Các bài trong tập này:
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12

Vài Cảnh Tra Tấn và Hành Hình
những người Dị Giáo
của Giáo Hội Công Giáo
"Thánh Thiện Tông Truyền"
CHƯƠNG III :
LỊCH SỬ 5 NÚI TỘI ÁC CỦA CA TÔ GIÁO RÔ MA
[CÔNG GIÁO LA MÃ]
ĐỐI VỚI NHÂN LOẠI
DẪN NHẬP :
1988: Peter de Rosa, một linh mục dòng Tên (a Jesuit), giáo
sư về Siêu Hình Học và Đạo Đức tại trường Dòng Westminster, khoa trưởng khoa
Thần học tại đại học Corpus Christi ở Luân Đôn (Professor of Metaphysics and
Ethics at Westminster Seminary and Dean of Theology at Corpus Christi College in
London) xuất bản cuốn Những Đại Diện của
Chúa Ki-Tô: Cái Mặt Đen Tối Của Những
Triều Chính Giáo Hoàng
(Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy) trong đó tác giả vạch trần cái
mặt đen tối đã ngự trị trong nhiều triều chính giáo hoàng như đồi bại, ngụy tạo
tài liệu, loạn dâm, giết người, theo đuổi chính sách diệt chủng v..v..
(corruption, document-forgery, sex scandal, murder, genocide). Tác giả đã mở
toang những cánh cửa kính màu (thường là mẫu mực trong các nhà thờ ở Tây phương,
nhất là Thánh đường Phê-rô ở Vatican. TCN) và để lộ ra những giáo điều của Giáo
hội thường là "...hình thành bởi những ham
muốn đồi bại, độc tài và cuồng tín của
những giáo hoàng” (de Rosa opens the
stained glass window and reveals that the Church's teachings were too often
"..shaped by the whims of corrupt, despotic and fanatical popes"). Cuốn sách đã
được nhiều tín đồ Ca-tô đánh giá cao vì tính chất lương thiện và nghiêm túc của
nó (The book was appreciated for its honesty and seriousness by many Catholics).
1994: Trong một mật thư gửi cho các
hồng y, về sau bị lộ ra cho báo chí Ý, giáo hoàng John Paul II đặt câu hỏi: "Làm sao mà chúng ta có thể
tiếp tục yên lặng trước nhiều hình thức bạo tàn mà giáo hội đã phạm phải nhân
danh đức tin - chiến tranh tôn giáo, những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo và những hình
thức vi phạm nhân quyền khác?" (Chicago Tribune, June 5, 1995: In a 1994
confidential letter to cardinals which was later leaked to the Italian Press,
Pope John Paul II asked: "How can one remain silent about the many forms of
violence perpetrated in the name of faith - wars of religion, tribunals of the
Inquisition and other forms of violations of the rights of persons?")
1995: Giáo hoàng John Paul II
thúc giục Giáo Hội Ca Tô Rô Ma hãy nắm lấy cơ hội "đặc biệt thuận lợi" của một
thiên niên kỷ mới để ghi nhận "cái mặt đen tối của lịch sử giáo hội (Ca-tô)" (Ibid.,: Pope John Paul II had urged
the Roman Catholic Church to seize the "particularly propitious" occasion of the
new millennium to recognize "the dark side of its history").
1995: Helen Ellerbe cho ra đời cuốn
"Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo" (The Dark Side of Christian History).
Chúng ta có thể đọc những lời tóm tắt sau đây nơi trang bìa sau:
"Trong khoảng thời gian gần 2000 năm, giáo hội Ki-Tô đã
đàn áp và bạo hành nhiều triệu người trong toan tính kiểm soát và ngăn chận vấn
đề tâm linh của con người.
Cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo phanh phui với
chi tiết tỉ mỉ những thảm họa, đau khổ và
bất công mà giáo hội đã giáng lên nhân loại. Tác phẩm vạch trần sự thật này là
một đòi hỏi hấp dẫn và nồng nhiệt cho nhân phẩm
và sự tự do trong vấn đề tâm linh" (Over a period of almost two millennia,
the Christian Church has oppressed and brutalized millions of individuals in an
attempt to control and contain spirituality. The Dark Side of Christian
History reveals in painstaking detail the tragedies, sorrows and injustices
inflicted upon humanity by the Church. This exposé is a compelling and
passionate cry for human dignity and spiritual freedom).
1999: Douglas Lockhart xuất bản tác phẩm
Cái Mặt Đen Tối Của Thượng Đế (The Dark Side of God) với lời giới thiệu
như sau:
"Giáo hội Ki-tô (Ca-tô) tự nhận là
thừa hưởng trực tiếp từ Giê-su quyền năng tinh thần như được viết trong Phúc
Âm. Nhưng thực ra có phải là một sự chuyển giao quyền lực một cách êm ả từ
Giê-su cho Phê-rô và từ Phê-rô cho Giáo hội hay không? Hay đó chỉ là một chiến
dịch tuyên truyền, ngụy tạo, và lừa dối lâu dài đã che đậy bản chất thực sự của
các biến cố. Cuốn sách mới,
có tác dụng làm cho chúng ta suy nghĩ, về nguồn gốc Ki Tô Giáo, đưa ra một họa
đồ về sự theo đuổi quyền lực không ngừng của Giáo hội , từ lúc đầu cho đến ngày
nay. Trong sự phân tích hấp dẫn và thường gây ngỡ ngàng về niềm tin trong Ki
Tô Giáo, cuốn sách này khảo sát từ đâu mà Giê-su, người xứ Nazareth, đã được thổi
phồng lên quá mức hoàn toàn xa với thực tế thường ngày."
(The Christian Church claims to inherit its spiritual authority directly
from Jesus through the teaching of the gospels. But was there really a smooth
transfer of power from Jesus to Peter and thence to the Church? Or has a
long-term campaign of propaganda, forgery and deception concealed the true
nature of events? This thought-provoking new book on the origins of
Christianity charts the Church's relentless pursuit of power, from its
beginnings to the present day. In a compelling and often disturbing analysis of
Christian belief, it examines how Jesus the Nazarene was inflated into a figure
of cosmic proportions far-removed from everyday reality...)
Từ nội dung những tác phẩm trên, không còn nghi ngờ gì nữa, các triều
chính giáo hoàng cũng như giáo hội Ca-tô quả thật có một lịch sử đen tối, và
ngay cả Thượng đế của họ cũng có cái mặt đen tối của mình.
Giáo hoàng John Paul II đã chính thức thú nhận lịch sử giáo hội Ca-tô
Rô-ma có một mặt đen tối, và lịch sử đó đã chứa không ít bạo tàn đối với nhân
loại dưới nhiều hình thức. Lẽ dĩ nhiên, tuyệt đại đa số tín đồ Ca-Tô giáo Rô-ma
không hề biết đến cái mặt đen tối này, nhất là những tín đồ Việt Nam thì lại
càng ít biết hơn nữa. Bởi vậy, có những tín đồ Ca-Tô Việt Nam vẫn tiếp tục ca
tụng trên báo chí, đài phát thanh ở hải ngoại rằng "hội thánh công giáo vẫn
luôn luôn thánh thiện, công giáo và tông truyền".
Với
kinh nghiệm 2000 năm lừa dối thế giới, với khả năng tài chánh vô tận, với những
phương tiện truyền thông rồi rào, và với một đoàn cán bộ trung kiên (hồng y,
tổng giám mục, đức ông, giám mục và linh mục), những người chuyên vận dụng khả
năng trí thức của mình để lôi kéo quần chúng thấp kém vào vòng nô lệ tâm linh,
giáo hội Ca-Tô Rô-ma đã thành công cấy vào đầu tín đồ những niềm tin như "giáo
hội là một "hội thánh" thánh thiện, công giáo và tông truyền", "giáo hội tiền
phong trong việc tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ, tự do", "giáo hội là hiện
thân của nền văn minh tốt đẹp Tây phương", "giáo hội mang hòa bình và sự hiểu
biết đến cho mọi dân tộc". Tất cả những điều tự nhận như trên của giáo hội
Ca-Tô Rô-ma đều chỉ là những sản phẩm tuyên truyền lừa dối đám tín đồ thấp kém,
vì lịch sử giáo hội đã chứng tỏ chúng hoàn toàn trái ngược với sự thực.
Sự
thực là như thế nào? Giáo Hội tuyệt đối không
phải là một "hội thánh" vì không có một hội thánh nào lại có thể gây ra nhiều
tội ác như “hội thánh Ca-Tô”. Giáo hội cũng chẳng có gì có thể gọi là "công
giáo" hay "tông truyền" vì tất cả đều trái ngược với những điều viết trong Thánh
kinh. Giáo hội là một định
chế tôn giáo độc tài sánh ngang với Hồi giáo, Do Thái giáo, do đó tuyệt đối
không có một ý niệm gì về dân chủ và tự do.
Giáo hội là một tổ chức không có một đóng góp nào đáng kể cho nền văn minh Tây
phương, trái lại trong suốt 2000 năm đã dùng mọi nỗ lực và thủ đoạn để ngăn chận
sự tiến bộ trí thức của nhân loại, đưa Tây phương vào một thời đại man rợ và
đen tối trí thức (the age
of barbarism and intellectual darkness) kéo dài hơn 1000 năm. Và sau cùng, Giáo
hội chưa hề mang hòa bình và sự hiểu biết đến bất cứ nơi nào trên thế giới.
Bất cứ giáo hội truyền đạo đến đâu là ở đó xảy ra chiến tranh, hận thù, và
chia rẽ, và các tín đồ bị lùa vào cảnh nô lệ tâm linh, ngu dân dễ trị. Tất cả những sự thực này sẽ được chứng
minh trong những chương tới.
Lời
thú nhận của giáo hoàng John Paul II ở trên là bằng chứng hùng hồn nhất để phủ
bác những điều tự nhận của giáo hội. Chỉ tội nghiệp cho đám con chiên thấp kém
ở dưới đã bị mê hoặc bởi bộ mặt giả dối của giáo hội và những hứa hẹn hoang
đường giáo hội đưa ra, đám người xấu số vì thiếu hiểu biết cho nên cam tâm tình
nguyện làm cái đáy của một kim-tự-tháp, để cho một số người vô hạnh ngồi trên
chóp đỉnh, ngự trị trên đầu trên cổ.
Đến
đây, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của từ "thấp kém" hay "ngu đần" (ignorant) mà
các học giả Tây phương thường dùng. Thấp kém và
ngu đần ở đây không hẳn chỉ có nghĩa là ít học hay vô học, mà còn có nghĩa không
dứt bỏ được những tín lý đã không còn giá trị, không biết đến những diễn biến
ngay chính trong nội bộ giáo hội, và không theo kịp sự tiến bộ trí thức của nhân
loại về vấn đề tôn giáo, bất kể là bằng cấp ngoài đời cao như thế nào, thuộc
ngành nào. Phật giáo cũng có
một từ tương đương, "Ngu si vô tri'", không chỉ có nghĩa là ít học hay vô học,
mà còn là không nhìn được vạn pháp như chúng là như vậy (to see things as they
really are) cho nên nhận giả làm chân.
Vì
không biết đến sự thực lịch sử của giáo hội, không biết đến thực chất đạo đức
của giới chăn dắt con chiên, từ giáo hoàng trở xuống tới các linh mục, và vì đã
bị cấy vào đầu óc từ nhỏ những điều "giáo hội dạy rằng", và nhất là đã được nhào
nặn và đóng khuôn trong giáo điều phải "quên mình trong vâng phục" cho nên những
tín đồ Ca-Tô Việt Nam luôn luôn có quan niệm rằng mọi điều trái ngược với những
lời "giáo hội dạy rằng" đều thuộc loại "chống Ca-Tô", bắt nguồn từ sự "thù ghét
Ca-Tô" v..v.. mà không bao giờ nghĩ ra rằng, chính cái lịch sử ô nhục của Ca-Tô
giáo Rô-ma đã "chống Ca-tô" hơn ai hết. Họ cũng không tự đặt cho mình một câu
hỏi: "Nếu giáo hội Ca-Tô thực sự thánh thiện, tông truyền" thì tại sao người ta
lại phải thù ghét hay chống giáo hội. Ở trên cõi đời này, có ai lại đi chống
những cái gì thánh thiện, tốt lành bao giờ. Người ta chỉ chống những cái xấu
cái ác không phù hợp với những tiêu chuẩn luân lý đạo đức xã hội, thí dụ như
những tổ chức như Mafia hay những tổ chức băng đảng tôn giáo đồng loại. Họ cũng
không hề biết rằng, tuyệt đại đa số những tác phẩm mà họ cho là thuộc loại
"chống Ca-Tô" lại do chính những tác giả ở trong giáo hội gồm từ các hồng y trở
xuống, và do những tín đồ Ki-Tô Giáo ở trong môi trường đại học Âu Mỹ như giáo
sư đại học, chuyên gia về tôn giáo v..v.. viết, những bậc trí thức lương thiện,
không thể bán rẻ lương tâm để rao truyền những điều mê tín, phi lý trí, phản
khoa học, ngược thời đại v..v.. Họ đưa ra những sự thực lịch sử của giáo hội
không có nghĩa là họ chống tôn giáo của họ, mà chỉ có mục đích khai sáng tâm trí
người dân để cho họ biết rõ đâu là sự thực, nhất là khi những sự thực này đã
được chính giáo hoàng và giáo hội thú nhận. Cho nên, thật ra các tín đồ Ca-Tô
cần phải cám ơn những người đã giúp họ tìm hiểu sự thực, kéo họ ra khỏi vòng u
mê tăm tối, vòng nô lệ tâm linh, và những giáo điều đã hạ thấp họ xuống hàng súc
vật (con chiên), bảo đâu nghe đó, của một số người tự ban cho mình những thần
quyền hoang đường để hưởng những quyền lợi thế tục trên đám tín đồ thấp kém.
Chương này được viết ra không ngoài mục đích trình bày cùng độc giả cái bộ mặt
đen tối của lịch sử giáo hội Ca-tô, một bộ mặt mà các giới chức cao cấp nhất
trong Ca-tô giáo Rô-ma như giáo hoàng, hồng y.. đều đã biết rõ, và đã thú nhận,
nhưng tuyệt đại đa số tín đồ thấp kém ở dưới vẫn không hề biết đến, vì giáo hội
luôn luôn dùng đủ mọi cách để bưng bít, dấu kín những sự thực lịch sử của giáo
hội, đồng thời dùng bộ máy tuyên truyền đưa ra cái bộ mặt "thánh thiện" không hề
có của giáo hội. Sự hiểu biết đầy đủ về mọi
khía cạnh lịch sử của giáo hội là một điều cần thiết trong thời đại này. Tuy nhiên, tôi cần phải nói trước rằng,
không ai có thể viết ra đầy đủ chi tiết cái lịch sử đen tối của Ki-tô giáo trải
dài suốt 2000 năm nay trong một cuốn sách. Cho nên, cuốn sách này chỉ thâu tóm
những nét chính của bộ mặt đen tối của lịch sử Ki-tô giáo, đặc biệt là lịch sử
Ca-tô giáo Rô-ma, hệ phái Ki-tô giáo ở vị thế độc tôn từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 16,
thời điểm có cuộc cải cách của hệ phái Ki Tô phản đối định chế Ca-tô giáo
(Protestant reformation).
Ki Tô Giáo luôn luôn thổi phồng lên quá mức và quảng cáo cho cái bộ mặt
"thánh thiện" của mình, thường là không đúng sự thật. Tôi nghĩ, trong thời đại
này, mọi Ki-tô hữu (Christians) cũng như mọi người ngoại đạo cần phải biết thêm
đến cái mặt chính, cái mặt đen tối của lịch sử Ki-Tô giáo, để có thể quyết định
cho chính mình một con đường tâm linh sáng suốt và hữu ích cho bản thân và cho
nhân loại.
Như đã viết ở trên, Học giả Ca Tô Joseph L. Daleiden đã
tóm tắt lịch sử truyền bá đạo Ca Tô Rô Ma qua nhận định như sau trong cuốn
The Final Superstition:
"Nói
tóm lại, những bằng chứng tràn ngập cho thấy sự truyền bá Ki Tô Giáo trong thế giới
xưa và nay phần lớn dựa vào sự cưỡng bách, bạo hành và đàn áp. Xuyên suốt lịch sử, từ những cuộc diệt trừ những
người lạc đạo ngay từ thuở ban đầu của Giáo hội, cho tới những cuộc thánh chiến,
những tòa án xử dị giáo, sự trấn áp những nền văn hóa khác trên khắp thế
giới, Ki Tô Giáo đã
chứng tỏ những tiêu chuẩn có tính cách hủy diệt và chống loài người của tôn giáo
này."
(In summary, the evidence is overwhelming that the
propagation of Christianity in both the Old World and the New was due in large
measure to coercion, persecution and suppression. Throughout its history, from
the earliest purges of heretics, through the crusades, the Inquisition, and
repression of other cultures throughout the world, Christianity has demonstrated
its destructive antihuman values.)
Nhận định trên đúng hay sai? Phải chăng đó chỉ là những
lời vô căn cứ của một người "chống đạo Ca Tô", một "kẻ thù của giáo hội"
v...v... như giáo hội thường lên án những người viết ra những sự thật về Ca Tô
Giáo RôMa? Hi vọng những chi tiết sau đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề.
Đại cương thì, đọc lịch sử GiaTô LaMã Giáo, chúng ta
thấy rằng trong suốt gần 2000 năm nay, tôn giáo này chưa bao giờ hòa hợp với bất
cứ một tôn giáo nào khác, kể cả những tôn giáo cùng thờ một Chúa KiTô. Khi ở vị thế có thể nắm quyền thế gian thì tôn giáo này đã làm đủ mọi
cách, dùng mọi quyền lực và thủ đoạn, thường là bất nhân tàn ác, để bành trướng
bằng sắt máu, tiêu diệt các tôn giáo khác. Đi tới địa phương nào, tôn giáo
này cũng tự cho mình là chân thật duy nhất, cao quý nhất, trong khi thực chất
chỉ là một tôn giáo đầy mê tín dị đoan, thấp kém về vấn đề đạo đức, luôn luôn áp
dụng sách lược phỉ báng các tôn giáo và truyền thống dân tộc địa phương cũng
như tìm cách tiêu diệt các nền văn hóa địa phương để thay vào đó bằng một nền
văn hóa hẹp hòi, tàn độc của CaTô giáo Tây phương. Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy, giáo sĩ Alexandre de
Rhodes, khi tới Việt Nam truyền đạo, đã xuyên tạc, mạ lỵ cả ba tôn giáo lớn ở
Việt Nam là Phật Giáo, Khổng Giáo, và Lão Giáo, gọi đức Phật, Khổng Tử bằng
những danh từ thiếu văn hóa. (Xin đọc "Phép Giảng 8 Ngày..." của Alexandre de
Rhodes). Lịch sử Ca Tô Giáo Rô Ma cho chúng ta thấy giáo hội Ca Tô Rô Ma đã
phạm nhiều tội ác trong quá trình bành trướng và truyền bá đạo. Những tội ác
này, theo sự phân tích của đa số học giả ngày nay, là những vết nhơ không thể
gột sạch được trong lịch sử Ca Tô Giáo Rô Ma, dù gần đây Giáo hội đã cố
gắng đánh lạc hướng dư luận thế giới bằng những chiêu bài hữu danh vô thực như
tranh đấu cho tự do, bình đẳng, nhân quyền, và xưng thú 7 núi tội lỗi cùng nhân
loại v..v.. để thế giới quên đi không nghĩ tới cái lịch sử đen tối của Ca Tô
Giáo. Sau đây tôi sẽ lược duyệt năm tội ác chính của Ca Tô Giáo đối với nhân
loại.
