật Giáo, thiêu hủy những làng
mạc phi-Gia Tô, và cướp bóc những thành phố của nhà Vua. Sự cộng tác với chủ
nghĩa đế quốc Pháp của những tín đồ Gia Tô thường không được các sử gia nhận
biết đầy đủ, nhưng đó chính là một yếu tố đáng kể góp phần thắng lợi cho Pháp ở
Bắc Kỳ."
(What was the
nature and extent of the assistance that the Catholics brought to the French
expedition?
The
correspondence and reports of Balny and Harmand, who were dispatched by Garnier
to obtain the submission of many of the provincial citadels and strongpoints of
the delta, reveal pattern of significant Catholic assistance that included - but
not limited to - formal administrative and military duty. These sources further
reveal a pattern of mutual manipulation by French officers and Catholic
missionaries in which the "volunteers" often had as much or more to gain from
the relationship as did the French officers.
...It is
useful to consider Balny's actions at Phu Ly and Hai-duong and Harmand's at
Nam-dinh with an emphasis on the relationship between Catholic Missions and the
French forces. The analysis reveals that the French were far from alone in
their attacks on the loci of Vietnamese authority because the invaders received
a significant level of support from the missionaries and the Vietnamese
Catholics. Moreover, the methods of the French officers and their Catholic
collaborators could hardly be considered as evidence of a superior morality even
by their own contemporary standards, for the Catholic Missions exchanged labor,
resources, and information in return for French assistance in perpetuating
summary executions, desecreations of Buddhist religious edifices, burning of
non-Catholic villages, and pillaging of imperial citadels. This Catholic
collaboration with French imperialism has not been adequately recognized by
historians, but it was a significant contributing factor to the French success
in Tonkin.)
Trong cuốn
sách của Mark L. McLeod và trong nhiều cuốn khác, có rất nhiều chi tiết về sự
cộng tác của những tín đồ Gia Tô Việt Nam với đầy đủ tài liệu. Tôi không thể đưa
hết vào trong cuốn sách này vì nó quá chi tiết và dài, cho nên chỉ có thể đưa ra
những nét đại cương. Tuy nhiên, chúng ta có thể nêu ra đây một thí dụ điển
hình: nguyên nhân thất thủ trung tâm kháng chiến Ba Đình, do Linh Mục Trần Tam
Tĩnh viết trong cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm:
"Cho
tới khi chết ngày 25 tháng 4/1892, giám mục Puginier đã hoạt động không ngưng
nghỉ ngày nào để củng cố địa vị của nước Pháp tại xứ ông đã nhận là quốc gia
mới. Người ta còn giữ được mấy chục bản ghi chú và những tin tức tình báo có
mang chữ ký của ông trong những Văn Khố của Bộ Thuộc Địa. Một phần nhờ vào các
tin tức tình báo của giám mục mà quân Pháp có thể dẹp tan quân đội kháng chiến
của Việt Nam. Trung tâm kháng chiến khốc liệt nhất là ở Ba Đình, Thanh Hóa,
dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng. Đó là một làng được tăng cường bởi một
vòng đai lũy tre, những ụ kháng chiến, những hầm trú ẩn, và một hệ thống hầm
giao thông được xếp đặt một cách tinh vi. Để "bình định" làng này, quân đội
Pháp đã kéo tới 2,250 binh sĩ với 25 khẩu đại bác, 4 tàu chiến dưới sự chỉ huy
của đại tá Metzinger. Cuộc tấn công của Pháp ngày 18 tháng 12/1886 bị đẩy lui.
Quân Pháp bao vây để tìm kiếm một chiến thuật mới. Sung sướng thay cho họ,
một sĩ quan trẻ, đại úy Joffre (sau này trở thành thống chế nổi tiếng của Pháp
trong đệ nhất Thế Chiến), đã nghĩ đến việc cầu sự trợ giúp của Trần Lục, cha xứ
Phát Diệm và là Phó Tướng đặc trách bình định các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà
Tịnh. Trần Lục, được giám mục Puginier ban phước lành, và mang 5000 giáo dân
Gia Tô đến giúp quân Pháp. Và Ba Đình bị thất thủ."