3.1.
NÚI TỘI ÁC THỨ NHẤT CỦA CÔNG
GIÁO:
NGĂN CHẬN SỰ TIẾN BỘ TRÍ THỨC
CỦA NHÂN LOẠI.
“Giáo hội Công giáo đã có những tác động tàn phá trên
xã hội. Khi Giáo
hội nắm được vai trò lãnh đạo, hoạt động trong những ngành y khoa, kỹ thuật,
khoa học, giáo dục, lịch sử, nghệ thuật và thương mại đều sụp đổ. Âu Châu đi vào những Thời Đại Hắc Ám. Tuy Giáo hội vơ
vét được một tài sản to lớn trong những thế kỷ đó, hầu hết những gì định nghĩa
cho văn minh đã biến mất.”
(Helen Ellerbe, The Dark Side of Christian History,
p. 50: The [Catholic] Church had devastating impact upon society. As the Church
assumed leadership, activity in the fields of medicine, technology, science,
education, history, art and commerce all but collapsed. Europe entered the Dark
Ages. Although the Church amassed immense wealth during these centuries, most
of what defines civilization disappeared.)
Nhận định của Helen Ellerbe không sai nếu chúng ta biết
đến chủ trương của Giáo hội Công Giáo qua những hành động ngăn chận sự tiến bộ
trí thức của nhân loại như:
- Giữ độc quyền giáo dục với chính sách làm cho nhân dân ngu muội, tối tăm.
- Đốt
sách vở ghi chép những kiến thức cổ xưa của nhân loại.
-
Ngụy tạo và viết lại lịch sử với mục đích chứng thực đức tin của Công Giáo.
- Hủy
diệt các nền văn hóa phi Ki-Tô.
Trước khi đi vào chi tiết những điểm trên, tưởng chúng ta
cũng nên biết chút ít về xuất xứ của Công Giáo. Khởi đầu, Công Giáo chỉ là một
hệ phái trong nhiều hệ phái theo nhân vật Do Thái mà họ gọi là Giê-su Ki Tô.
Trong mấy thế kỷ đầu, Công Giáo càng ngày càng có nhiều tín đồ, không phải vì
những giáo lý dạy về luân lý đạo đức, mà vì sự khao khát một cuộc sống tốt đẹp
hơn trong một đời sau của tuyệt đại đa số người dân cơ cực thời bấy giờ. Vào
thời điểm hạ bán thế kỷ I, hầu hết dân chúng sống trong vùng thống trị của đế
quốc La Mã là những người nghèo khổ, nô lệ, ít học hay vô học. Họ sống trong
tuyệt vọng, không còn có thể trông ngóng được gì trong cuộc sống trên cõi đời
của họ. Có nhiều tôn giáo phát triển trong quần chúng nhưng họ chỉ muốn một tôn
giáo mang đến cho họ sự an ủi và hi vọng. Công Giáo khai thác sự khao khát này
và hứa hẹn cùng họ một cuộc sống tốt đẹp hơn trên Thiên Đường sau khi chết, nếu
họ tin vào Chúa Giê su, theo giáo thuyết của Thánh Phao Lồ. Đây là một niềm hi
vọng và an ủi lớn đối với họ cũng như của đa số tín đồ Công Giáo ngày nay đang
sống ở Phi Châu, Nam Mỹ, Phi Luật Tân và một vài vùng ở Việt Nam v...v..., nhất
là trong những ốc đảo nghèo khổ (Hobley, p. 17: Most people in the empire were
poor, enslaved and unhappy. Many religions had spread among them but the people
wanted one which gave them comfort and hope. Christianity provided this for it
promised its believers a happy life in heaven after death. So Christianity
grew.)
Các hệ phái khác cùng theo Chúa Giê su , nhưng thường
không có đồng quan điểm với những tín điều, những sự kiện lịch sử, vai trò và
khả năng của Chúa Giê su, thần quyền của Giáo Hoàng và hàng Giáo phẩm Công Giáo
v..v... mà Giáo hội Công Giáo La Mã đưa ra. Điển hình là phái Tự Ngộ Ki Tô
(Gnostic Christianity) theo chủ thuyết tự chứng, đạt giải thoát qua kiến thức và
sự hiểu biết sâu xa về thực tại, cùng kinh nghiệm tu chứng bản thân. Tên phái
này lấy từ gốc Hi Lạp, Gnosis, có nghĩa là kiến thức (knowledge) thâu thập được
do nội quán. Từ thập niên 1980 tới nay đã có nhiều công cuộc khảo cứu về hệ
phái Tự Ngộ Ki Tô.
Hệ phái Tự Ngộ đã chê trách "những người (trong Công Giáo
) tự xưng là Giám Mục và Trợ Tế, làm như họ đã được Thượng đế ban quyền cho..."
và gọi những người tự xưng một cách trơ tráo này là "những con kênh không có
nước." (The Christian sect known as the Gnostics chided those who "call
themselves bishops and also deacons, as if they had received their authority
from God..." and called those who made such audacious claims "waterless canals."
, (Joseph L. Daleiden, Ibid., trg. 52)).
Nhưng hiển nhiên là chủ thuyết Tự Ngộ theo con đường vận
dụng sự hiểu biết không thích ứng đối với lớp dân chúng thấp kém, ít học, hay vô
học, cho nên hệ phái này không phát triển được sâu rộng trong quần chúng. Hệ
phái Tự Ngộ này bị giáo hội tự phong là chính thống Ki Tô (nghĩa là Công Giáo La
mã cho tới thế kỷ 16), kết án là lạc đạo hay dị giáo (heretic), vì không chịu
mù lòa tin bướng tin càn như những người Công Giáo. Và khi giáo hội Công
Giáo liên kết với, hoặc nắm được, quyền lực thế gian, thì tìm cách tiêu diệt hệ
phái này và tất cả những tín ngưỡng không thuận theo chủ trương làm cho dân
chúng ngu đần, tối tăm của Công Giáo.
Chủ thuyết của hệ phái Tự Ngộ Ki Tô đối nghịch với những
giáo lý ngụy tạo của Công Giáo và phủ nhận quyền lực của giới giáo sĩ cho nên
thật là dễ hiểu khi ta thấy Công Giáo La Mã Giáo đã phải tìm đủ mọi cách để tiêu
diệt hệ phái Ki Tô này. Có 3 lý do chính để Giáo hội Công Giáo thù ghét hệ
phái Tự Ngộ.
Thứ nhất, hệ phái Tự Ngộ chủ trương sự tự chứng là cứu
cánh chung cùng của con người. Biết rõ bản thân có nghĩa là biết rõ Thượng đế
vì "cái ngã và Thượng đế là một" . Vì con đường đi tới tự chứng căn bản là qua
phương pháp nội quán cho nên hệ phái Tự Ngộ không chấp nhận một niềm tin mù
quáng, điều kiện cần để được giải thoát, theo thuyết rao giảng bởi Thánh Phao
Lồ. Hệ phái Tự Ngộ cho rằng
"tin vào các bí tích là lối suy
nghĩ ngây thơ và ma thuật"
(Faith in the sacraments shows naive
and magical thinking) và cũng cho rằng
"ý tưởng về Chúa trở lại cõi trần là vô nghĩa" (They thought the idea of the Second Coming of Christ
was nonsense..). Những niềm tin này của phái Tự Ngộ là một sự đe dọa đối với
hàng Giáo phẩm Công giáo vì chúng trái ngược với những giáo lý mà hàng Giáo Phẩm
Công giáo đưa ra, và hoàn toàn phủ bác vai trò độc nhất nắm trong tay chân lý,
và giữ độc quyền ban phát ân sủng cho tín đồ, của hàng Giáo phẩm Công giáo.
Thứ nhì, theo Phúc Âm của Philip (The Gospel of Philip)
thì Chúa Giê-su chỉ là một người như mọi người thường. Trong Phúc Âm này
có đoạn mô tả tính người của Chúa như sau:
"Người luôn luôn đi bên Chúa là Mary Magdalene. Chúa
yêu thương nàng hơn tất cả các đệ tử khác và thường hôn môi nàng. Các đệ tử
khác lấy làm phật ý về việc này..."
(The companion of the Savior is Mary Magdalene. But
Christ loved her more than all the disciples and used to kiss her often on her
mouth. The rest of the disciples were offended...)
Một khi đã phủ nhận tư cách thần thánh của Giê su, hệ
phái Tự Ngộ phủ nhận luôn cả chuyện Đức Mẹ Đồng Trinh và chuyện Chúa sống lại
và bay lên trời, nghĩa là những tín lý căn bản của Công Giáo.
Thứ ba, hệ phái Tự Ngộ chủ trương con người thì bình đẳng
và thường mời giới phụ nữ giảng đạo với tư cách của một linh mục. Trái lại,
trong Công Giáo, theo những bức thư tông đồ của Thánh Phao Lồ thì phụ nữ bị liệt
xuống hạng thấp kém so với nam giới, và Giáo hội Công Giáo vẫn duy trì sự kỳ
thị này cho tới ngày nay. Giáo Hoàng John Paul II ra sắc lệnh khẳng định việc
cấm tấn phong phụ nữ làm linh mục, và Giáo hoàng đương nhiệm, Benedict XVI, vẫn
duy trì sắc lệnh này. Trong kinh Trí Tuệ của Đức Tin (Faith Wisdom) của phái Tự
Ngộ có ghi Mary Magdalene, người yêu của Chúa Giê-su, phàn nàn như sau:
"Phê-rô làm tôi ngần ngại, tôi sợ hắn, vì hắn ghét phái nữ" (The author of
the Gnostic text Faith Wisdom has Mary Magdalene complain, "Peter makes me
hesitate, I am afraid of him, because he hates the female race.")
Nói tóm lại, vì phủ nhận những chuyện hoang đường trong
Thánh Kinh như Đức Mẹ Đồng Trinh, vai trò thần thánh của Giê su, vai trò cứu rỗi
của Giê su, chuyện Giê su sống lại và bay lên trời, và nhất là phủ nhận quyền
lực thần thánh tự phong của hàng Giáo phẩm Công Giáo, bác bỏ một đức tin mù
quáng, và chủ trương con người bình đẳng, mà hệ phái Tự Ngộ bị Giáo hội Công
Giáo tiêu diệt.
Đúng như Helen Ellerbe đã nhận định ở trên, khi đại đế
Constantine trong thế kỷ 4 theo Ki Tô Giáo và lập Ki Tô Giáo làm quốc giáo thì
tôn giáo này nắm được địa vị và quyền hành tuyệt đối trên thế gian. Và từ đó
Công Giáo đã phát triển, và với một định chế độc tài về tư tưởng và tín ngưỡng,
giáo hội Công Giáo đã đưa Âu Châu vào trong những thời đại “hắc ám” (The Dark
Ages), kéo dài suốt 1000 năm, từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 15. Thời gian mười thế kỷ
này đã được các học giả, kể cả một số học giả Công Giáo, công nhận là "thời đại
Hắc Ám" (Dark Ages), đó chính là
"thời đại của sự man rợ và đen
tối trí thức" (The ages of barbarism and intellectual darkness; (Grolier
Electronic Publishing 1997)). Sở dĩ thời đại này có tên như vậy vì dựa vào
quyền lực thế gian, giáo hội Công giáo đã giữ độc quyền giáo dục quần chúng, áp
đặt sự ngu xuẩn, đen tối trí thức và bạo hành của giáo hội trên quần chúng ở Âu
Châu, như chúng ta sẽ thấy trong phần sau đây.
I. Về Văn Hóa:
Chủ
trương tiêu diệt tất cả những tín ngưỡng khác của Công Giáo giáo bắt đầu bằng
một chính sách man rợ và phản tiến hóa nhất của nhân loại: cấm mọi thảo luận
triết lý trong dân gian; đốt tất cả mọi sách vở, sử liệu, chứng tích lịch sử
liên hệ đến các tín ngưỡng khác và liên hệ đến những sự thật về KiTô giáo và
nhân vật Giê-Su; và thay thế vào đó cái ý hệ độc tôn "man rợ và đen tối trí
thức" của Công Giáo Giáo bằng những tư liệu ngụy tạo, những giáo điều dựa trên
quyền lực v...v...
Về sự kiện này, trong cuốn "Những dối trá và huyền
thoại của Thánh Kinh" ("Deceptions and Myths of the Bible", trg. 444)
LLoyd M. Graham đã viết như sau:
"Sự hủy
diệt mọi chứng tích về phái Tự Ngộ và những nguồn tài liệu về đa thần
là "việc làm đầu tiên" của KiTô giáo. Chính các nhà truyền giáo đã khởi sự, ở
Antioch, như được nói đến trong sách "Công Vụ các Sứ đồ" (Acts).. Do lệnh của
giáo hội Công Giáo La Mã, tất cả
kinh sách của những người ủng hộ phái Tự Ngộ đều bị đốt, cũng như 36 cuốn của
Porphyry (Porphyry là một triết gia (232-305) chủ trương triết lý là phương
tiện giải thoát và nhấn mạnh đến lối tu khổ hạnh để tinh khiết hóa con người;
TCN). Giáo hoàng Gregory VII đốt thư viện Apollo chứa đầy kiến thức cổ xưa.
Hoàng đế Theodosius đốt sạch 270000 tài liệu về học phái huyền bí vì những tài
liệu này chứa những căn bản giáo lý của ngũ Kinh.
Sự hủy
diệt văn hóa này vẫn tiếp tục sau khi những nhà lập giáo đã qua đời; những tín
đồ cuồng tín mà họ đào tạo ra tiếp tục công việc này: đoàn Thập tự quân đốt tất
cả sách vở mà họ có thể kiếm ra được, kể cả những cuộn nguyên bản Thánh thư Do
Thái. Năm 1233 những tác phẩm của Maimonides
(một
triết gia Do Thái xuất sắc, 1135-1204; TCN) bị đốt đi cùng với 12000 cuốn
của Kinh Talmud
(Thánh
kinh của Do Thái Giáo. TCN). Năm 1244, 18000
cuốn sách đủ mọi loại bị hủy. Theo Draper, Hồng Y Ximenes đã đốt 80000 bản văn
của Ả Rập ở công trường Granada. Ở Tân Thế Giới, toàn bộ kiến thức cổ xưa
bị những người KiTô Tây Ba Nha phá hủy cùng với đền đài chứa đựng những kiến
thức này.
Sau khi đã
phá hủy mọi chứng tích, những nhà lập giáo KiTô đầu tiên đã có thể thay thế
những kiến thức cổ xưa này bằng những điều vô nghĩa của họ. Và để chứng minh
những điều vô nghĩa này, họ đã thay đổi lời lẽ và gài vào đó những câu không có
trong những nguyên bản... Về cùng một chủ đề này, Massey viết như sau: "Trong
bốn thế kỷ đầu, họ đã hủy bỏ những tài liệu quan trọng nhất về mọi sự hiểu biết
trung thực về nguồn gốc thực của sự mê tín trong KiTô giáo. Những huyền thoại
được viết và in ra như là lịch sử nhân loại, mọi tư tưởng khác đều bị dẹp bỏ hay
cưỡng bách phải chấp nhận sự gian dối"...
Theo giáo
lý của họ thì "máu của Chúa KiTô đã rửa sạch tội lỗi của thế giới," nhưng tội
lỗi vẫn còn với chúng ta ngày nay. Cái mà thực sự bị rửa sạch chính là sự lành
mạnh của thế giới. Với thời gian, giáo lý của họ đã làm tâm thức Tây phương mê
mẩn đến nỗi Agibard ở Lyons phải viết như sau: "Cái thế giới bất hạnh này nằm
dưới sự chuyên chế điên rồ, những điều mà người KiTô tin, thực ra là những điều
vô nghĩa đến độ từ xưa tới nay không ai có thể làm cho người ngoại đạo tin
được". Nếu độc giả không tin và muốn có một thí dụ thì chúng tôi xin cống
hiến một chuyện trong KiTô giáo về Thánh John trong phúc âm. Theo lịch sử các
Thánh thì John, khi đã rất già, làm cho hoàng đế Domitian giận. Để trừng phạt
John, Domitian sai người ném John vào một cái vạc chứa dầu và nhựa thông. Và
khi người ta châm lửa, dầu bắt đầu sôi thì đám đông ở ngoài nghe một
tiếng hát trong ngọn lửa. Khi vạc dầu sôi cạn hết thì John vẫn còn
sống và không hề hấn gì. Jerome, Eusebius, Tertullan, tất cả đều kể lại
cái phép lạ này và những điều hoang đường trong đó. Và nay, nếu những tín đồ
KiTô xuất sắc có thể tin được sự vô lý này thì họ có thể tin bất cứ cái gì, ngay
cả Thánh Kinh."
1
Trong cuốn “Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo” (The Dark Side of
Christian History), Helen Ellerbe cũng viết, trang 46, 48:
Khi Giáo hội [Công Giáo] nắm thêm quyền lực, người Ki-Tô [Công Giáo]
đã đóng cửa các trung tâm giáo dục và đốt sách vở cũng như toàn thể các thư
viện. Giáo hội đốt một số rất lớn những tài liệu văn học. Năm 391, người Công
Giáo thiêu rụi một trong những thư viện lớn nhất hoàn cầu ở Alexandria. được
biết là chứa 700000 tác phẩm. Tất cả những sách của hệ phái Tự Ngộ, 36 cuốn của
Porphyry, những tác phẩm của 27 học phái huyền bí, và 270000 tài liệu cổ xưa thu
thập bởi Ptolemy Philadelphus đều bị đốt sạch. Giáo dục cho người ở ngoài Giáo
hội bị cấm. Những trung tâm giáo dục cổ xưa đều bị đóng cửa.
Giáo hội chống học văn phạm và tiếng La-Tinh. Giáo hoàng Gregory I chống học
văn phạm, ông ta còn lên án giáo dục nào không phải là giáo dục cho giới giáo sĩ
là điên rồ và xấu xa. Ông ta cấm tín đồ không được đọc Kinh Thánh, ra lệnh đốt
thư viện Palatine Apollo để những văn học thế tục không làm lãng trí tín đồ
trong việc chiêm ngưỡng thiên đường.
Sau nhiều năm các tín đồ Công giáo đi phá hủy sách vở và thư viện, Thánh John
Chrysostom, Giáo Phụ nổi tiếng của Giáo hội, hãnh diện tuyên bố, “Mọi dấu vết về
văn học và triết lý cổ của thời trước đã biến mất khỏi mặt trái đất.”
2
Sau
đây là một tài liệu khác về một số những hành động của giáo hội Công Giáo khi
giáo hội nắm được quyền lực thế gian (Joseph D. Daleiden, The Final
Superstition, trg. 60):
"Không có
một trích dẫn thống kê đơn thuần nào có thể nói lên vô lượng những sự ác ôn mà
giáo hội Công Giáo LaMã đã làm nhân
danh Thượng đế. Từ khi mà các triều đại giáo hoàng cấu kết quyền lực với chính
quyền trong thế kỷ 5 cho tới công cuộc Phục Hưng, cái áo vô minh và mê tín đã
phủ lên Âu Châu. Ánh sáng tự do đã tắt ngấm, Dân La Mã cổ xưa (không phải
là dân La Mã dưới quyền thống trị của Giáo hội Công Giáo. TCN) đã có những
thư viện chứa 500000 cuốn sách, thời kỳ từ năm 500 tới năm 1000 ở Âu Châu dưới
quyền lực KiTô không có một thư viện nào có được hơn 600 cuốn sách. Sự tiến bộ
khoa học, đặc biệt là về y học, hoàn toàn ngưng trệ. Văn hóa con người thoái
hóa đến mức tàn bạo.
Thật là mỉa
mai, chính những cuộc Thánh chiến chống dân Hồi giáo đã rọi một tia sáng trí
thức qua cái mờ tối của vô minh và mê tín. Không như những dân KiTô tìm cách
tiêu diệt mọi kiến thức không hợp với thần thuyết của họ, những người theo Hồi
giáo đã gìn giữ trí tuệ của dân Hi Lạp cổ xưa. Hơn nữa, họ đã có nhiều tiến bộ
đáng kể về toán học, triết học, và khoa học. Khi những thập tự quân của Giáo
hội Công Giáo La Mã trở về từ miền Đông họ đã mang về cùng với những chiến lợi
phẩm những hạt giống kiến thức mà sau này đưa đến công cuộc Phục Hưng. Song
song với hàng đống những đồ cướp đoạt được và những thánh tích giả mạo,
những thập tự quân cũng mang về theo nghệ thuật và văn học của cổ Hi Lạp. Những
tác phẩm của các triết gia Hi Lạp mà giáo hội Công Giáo La Mã đã dẹp đi
từ nhiều thế kỷ trước, nay lại xuất hiện. Một vài triết gia như Plato và
Aristotle được đưa vào trong giáo thuyết của giáo hội. Thật vậy, những tác phẩm
của Thomas Aquinas, đặc biệt là những chứng minh về sự hiện hữu của Thượng đế,
căn bản là của Aristotle được sửa lại thành mới. Nhưng quan trọng hơn là, về
sau này, triết lý nhân bản của Hi Lạp đã nảy nở trong đầu óc của những người đau
lòng mà nhận ra sự vô ích của những suy đoán thần học cùng sự xấu ác của những
tín điều mà giáo hoàng đưa ra. Kết quả là, chính cái nền tảng trí thức và độc
tài về đạo đức của Giáo hội bắt đầu lung lay." 3
Và Robert G. Ingersoll đã nhận định như sau (Ingersoll:
The Magnificent, Lewis, trg. 125):
"Khi Ki
Tô Giáo có được quyền lực thì tôn giáo này phá hủy mọi tượng thần mà nó có
thể đặt những bàn tay vô minh của nó lên trên. Nó hủy hoại và xóa bỏ mọi họa
phẩm, phá hủy mọi công sự đẹp đẽ, đốt sạch những tác phẩm Hi Lạp và La Tinh,
triệt tiêu mọi lịch sử, thơ phú, triết lý và thiêu rụi mọi thư viện mà nó có thể
đốt được. Kết quả là, màn đêm Trung Cổ đã phủ lên nhân loại. Nhưng vì tình cờ,
vì may mắn, vì bỏ sót, một vài tác phẩm đã thoát được sự ác liệt của cuồng nhiệt
tôn giáo, và những tác phẩm này trở thành cái nhân mà quả của nó là nền văn minh
của chúng ta ngày nay."
4
Những
tài liệu ở trên chứng tỏ Giáo hội Công Giáo, ngay từ đầu, đã theo đuổi chính
sách làm cho người dân ngu muội, tối tăm, để dễ bề kiểm soát đầu óc của đám tín
đồ thấp kém. Và chính sách này được kéo dài cho đến ngày nay. Giáo hoàng đương
nhiệm, Benedict XVI, nguyên là Hồng Y Thiết Giáp Ratzinger, đứng đầu Bộ Tín Lý
và Đức Tin của Công Giáo, đã cấm đoán hoặc cất chức những nhà thần học nổi tiếng
trên thế giới như Teilhart de Chardin, Edward Schillebeeckx, Hans Kung, Charles
E. Curran, Raymond Hunthausen, Uta Ranke-Heinemann v..v..., và nhất là những
nhà thần học trong phong trào Thần Học Giải Phóng, chủ trương phục vụ con người
thay vì phục vụ Thiên Chúa [thực ra là phục vụ Giáo hoàng], điển hình như
Leonardo Boff, Gustavo Gutíerez, Juan Luis Segundo v..v.. , cấm họ không được
viết sách hay dạy học trong những trường học Công Giáo, vì những người trên đã
có những ý kiến không phù hợp với những điều ngu dốt cũa “giáo hội dạy rằng…”,
và riêng trong cộng động giáo dân Việt Nam thì các Cha đều cấm đoán tín đồ đọc
những sách vở viết lên những sự thật lịch sử về giáo hội Công Giáo, đặc biệt là
những sách do Giao Điểm xuất bản, bằng những lời đe dọa thuộc thời bán khai đã
mất thời gian tính như dọa Chúa sẽ đọa đầy xuống hỏa ngục hay bị Giáo hội tuyệt
thông, không cho hiệp thông với Chúa để hưởng một cái bánh vẽ trên trời sau khi
chết. Ratzinger cấm thì cứ cấm, những nhà thần học nổi danh như Hans
Kung, Uta Ranke-Heinemann, Leonardo Boff v..v.. thản nhiên không coi sự cấm
đoán của Ratzinger vào đâu, vẫn tiếp tục dạy học và viết sách, vì trong thời đại
này, giáo hội không còn khả năng để đưa họ lên dàn hỏa nữa.
Đó là những gì Công Giáo đã làm với mục đích tiêu diệt
văn hóa của các tôn giáo, tín ngưỡng nào không phù hợp với những giáo điều và
niềm tin của Công Giáo. Nhưng, cũng như Tần Thủy Hoàng ở bên Trung Quốc,
không thể nào đốt hết được sách vở của thiên hạ, Giáo hội Công Giáo, dù đã
dùng mọi nỗ lực để hủy diệt những chứng tích lịch sử của các hệ phái Kitô khác
cũng không có cách nào thành công hoàn toàn. Do đó, vẫn có những tài liệu còn
sót lại, và ngày nay người ta đã tìm thấy nhiều tài liệu cổ xưa về sự thực của
KiTô giáo và con người thực của Giê-Su. Những tài liệu mới tìm thấy của phái Tự
Ngộ về Giê-su cho ta một cái nhìn khác hẳn về con người của Giê-su, một người
thường như mọi người khác, không có những đức tính thần thánh hay khả năng làm
phép lạ như những nhà lập giáo Công Giáo đã quảng bá.
Năm 1945, một người dân thường ở Ai Cập đã tình cờ đào
thấy ở Nag Hammadi, miền thượng Ai Cập, một cái chĩnh trong có chứa 52 bản kinh
văn của hệ phái Tự Ngộ. Nội dung các bản kinh văn này làm các nhà lãnh đạo Ki
Tô Giáo nói chung hoảng hốt và tìm cách ngăn chặn sự phổ biến những tài liệu
này. Cho tới hơn 30 năm sau các học giả mới có cơ hội tìm hiểu các bản kinh văn
này. Sở dĩ như vậy là vì, theo Elaine Pagels, giáo sư sử tại đại học Columbia,
Hoa Kỳ, tác giả tác phẩm nghiên cứu nổi tiếng Phúc Âm của phái Tự Ngộ (The
Gnostic Gospels,) những bản kinh văn này chứa nhiều thông tin về Ki Tô Giáo và
con người của Giê su đối ngược với những thuyết lý thần học của Ki Tô
Giáo nói chung, Công Giáo nói riêng:
Những bản
kinh văn này của hệ phái Tự Ngộ mô tả nhiều nhân vật và biến cố trong Tân
Ước, nhưng trên một quan điểm khác hẳn. Chúng chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng,
giáo hội Ki Tô, ngay từ đầu đã bị phân hóa sâu rộng chứ không thống nhất như
chúng ta thường tin; rằng nhiều tín đồ của Chúa Ki Tô không đồng thuận về những
sự kiện trong đời sống của Giê su, về ý nghĩa những lời giảng dạy của Giê su,
hoặc về hình thức của giáo hội. Trong những bản kinh văn như Phúc Âm của Philip
và Phúc Âm của Thomas, Thomas được mô tả là em song sinh của Giê su, chúng ta
biết rằng một số tín đồ của hệ phái Tự Ngộ phủ nhận chuyện Giê su sống lại và bổ
nhiệm Phê-rô làm người kế vị; và nhiều tín đồ chất vấn về quyền hành của các
linh mục, tin rằng tư cách thần thánh là ở trong con người, con đường giải thoát
là con đường Tự Ngộ, và rằng, những bản kinh văn trên bắt buộc chúng ta phải xét
lại tận gốc quan điểm truyền thống về nguồn gốc và ý nghĩa của Ki Tô Giáo
5
Sau đây chúng ta sẽ đi vào thêm một số chi tiết về sự ngu
xuẩn của Giáo hội Công Giáo đã tác hại trên nhân loại như thế nào.
II. Về Y Học:
Năm 540, bệnh dịch phát khởi ở Âu Châu làm chết khoảng
10000 người mỗi ngày. Dân chúng hoảng sợ, kéo vào nhà thờ, tin tưởng sẽ được
Chúa cứu cho khỏi chết. Giáo hội giảng cho con chiên rằng: “Bệnh dịch là một
thiên tai do Thượng đế [của Công Giáo] gây ra (an act of God) và
là sự trừng phạt của Thượng đế về tội quần chúng không theo luật của Thượng đế”
[thật ra chỉ là luật của những bộ óc giáo sĩ thuộc thời bán khai đặt ra]. Trước
sự bất lực của nền y học phôi thai thời bấy giờ để đối phó với bệnh dịch, Giáo
hội tuyên bố là y học của Hi Lạp và La Mã là của bọn dị giáo (heretics) và quyết
định Giáo hội phải nắm giữ và áp dụng nền y học của Giáo hội trên quần chúng.
Phương pháp chữa mọi bệnh của Giáo hội vào những thế kỷ 5 và 6 là “lể máu”
(bleeding) trên một số điểm trong số 22 điểm trên cơ thể con người. Giáo hội
dạy rằng lể để làm cho chảy máu có thể ngăn chận sự làm độc mất quân bình (toxic
imbalance) trong cơ thể, ngăn chận sự ham muốn tình dục, và hồi phục lòng yêu
đời. Cho đến thế kỷ 16, phương pháp chữa bệnh này của Giáo hội đã làm chết
nhiều chục ngàn người mỗi năm. Khi bệnh nhân chết vì chảy máu, Giáo hội giải
thích là vì không chịu lể máu sớm hơn hoặc làm máu chảy chưa đủ. Giáo hội còn
dạy tín đồ phải coi rẻ mọi khía cạnh về thể xác con người, do đó không khuyến
khích tín đồ về vấn đề giữ vệ sinh cá nhân hay tắm rửa. Kết quả là bệnh tật lan
tràn khắp nơi. Trong nhiều trăm năm, thành thị và làng mạc đều bị tàn phá bởi
các bệnh truyền nhiễm, kết quả sự ngu dốt của Giáo hội về y học, và áp đặt sự
ngu dốt đó trên quần chúng.
III. Về Khoa Học:
Chính sách đốt sách vở, văn học cổ, và đàn áp sự theo
đuổi trí thức của nhân loại, đúng như Joseph D. Daleiden đã nhận định ở trên là
“Sự tiến bộ khoa học, đặc biệt là về y học, hoàn toàn ngưng trệ. Văn hóa con
người thoái hóa đến mức tàn bạo.”
Thật vậy, ngay từ thế kỷ 6 Trước Tây Lịch (TTL) hay trước thời đại thông thường
ngày nay (B.C.E. =Before Common Era), Pythagore đã có ý tưởng là Trái đất quay
xung quanh mặt trời. Đến thế kỷ 3 Trước Tây Lịch, Aristarchus đã đưa ra thuyết
mặt trời làm trung tâm vũ trụ (heliocentric theory) và Eratosthene đã đo được
chu vi của trái đất. Đến thế kỷ 2 Trước Tây Lịch, Hipparchus đã biết đến Kinh
Tuyến và Vĩ Tuyến của Trái Đất và tính được độ xiên của quỷ đạo hình ellip của
Trái đất. Nhưng khi Giáo hội Công Giáo nắm được quyền thế trên thế gian, và như
chúng ta đã biết, đưa Âu Châu vào Thời Đại Tối Tăm 1000 năm, thì nhân loại phải
chờ đến thế kỷ 16 mới có được Copernicus lập lại thuyết trái đất quay xung quanh
mặt trời. Khi Galileo, trong thế kỷ 17, chứng thực thuyết trái đất quay xung
quanh mặt trời thì ông ta bị Tòa Án Đạo xử dị giáo bắt ông ta phải rút lại lập
luận và giam ông ta tại nhà cho đến khi chết. 359 năm sau, Tòa Thánh dưới triều
John Paul II mới công khai thú nhận là Giáo hội đã sai lầm trong vụ xử Galileo.
Trí tuệ các bậc Thánh trong giáo hội có thể biểu hiện điển hình trong lời phán
của Thánh Augustine, tác giả nền thần học căn bản của Công Giáo:
Không thể có người ở phía bên kia của trái đất, vì
trong những hậu duệ của Adam, không có sắc dân nào được ghi trong Thánh Kinh
(It is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth,
since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam.)
Lẽ dĩ nhiên, Việt Nam là một sắc dân ở phía bên kia của
trái đất, không liên hệ gì tới Adam ở trong Thánh Kinh của Ki Tô Giáo, cho nên
dù Adam có sa ngã theo thuyết hoang đường của Ki Tô Giáo, thì người Việt Nam
cũng chẳng liên quan gì đến cái tội tổ tông của người Do Thái, và do đó chẳng
cần gì đến sự cứu rỗi của một người Do Thái có tên là Giê-su. Những tín đồ Công
Giáo Việt Nam đã bị kéo vào một niềm tin lừa bịp của nền thần học Ki Tô Giáo.
Họ cũng nên biết rằng Giê-su đã coi nhưng người không phải là Do Thái là đồ chó,
chỉ xứng đáng ăn những mảnh bánh vụn rơi vãi trên mặt đất. Tôi khuyên họ hãy
đọc kỹ đoạn Matthew 15: 21-28 trong Tân ước.
Trên đây là tóm tắt núi tội ác thứ nhất của Công Giáo đối
với nhân loại. Sách lược tiêu diệt nền văn hóa của các tôn giáo hoặc tín ngưỡng
khác đã được các Giáo hội Ki Tô, đặc biệt là Công Giáo La Mã, tiếp tục thi hành
một cách tàn bạo khi Ki Tô Giáo liên kết với những lực lượng thực dân đi xâm
chiếm các nước ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh, Á Đông và ngay cả ở Mỹ châu. Ki Tô
Giáo đã thành công trong sách lược này ở khắp nơi nhưng hoàn toàn thất bại ở Á
Đông, trừ nước Phi Luật Tân. Tại sao, vì khi văn hóa Ki-Tô đụng phải những nền
văn hóa cao hơn ở Á Đông như Phật Giáo, Khổng Giáo, Ấn Độ Giáo thì Ki Tô Giáo
không thể thành công, dù có liên kết với chế độ thực dân như ở Việt Nam. Chủ đề
này sẽ được khảo luận trong một bài khác.
______________________________________________
1.
The destruction of all evidence of Christianity's gnostic and pagan source was
"the first work." It was the evangelists themselves who started it, in Antioch,
as stated in Acts... By order of the Church the books of the Gnostic Basilides
were burned, likewise Porphyry's thirty-six volumes. Pope Gregory VII burned the
Apollo library filled with ancient lore. Emperor Theodosius had 27,000 schools
of the Mysteries paprus rolls burned because they, contained the doctrinal basis
of the Gospels.
Nor did the destruction end with the Founders; the
fanatics they made carried on the work: the Crusaders burned all the books they
could find, including original Hebrew scrolls. ln 1233 the works of Maimonides
were burned along with twelve thousand volumes of the Talmud. In
1244 eighteen thousand books of various kind were destroyed. According to
Draper, Cardinal Ximenes "delivered to the flames in the square of Granada
eighty thousand Arabic manuscripts." On finding similar lore in the
New World, the Spanish Christians destroyed it and the temples that
contained it.
All evidence of source destroyed, the Christian Fathers
coulld now substitute their own absurdities. And to substantiate them they
altered words and inserted verses that did not exist in the original
texts... On this same subject Massey wrote thus: "..They had almost reduced
the first four centuries to silence on all matters of the most vital importance
for any proper understanding of the true origins of the Christian superstition.
The mythos having been at last published as a human history, everything else was
suppressed or forced to support the fraud."
According to their teaching "the blood of Christ
washed away the sins of the world," still with us. What it actually washed away
was the sanity of the world. In due time its doctrines so bedeviled the Western
mind that Agobard of Lyons wrote thus "The wretched world lies now under the
tyranny of foolishness; things are believed by Christians of such absurdity as
no on ever could aforetime induce the heathen to believe." Should the skeptical
reader wish a sample, we offer another tale of Christian martyrdom, this time
about the precursor of the curse, lohn of the Gospels. According to the saints,
John, when very old, incurred the anger of the Emperor Domitian. To punish
him, the latter had this holy man thrown into a caldron of oil and resin. A
fire was lit, and when the liquid began to boil the jeering crowd heard a voice
singing in the flames - the Christian Shadrach, etc. When the caldron boiled
dry, there was John still alive and quite unharmed. Jerome, Eusebius,
Tertullian all relate this miracle and practically all hagiographies contain it.
And now if these eminent Christians could believe this absurdity, they could
believe anything even the Gospels.
2. As
the Church grew more powerful, Christians closed academies and burned books as
well as whole libraries. The Church burned enormous amounts of literature. In
391 Christians burned down one of the world’s greatest libraries in Alexandria,
daid to have housed 700000 rolls. All the books of the Gnostic Basilides,
Porphyry’s 36 volumes, papyrus rolls of 27 schools of the Mysteries, and 270000
ancient documents gathered by Ptolemy Philadelphus were burned. Ancient
academies of learning were closed. Education for anyone outside the Church came
to an end.
The
Church opposed the study of grammar and Latin. Pope Gregory I objected to
grammatical study. He also condemned education for all but the clergy as folly
and wickedness. He forbade laymen to read even the Bible. He had the library
of the Palatine Apollo burned “lest its secular literature distract the faithful
from the contemplation of heaven.
After Christians had spent years destroying books and libraries, St. John
Chrysostom, the preeminent Greek Father of the Church, proudly declared, “Every
trace of the old philosophy and literature of the ancient world had vanished
from the face of the earth.
3.
No mere recitation of statistics can convey
the immeasurable evil that the Roman Catholic Church dispensed in God's name.
From the time that the papacy cemented its power with the state in the
fifth century until the Renaissance, the cloak of ignorance and superstition
was draped over Europe. The light of freedom was extinguished. It is no longer
fashionable to call them the Dark Ages, but indeed they were. The
ancient Romans had libraries of 500,000 volumes, there was not a library of over
600 volumes in Christian Europe the period 500 to 1000. Scientific advance,
especially in medicine, came to a screeching halt. Human culture regressed to a
more brutal level.