Từ những
tài liệu dẫn chứng ở trên, chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa là, nếu không có
những hành động nội ứng, tiếp tay với một mức độ đáng kể của tín đồ Gia Tô Việt
Nam thì chưa chắc Pháp đã lập nổi nền đô hộ ở Việt Nam trong gần 100 năm. Điều
này, chúng ta có thể thấy rõ ràng trong một văn kiện có tính cách khẳng định
sau đây của chính Giám mục Puginier, được trích dẫn trong cuốn Catholicisme et
Sociétes Asiatiques của Alain Forrest và Yoshiharu Tsuboi:
"Giám Mục Puginier viết rằng: "Không có các
thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo thì người Pháp cũng giống như những con cua đã
bị bẻ gẫy hết càng. Thí dụ như vậy, tuy tầm thường mộc mạc nhưng không kém phần
chính xác và mạnh mẽ. Thật vậy, không có các thừa sai và giáo dân Ki Tô Giáo,
người Pháp sẽ bị bao vây bởi toàn là kẻ thù; họ sẽ không thể tin cậy vào một ai;
họ sẽ chỉ nhận được những tin tức tình báo sai lầm, cung cấp với ác ý để phá
hoại tình thế của họ; họ sẽ bị đẩy vào tình trạng không thể hoạt động được gì
và sẽ phải hứng chịu những thảm họa thực sự một cách nhanh chóng. Địa vị của họ
ở đây sẽ không giữ nổi được nữa, và họ sẽ bị buộc phải rời khỏi xứ, nơi đây
quyền lợi và ngay cả sự hiện diện của họ sẽ bị nguy hại."
(Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit
Mgr. Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé
toutes les pattes. La comparaison, pour être triviale, ne manque pas de
justesse et de force. En effet, sans les missionnnaires et les chrétiens, les
Francais se verraient entourés d'ennemis; ils ne pouraient se fier à personne;
ils ne recevraient que de faux renseignements, méchamment donnés pour
compromettre leur situation; ils se trouveraient donc réduits à l'impossibilité
d'agir et seraient rapidement exposés à des vrais désastres. Leur position ici
ne serait plus tenable, et ils ne verraient forcés de quitter un pays où leurs
intérêts et leur existence même serait compromis.)
Trên đây
chỉ là vài tài liệu trong kho tàng tài liệu rất phong phú hiện hữu. Từ những
tài liệu trích dẫn trên chúng ta có thể thấy rõ nguyên nhân của việc cấm đạo
trong thế kỷ thứ 19 tại Việt Nam, tuyệt đối không phải vì lý do tôn giáo, không
phải vì những tín đồ Gia Tô Việt Nam theo một đạo mới, mà cũng chẳng phải vì
Vua, Chúa cùng các sĩ phu ganh ghét hay đố kỵ những thừa sai Gia Tô ngoại quốc
hay những kẻ tân tòng bản địa. Một số trí thức Gia Tô luôn luôn có luận điệu
cho rằng những người ngoại đạo ganh ghét hay đố kỵ Gia Tô La Mã Giáo. Thí dụ,
Linh mục Phan Phát Huồn, viết trong cuốn Việt Nam Giáo Sử với mục đích hạ
thấp những bậc xuất gia trong Phật Giáo như sau, trg. 220:
"Người
Công giáo lúc ấy lại được tự do hành đạo, nên nhiều người nghèo khó cũng như
giàu sang theo đạo công giáo. Phong trào theo đạo ấy đã làm cho các thày Sư
ghen tuông các linh mục, các thày xúi người lương ghét đạo."
Viết như
vậy Linh mục Phan Phát Huồn đã để lộ một tâm cảnh cuồng tín, tổng hợp của đần
độn và huênh hoang, phản ánh một kiến thức nghèo nàn về chính đạo của ông và lẽ
dĩ nhiên, một sự hiểu biết rất hạn hẹp về Phật Giáo.
Thật vậy,
nhận xét trên sẽ được chứng minh trong sự phân tích đại cương vấn đề để xem
Linh mục Huồn dùng từ "ghen tuông" có khớp không? Ghen tuông hay đố kỵ có nghĩa
là ghen ghét vì mình không bằng người ta, thèm muốn những cái người ta có mà
mình không có được. Vậy thì, người Phật tử, Tăng cũng như tục nói riêng, Phật
Giáo nói chung, đố kỵ người GiaTô hay GiaTô La Mã Giáo ở chỗ nào? Muốn xét về
một tôn giáo thì người ta thường xét đến tư cách của Giáo Chủ, giáo lý, thành
phần tín đồ, và những phúc lợi mà tôn giáo đó đã đem tới cho nhân loại.
Về tư cách
của giáo chủ thì chúng ta hãy đọc lời sau đây của Bertrand Russell, một thiên
tài toán học và triết lý, đã được giải thưởng Nobel năm 1950:
"Xét về trí tuệ hay đức hạnh tôi không thể
nào cho rằng Đức Ki-Tô cũng cao cả như vài người khác được biết trong lịch sử.
Tôi nghĩ rằng, về trí tuệ hay đức hạnh, tôi phải đặt Đức Phật và Socrates lên
trên Đức KiTô."
(I cannot
myself feel that either in the matter of wisdom or in the matter of virtue
Christ stands as high as some other people known to history - I think I should
put Buddha and Socrates above him in those respects.)
Nếu tôi đọc
những chuyện trong Thánh Kinh về cách Đức KiTô đối xử với cha mẹ, anh chị em, về
những lời nguyền rủa của Đức KiTô đối với những người không tin theo ngài là
sinh ra từ đồ rắn độc, dạy đệ tử mang họ ra giết ngay trước mặt ngài, và ngay cả
lời nguyền rủa một cây sung vô tri vô giác để cho nó chết héo queo chỉ vì cây
không ra trái lúc trái mùa để cho ngài sơi cho đỡ khát, và gọi một người đàn bà
không phải là dân Do Thái là chó khi bà này đến khẩn nài ngài chữa bệnh cho con
gái v...v..., thì tôi bắt buộc phải đặt Đức KiTô dưới hàng triệu người khác về
vấn đề đạo đức.
Vậy, về vấn
đề giáo chủ, có gì để Phật Giáo phải đố kỵ với GiaTô Giáo?
Về phương
diện giáo lý thì ai cũng biết giáo lý bắt nguồn từ kinh điển của mỗi tôn giáo.
Ki-Tô Giáo thì có cuốn Thánh Kinh gồm Cựu Ước và Tân Ước. Phật Giáo thì có
Thiên Kinh Vạn Quyển. Kinh điển Phật Giáo thì nhiều và rộng vô chừng nhưng tất
cả đều nhất quán, dẫn dắt con người bằng những con đường khác nhau nhưng cùng đi
tới mục đích tối hậu là giác ngộ qua sự tu tập bản thân bằng bi, trí, dũng. Đặc
biệt là trong kinh điển Phật Giáo ta không hề thấy những chuyện tàn ác, giết
chóc, dâm loạn v..v... Trái lại trong cuốn được gọi là Thánh Kinh thì đầy rẫy
những chuyện ác độc, vô luân, chiến tranh, chém giết, tàn sát tập thể và những
giáo lý mâu thuẫn cùng cực v..v.., như đã được trình bày trong Chương V, ngoài
những chuyện hoang đường “không thể tin được” của thời bán khai.
Vậy về vấn
đề giáo lý, có gì để Phật Giáo phải đố kỵ với GiaTô La Mã Giáo?
Về phương
diện hành trì giáo lý thì chúng ta đã biết lịch sử của GiaTô LaMã Giáo đã mang
tới bao nhiêu bất hạnh cho nhân loại qua 1000 năm của thời kỳ đen tối (Dark
Ages) ở Âu Châu với 9 cuộc Thánh Chiến, 400 năm của các tòa án xử dị giáo, và
mang tới cho các dân tộc ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh, Nam Mỹ, Á Châu qua chính
sách thực dân đế quốc, trong khi sự bành trướng của Phật Giáo trên thế giới
từ 25 thế kỷ trước, qua phương pháp truyền đạo hòa bình và chuyển hóa, không
hề làm đổ một giọt máu .