Ironically, it was the initiation of the Crusades
against the Muslims that shed a ray of intellectual light through the gloom of
ignorance and primitive superstitions. Unlike the Christians who sought to
destroy all knowledge that contradicted their theology, the Muslims had
preserved the wisdom of the ancient Greeks. Moreover, they had made significant
advances in Mathematics, philosophy, and science. When the Crusaders returned
from the East they brought with their spoils of war the seeds of knowledge
which, eventually, gave birth to the Renaissance. Along with the pile of
plundered Eastern artifacts and phony relics, the Crusaders also brought back
the art and literature of ancient Greece. The writings of the Greek
philosophers, which the Church had suppressed centuries before, reappeared. Some
of the philosophers such as Plato and Aristotle were accornmodated in Church
doctrine. Indeed, the writings of Thomas Aquinas, especially his demonstrations
for the existence of God, were basically a rehash of Aristotle. But more
importantly in the long run, Greek humanistic philosophy found fertile ground in
the minds of those who were painfully aware of the futility of theological
speculation and the evil of papal dogmatism. As a result, the very foundation
of the Church's intellectual and moral despotism would begin to shake.
4. When Christianity came in power it destroyed every statue
it could lay its ignorant hands upon. It defaced and obliterated every
painting; it destroyed every beautiful building; it burned the manuscripts, both
Greek and Latin; it destroyed all the history, all the poetry, all the
philosophy it could find, and reduced to ashes every library that it could reach
with its torch. And the result was, that the night of the Middle Ages fell
upon the human race. But by accident, by chance, by oversight, a few of the
manuscripts escaped the fury of religious zeal; and these manuscripts became
the seed, the fruit of which is our civilization today.
5.
These gnostic writings describe many of the
people and events found in the New Testament, but from a strikingly different
perspective. They show us that the early church, far from the unified body
we have assumed it to be, was deeply split from the beginning; that many
followers of Christ were not in agreement on the facts of his life, the meanings
of his teachings, or the form the church should take. From such texts as the
Gospel of Philip and the Gospel of Thomas, in which the apostle appears as
Jesus' twin, we learn that some gnostic Christians denied that Christ returned
in the flesh and appointed Peter his successor; that many gnostics
challenged priestly authority and believe instead in the presence of the divine
within the human; that the way to salvation was through self-knowledge...how
these extraordinary texts compel us to reconsider profoundly the traditional
view of the origins and meanings of Christianity.
3.2. NÚI TỘI ÁC THỨ HAI CỦA
CÔNG GIÁO:
NHỮNG CUỘC THẬP ÁC CHINH MANG
TÊN “THÁNH CHIẾN”
Theo đúng những lời dạy trong Kinh Thánh, Cuốn Từ Điển Bách Khoa của
Công Giáo (The Catholic Encyclopedia) định nghĩa các cuộc Thập Ác Chinh là
những cuộc chiến tranh để theo đuổi một lời nguyện, và nhắm vào những kẻ
không tin, nghĩa là, những người Hồi Giáo, người ngoại giáo, dị giáo, và những
kẻ bị tuyệt thông (lạc đạo hay rối đạo) [Crusades: wars undertaken in pursuance of a vow, and
directed against infidels, i.e. against Mohammedans, pagans, heretics, or those
under the ban of excommunication.]
Thật vậy, tất cả nguồn gốc và những sắc thái của những cuộc Thập Ác Chinh
(Crusades) mà người Công giáo gọi là “thánh chiến” (Holy wars) do Công giáo phát
động, kéo dài nhiều thế kỷ, máu đổ thành sông, xương chất thành núi, với hàng
triệu sinh mạng già trẻ lớn bé vô tội, có thể thấy rõ qua vài câu trích dẫn sau
đây từ cuốn “Thánh Kinh” của Ki Tô Giáo:
PHẢI TUYỆT ĐỐI TUÂN HÀNH CÁC ĐIỀU
RĂN, LUẬT LỆ CỦA THƯỢNG ĐẾ... KHI ĐỨC CHÚA TRỜI DẪN CÁC NGƯƠI VÀO VÙNG ĐẤT MÀ
CÁC NGƯƠI SẼ CHIẾM HỮU..CÁC NGƯƠI PHẢI TẬN DIỆT HỌ, KHÔNG ĐƯỢC LẬP GIAO ƯỚC,
KHÔNG ĐƯỢC THƯƠNG XÓT... KHÔNG ĐƯỢC GẢ CON GÁI MÌNH CHO CON TRAI HỌ, HOẶC CƯỚI
CON GÁI HỌ CHO CON TRAI MÌNH VÌ HỌ SẼ DỤ CON CÁI CÁC NGƯƠI THỜ CÚNG CÁC THẦN CỦA
HỌ MÀ BỎ CHÚA HẰNG HỮU.. CÁC NGƯƠI PHẢI ĐỐI XỬ VỚI HỌ NHƯ SAU: PHẢI PHÁ HỦY
NHỮNG BÀN THỜ CỦA HỌ, PHẢI ĐẬP PHÁ NHỮNG CỘT TRỤ THIÊNG LIÊNG CỦA HỌ, ĐẬP NÁT
NHỮNG HÌNH TƯỢNG BẰNG GỖ, ĐỐT SẠCH CÁC TƯỢNG CHẠM CỦA HỌ..
THƯỢNG ĐẾ (PHỤC TRUYỀN 6:17; 7:1-5)
LÚC KÉO QUÂN ĐẾN TẤN CÔNG MỘT THÀNH
NÀO, NẾU THIÊN CHÚA CHO CÁC NGƯƠI HẠ ĐƯỢC THÀNH ĐÓ, PHẢI GIẾT HẾT ĐÀN ÔNG TRONG
THÀNH, NHƯNG BẮT GIỮ ĐÀN BÀ, TRẺ CON, SÚC VẬT, VÀ CHIẾM GIỮ CÁC CHIẾN LỢI
PHẨM...BÊN TRONG LÃNH THỔ CHÚA BAN CHO, PHẢI DIỆT HẾT MỌI SINH VẬT. PHẢI TẬN
DIỆT DÂN HÊ-TÍT, A-MO, CA-NA-AN, PHÊ-RẾT, HÊ-VÍT VÀ GIÊ-BU NHƯ CHÚA ĐÃ TRUYỀN
DẠY. NHƯ VẬY HỌ KHÔNG CÒN SỐNG ĐỂ DỤ DỖ ĐỒNG BÀO HỌ LÀM TỘI ÁC, THỜ CÚNG THẦN
CỦA HỌ MÀ MANG TỘI VỚI CHÚA.
THƯỢNG ĐẾ (PHỤC TRUYỀN 20: 12-18)
HÃY MANG NHỮNG KẺ THÙ CỦA TA RA
ĐÂY, NHỮNG NGƯỜI KHÔNG MUỐN TA NGỰ TRỊ HỌ, VÀ GIẾT CHÚNG NGAY TRƯỚC MẶT TA.
GIÊ-SU (LƯU–CA: 19:27)
ĐỪNG TƯỞNG RẰNG TA XUỐNG TRẦN ĐỂ
MANG LẠI HÒA BÌNH TRÊN TRÁI ĐẤT. TA KHÔNG XUỐNG ĐÂY ĐỂ MANG LẠI HÒA BÌNH MÀ LÀ
GƯƠM GIÁO. VÌ TA XUỐNG ĐÂY ĐỂ LÀM CHO CON CHỐNG LẠI CHA, CON GÁI CHỐNG LẠI MẸ,
CON DÂU CHỐNG LẠI MẸ CHỒNG, VÀ KẺ THÙ CỦA CON NGƯỜI Ở NGAY TRONG NHÀ HẮN.
GIÊ-SU (MÃ-THI-Ơ: 10: 34-36)
Những câu trích dẫn ở trên, và nhiều câu khác cũng như nhiều chuyện
trong Thánh Kinh, đã là căn bản, không những chỉ cho sách lược truyền đạo của
Công giáo, điển hình là ở Việt Nam, cho những cuộc Thập Ác Chinh, mà còn cho cả
7 núi tội ác của giáo hội Công giáo mà giáo hoàng John Paul II cùng một số phụ
tá cao cấp trong tòa Thánh, trong đó có Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, về sau
được phong Hồng Y, đã công khai xưng thú với nhân loại ngày 12 tháng 3, 2000 tại
thánh đường Phê-rô.
Học
giả Công giáo Joseph L. Daleiden đã tóm tắt lịch sử truyền bá đạo Công giáo qua
nhận định như sau trong cuốn The Final Superstition:
"Nói tóm lại, những bằng chứng tràn ngập cho thấy sự
truyền bá Ki Tô Giáo trong thế giới xưa và nay phần lớn dựa vào sự cưỡng bách,
bạo hành và đàn áp. Xuyên suốt lịch sử, từ những cuộc diệt trừ những người dị
giáo (hay lạc đạo) ngay từ thuở ban đầu của Giáo hội, cho tới những cuộc Thập Ác
Chinh, những tòa án đạo xử dị giáo, sự trấn áp những nền văn hóa khác trên
khắp thế giới, Ki Tô Giáo [Công giáo] đã chứng tỏ những tiêu chuẩn có
tính cách hủy diệt và chống loài người của tôn giáo này." 1
Riêng về những cuộc Thập Ác Chinh, trước hết tưởng
chúng ta cũng nên biết vài nhận định tổng quát về những cuộc chiến tranh tôn
giáo (religious wars) đã được giáo hội khoác cho nhãn hiệu “thánh chiến” (holy
wars).
Trong cuốn Những Sự Khủng Khiếp Mang Nhãn Hiệu Thánh: Một Lịch Sử Minh Họa Về
Sự Chém Giết Và Điên Rồ Tôn Giáo (Holy Horrors: An Illustrated History Of
Religious Murder And Madness), tác giả James A. Haught, Chủ Biên tờ Charleston
Gazette, đã viết như sau, trang 14, 19:
“Khi tôn giáo (Công giáo)
nắm toàn quyền ở Âu Châu, nó đã tạo
nên một thiên sử thi tắm máu của những cuộc Thập Ác Chinh, những phòng tra tấn
của Tòa Án Đạo xử dị giáo, tận diệt hàng loạt những người “lạc đạo” hay “dị
giáo”, hàng trăm cuộc tàn sát người Do Thái, và 300 năm thiêu sống phù thủy.
“Thời Đại Của Đức Tin” là một thời đại chém giết mang nhãn hiệu thánh. Khi tôn giáo (Công Giáo) dần dần không còn kiểm soát được đời
sống hàng ngày của người dân nữa, quan niệm về nhân quyền và tự do cá nhân đã
mọc rễ.
...Trong thực tế, những cuộc Thập Ác Chinh là một cơn ác
mộng thật ghê tởm với những cuộc tàn sát, hiếp dâm, cướp bóc, hỗn loạn – trộn
lẫn với niềm tin vào ảo thuật.”
2
Trong cuốn Các Cuộc Thập Ác Chinh (The
Crusades), sử gia Henry Treece viết trong phần mở đầu:
"Nhưng khi chúng ta đọc nhiều hơn về
các cuộc Thập Ác Chinh thì cái hình ảnh (mà Giáo hội Công giáo đưa ra
và ngày nay các tác giả Công giáo Việt Nam nhắc lại như những con vẹt) trở
thành nhơ nhuốc; sự nghiên cứu (về các cuộc Thập Ác Chinh) khó mà có thể
đưa ra sự thực mà chúng ta đã từng hi vọng. Chúng ta thấy các cuộc Thập Ác
Chinh và các Thập ác quân khác với những điều chúng ta thường tưởng tượng
(theo như lời Giáo hội tuyên truyền), và rút cuộc chúng ta phải đồng ý
với đoạn tổng kết của bậc thầy chúng ta, Ngài Steven Runcinan , trong cuốn
Vương Quốc Nghĩa Trang: "Đức Tin không có trí tuệ thì thật là nguy hiểm..
Trong tương quan ảnh hưởng và hòa đồng giữa Đông và Tây liên tục và lâu dài, từ
đó nền văn minh của chúng ta đã phát triển, những cuộc Thập Ác Chinh là
một thời kỳ bi thảm và hủy diệt.. Đã có quá nhiều sự dũng cảm nhưng lại quá ít
vinh dự, đã có quá nhiều lòng sùng tín nhưng lại quá ít hiểu biết. Những lý
tưởng cao đẹp đã bị nhơ bẩn bởi sự độc ác và tham lam, hành động táo bạo và sự
chịu đựng bắt nguồn từ lòng tin mù quáng và
hẹp hòi tự cho mình là đúng; và chính cuộc Thập Ác Chinh cũng không gì
khác hơn là một hành động kéo dài của sự bất khoan nhượng nhân danh Chúa”
3
Và trong cuốn Những Vị Thần Cuối Cùng Của Huyền
Thoại: Gia-Vê và Giê-su (Mythology’s Last Gods: Yahweh and Jesus) Tiến sĩ
William Harwood đã viết, trang 156:
“Triết lý của Phục Truyền Luật Lệ Ký,
giết những
người tin vào các huyền thoại khác trừ huyền thoại của chính mình để bảo vệ các
tín đồ trước những đạo khác là một hành động của Thiên Chúa và đáng tán thưởng,
trong thời đại Trung Cổ đã được thực thi theo một kết luận hợp lý bởi những tín
đồ Ki Tô
(Công Giáo), những người trong vài thế kỷ, đã thẳng tay tàn sát từ 30 đến 50
triệu kẻ thù của Thiên Chúa trong những biến cố như Thập Ác Chinh, tòa án đạo xử
dị giáo, cuộc chiến 30 năm, và những trường hợp tàn bạo khác.”
4
Vậy, rõ ràng là những tội ác của Công giáo La Mã bắt
nguồn từ Thánh Kinh. Nhưng những luật lệ độc ác của Chúa Cha (Thần Gia-vê) cũng
như Chúa Con (Giê-su) trong Thánh Kinh không không đủ, vì giáo dân chẳng có mấy
người đọc thánh kinh, nhất là tuyệt đại đa số giáo dân trong thời Trung Cổ thuộc
loại thấp kém, vô học, mà còn phải cộng thêm với chính sách nhồi sọ mê hoặc của
giáo hội về chủ trương độc thần, về những huyền thoại như tội tổ tông, vai trò
cứu thế của Giê-su, giáo hoàng là đại diện của Chúa trên trần, huyền thoại về
miền đất Thánh v..v.. đưa đến sự cuồng tín, tin nhảm tin nhí của đám tín đồ thấp
kém, Công Giáo mới có thể phát động được những cuộc Thập Ác Chinh trong thời
Trung Cổ, cũng như phạm những núi tội ác khác trong suốt dòng lịch sử gần 2000
năm. Chứng minh?
Trước hết, tại sao các Thập Ác quân (crusaders) lại bỏ
nhà bỏ cửa, bỏ vợ con, bỏ ruộng đất, vườn tược để đi thiêu thân trong các cuộc
thánh chiến, đối diện với những cuộc hành trình gian khổ, bệnh tật, đói khát
v..v..? Chúng ta có thể đọc vài giải thích sau đây.
Trong cuốn Sử Lược (The Outline of History,
Vol. 2, Garden City Books, New York, 1956), sử gia H. G. Wells viết như sau,
trang 540:
“Trong thời đại ngu si đã có một sự sẵn
sàng kỳ lạ tin rằng giới linh mục Công Giáo là thông thái và thánh thiện. Tương đối giới linh mục khá hơn và khôn ngoan hơn trong thời đó
[đối với
quần chúng, nhưng ngày nay thì khác, giới linh mục là giới kém hiểu biết nhất
trong những giới trí thức].
Khởi đầu của các cuộc Thập Ác Chinh cho ta hình ảnh của
toàn thể Âu Châu bị bão hòa bởi một Ki Tô Giáo
[ý nói tập thể giáo dân Công giáo] ngây thơ, sẵn sàng tin cậy và đơn
giản tuân theo sự chỉ đạo của giáo hoàng.” 5
Trong cuốn Năm Thế Kỷ Của Các Cuộc Thánh Chiến: Những
Cuộc Thập Ác Chinh (Five
Centuries of Holy Wars: The Crusades, Malcolm Billings, Sterling Publishing Co.,
Inc., New York, 1996), Jonathan Riley-Smith viết trong Lời Mở Đầu, trang 12:
“Tại sao họ
(thập ác quân)
ra đi? Họ sống trong một xã hội rất khác với xã hội của chúng ta. Đó là một xã
hội của những tín đồ mà đức tin của họ đã được củng cố bởi một quan điểm về
thiên nhiên và vũ trụ mà ngày nay chúng ta biết là sai nhưng ít nhất cũng phù
hợp với kinh nghiệm của họ.
Những hành động độc ác tồi tệ của họ – sự bạo hành
những người Do Thái không tự vệ trong cuộc “tàn sát tập thể đầu tiên”
[Trong
cuộc Thập Ác Chinh đầu tiên (1096-1099), như chúng ta sẽ thấy, sự tàn sát tập
thể những cộng đồng Do Thái trên đường tiến quân của những đoàn Thập Ác quân
Công Giáo, ngày nay được coi như là “the First Holocaust”. TCN] – đã phạm bởi
những người mà đầu óc của họ đã bị điều kiện hóa bởi ý niệm trả thù. Họ được giáo hội
(Công Giáo) dạy là chiến đấu chống những người không
tin đạo là biểu thị lòng yêu Thiên Chúa một cách quá sai lầm đến độ cuộc Thập Ác
Chinh đối với họ là một hành động trả thù chống những người mà họ lên án là làm
“ô danh Chúa Ki Tô”. 6
Trong cuốn Sự Mê Tín Cuối Cùng:
Một Phê Bình Đánh Giá Di Sản Do Thái – Ki Tô (The Final Superstition: A
Critical Evaluation of the Judeo-Christian Legacy, Prometheus Books, New York,
1994), Joseph L. Daleiden, một học giả Công Giáo, viết, trang 54:
“Cuộc Thập Ác Chinh thứ nhất được phát
động bởi Giáo hoàng Urban II. Ông ta quạt những ngọn lửa thù hận chính đáng
[vào đám tín đồ] bằng cách ban phép
toàn xá – hoàn toàn tha thứ mọi hình phạt của Chúa vì những tội trong quá khứ –
cho bất cứ người nào đi giết người cho danh dự và vinh quang lớn hơn của Thiên
chúa. Nói cách khác, nếu Thập Ác quân bị giết, anh ta được bảo đảm là sẽ lên
thiên đường ngay lập tức.” 7
Và sử gia Will Durant cũng viết trong
bộ sử đồ sộ Câu Chuyện Về Nền Văn Minh (The Story of Civilization, quyển
IV) về Thời Đại Của Đức Tin (The Age of Faith), trang 588, về những thành
phần tham gia cuộc thánh chiến:
“Một “ơn toàn xá” xóa bỏ mọi hình phạt vì tội lỗi đã
được ban cho những Thập Ác quân chết trận. Các nông nô được phép rời bỏ ruộng
đất mà họ bắt buộc phải lao động trong đó; các công dân được miễn thuế; những
kẻ nợ nần được hoãn trả tiền lời; các tù nhân được phóng thích, và các tử tội
được đổi thành khổ sai ở Palestine, do quyền lực của giáo hoàng đã được suy diễn
một cách trắng trợn. Nhiều ngàn kẻ du thử du thực tham gia cuộc trường chinh
thiêng liêng.” 8
Sống trong thời đại mê tín, hấp dẫn bởi những hứa hẹn
hoang đường, không đủ đầu óc để biết đâu là sự thật, những đạo binh Thập Ác, như
chúng ta đã biết, không phải là những giáo dân đi “hành hương thánh địa”
(sic), hoặc là những “giáo dân Âu Châu sốt sắng, đạo đức sau những năm tháng
thấm nhuần tin mừng” (sic) như vài tác giả Công giáo Việt Nam đã viết láo
[xin đọc bài của Ngô triệu Lịch], mà hầu hết là những đoàn quân ô hợp gồm những
nông dân ngây thơ cuồng tín, những nông nô (serfs) được giải phóng để đi giết
người cho Chúa, cùng với những kẻ thành tích bất hảo như các tội phạm
(criminals), ăn trộm ăn cắp (thieves), du thử du thực ăn bám xã hội (vagrants)
v..v... Vì vậy các đạo binh Thập Ác mới phạm phải những tội ác vô tiền khoáng
hậu trong lịch sử loài người. Lẽ dĩ nhiên, những đạo binh thập ác này bao giờ
cũng có những cấp chỉ huy là Giám mục (bishops), Linh mục (priests), Hiệp Sĩ
thời đại (knights), và những nhà quý phái (noble men), hầu hết không có kinh
nghiệm quân sự.
Thật vậy, chúng ta hãy đọc vài đoạn tóm tắt các cuộc
Thập Ác Chinh trong cuốn Những Sự Khủng Khiếp Mang Nhãn Hiệu Thánh: Một Lịch Sử Minh Họa Về Sự Chém Giết
Và Điên Rồ Tôn Giáo (Holy Horrors: An Illustrated History of Religious
Murder and Madness của James A. Haught), trang 19-27:
Giáo Hoàng Urban II phát động cuộc Thập Ác Chinh thứ
nhất vào năm 1096 để cướp lại Thánh Địa từ những kẻ không tin đạo (Hồi giáo).
“Thiên Chúa muốn thế” (Deus Vult = God will it) là tiếng kêu gọi để tập hợp đoàn
Thập Ác quân (crusaders) [Chúng ta thấy sự bịp bợm trắng trợn của
Giáo hoàng Urban II đối với đám tín đồ thấp kém vôhọc ở dưới. Theo Công giáo,
một trong những thuộc tính của Thiên Chúa là không ai có thể hiểu được
(uncomprehensible) nhưng những tham vọng thế tục của giới giáo sĩ Công Giáo, từ
Giáo hoàng trở xuống cho đến các linh mục, luôn luôn được diễn giải đó là “Ý
Chúa” và các tín đồ ngu dốt cứ nhắm mắt mà tin và phạm đủ mọi tội ác. Người
Công Giáo gọi crusaders là những “thánh giá binh” vì họ được dạy rằng, cái giá
hình chữ thập mà người La Mã dùng để đóng đinh những tội phạm như ăn trộm, ăn
cướp v..v..., một hình phạt thuộc loại man rợ nhất của người La Mã cổ xưa, đã
trở thành cái “thánh giá” vì Giê-su của họ bị đóng đinh trên đó (cùng lúc với 2
tên ăn trộm). Charlie Nguyễn, một người Công giáo tỉnh ngộ đã phê bình: Nếu
Giê-su bị treo cổ thì cái thòng lọng treo cổ Giê-su sẽ trở thành cái “thánh
thòng lọng”. Qua những hành động của các “thánh giá binh” trong các cuộc Thập
Ác Chinh mà chúng ta đọc sau đây, danh từ chính xác phải là “Thập Ác quân”. TCN].
Khắp Âu Châu, những đám người cuồng tín lúc nhúc trong những đoàn quân hỗn tạp ô
hợp dẫn đầu bởi các linh mục có uy tín lôi cuốn quần chúng. Nhiều chục ngàn
người theo một linh mục dơ dáy, Peter the Hermit, người đã trưng ra một lá thư
mà ông ta nói là Thiên Chúa đã viết cho ông ta và được Giê-su trao tận tay cho
ông ta [Thiên Chúa là một sản phẩm tưởng tượng của con người, còn Jesus thì
đã chết từ ngàn năm trước, thế mà sự bịp bợm của Peter the Hermit vẫn có người
tin và đi theo ông ta để giết người] chứng nhận vai trò lãnh đạo của ông
ta. Nhiều ngàn người khác theo linh mục Walter the Penniless.
Trong thung lũng sông Rhine ở Đức, một cánh Thập Ác
quân đi theo một con ngỗng mà họ tin rằng chính là hiện thân của Thánh Linh để
hướng dẫn họ. Cánh quân này hợp với cánh quân của Emich ở Leisingen, một lãnh
tụ tuyên bố rằng một dấu Thập Ác đã hiện ra trên ngực ông ta như là một thánh
dấu
(holy sign) của một phép lạ. Emich quyết định là,
trước khi đi trên 3200 cây số để giết những kẻ thù của Thiên Chúa ở vùng đất
thánh, bổn phận tôn giáo của Thập Ác quân là phải giết “những kẻ không tin đạo
trong giữa chúng ta”: những người Do Thái ở Mainz, Worms, và ở các thị trấn Đức
khác. Đoàn Thập Ác quân tràn qua những cộng đồng Do Thái, chém giết và thiêu
sống nhiều ngàn đàn ông, đàn bà, trẻ con không thể tự vệ. Nhiều người Do Thái,
trong những khu đã dựng lên chướng ngại vật để ngăn chận đoàn Thập Ác quân, đã
phải nuốt nước mắt giết con cái của mình rồi tự tử trước khi đoàn Thập Ác quân ô
hợp tràn vào.
Những đoàn quân khác dẫn đầu bởi các linh mục Volkmar và
Gottschalk cũng tàn sát tương tự những người Do Thái ở Prague và Regensburg ở
Bavaria. Thỉnh thoảng, trong giờ phút cuối cùng, dưới ngọn gươm, các nạn nhân
được cho một cơ hội sống sót bằng cách cải đạo vào Ki Tô Giáo.
Nhiều đoàn Thập Ác quân khác đi qua những xứ Ki Tô như
Hung Gia Lợi
(Hungary),
Nam Tư (Yugoslavia) và Bulgaria. Họ cướp bóc lương thực trong các vùng
quê, gây nên những cuộc đánh nhau với dân và quân lính địa phương. Trong một
cuộc đụng chạm, đoàn quân của Peter the Hermit đã giết 4000 dân Ki Tô ở Zemun,
Yugoslavia, và thiêu rụi Belgrade gần đó. Nhiều ngàn Thập Ác quân đã chết trong
những trận đánh hỗn loạn ở Bulgaria. Sau cùng, chỉ còn có một phần của những
đoàn quân ô hợp là tới được đất Thổ (Turkey) của Hồi giáo, ở đó sau bị
những đoàn quân Hồi giáo tàn sát gần hết.
Sau đó, những đoàn hiệp sĩ Ki Tô chuyên nghiệp đã được
tổ chức để tham gia cuộc Thập Ác Chinh. Các giám mục đi theo đoàn hiệp sĩ để
ban phúc lành cho những hành động ác ôn của họ. Những đoàn
quân chuyên nghiệp này chặt đầu người Hồi giáo và đeo những đầu lâu như là chiến
lợi phẩm. Sau một trận thắng ờ bờ bể Syria gần Antioch, Thập Ác quân mang về
trại 500 đầu lâu. 300 đầu lâu được bêu trên các cọc để khủng bố tinh thần quân
Hồi đang giữ thành Antioch. Những linh mục ghi sử ghi rằng một “Thập Ác quân
giám mục” gọi những đầu lâu khủng khiếp đó là một cảnh ngoạn mục hoan hỉ cho dân
Chúa. Trong thành Antioch, quân Hồi, để trả đũa, cũng chặt đầu các tín đồ Ki Tô
rồi bêu hướng ra ngoài thành. Sau cùng Thập Ác quân đã tiến vào Antioch ngày 3
tháng 6, 1098, và giết mọi dân chúng trong đó.
Rồi một đoàn quân Hồi giáo tiến đến vây lại thành
Antioch. Thập Ác quân trong thành thiếu lương thực, gần chết đói, và linh mục
Peter Bartholomew tuyên bố rằng một thánh đã hiện ra trước ông ta trong một viễn
tượng và tiết lộ cho ông ta biết là cây giáo đâm lên cạnh sườn Giê-su khi Giê-su
bị đóng đinh được chôn ở dưới một nhà thờ trong Antioch. Cây Thánh Giáo
(Holy
Lance) được đào lên và là một thánh tích khích động sự cuồng nhiệt của Thập
Ác quân. Họ xông ra ngoài thành trong một cuộc chém giết cuồng tín khiến cho
quân Hồi phải bỏ trại mà chạy, để lại vợ đàng sau. Nhà ghi sử Fulcher ở
Chartres hãnh diện ghi rằng: “Khi thấy những người đàn bà ở trong trại Hồi, Thập
Ác quân Pháp không làm điều gì ác ngoài việc dùng giáo mác đâm xuyên vào bụng
họ”.
Tiến vào Jerusalem, Thập Ác quân thanh tẩy cái thành
thánh này bằng cách giết hầu như mọi người dân trong đó. Người Do Thái trốn
trong giáo đường bị thiêu sống cùng với giáo đường. Thây người chất thành đống
ngoài đường phố. Nhà ghi sử Raymond ở Aguilers ghi rằng:
“Thật là những cảnh kỳ diệu. Rất nhiều người Hồi bị
chặt đầu... Nhiều người khác bị dùng làm bia bắn tên hay bị ép phải nhảy từ
những chòi cao xuống; nhiều người khác bị tra tấn trong nhiều ngày, rồi thiêu
sống. Ngoài đường phố có hàng đống những đầu lâu, tay và chân. Trong đền
Solomon (đền thờ Thiên Chúa do Solomon dựng lên) ngựa lội trong máu ngập đến
khuỷu chân, không phải, đến giây buộc yên ngựa. Thật đúng là một sự phán xét
công bằng và tuyệt vời của Thiên Chúa, rằng chỗ này phải ngập đầy máu của những
kẻ không tin Thiên Chúa. Trong hai thế kỷ sau đó, Hồi giáo chiếm lại nhiều
phần trong Thánh Địa, đưa đến 7 cuộc Thập Ác Chinh khác của Ca Tô Giáo. Hầu hết
những cuộc chinh chiến của Ca Tô Giáo này bắt đầu bằng sự tàn sát những người
Do Thái ở Âu Châu.
Trong cuộc Thập Ác Chinh thứ ba, sau khi Richard the
Lion-Hearted chiếm thành Acre (ở phía Tây Bắc Jerusalem. TCN) năm 1191, ông ta
ra lệnh mang 3000 người dân trong thành, trong đó có nhiều đàn bà và trẻ em, ra
giết ở ngoài thành. Các thây người được mổ banh bụng để tìm kiếm những châu báu
có thể đã được nuốt đi. Các giám mục ngâm nga các bài kinh cầu nguyện tạ ơn
Chúa. Nhà ghi sử Ambroise viết: “Mọi người đều bị giết. Vì đây là ân huệ của
đấng sáng tạo”. Thánh Bernard ở Clairvaux đã chẳng nói khi phát động cuộc Thập
Ác Chinh thứ hai: “Người Ki Tô thích thú trong cái chết của người ngoại đạo, vì
như vậy Chúa Ki Tô đã được vinh danh”.
Trong cuộc Thập Ác Chinh thứ tư, các đoàn Thập Ác
quân đã cướp sạch các thị trấn Ki Tô Constantinople và Zara. Cuộc Thập Ác Chinh
của trẻ con năm 1212 là một thảm cảnh căn cứ trên niềm tin là Thiên Chúa sẽ ban
sức mạnh cho những đứa trẻ ngây thơ để chiến thắng quân Hồi. Hầu hết bọn trẻ bỏ
mình mà không tới được Thánh Địa.
Sau cùng, mọi sự chấm dứt năm 1291 khi Hồi giáo chiếm lại
những căn cứ cuối cùng của Ki Tô Giáo, Acre, và giết sạch những người Ki Tô
trong đó để trả thù vụ Richard tàn sát người Hồi trước đó một thế kỷ. Thánh Địa
lại nằm trong tay của Hồi Giáo. Hai thế kỷ giết chóc và tàn phá vô ích, chẳng
được cái gì.
9
Về những thánh tích (holy relics) trong Công Giáo, như
cây giáo đâm vào cạnh sườn Giê-su, tác giả James A. Haught có bình luận như sau,
trang 24-25, chứng tỏ Công Giáo là tôn giáo mê tín bậc nhất trong thiên hạ, và
các vị lãnh đạo Công giáo đã khai thác sự mê tín của đám tín đồ tới mức nào.
Xin nhắc là, đi kiếm “thánh tích” ở vùng Thánh Địa là một động cơ khích động tín
đồ tham gia vào các sự chém giết trong các cuộc Thập Ác Chinh:
Cái cây Thánh Giáo (Holy Lance) có
đúng là thật hay không hay chỉ là ngụy tạo không được các linh mục ghi sử quan
tâm. Giáo hội Ki Tô bị ám ảnh bởi việc kiếm ra và thờ phụng các “thánh tích”.
Những mảnh của cây thập giá mà Giê-su bị đóng đinh trên đó, những mảnh thân thể
các thánh (pieces of saints’ bodies), những giọt nước mắt còn ướt của Giê-su
(still-wet tears shed by Jesus), những mảnh từ cái mũ gai Giê-su đội, những quần
áo lót của Mary (Mary’s undergarments) – đó là những vật được gìn giữ trong các
hộp châu báu trong mọi nhà thờ lớn. Một ông vua Saxony hãnh diện có được 17000
thánh tích, kể cả một cành trong bụi cây cháy của Moses và một cái lông cánh của
thiên thần Gabriel. Nhà thờ Canterbury trưng bày một miếng đất sét còn lại sau
khi Thiên Chúa dùng nó để nặn ra Adam (Canterbury Cathedral displayed part of
the clay left over after God fashioned Adam.) Sử gia Charles Mackay nói rằng
các nhà thờ Tây Ban Nha có 6 hay 7 cái xương đùi của Mary đồng trinh (six or
seven thighbones of the Virgin Mary), và các nhà thờ khác có những móng chân của
thánh Peter có thể chứa đầy một cái bị. Voltaire ghi rằng có 6 miếng da qui đầu
cắt ra khi Giê-su làm lễ cắt bì; về sau các nhà nghiên cứu đếm được 15 (Voltaire
noted that 6 sacred foreskins were snipped from Jesus at his circumcision; later
researchers counted fifteen)
10
Trên đây chỉ là sự mô tả sơ lược những cuộc Thập Ác
Chinh của Công giáo La Mã. Qua sự mô tả này, chúng ta hẳn đã thấy tất cả những
sự tàn bạo và những điều cực kỳ mê tín trong tôn giáo đó. Vậy mà các tác giả
Công giáo Việt Nam đã mô tả những cuộc Thập Ác Chinh như là những cuộc “hành
hương thánh địa” (sic) của những “giáo dân Âu Châu sốt sắng, đạo đức sau
những năm tháng thấm nhuần tin mừng” (sic). Hiển nhiên là đầu óc của họ
thuộc loại hết thuốc chữa. Vấn đề là, trong thời buổi này, tại sao họ vẫn còn
hi vọng lừa dối độc giả bằng những luận điệu bẻ cong sự thật. Có lẽ mục đích
của họ không phải để cho đại chúng đọc mà chỉ để giữ tín đồ trong vòng ngu dốt,
mê tín và cuồng tín. Đây chính là sách sách lược của giáo hội Công giáo toàn
cầu từ xưa tới nay.
Thật vậy, chúng ta hãy đọc một đoạn trong bài NGƯỜI CÔNG GIÁO ĐÃ NÓI GÌ VỀ NHỮNG
CUỘC THÁNH CHIẾN của tác giả Ngô Triệu Lịch, nói về những luận điệu bẻ queo sự
thật của Giáo hội Công giáo dạy đám tín đồ mà một số con vẹt trí thức Công Giáo
Việt Nam nhắc lại về các cuộc gọi là “Thánh chiến”:
Bài viết này không phải là một
“khảo cứu lịch sử” về các cuộc thánh chiến, do Giáo hội Rôma phát động. Nhưng
thông qua “lịch sử thánh chiến”, người viết muốn đưa ra những nhận định của
mình, về quan điểm của một số tác giả Công giáo người Việt, khi họ đề cập đến
“thánh chiến” mà người viết
đã có dịp đọc qua trên các sách, báo, tạp chí, hoặc các website Công giáo…
Đại để, các tác giả Công giáo
khi đề cập đến “thánh chiến”, họ đều có chung những nhận định mang tính hộ giáo,
dù họ thừa nhận có những sai lầm nhất định trong các đợt phát động thánh chiến
của giáo hội, nhưng tất cả đều vận dụng những
quan điểm thần học cũ kỹ, lạc hậu, như: “ý chúa”, “sự quan phòng”, “chúa thánh
thần dẫn dắt”… để biện minh cho những sai lầm ấy. Tâm lý tự ti, mặc cảm, là điều
dễ thấy trong các lập luận. Ngụy biện, gượng ép, đổ lỗi cho
hoàn cảnh lịch sử, cho sự hiếu chiến của Hồi giáo, cho những tham vọng chính trị
của vua chúa các nước châu Âu, ngụy biện những cuộc thánh chiến do “mẹ giáo hội”
phát động chỉ là sự tự vệ… Từ đó, hướng độc giả vào một cái
nhìn “cảm thông”, vẽ ra chân dung của một Urban II “thánh thiện, dũng cảm và
khôn ngoan”, một đoàn người hành hương “sốt sắng, đạo đức, thấm nhuần Tin Mừng”…
Tội ác tày trời của đế quốc Vatican dưới ngòi bút của họ biến thành con số
không…Và đặc biệt, họ say sưa ca ngợi “chúa quan phòng”, bắt “chúa” của họ phải
“quan phòng” đến cả những tội ác mà giáo hội Công giáo La Mã đã gây ra cho nhân
loại…
Để biện hộ cho sự hiếu chiến của
“mẹ giáo hội” của họ, các tác giả Công giáo người Việt
đã lập luận bát nháo, bất chấp sự tròng tréo, mâu thuẫn trong cùng một sự kiện. Ví dụ: Linh mục Phạm Đức Trị viết
: “Có thể
nói Ðức Urban II chỉ có ý mời gọi những binh lính đã từng cầm võ khí, và đã có
kinh nghiệm gia nhập Ðạo Binh Thánh giá mà thôi, vì ngài có ý thiết lập một đội
binh tinh nhuệ cho một cuộc thánh chiến. Nhưng không ngờ tiếng nói của ngài đã
làm ảnh hưởng tới một Âu châu sốt sắng, đạo đức sau những tháng năm được thấm
nhuần Tin Mừng.” (Lm. F.X. Phạm Ðức Trị, OMI. Giáo Hội Thời Ðạo Binh Thánh Giá,
CD-rom vietcatholic 2001). Trong khi đó, lập luận của tác giả Đình Vượng hoàn
toàn ngược lại: “Lời kêu gọi của Giáo hoàng Urbani II không nhằm vào các vua
chúa phương tây, mà nhằm vào lòng quảng đại của người tín hữu. Sau lời kêu gọi
của Giáo hoàng, tu sĩ Pierre L’Ermite và hiệp sĩ Adémar de Monteil chẳng biết
gì về quân sự lại đứng ra tập hợp quần chúng thành những đoàn quân, kéo về
Constantinople. Người Bazance hốt hoảng và Giáo hoàng Urbain đã không trù liệu
một đoàn thập tự chinh ô hợp đã bị người Hồi tàn sát gấn hết ở Tiểu Á ” (Đình
Vượng, Quan hệ Vatican và Giáo hội Công giáo, tr 269).