Vậy về
phương diện hành trì có gì Phật Giáo phải đố kỵ với GiaTô LaMã Giáo?
Về phương
diện tín đồ, theo nhận xét của Malachi Martin, nguyên giáo sư tại Viện Nghiên
Cứu Thánh Kinh ngay tại Vatican, trong cuốn The Keys of This Blood thì:
"Tự bao
giờ, Gia Tô Giáo chỉ nảy nở trong đám dân chúng nghèo khổ và ít học."
(Catholicism has always flourished only in poor population of low educational
quality)
Cùng một ý
tưởng, Adrian Pigott viết trong cuốn Freedom's Foe - The Vatican:
"Họ
(giáo dân) được nuôi nấng trong cái mà Tiến Sĩ Barnado gọi là "Bóng tối dày đặc
của ý thức hệ La Mã".. Thất học luôn luôn thịnh hành trong các nước theo Gia Tô
La Mã Giáo - nhờ đó mà tập đoàn linh mục có thể nảy nở"
(They have
been brought up in what Dr. Barnado called "The thick darkness of Romanism"..
Illiteracy is always prevalent in Romanist countries - to enable Priestcraft to
flourish.)
và Toàn
Quyền Đông Dương J. L. de Lanessan, cách đây hơn 100 năm, trong cuốn Les
Missions et leur Protectorat, trích dẫn bởi Patrick J. N. Tuck, cũng đưa ra
một nhận xét như sau:
"Thật
ra, trong hơn 2 thế kỷ mà các Hội Truyền Giáo Gia Tô hoạt động ở Trung Hoa và
bán đảo Đông Dương, có lẽ họ không cải đạo được quá 10 học giả. Toàn thể giới
cầm quyền có học của dân chúng đã tránh né sự truyền đạo của họ. Đại cương thì
các nhà truyền giáo chỉ tuyển mộ được tín đồ trong những giai cấp thấp nhất, và
phần lớn là những kẻ, vì lý do này hay lý do khác, đã bị xã hội An-Nam ruồng
bỏ."
(In fact
during the two centuries and more that the Catholic Missions have been operating
in China and the Indochinese peninsula they have probably not converted more
than ten scholars in all. The entire educated and governing class of the
population has evaded their proselytism. In general Catholic missionaries only
recruit from among the lowest classes, and mainly among those who, for various
reasons have been rejected by Annamese society.)
Vậy về
phương diện thành phần và khả năng hiểu biết của những tín đồ, Phật giáo có gì
mà phải ghen tuông với Gia Tô La Mã Giáo?
Phải chăng
những tín đồ Gia Tô chỉ nhắm mắt tin theo những lời tuyên truyền giả dối hoàn
toàn sai sự thực của Giáo hội, và Gia Tô La Mã Giáo quả nhiên đã chỉ nảy nở nơi
những người mà đầu óc không có bao nhiêu suy luận.
Chỉ còn một
điểm là quyền lực chính trị và tài sản của GiaTô La Mã giáo vượt xa Phật Giáo.
Nhưng đây chính lại là những sự phù du mà Phật Giáo không màng tới, không coi đó
là khuôn vàng thước ngọc để đo đạo đức và trí tuệ của con người. Thời quân chủ,
Vua có một địa vị tuyệt đối về quyền lực và của cải thế gian, nhưng Trần Thái
Tông, Trần Nhân Tông đã coi ngai vàng như đôi giép rách, bỏ vào chùa đi tu.
Quốc Sư Vạn Hạnh tham gia chánh sự nhưng không tham gia chánh quyền. Những
chuyện như vậy đầy rẫy trong lịch sử Phật Giáo thế giới.
Vậy có gì
để Phật Giáo phải đố kỵ Gia Tô La Mã Giáo về phương diện này. Ở đây, tôi không
muốn nhắc đến chuyện GiaTô Giáo đã làm những gì đối với quốc gia dân tộc so với
Phật Giáo.