So sách hai trích dẫn của hai tác giả nêu trên, ta thấy, theo Lm Phạm Đức
Trị, Giáo hoàng Urban II chỉ triệu tập những binh lính tinh nhuệ gia nhập đạo
binh thánh giá, chứ không hề kêu gọi quần chúng tham gia. Những ông già, bà cả,
trẻ con, tự nguyện tham gia thánh chiến, chẳng qua vì họ quá “sốt sắng, đạo đức
sau những tháng năm được thấm nhuần Tin Mừng…”, chứ Giáo hoàng không hề kêu gọi
họ. Ngược lại, tác giả Đình Vượng khẳng định: “Lời kêu gọi của Giáo hoàng Urbani
II không nhằm vào các vua chúa phương tây, mà nhằm vào lòng quảng đại của người
tín hữu”. Vì thế, Pierre L’Ermite và Adémar de Monteil là những người vốn mù tịt
về quân sự, được giao trọng trách mang đoàn quân thập tự ô hợp đến Tiểu Á để cho
quân Hồi giáo “nướng” sạch!... Cùng một sự kiện lịch sử, nhưng cả hai tác giả
Công giáo này có hai lập luận mâu thuẫn, đối nghịch nhau. Tuy vậy, cả hai đều
gặp nhau ở cùng một điểm: chạy tội cho “mẹ giáo hội” vốn đang rất sốt ruột vì
quân Hồi chiếm giữ đất thánh Jêrusalem! Và cũng vì tín đồ rất “đạo đức, sốt
sắng, thấm nhuần Tin Mừng !?” đang khao khát hành hương đất thánh…
Sự kiện Giáo hoàng Urban II triệu tập công đồng Clermont kêu gọi "tái chiếm
Jêrusalem, cứu đất thánh” là một vết nhơ khó tẩy của đế quốc Vatican. Dù muốn
biện hộ thế nào thì cuộc chiến do Urban II phát động vẫn là một tội ác. Urban
II đã lợi dụng lòng tin mù quáng của đám tín đồ cuồng tín, hứa "ban ơn toàn xá"
để bảo đảm “phần rỗi linh hồn” cho họ, đẩy họ vào cuộc chiến không cân sức với
đội quân tinh nhuệ Hồi giáo. Ðiều trớ trêu là những người tham gia thánh chiến
vì ham mê "ơn toàn xá" của Giáo hoàng mà gia nhập chứ họ chưa hề qua một lớp
huấn luyện quân sự nào. Kết quả là nhiều người trong đoàn quân ô hợp, vô kỷ luật
và cuồng tín "lên thiên đàng thẳng cẳng" nhờ ơn toàn xá của Giáo hoàng!.. Phịa
chuyện “tìm thấy chiếc mác đồng đâm cạnh sườn Chúa Giêsu dưới bàn thờ đền thánh
Phêrô” để kích động sự cuồng tín của tín đồ, đẩy họ vào chỗ chết, dẫu có biện hộ
thế nào, vẫn cứ là một tội ác.
Chúng ta thấy, trong 2000 năm nay, Giáo hội Công Giáo
đã áp dụng triệt để chủ thuyết hắc ám, nghĩa là chủ truơng làm cho tín đồ trở
thành ngu muội, tối tăm, với tâm cảnh nô lệ, hoàn toàn tuân phục giáo hội và bắt
buộc phải tin rồi lập lại bất cứ luận điệu nào của giáo hội giải thích về bất cứ
một vấn đề nào đó, bất kể là luận điệu đó hoàn toàn sai với sự thực.
Những cuộc Thập Ác Chinh của Công giáo kéo dài trong bao
nhiêu năm? Tất cả các học giả đều đồng ý là cuộc Thập Ác Chinh đầu tiên khởi sự
năm 1096. Nhưng những cuộc Thập Ác Chinh chấm dứt năm nào thì có nhiều công
cuộc nghiên cứu đưa ra những năm khác nhau. Trước đây người ta thường cho rằng
các cuộc Thập Ác Chinh chấm dứt vào năm 1396 hoặc chậm nhất là năm 1444. Các
đây 50 năm, sử gia Steven Runciman viết Thập Ác Chinh chấm dứt năm 1464. Và rồi
có những cuộc nghiên cứu khác đưa ra những niên kỷ như 1560 và 1571. Cuối cùng
là năm 1798. Sinh viên ngày nay phải đối diện với 700 năm Thập Ác Chinh song
song với lịch sử của toàn thể Âu Châu, từ Greenland đến Hi Lạp, từ Tây Ban Nha
đến Nga, cùng với Tây Á, Bắc Phi và Châu Mỹ La Tinh, tùy theo các học giả định
nghĩa Thập Ác Chinh như thế nào.
Tuy nhiên, thường thì trong lịch sử Công giáo, người ta
chỉ kể có 8 (hoặc 9, tùy theo quan niệm) cuộc Thập Ác Chinh chính (nhà trí thức
Công giáo Võ Đức Hạnh đã gọi cuộc xâm lược Việt Nam của các giáo sĩ thừa sai
Công giáo, sát cánh với thực dân Pháp, là "cuộc Thập Ác Chinh thứ 9"). Có học
giả còn cho rằng Công giáo vẫn tiếp tục tung ra những cuộc Thập Ác Chinh, và một
vài luận điệu thần học của nhóm Ki Tô hiếu chiến trong thế kỷ 20 đã dập theo
khuôn của giáo hoàng Urban II và thánh Bernard (Much of the world of the
crusaders is still in evidence. Some of the theology of the 20th
century “militant” Christianity, now prevalent in Africa, Asia and South
America, might well have come from the lips of Pope Urban II or St. Bernard of
Clairvaux), dưới một hình thức khác với các cuộc Thập Ác Chinh trong thời Trung
Cổ.
Gần đây, có nhiều dư luận cho rằng cuộc xâm chiếm Iraq
của Mỹ có hình thức một cuộc Thập Ác Chinh của Ki Tô Giáo chống Hồi giáo. Tổng
thống Bush đã dùng danh từ “Thập Ác Chinh ” (crusade) sau vụ 11 tháng 9, 2000.
Và tổng thống Bush cũng quyết định gạt Âu Châu ra ngoài, chỉ trao khế ước xây
dựng lại Iraq cho những tổ chức Mỹ, coi đó như là phần thưởng cho những người
ủng hộ chiến tranh (Chicago Tribune, Dec.12, 2003: President Bush says war’s
backers should be rewarded).
Đại cương thì các cuộc Thập Ác Chinh trong thời Trung
Cổ là do các giáo hoàng phát động hoặc cổ võ, khuyến khích và chấp thuận, và
kết quả là những cuộc tàn sát tập thể người Do Thái, Hồi Giáo, và cả những người
Ki Tô Giáo không cùng đức tin với Công Giáo, không đồng thuận và không chấp nhận
quyền lực của giáo hoàng, vừa để tiêu diệt những người khác đạo, vừa để giành
lại vùng Thánh Địa Jerusalem mà người Công giáo tin là thuộc về họ theo lời hứa
của Chúa, và nhất là để cướp bóc vơ vét của cải thế gian.
Ở đây, hiển nhiên tôi không thể viết đầy đủ về các
cuộc Thập Ác Chinh của Công giáo, mà chỉ có thể đưa ra những nét chính của vài
cuộc thánh chiến quan trọng nhất. Có ba cuộc Thập Ác Chinh phản ánh trung thực
nhất sự tàn bạo của Công giáo La Mã và ảnh hưởng mê hoặc của Công giáo lên đầu
óc con người, từ già tới trẻ: đó là cuộc Thập Ác Chinh đầu tiên (The First
Crusade) với chủ đích chính là giành lại thánh địa Jerusalem và ngôi mộ Giê-su;
cuộc Thập Ác Chinh Albigense (The Albigensian Crusade) để tận diệt những người
Ki Tô không có cùng niềm tin với người công giáo; và cuộc Thập Ác Chinh của
những đứa trẻ (The children’s Crusade) mà nguyên nhân là sự ngu dốt và cả tin
của những đầu óc ngây thơ vào những điều hoang đường trong thánh kinh mà chúng
được nghe giảng dạy.. Chúng ta đã biết sơ lược về cuộc Thập Ác Chinh thứ nhất
và vài cuộc Thập Ác Chinh sau đó qua sự mô tả ở trên của James A. Haught. Sau
đây tôi sẽ trình bày sơ lược về cuộc Thập Ác Chinh Albigense và cuộc Thập Ác
Chinh của những đứa trẻ để chúng ta thấy rõ sự tàn bạo và mê tín của Công Giáo
lên đến mức nào. Những phần viết sau đây được lấy từ những nguồn tài liệu khác
nhau.
Cuộc Thập Ác Chinh
Albigense.-
Công giáo giết người theo Hồi Giáo trong các cuộc Thập
Ác Chinh. Công giáo cũng giết những người Do Thái trong những cuộc tàn sát vô
tiền khoáng hậu. Nhưng không phải tất cả chỉ có thế. Công giáo cũng còn xuống
tay giết những người Ki Tô Giáo mà họ cho là lạc đạo hay dị giáo (heretics),
nghĩa là những người không chịu tin theo những tín lý nhảm nhí của Công Giáo.
Cuộc tàn sát những người “lạc đạo” dã man, tàn nhẫn và ghê tởm nhất của giáo hội
Công giáo là cuộc Thập Ác Chinh Albigense, phát động bởi giáo hoàng Innocent
III năm 1208.
Giáo phái Ki Tô Albigense tương tự như đạo Cao Đài của
Việt Nam. Giáo phái này tin vào giáo thuyết của một nhà cải cách Ba Tư, Mani,
người bị đóng đinh trên thập giá năm 277. Đầu óc cởi mở của Mani chấp nhận tất
cả những nhà lập giáo lớn – Moses, Zoroaster, Đức Phật và Giê-su. Ngoài ra,
Giáo phái này còn lên án sự giàu sang và phi luân của giới giáo sĩ Công giáo
(denounced the riches and immorality of the clergy), cho nên giáo hoàng Innocent
III đã phát động một cuộc “Thập Ác Chinh” chống giáo phái này, cho phép các thập
ác quân được cướp bóc, hãm hiếp và giết bọn người xấu số này (The Pope preached
a “crusade” against them, so giving complete licence to any wandering scoundrel
to rob, rape and kill these unfortunates).
Sau đây là sơ lược diễn tiến của cuộc Thập Ác Chinh
Albigense, được kể trong cuốn Máu Thánh, Chén Thánh ("Holy Blood, Holy
Grail", Michael Baigent, Richard Leigh, and Henry Lincoln, trg. 49-50):
"Năm 1209, một đoàn quân khoảng 30 ngàn người, gồm các
kỵ sĩ và bộ binh, như 1 cơn gió lốc từ miền Bắc Âu Châu tràn xuống Languedoc -
vùng chân núi phía Đông Bắc của dãy núi Pyrenees, ngày nay là miền Nam nước
Pháp. Trong cuộc chiến tranh này, toàn vùng bị tàn phá, mùa màng phá hoại, các
thành phố và thị trấn thành bình địa, cả 1 dân tộc bị chém giết. Cuộc tiêu diệt
này rộng lớn và khủng khiếp đến độ ta có thể coi đó như là trường hợp đầu tiên
của chính sách "diệt chủng" trong lịch sử Âu Châu hiện đại. Thí dụ, chỉ nguyên
trong thành phố Béziers, ít nhất là có 15 ngàn người: đàn ông, đàn bà, trẻ con
bị tàn sát, nhiều người bị giết ngay chính trong cung Thánh của nhà thờ. Khi
một sĩ quan hỏi vị đại diện của Giáo Hoàng: 'làm sao phân biệt được ai là tín đồ
và ai là tà đạo?' thì câu trả lời là: "Giết hết đi. Thiên Chúa sẽ nhận biết ai
là tín đồ của Người." Sau đó, chính vị đại diện trên hãnh diện báo cáo với giáo
hoàng Innocent III ở La Mã là: "Không một ai, bất kể thân phận, tuổi tác, hay
trai gái, được sống sót."
Sau Béziers, đoàn quân xâm lăng tràn qua toàn vùng
Languedoc. Các vùng như Perpignan, Narbonne, Carcassonne, Toulouse lần lượt rơi
vào tay đoàn quân này. Và bất cứ nơi nào đoàn quân đi qua cũng để lại dấu vết
của cảnh tàn sát, máu đổ, chết chóc. Cuộc chiến này, kéo dài trong 40 năm, ngày
nay được biết dưới tên "Cuộc Thập Ác Chinh Albigense." Đây là cuộc Thập Ác
Chinh theo đúng nghĩa của nó. Chính giáo hoàng đã huy động cuộc Thập Ác Chinh
này. Đoàn Thập ác quân, mang dấu thập ác trên quân phục, như những Thập ác quân
ở Palestine trước đó. Phần thưởng cho họ cũng giống như phần thưởng cho những
Thập ác quân trong vùng đất Thánh: được tha mọi tội lỗi, được giải tội, được
bảo đảm một chỗ trên Thiên Đàng, và được làm chủ tất cả những tài vật có thể
chiếm đoạt được."
11
Với lịch sử tàn bạo giết người Ki Tô không cùng niềm
tin với người Công giáo của Giáo hội Công giáo ngay từ đầu, chúng ta không lấy
gì làm lạ khi thấy Công giáo đã ra tay tàn sát những người Tin Lành trong thế kỷ
17, 18 và còn kéo dài cho đến ngày nay tại một vài vùng địa dư, điển hình là ở
Bắc Ái Nhĩ Lan. Tuy nhiên, ngày nay giáo hội Công giáo đã mất đi quyền lực thế
tục nên ít còn khả năng giết người “lạc đạo” cũng như người “ngoại đạo”. Nhưng
lịch sử rất có thể tái diễn bất cứ ở nơi nào mà Công giáo nắm được quyền lực thế
gian. Những cuộc giết người khác đạo của Công giáo trong thời cận đại, điển
hình là Palevich ở Croatia đã giết 700000 người Chính Thống (Orthodox) và
Hippies ở Croatia, Ngô Đình Diệm giết hoặc cưỡng bách nhiều ngàn Phật tử và
người ngoài đạo cải đạo ở Nam Việt Nam là những kinh nghiệm để cho chúng ta luôn
luôn phải đề phòng khi người Công giáo nắm được địa vị thế quyền. Avro
Manhattan, tác giả cuốn Vatican’s Holocaust, cũng đã báo động trong cuốn
sách nổi tiếng trên của ông:
“Những đoan quyết (về đức tin) căn bản của Công Giáo
chưa bao giờ thay đổi chút nào. Cho đến nay, cũng như tự bao giờ, sự chấp chặt
của giáo hội Công giáo vào tính cách duy nhất của mình vẫn còn chắc như đá hoa
cương. Cũng chính vì sự chấp chặt này mà đã xảy ra những tòa án xử dị giáo,
Croatia và chế độ độc tài Công giáo ở (Nam) Việt Nam.
Nếu quá khứ là một dấu hiệu về sự thành hình những việc
có thể xảy ra trong tương lai, thì khi nắm được cơ hội và trong một bối cảnh
chính trị thích hợp, những tòa án xử dị giáo mới, những Cratia mới và Việt Nam
mới sẽ lại được tạo ra hoài hoài. Khi nào, ở đâu, và như thế nào, chỉ có tương
lai mới trả lời được.”
12
Trong thời Trung Cổ, giáo hội Công giáo ở vị thế quyền
lực thế gian tuyệt đối. Giáo hoàng đứng trên vua chúa, giáo dục quần chúng nằm
trong tay giáo hội. Nền giáo dục Công giáo, hay nói cho đúng hơn, chính sách
nhồi sọ của giáo hội trên những đầu óc còn non dại đã khiến cho lớp trẻ mê mẩn
về những điều giáo hội dạy về Công Giáo, về Thánh Kinh, tuyệt đối tin vào những
điều mê tín hoang đường. Thí dụ điển hình về chính sách nhồi sọ của giáo hội
Công giáo đã đầu độc đầu óc lớp trẻ, đưa đến cuộc Thập Ác Chinh của những
đứa trẻ vị thành niên như chúng ta sẽ thấy sau đây.
Cuộc Thập Ác Chinh Của Những Đứa Trẻ.-
Sau đây là lời tường thuật cuộc Thánh chiến của những
đưa trẻ vị thành niên trong cuốn Các cuộc Thập Ác Chinh (The Crusades by
Henry Treece, trg. 182-185). Thực ra đây không phải là một cuộc Thập Ác Chinh
theo đúng nghĩa của nó mà chỉ là một thảm trạng bắt nguồn từ một niềm tin
tôn giáo sai lầm, mang tinh thần Thập Ác Chinh, của những trẻ vị thành niên bị
đầu độc tư tưởng bởi những huyền thoại trong Thánh kinh.
"Năm 1212 một sự việc vô tiền khoáng hậu trong lịch
sử thế giới đã xảy ra: trẻ em Pháp và Đức đã tổ chức một cuộc Thập Ác Chinh,
không được sửa soạn kỹ càng, không có vũ khí và không có gì giúp chúng ngoài
sự ngay thẳng ngây thơ của chúng.
Vua Pháp là Philip, đang ở St. Denis, thì một em bé
trai chăn cừu 12 tuổi, tên là Stephen ở vùng Cloyes, gần Orleans, đến yết kiến
ngài với một lá thư mà em nói rằng do chính Chúa Ki tô gửi cho em, bảo em tổ
chức một cuộc Thập Ác Chinh tiến vào Jerusalem.. Vua Pháp ra lệnh cho em nhỏ
trở về nhà cha em, nhưng Stephen đang ở trong sự say mê điên cuồng tôn giáo.
Hắn dám bất tuân ngay cả lệnh vua, tuyên bố rằng, trong một kiến giác (vision)
(ngày nay chúng ta gọi là ảo giác (delusion)), Chúa KiTô đã hứa là biển sẽ khô
cạn để cho Stephen và tất cả những ai theo hắn có thể an toàn đi trên biển
như đi trên bộ tới Jerusalem. giống như câu chuyện hoang đường ngày xưa (trong
Thánh Kinh): Hồng Hải đã mở ra cho Moses, con người chăn cừu kia.
Một vài giáo sĩ thất kinh về cái sự phỉ báng của đứa
trẻ - nhưng, kỳ thay, Giáo hoàng Innocent III tuyên cáo là "chính những đứa trẻ
đặt chúng ta vào sự ô nhục" (một lời khuyến khích có ý nói là lòng tin của những
đứa trẻ mãnh liệt hơn của chúng ta), và, chắc hẳn Stephen có một khả năng thuyết
phục làm cho người ta ngỡ ngàng trước một người còn quá trẻ và vô học như
Stephen. Trẻ em từ nhiều vùng trong nước Pháp tụm lại quanh Stephen, mang theo
cờ xí trên có dấu cờ hiệu của Vua. Đến tháng 6, 1212, ở nơi họp, Vendôme, có
tới 30,000 đứa trẻ tập họp lại để bắt đầu cuộc tiến quân lâm ly tới vùng đất
Thánh, không có bản đồ và không có ngay cả lương thực. Họ sắp sửa dự phần trong
cái mà ta chỉ có thể gọi là một niềm tin thống thiết.
Chúng ta không thể biết được có bao nhiêu em lẩn tránh
được sự ngăn cấm của bố mẹ: có thể các bậc cha mẹ, nghe lời tán thán của giáo
hoàng, sợ không dám tranh đua với sự chấp thuận của giáo hoàng, có thể họ không
có mấy quyền trong những địa hạt mà chính họ đã đi theo Boniface và Dandolo
(2 tư lệnh trong cuộc Thập Ác Chinh thứ 4; TCN); và có thể vì cái khả năng quyến
rũ của Stephen đã khiến cho đám trẻ trai gái này trở thành điếc trước mọi lời
khiển trách. Dù sao thì, đám trẻ này đã lên đường mùa hè năm đó, có nhiều người
lớn thuộc loại ăn bám nhập bọn, kể cả những linh mục bị lôi cuốn bởi cái sự
ngây ngất truyền nhiễm này, và đi qua những vùng Tours, Lyons xuống tới
Marseilles, dọc đường kiếm ăn ở nơi nào có thể kiếm được.
Nhưng mùa hè năm 1212 nóng một cách bất thường, mùa
màng chưa gặt, thực phẩm và nước uống hiếm hoi vì hạn hán. Nhiều em chết ở dọc
đường trong khi một số khác tìm đường quay trở về quê. Sau cùng, khi số còn lại
tới được Marseilles thì chúng bị thất vọng lớn vì thấy biển không khô cạn như
đứa trẻ chăn cừu Stephen đã hứa để chúng đi tới vùng đất Thánh.
Sau vài ngày sống cực khổ ở hải cảng này, chúng được
hai người lái buôn vô lương tâm đến tiếp xúc. Hai người này, tên là Hugh the
Iron và William the Pig đề nghị chở đoàn trẻ này tới Palestine bằng 7 chiếc tàu,
hoàn toàn miễn phí.
Stephen vui vẻ nhận lời, coi đó như là cánh tay của
Thiên Chúa cứu vớt chúng một cách huyền nhiệm. Những tàu này ra khơi nhưng đi
xuống phía Nam chứ không đi tới vùng đất Thánh. Nơi tới là hải cảng Bougie của
dân Saracen, nơi đây tất cả các đứa trẻ Pháp này đều bị bán đi làm nô lệ.
...Người ta cho rằng trong số 30000 trẻ em phát xuất từ
Vendôme, chỉ có một người duy nhất, một linh mục trẻ, trở về được nước Pháp, sau
18 năm bị làm nô lệ."
Cái cơn sốt Thập Ác Chinh này lan tới các trẻ em Đức.
Chúng bị kích động bởi lời thuyết giảng của một em trai tên là Nicholas.
Nicholas cũng nói với chúng về biển cả sẽ mở ra để chúng có thể an toàn bước qua
tới Jerusalem. "Quân đội" của Nicholas ước lượng khoảng 20000 đứa trẻ và những
kẻ ăn bám, tốt và xấu. Cái đoàn trẻ tả tơi này vất vả đi qua dãy núi Alps và,
hao hụt một cách đáng buồn bởi chết chóc và đào ngũ, sau cùng cũng tới được
Genoa. Ở đây chúng bị một ông thống đốc, vì không muốn dung dưỡng một đám trẻ
lộn xộn đói khát và bệnh tật, đuổi đi không cho vào thành. Thế rồi, như những
sinh vật trong giấc mộng chết chóc, chúng lê lết xuống phía Nam, những viễn
tượng về sự giải thoát Thánh địa đã bị quên đi trong đói khát và hấp hối.
Giáo hoàng Innocent III đã nói:."Chính những đứa trẻ đã
đặt chúng ta vào vòng ô nhục". Ngài đã nói đúng như thực, dù có thể trong một
nghĩa khác với ý định của ngài. Sự ô nhục thuộc chính giáo hoàng vì đã không
ngăn cấm sự phí phạm độc ác này; thuộc các bậc cha mẹ vì đã để cho con cái ra
đi; và thuộc các nông dân vì đã từ chối không cho bọn trẻ ăn, ở, hoặc thuộc
những người chấp chứa chúng chỉ để kiếm lời trên sức lao động nô lệ của chúng.
Người ta ước tính trong số 20000 trẻ em dự cuộc hành trình để cứu những nước
KiTô, không quá 2000 được trở về nhà. Kể ra chúng còn tốt số hơn là những đứa
trẻ Pháp."
13
Có lẽ tôi cũng nên ghi thêm ở đây là, Joseph
L. Daleiden, Ibid., trg. 55, có một nhận định như sau về những cuộc Thập Ác
Chinh:
"Càng suy nghĩ về vấn đề này tôi càng thấy cả 9 cuộc
Thập Ác Chinh đều là những cuộc Thập Ác Chinh của trẻ con. Tất cả những
người lính nông dân chất phác đó đều ngu tối như đám trẻ, mù quáng tuân theo sự
cổ võ của các giáo hoàng để đi giết những người dân Ả Rập đang bảo vệ đất đai
của họ." 14
Đó là những sắc thái và đặc tính của những cuộc Thập Ác
Chinh, và Thập Ác Chinh là sản phẩm đặc thù của Công Giáo La Mã ở Âu
Châu, khi các giáo hoàng ở vị thế nắm quyền thế gian, dùng quyền hành và khai
thác lòng mê tín dị đoan của các tín đồ, gây ra những cuộc tàn sát khủng
khiếp, xương chất thành núi, máu chảy thành sông, để chiếm đất, giành dân.
Tưởng chúng ta cũng nên biết thêm vài chi tiết về những
sự kiện xung quanh các cuộc Thập Ác Chinh. Tháng 4, 1095, một trận mưa thiên
thạch lớn rơi xuống Âu Châu. Giám mục Gislebert ở Lisieux diễn giải đó là dấu
hiệu của Thiên Chúa kêu gọi một cuộc Thập Ác Chinh chiếm lại Thánh Địa ở
miền Đông. Đến tháng 11 năm 1095, giáo hoàng Urban II triệu tập một công đồng ở
Clermont, Auvergne, để phát động cuộc Thập Ác Chinh thứ nhất. Trong một
bài diễn văn nẩy lửa, giáo hoàng nói: “Ngày tận thế đã gần kề. Ngày cáo
chung của tên Chống Chúa (Antichrist = Satan) cũng sắp tới. Tuy nhiên, nếu hắn
tới, hắn sẽ không thấy một tín đồ Ki Tô nào ở Thánh Địa (đang ở trong tay Hồi
giáo), vì ngày nay không còn ai ở đó để mà chống hắn.” Rồi giáo hoàng đưa
ra nhiều hứa hẹn với đám giáo dân thấp kém như ban “ơn toàn xá” và cho vé lên
thiên đường nếu chết trận, hứa sẽ săn sóc gìn giữ của cải của các chiến binh để
lại hậu phương, điều mà giáo hoàng không hề giữ lời, được giữ những tài vật
chiếm đoạt được, và nhất là được quyền cướp những thánh tích trong các mộ thánh
tử đạo (Pope Urban gave sanction to a repetition of such an act of
relic-gathering, of expiation by the robbery of martyr-tombs). Điều này rất hấp
dẫn đối với dân Âu Châu vì họ đang sống trong một thời đại mà bất cứ cái gì còn
lại của các “thánh”, hay đã được các “thánh” sờ tới, đều được tin là có những
năng lực siêu nhiên. (It was an age in which the remains of “holy” people, or
things touched by “saints”, were believed to be imbued with supernatural
power). Jerusalem không những chỉ là miền đất mà các “thánh” đã đi qua đi lại,
mà chính Giê-su, hiện thân của Thiên Chúa, cũng đã từng đi trên miền đất đó,
chết đi và sống lại ở đó. Đối với những giáo dân và những kẻ đi thâu thập
“thánh tích” cho những nhà thờ, giáo xứ để thờ phụng, thì không còn gì hấp dẫn
hơn là Jerusalem. Vì ở đó có ngọn “thánh giáo” (holy lance) đã đâm lên cạnh
sườn Giê-su, có cây “thánh giá” mà Giê-su bị đóng đinh trên đó, có xá lị của
John the Baptist, thân thể của Thánh George, những mảnh đá trong mồ Chúa, và
ngay cả nước sông Jordan mà Giê-su, con Thiên Chúa, đã được rửa tội trên đó.
[Người Công giáo thời đó tin rằng nước sông Jordan mà Giê-su rửa tội trên đó
không có chảy đi đâu hết, vẫn còn nguyên vị ở chỗ cũ. TCN]. Hơn nữa, trong thế
kỷ 11, vì để tự cứu linh hồn, họ có thể ăn cắp bất cứ cái gì để tránh bị thiêu
đốt bởi ngọn lửa dưới hỏa ngục mà các linh mục đã bảo họ là đã liếm mỗi bước
chân của họ (To save his soul, the man of 11th-century Europe would
have stolen anything to avoid the hot flames of Hell which, the priests had told
him, licked his legs at every step). Trong nhiều tháng tiếp theo, giáo hoàng
đích thân cổ động và ra lệnh cho các giám mục, linh mục trong các giáo xứ địa
phương ở Âu Châu cũng phải cổ động cho cuộc Thập Ác Chinh này. Giáo dân
khắp nơi reo hò cuồng nhiệt: “Thiên Chúa muốn thế” (Deus Vult = God wills
it). Rất nhiều kẻ trộm cướp, sát nhân được thoát khỏi vòng lao lý với điều kiện
là chuộc tội bằng cách làm đổ máu dân ngoại đạo (Many thieves and murderers who
escaped block and gallows only on condition that they redeemed themselves by
spilling heathen blood).
Trên
đây chỉ là vài nét về những cuộc Thập Ác Chinh của Công Giáo La Mã. Trước những sự thật lịch
sử đen tối, bạo tàn của giáo hội Công Giáo mà chính giáo hoàng John Paul II ngày
nay và tòa thánh Vatican đã thú nhận, tôi xin đặt một câu hỏi cho các tín đồ
Công giáo Việt Nam: Có thật là quý vị đang ở trong một “hội thánh” hay không?
Và quý vị có tin rằng cái lịch sử đẫm máu của “hội thánh” Công giáo kéo dài suốt
2000 năm hoàn toàn không dính líu gì đến niềm tin của quý vị không? Muốn trả
lời câu hỏi này, quý vị cần biết rõ:
Thật ra, những cuộc Thập Ác Chinh của Công giáo
không chỉ có mục đích giết dân Ả Rập mà còn giết những người Do Thái và giết
luôn cả những người Ki Tô giáo khác không có cùng quan niệm tôn giáo với Công
giáo, như chúng ta đã thấy trong cuộc Thập Ác Chinh Albigense mô tả ở
trên. Các cuộc Thập Ác Chinh của Công giáo đã nhận chìm Âu Châu trong
vòng chiến tranh tàn sát suốt hai thế kỷ 11 và 12, dài gần 200 năm.
Nhưng, ngoài sách lược tiêu diệt văn hóa nhân loại và các
cuộc Thập Ác Chinh, lịch sử Công giáo La Mã còn một vết nhơ vĩ đại khác, đó là
những Tòa Án xử những người Dị Giáo (khác đạo) hay những người mà Giáo hội kết
tội là lạc đạo, nghĩa là không công nhận quyền lực của Giáo hoàng và của hàng
giáo phẩm, những người Do Thái và cả những người theo Ki Tô Giáo nhưng
không cùng tín ngưỡng với Công Giáo. Những tòa án xử dị giáo này kéo dài hơn
500 năm và đã làm cho trên 11 triệu người chết vì tra tấn bởi những hình cụ
khủng khiếp nhất, phát minh bởi những tín đồ Công giáo, vì thiêu sống v...v...
(Zindler, p. 183: The Roman Catholic Church killed over 11 million people in the
course of the Inquisition)) Tôi sẽ đi vào chi tiết của những hành dộng dã man
tàn bạo nhân danh Chúa của các tòa án xử dị giáo của Công giáo trong một phần
sau, qua một số tài liệu lịch sử.
______________________________________________________________________________
1.
In summary, the evidence is overwhelming that the propagation of Christianity in
both the Old World and the New was due in large measure to coercion, persecution
and suppression. Throughout its history, from the earliest purges of heretics,
through the crusades, the Inquisition, and repression of other cultures
throughout the world, Christianity has demonstrated its destructive antihuman
values.
2.
When religion was all-powerful in Europe, it produced the epic bloodbath of the
Crusades, the torture chambers of the Inquisition, mass extermination of
“heretics”, hundred of massacres of Jews, and 300 years of witch-burning.
“The Age of Faith” was an age of holy slaughter. When religion gradually ceased
to control daily life, the concept of human rights and personal freedom took
roots.
...In reality, the Crusades were a sickening nightmare of slaughter, rape,
looting, and chaos – mixed with belief in magic.
3.
But as we read more about the crusades this vision tarnishes; enquiry hardly
bears out the truth for which we had hoped. Crusades and crusaders are seen to
be different from what we had imagined, and finally we are led to agree with Sir
Steven Runciman's masterly summing-up in The Kingdom of Acre: "Faith without
wisdom is a dangerous thing... In the long sequence of interaction and fusion
between Orient and Occident, out of which our civilization has grown, the
Crusades were a tragic and destructive episode...There was so much courage and
so little honour, so much devotion and so little understanding. High ideals
were besmirched by cruelty and greed, enterprise and endurance by a blind and
narrow self-righteousness; and the Holy War itself was nothing more than a long
act of intolerance in the name of God.
4.
The Deutoronomist’s philosophy, that killing the adherents of every mythology
but one’s own in order to protect believers from competing doctrines was a godly
and laudable act, was in medieval times carried to its logical conclusion by the
Christians who, over the course of several centuries, dutifully massacred
between 30 and 50 million enemies of the various Christian gods in such events
as the Crusades, the Inquisition, the Thirty Years War, and various minor
atrocities.
5. In the days of ignorance there had been an extraordinary
willingness to believe the Catholic priesthood good and wise. Relatively it was
better and wiser in those days.
The beginning of the Crusades displays all Europe saturated by a naive
Christianity, and ready to follow the leading of the pope trustfully and simply.
6.
Why did they go? They lived in a society very different from ours. It was a
society of believers, whose faith was reinforced by a view of nature and the
universe which we now know to have been wrong but which was at least coherent
and in accord with their experience.
The shocking acts of cruelty – the persecution of defenceless Jews in the “First
Holocaust” – were perpetrated by men whose minds were conditioned by vendettas.
They got the Church’s message that fighting infidels expressed love of God so
wrong that the Crusade became for them an act of vengeance against those they
accused of “dishonoring” Christ.
7.
The First Crusade was launched by Pope Urban II. He fanned the flames of
righteous hatred by granting a plenary indulgence – the total remission of
punishment due to past sins – to anyone who went to kill for the greater honor
and glory of God. In other words, if the crusader was killed, he was guaranteed
immediate admission to heaven.
8. A
plenary indulgence remitting all punishments due to sin was offered to those who
should fall in the war. Serfs were allowed to leave the soil to which they had
been bound; citizens were exempted from taxes; debtors enjoyed a moratotium on
interest; prisoners were freed, and sentences of death were commuted, by a bold
extension of papal authority, to life service in Palestine. Thousands of
vagrants joined in the sacred tramp.
9.
Pope Urban II launched the First Crusade in 1095 to wrest the Holy Land from
infidels. “Deus Vult” (Gos wills it) became the rallying cry. Around Europe,
masses of zealots swarmed into mob-type armies led by charismatic priest, Peter
the Hermit, who displayed a letter he said was witten to him by God and
delivered to him by Jesus as his credentials for leadership. Other thousands
followed a priest called Walter the Penniless.
In the
Rhine Valley of Germany, one throng of crusaders followed a goose they thought
had been enchanted by God to be their guide. This group joined the army of
Emich of Leisingen, a leader who said a a cross miraculously had appeared on his
chest as a holy sign. Emich’s multitude decided that, before marching 2000
miles to kill God’s enemies in Israel, their first religious duty was to slay
“the infidels among us”, the Jews of Mainz, Worms, and other German cities.
They swept in unstoppable waves through Jewish quarters, chopping and burning
thousands of defenseless men, women, and children. Many Jews, trapped and
doomed in barricaded quarters, tearfully killed their children and themselves
before the mob broke in.
Similar hordes led by priests Wolkmar and Gottschalk likewise massacred Jews of
Prague and Regensburg, Bavaria. Occasionally, victims were given a last-minute
opportunity, at swordpoint, to save their lives by converting to Christianity.
As the
various peasant armies moved through Christian Hungary, Yugoslavia, and
Bulgaria, they pillaged the countryside for food, provoking battles with local
peoples and armies. In one clash, Peter the Hermit’s army killed 4000 Christian
residents of Zemun, Yugoslavia, then burned nearby Belgrade. In tuen, thousands
of crusaders died in confused fighting in Bulgaria. Only a fraction of the
peasant mobs finally reached Muslim Turkey, where they soon were exterminated by
Turkish armies.
Organized regiments of Christian knights followed the rabble, bringing
professionalism to the Crusade. Accompanying bishops blessed their atrocities.
The advancing legions decapitated Muslim and carried the heads as trophies.
During three sieges – at Nicea, Antioch, and Tyre – crusaders catapulted Muslim
heads into the surrounded cities to demoralize defenders. After a victory on
the Syrian coast near Antioch, Frankish crusaders brought 500 heads back to
camp. 300 of them were put on stakes before the city to torment defenders atop
the walls. Chronicler-priests recorded that a crusader bishop called the
impaled heads a joyful spectacle for the people of God. The other 200 heads
were catapulted into Antioch. Inside, Muslim decapitated Antioch’s Christian
residents and catapulated their heads outward in a grotesque crossfire. The
crusaders finally broke through on June 3, 1098, and slaughtered inhabitants.
Then
an arriving Muslim army encircled Antioch and besieged the former besiegers.
The Franks were near starvation when one Peter Bartholomew announced that a
saint had appeared to him in a vision and disclosed that the lance that pierced
Christ’s side at the crucifixion was buried beneath a Christian church in
Antioch. The Holy Lance was drug up and became a miraculous relic inspiring the
crusaders to derocity. They stormed out of the city in a fanatical onslaught
that sent the Muslim soldiers fleeing in panic, abandoning their camp – anh
their wives. Chronicler Fulcher of Chartres proudly recorded: “When their womwn
were found in the tents, the Franks did nothing evil to them except pierce their
bellies with their lances.”
Marching on to Jerusalem, the crusaders soon topped the walls and “purified” the
symbolic city by slaughtering virtually every resident. Jews who took shelter
in their synagogue were burned alive. Corpses were piled in the street.
Chronicler Raymond of Aguilers recoreded:
“Wonderful things were to be seen. Numbers of the Sacarens were beheaded…Others
were shot with arrows, or forced to jump from the towers; others were tortured
for several days, then burned in flames. In the streets were seen piles of
heads and hands and feet. One rode about everywhere amide the corpes of men and
horses…
In the
temple of Solomon, the horses waded in blood up to their knees, nay, up to the
bridle. It was a just and marvelous judment of God, that this place should be
filled with the blood of the unbelievers.”
During
the subsequent two centuries, Muslim recaptures of portions of the Holy Land
caused seven other Christian crusades. Most of these expeditions began, as the
first, with massacres of Jews at home.
In the
Third Crusade, after Richard the Lion-Hearted captured Acre in 1191, he ordered
3000 captures – many of them women and children – taken outside the city and
massacred. The corpses were cut open in a search for swallowed gems. Bishops
intone blessings. Chronicler Ambroise wrote: “ They were slaughtered everyone.
For this be the Creator blessed!” Infidel lives were no consequence. As St.
Bernard of Claivaux had declared in launching the Second Crusade: “The Christian
glories in the death of a pagan, because thereby Christ is glorified.”