Cho nên,
viết rằng Phật Giáo ganh ghét, đố kỵ GiaTô La Mã Giáo là viết ngược chiều, vì
những người được đào tạo từ cái lò Gia Tô Giáo có biết gì khác đâu ngoài những
lời "giáo hội dạy rằng" mà thực chất chỉ là những lời tuyên truyền sai sự thực
để gò ép những đầu óc kế thừa loại đầu óc Phê-rô phải nhắm mắt nhắm mũi mà tin,
không cần biết, không cần hiểu. Những loại đầu óc như vậy thì có gì để mà tự
hào? Cho nên, tôi nghĩ rằng các Thày Sư coi thường và tội nghiệp cho các linh
mục thì đúng hơn là ghen tuông.
Không coi
thường sao được khi mà ngay trong nước Pháp, một nước trước đây được coi như là
trưởng nữ của Giáo hội Gia Tô La Mã, Léon Gambetta, một chính trị gia lỗi lạc
của Pháp, trong cuộc hô hào đoàn kết quốc gia, đã phải hét lên một lời tuyên
chiến: "Đặc quyền của giới giáo sĩ, đó chính là kẻ thù" (Un cri de
guerre: Le Cléricalisme, voilà l'ennemi); và Émile Combes, một nghị sĩ đã phát
biểu giữa nghị trường Pháp: "Không phải là chúng ta đả kích tôn giáo mà là
những linh mục, những người muốn lợi dụng tôn giáo làm một công cụ thống trị"
(Ce n'est pas à la religion que nous nous attaquons, c'est à ses ministres, qui
veulent s'en faire un instrument de domination); và Jean Bossu, khi tranh đấu
cho nền dân chủ của Pháp đã tuyên bố: "Chống đặc quyền của giới giáo sĩ là
nền tảng căn bản của tinh thần dân chủ. Đối với chúng ta, đó chính là Giáo hội,
chính là Gia Tô Giáo mà từ trước tới nay luôn luôn đối nghịch với mọi thứ tự
do." (L'anti-cléricalisme est la base fondamentale de l'esprit
démocratique. Pour nous, le cléricalisme, c'est l'église, c'est le
Catholicisme, qui a toujours été l'adversaire de toute liberté); và nhà đại văn
hào Victor Hugo đã nhận định: "Nền văn minh , ánh sáng này, có thể bị tắt đi
bởi hai cách bị chìm đắm; hai sự xâm lăng làm phương hại đến nền văn minh này:
sự xâm lăng của các quân lính và sự xâm lăng của các linh mục. Sự xâm lăng của
quân lính đe dọa mẹ chúng ta: Tổ Quốc; sự xâm lăng của linh mục đe dọa con chúng
ta: Tương Lai" (La civilisation, cette lunière, peut être éteinte par deux
modes de submersion; deux invasions lui sont dangereuses, l'invasion des soldats
et l'invasion des prêtres. L'une menace notre mère: La Patrie; l'autre menace
nos enfants: l'Avenir.)
Chắc hẳn các
thừa sai Gia Tô Pháp, trong việc đào tạo các linh mục Việt Nam, không bao giờ
nhắc đến những câu nói thời danh đã đi vào lịch sử này, cho nên các linh mục bản
xứ vẫn tin tưởng là cái hình ảnh linh mục của mình là cao quý, đẹp đẽ lắm, ai
cũng phải hoặc kính trọng, hoặc ghen tuông, trong khi sự thật lại ngược hẳn.
Victor Hugo viết rằng: "Chỉ có hai tội phạm: César và Phê-rô (Peter).
César thì giết người (hủy diệt thân xác), Phê-rô thì nói láo (hủy
diệt tinh thần). Người Linh mục bị, hoặc có thể bị thuyết phục và thành
thật. Chúng ta có nên trách họ không? Không! Chúng ta có nên chống họ không?
Nên!" (Il n'y a que deux coupables: César et Pierre. César qui tue, Pierre
qui ment. Le prêtre est, ou peut être, convaincu et sincère. Doit-on le
blâmer? Non! Doit-on le combattre? Oui!)
Trong cuốn
sách này tôi sẽ không bàn tới vấn đề Gia Tô Giáo đã mang lại những bất hạnh như
thế nào cho dân tộc sau khi Pháp đặt nền đô hộ ở Việt Nam, trong thời kỳ
kháng chiến chống Pháp trở lại Việt Nam, và trong hai nền Việt Nam Cộng Hòa ở
miền Nam Việt Nam. Quý độc giả quan tâm đến những chi tiềt liên hệ tới những
giai đoạn lịch sử trên có thể tìm đọc những tác phẩm như Những Hoạt Động Của
Bọn Phản Động Đội Lốt Thiên Chúa Giáo Trong Thời Kỳ Kháng Chiến: 1945-1954
của Quang Toàn và Nguyễn Hoài, Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt
Nam của Cao Huy Thuần, Thập Giá và Lưỡi Gươm của Linh Mục Trần Tam
Tĩnh, Việt Nam Máu Lừa Quê Hương Tôi của Đỗ Mậu, Việt Nam Dệ Nhất Cộng
Hòa Toàn Thư: 1954-1963 của Nguyễn Mạnh Quang, Những Bí Ẩn Lịch Sử Dưới
Chế Độ Ngô Đình Diệm của Lê Trọng Văn, 9 Năm Máu Lửa Dưới Chế Độ
Gia-Đình-Trị Ngô Đình Diệm của Nguyệt Đam & Thần Phong, Đảng Cần Lao
của Chu Bằng Lĩnh v..v...
Tuy nhiên,
để cho cuốn sách tạm gọi là đầy đủ về nội dung, tôi xin trích dẫn sau đây hai
tài liệu chứng tỏ đường lối tiếp tay và làm nội ứng cho giặc ngoại xâm cùng hại
nước hại dân của Giáo hội Gia Tô Việt Nam không hề thay đổi cho tới khi nước nhà
thống nhất năm 1975.
Theo Linh
Mục Trần Tam Tĩnh trong cuốn Dieu et César thì:
"Cuối
năm 1945, Việt Nam giành lại được độc lập từ tay người Pháp, lòng yêu nước
của người Gia Tô VN bùng lóe lên với những cuộc biểu tình của hàng chục ngàn
giáo dân mang biểu ngữ và hô khẩu hiệu "Giáo Hoàng Muôn Năm", "Giáo Hội Việt
Nam của Người Việt Nam", "Việt Nam Độc Lập Muôn Năm" (Vive le Pape, L'Église Vietnamienne aux
Vietnamiens, Vive le Vietnam Indépendant.)
Nhưng rồi
Linh mục Tĩnh viết:
"Vậy, với các giám mục và linh mục dẫn đầu, tín
đồ Gia Tô muốn phá bỏ hình ảnh của một giáo hội đã cộng tác với quân xâm lăng,
một giáo hội phục vụ nước Pháp, một giáo hội đã sống ngoài lề sự tranh đấu cho
chủ quyền và tự do của dân tộc. Một trang sử đã lật qua nhưng khốn thay chẳng
được bao lâu"
(Ainsi,
avec les évêques et les prêtres en tête, les catholiques voulaient détruire
l'image d'une église collaboratrice avec les agresseurs, d'une église au service
de la France, d'une église qui avait vécu en marge d'un peuple en lutte pour sa
souvenaineté et sa liberté. Une page est tournée. Mais, malheureusement pas
pour longtemps.)
Tại sao?
Vì theo một sắc lệnh của Giáo Hoàng Pie XII ban hành ngày 1 tháng 7 năm 1949,
tuyên bố "tuyệt thông" bất cứ người nào cộng tác với Cộng sản, tuyên truyền cho
CS, đọc sách báo CS v...v.. nên giáo hội Gia Tô Việt Nam lại hợp tác với quân
đội Pháp, được Pháp trang bị vũ khí để lập những chiến khu "tự trị" như Bùi
Chu, Phát Diệm..., lại đứng ngoài lề công cuộc k |