In the
Fourth Crusade, the armies became diverted and sacked the Christian cities of
Constantinople and Zara. The Children’s crusade in 1212 was a tragedy based on
the mistaken belief that God would empower innocent Christian tots to overwhelm
Muslim armies. Most of the children perished without reaching the Holy Land.
Finally, it all came to an end in 1291 when Muslim recaptured the last Christian
stronghold, Acre, and slaughtered its garrison in retaliation for Richard’s
massacre a century earlier. The Holy Land was back in Muslim hands. Two
centuries of death and destruction had been for nothing.
10.
Whether the Holy Lance was genuine or a planted fake wasn’t questioned by the
crusade’s chronicler-priests. Christendom was obsessed with finding and
worshiping sacred relics, alleged evidence from Bible stories. Fragments of
“the true cross”, pieces of saints’ bodies, still wet tears shed by Jesus,
barbs from the Crown of Thorns, Mary’s undergarments – such were treasured in
jeweled cases in every major church. A ruler of Saxony proudly possessed 17,000
relics, including a branch from Moses’s burning bush and a feather from the
wings of angel Gabriel. Canterbury Cathedraldisplayed part of the clay left
over after God fashioned Adam. Historian Charles Mackay said Spanish churches
had six or seven thighbones of the virgin Mary, and others had enough of St.
Peter’s toenails to fill a sack. Voltaire noted that six sacred foreskins were
snipped from Jesus at his circumcision; later rechearchers counted fifteen.
11. In 1209 an army of some thirty thousand knights and
foot soldiers from northern Europe descended like a whirlwind on the Languedoc -
the mountainous northeastern foothills of the Pyrenees in what is now southern
France. In the ensuing war the whole territory was ravaged, crops were
destroyed, towns and cities were razed, a whole population was put to the
sword. This extermination occurred on so vast, so terrible scale that it may
well constitute the first case of "genocide" in modern Europe history. In the
town of Béziers alone, for example, at least fifteen thousand men, women, and
children were slaughtered wholesale - many of them in the sanctuary of the
church itself. When an officer inquired the Pope's representative how he might
distinguish heretics from true believers, the reply was, "Kill them all. God
will recognize His own.".. The same papal representative, writing to Innocent
III in Rome, announced with proud that "neither age nor sex nor status was
spared."
After Béziers the invading army swept through the whole of Languedoc. Perpignan
fell, Narbonne fell, Carcassonne fell, Toulouse fell. And wherever the victors
passed, they left a trail of blood, death, and carnage in their wake. This
war, which lasted for forty years, is now known as the "Albigensian Crusade."
It was a crusade in the true sense of the word. It had been called by the Pope
himself. Its participants wore a cross on their tunics, like crusaders in
Palestine. And the rewards were the same as they were for crusaders in the
Holy Land - remission of sins, an expiation of penances, an assured
place in Heaven, and all the booty one could plunder.
12. The basic Catholic claims haver never changed one
single iota. The Catholic Church’s insistence about her own uniqueness has
remained as granically firm now, as it has always been. These are the same
claims which produced the Inquisition, Cratia and the Catholic Dictatorship in
Vietnam.
If the past be an indication of the shape of things to come then, given the
right opportunities and appropriate political climate, New Inquisition, New
Croatia and New Vietnams will be created again and again. When, where and how,
only the future can tell.
13.
In 1212 an event took place which has no resemblance to any other in world
history: the children of France and Germany went on a crusade, ill-prepared,
unarmed and with nothing but their innocent integrity to aid them.
King Philip of France was at St. Denis when a
twelve-year-old sheperd boy, Stephen of Cloyes, near Orleans, came to him with a
letter which the peasant lad said had come from Christ himself, bidding him
organize a crusade to march on Jerusalem... The French king ordered the boy to
return to his father's house; but Stephen was under the spell of religious
mania. He even dared to disobey his king, announcing that, in a vision, Christ
had promised that the sea would dry up and allow Stephen, and whoever followed
him, to walk dry-shod to Jerusalem, just as the Red Sea had opened for that
other shepherd, Moses.
Certain clerics were appalled by the simple lad's
blasphemy - but Innocent III, curiously, announced that "the very children put
us to shame," and, undoubtedly, Stephen had a most bewildering power of
persuation for one so young and unlettered. Children from many parts of France
flocked round him, carrying banners bearing the sign of Oriflamme. By June,
1212, at the meeting place, Vendôme, it is estimated that 30,000 young people
had assembled for this pathetic march to the Holy Land, without maps and even
without food supplies. They were about to parcipate in what can only be called
a pathetic fact of faith.
How so many children evaded the prohibition of their
parents cannot be known: perhaps the parents, hearing of the Pope's admiration,
were afraid to contest papal approval; perhaps there was little parental
authority exertable in those areas where the fathers themselves were away with
Boniface and Dandolo; and perhaps the hypnotic power of Stephen's words had
transported these boys and girls in such a way that they were
invincibly deaf to any remonstrance. At any rate, they set off that summer,
joined by many adults hangers-on, including priests who found themselves caught
up by this infectious ecstasy, and marched through Tours and Lyons down to
Marseilles, finding food and shelter where they could.
But the summer of 1212 had been unusually hot,
graincrops had not thrived, and food and water were scarce because of the
drought. Many of the children died by the wayside, while others turned back and
tried to find their way home once more. When the remainder at last reached
Marseilles they found to their great disappointment that the sea did not dry up
as the shepherd-lad Stephen had promised, to let them walk to the Holy Land.
After a few days of misery in the port, they were
approched by two unscrupulous merchants.. These men, called Hugh the Iron and
William the Pig, offered to transport the horde of children to Palestine in
seven ships, free of all charge.
Stephen of Cloyes saw in this offer the hand of God,
who works in a mysterious way, and accepted gladly...
...The ships sailed on, but now southwards and not
towards the Holy Land. Their destination was the Saracen port of Bougie, in
Algeria, where all the French children were sold into slavery.
...It is alleged that of the 30,000 children who set
forth from Vendôme but one, a young priest, ever returned to France - and that
only after 18 years of slavery.
This crusading fever spread among the German children,
who were excited by the preaching of a boy named Nicholas Nicholas told the same
story of the sea opening to let the faithful walk dry-shod to Jerusalem. His
estimated "army" was of 20,000 children and hangers-on, good and bad. This
ragged horde struggled over the Alps and, sadly depleted by death and
desertions, at last got as far as Genoa. Here they were turned away from the
city walls by a governor who would not tolerate such a hungry and sickly
rabble. Then, like creatures in a dream of death, they shuffled on southwards,
their visions of relieving the Holy City forgotten in their hunger and agony.
..
"The very children put us to shame," had said Pope Innocent III. He spoke
truly, through perhaps in a different sense from his intention. The shame was
on the Pope himself for not forbidding this cruel wastage; on the parents for
letting their children go; and on the peasants who denied them food and shelter
all along the route, or who took them in only to profit by their slave labour.
It is estimated that of the 20,000 German children who set out to save
Christendom not more than 2,000 ever reached their home again. In this they
were more fortunate than their French counterpart.
14.
The more I reflect on the matter, all nine crusades were Children's Crusades.
All those simple peasant soldiers were as ignorant as children, blindly
following the exhortations of the popes to kill those Arabs who were defending
their land.
3.3 NÚI TỘI ÁC THỨ BA CỦA CÔNG GIÁO:
NHỮNG TÒA HÌNH ÁN XỬ DỊ GIÁO
(The Inquisition)
Trong thiên niên kỷ thứ nhất của giáo hội Công giáo, sự
giết chóc những người lạc đạo tương đối hiếm. Năm 385 tại Trier, Đức quốc, các
giám mục lên án tử hình Priscillian và những người theo Priscillian vì tội nghi
ngờ thuyết Thiên Chúa Ba Ngôi và sự sống lại của Giê-su (Bishops put to death
Priscillian and his followers for doubting the Trinity and the Resurrection).
Năm 415, tại Alexandria, Nữ khoa học gia danh tiếng Hypatia, giám đốc thư viện
Alexandria, bị các linh mục và các đệ tử của thánh Cyril đánh chết vì những tư
tưởng khoa học của Hypatia không phù hợp với Thánh Kinh, tương tự như trường hợp
của giáo hội Công giáo đối với Galilei sau này. Tại Constantinople vào khoảng
năm 550, Hoàng đế Công giáo Justinian giết rất nhiều người vì không theo đúng
giáo lý Công giáo để áp đặt giáo lý chính thống Công giáo trên quần chúng.
Sang thiên niên kỷ thứ hai, Hoàng đế Công giáo Robert
the Pious thiêu sống 13 người “lạc đạo” ở Orleans năm 1022. Năm 1051, trong
cộng đồng Công giáo ở Goslar, Đức quốc, một số người vì một niềm tin nào đó,
không chịu giết gà (unwilling to kill chickens), bị kết tội “lạc đạo” và bị treo
cổ (hanged). Năm 1141, linh mục Peter Alebard bị lên án phải tù chung thân vì
ông ta đã liệt kê những mâu thuẫn của giáo hội Công giáo trong cuốn sách nhan đề
“Yes and No”.
Giáo hội Công giáo cũng còn giết nhiều tín đồ Ki Tô
khác không theo đúng giáo luật của Công giáo. Thí dụ trường hợp Peter Waldo ở
Lyon, một tín đồ Công giáo thường dân giảng đạo ngoài đường phố. Giáo hội Công
giáo ra luật chỉ có linh mục mới có quyền giảng đạo. Do đó những người theo
Waldo, Waldensians, đều bị coi như là lạc đạo và bị tuyệt thông, và trong cuộc
Thập Ác Chinh Albigense, những người này cũng bị tàn sát hoặc thiêu sống trong
vùng Savoy, Pháp quốc. Một trường hợp khác là nhà thần học Pháp Almaric. Ông
này rao giảng là mọi người đều có khả năng trở nên thần thánh (all people are
potentially divine), và những lễ tiết trong giáo hội là không cần thiết (church
rites aren’t needed). Sau khi ông ta chết, xác ông ta bị khai quật lên và đem
đi thiêu, những người theo ông bị thiêu sống (After his death, his followers
were burned alive as heretics, and his body was dug up and burned).
Nhiều nhóm “lạc đạo” khác cũng bị Công giáo tiêu
diệt. Giáo hoàng và các Thánh trong Công giáo chủ trương giết người lạc đạo.
Họ viện dẫn Cựu Ước để biện minh cho các cuộc tàn sát vì Cựu Ước dạy rằng: Kẻ
nào phỉ báng tên Chúa đều phải bị giết (He who blasphemes the name of the
Lord shall be put to death). Thánh Thomas Aquinas tuyên bố: “Nếu những kẻ
bất lương đáng tội chết, thì những kẻ lạc đạo còn đáng bị giết hơn nữa” (St.
Thomas Aquinas declared: “If malefactors are justly doomed to death, much more
may heretics be justly slain.”)
Nghiên cứu về các Tòa Hình Án Xử Dị Giáo, tất cả các nhà
nghiên cứu đều đồng ý, đó là một trong nhiều vết nhơ không sao gột sạch trong
lịch sử Giáo hội Công giáo, tuy rằng có vài nhà Thần học Công giáo đã đưa ra vài
lý luận để bào chữa cho những hành động tàn bạo của Giáo hội, thí dụ như, đó là
hành động của những người cuồng nhiệt tôn giáo, tin rằng mình đã làm theo ý
Chúa, hoặc các Tòa Hình Án Xử Dị Giáo chỉ có mục đích cứu vớt linh hồn những
người lạc đạo, lẽ dĩ nhiên, cứu vớt bằng cách tra tấn và thiêu sống họ.
Những lời bào chữa như trên chỉ có mục đích lạc dẫn đám
tín đồ kém hiểu biết, vì các chuyên gia nghiên cứu về lịch sử tôn giáo đã chứng
minh rằng, sự thiết lập các Tòa Hình Án Xử Dị Giáo giáo bắt nguồn từ nhiều
nguyên nhân thế tục như: bảo vệ cấu trúc quyền lực độc tài của chế độ giáo
hoàng, vơ vét của cải, tài nguyên v...v...
Thật vậy, trong cuốn Những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo Tây
Ba Nha (The Spanish Inquisition, Barnes & Nobles Books, New York, 1994,
p.18) Jean Plaidy viết như sau:
"Đó là lời
bào chữa nghe có vẻ hợp lý, nhưng chúng ta phải nhớ rằng, chính sự sợ hãi những
người dị giáo đã đưa đến sự thiết lập những tòa hình án xử dị giáo; và những nạn
nhân phần lớn là những người giầu có, của cải của họ rất đáng để tịch thu, còn
số ít là những người nghèo không có của cải."
1
Nhưng tại sao Giáo hội Công giáo lại sợ những người
dị giáo? Lý do chính là để bảo vệ quyền lực của Giáo hội trước những tư tưởng
khai phóng, khao khát tự do của những người mà Giáo hội gọi là "lạc đạo". Quyền
lực của Giáo hội nằm trong những giáo điều mà giáo hội đưa ra để nắm giữ cả phần
hồn lẫn phần xác của đám tín đồ kém hiểu biết. Nếu những giáo điều này trở
thành phi lý trước những tư tưởng khai phóng, tự do v..v.. thì giáo hội sẽ mất
đi quyền lực. Gần đây, tuy sợ hãi trước sự bành trướng một cách hòa bình của
Phật Giáo và Hồi Giáo trên khắp thế giới, nhưng vì Giáo hội Công giáo không còn
quyền lực của thời Trung Cổ ở Âu Châu để tra tấn và thiêu sống những người "dị
giáo" nữa, nên Giáo Hoàng John Paul II đã viết cuốn Bước Qua ngưỡng Cửa Hi
Vọng trong đó Giáo hoàng xuyên tạc và hạ thấp Phật Giáo cũng như vài tôn
giáo khác. Hành động này đã bị cả thế giới (trừ đám tín đồ có đầu óc thời Trung
Cổ) lên án và đại diện của Tòa Thánh đã phải xin lỗi Phật Giáo. Nhưng hành động
này cũng chứng tỏ một sự sợ hãi và thiếu tự tin của Giáo hội Công giáo La Mã,
không còn khả năng thuyết phục nhân loại bằng những giáo lý hoang đường, nên
phải dùng đến hạ sách là xuyên tạc và hạ thấp các tôn giáo khác. Những ngôn từ
thiếu văn hóa của John Paul II phê bình các nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Mỹ là
"Những con chó sói đói mồi" và của Hồng Y Ratzinger, nay đã là Giáo
hoàng, nguyên là phụ tá thân cận nhất của John Paul II và là người đứng đầu Cơ
Quan Truyền Bá Đức Tin, biến thể của Cơ Quan Chỉ Đạo các Tòa Hình Án xử dị
giáo, cũng phê bình Phật Giáo là một tôn giáo thuộc loại Tự Thỏa Dâm (Auto
Eroticism), chứng tỏ sự sợ hãi nói trên nhưng cũng đồng thời cho chúng ta thấy
thực chất vô đạo đức tôn giáo của những người cầm đầu Giáo Hội Công giáo La Mã
ngày nay. Buồn thay, những người Công giáo Việt Nam vẫn gọi những kẻ vô đạo đức
tôn giáo như trên là “Đức Thánh Cha”.
Sự sợ hãi những tư tưởng khai phóng của Giáo hội Công
giáo được học giả Công giáo Joseph D. Daleiden phân tích như sau trong cuốn
Sự Mê Tín Cuối Cùng: Một Sự Định Giá Phê Bình Về Di Sản Do Thái-Ki Tô
(The Final Superstition, A Critical Evaluation of the Judeo-Christian Legacy,
Prometheus Books, 1994), trg. 61:
"Với sự
tăng trưởng về kiến thức và về ý thức phán đoán, lòng khao khát có thêm tự do là
điều không thể tránh được. Cả hai chế độ Giáo Hoàng và chế độ quân chủ ở Âu
Châu đều nhận biết sự đe dọa trầm trọng này. Cho nên chúng ta không lạ gì khi
hai chế độ trên đã mở một cuộc chiến toàn diện để tiêu diệt những người tranh
đấu cho sự giải phóng nhân loại ra khỏi những sự cùm kẹp song sinh của Vua chúa
và Giáo hoàng. Đó là mục đích thực sự của những tòa hình án xử dị giáo."
2
Trên đây chỉ là vài nét đại cương về nguyên nhân thiết
lập các Tòa Hình Án Xử Dị Giáo của Giáo hội Công giáo La Mã. Thực chất của
những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo này ra sao, chúng ta hãy nghe lời mô tả của một
nhà Thần học Ki Tô Giáo, Mục sư Ernie Bringas, trong cuốn Theo Đúng Sách
Viết: Những Thảm Họa Trong Quá Khứ Và Hiện Tại Bởi Quyền Lực Thánh Kinh
(Going By The Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority, Hampton
Roads Pub. Co., 1996), trg 37, và đây chỉ là một phần nhỏ sự thực về bản chất
của những tòa hình án xử dị giáo:
"Những
người bị kết án là dị giáo trước hết bị bắt giữ và cô lập với thế giới bên
ngoài. Họ được coi là có tội ngay từ lúc khởi đầu, và bắt các tội nhân thú nhận
tội lỗi được coi như là nhiệm vụ mà Thượng đế trao cho phán quan. Người ta tin
rằng, chỉ có cách này linh hồn bị cáo mới được cứu vớt khỏi nanh vuốt của quỷ.
Bị cáo phải dựa vào chính khả năng của mình, không được phép có luật sư biện hộ.
Ngược lại,
cơ quan truy tố được phép đưa ra bất cứ số nhân chứng nào, gồm cả thân nhân của
bị cáo. Những lời chứng và nghe đồn của ngay cả những nhân chứng không đáng tin
cậy nhất, gồm cả trẻ con, đều được nhận như là những bằng chứng xác định sự phạm
tội. Bị cáo không được phép chất vấn các nhân chứng hoặc cũng không biết họ là
ai. Tuy nhiên, bị cáo được quyền tự biện.
Không lấy
gì làm ngạc nhiên, tra tấn là phương pháp nhanh nhất và hữu hiệu nhất để ép nạn
nhân thú tội. Mới đầu, bị cáo được kéo vào phòng tra tấn và chỉ cho xem những
hình cụ dùng để tra tấn. Nếu họ không nhận cái tội mà người ta gán cho họ, họ
sẽ bị tra tấn từ từ với cường độ tra tấn tăng dần. Những phiên tra tấn
này thường kéo dài từ hai tới bốn tiếng đồng hồ, thân thể các nạn nhân bị xâm
phạm và phá hủy.
Thường thì
những hình cụ tra tấn dùng trong các cuộc tra hỏi này trước hết được rảy nước
Thánh (nước đã được một linh mục làm phúc). Trong những hình cụ tra tấn có:
CÁI KẸP NGÓN
TAY. Ngón tay của bị cáo bị đặt trong cái kẹp có đinh vít. Đinh vít
được quay để kẹp chặt ngón tay dần dần cho tới khi máu phọt ra và xương ngón
tay bị nghiền nát.
ĐÔI ỦNG SẮT.
Cái hình cụ hữu hiệu này dùng để nghiền nát xương ống chân.
CÁI
GIÁ CĂNG. Nạn nhân bị căng trên một khung hình tam giác, chân tay bị buộc chặt
để không cử động được. Cổ tay và cổ chân bị cột vào một cái đinh vít căng. Khi
vặn đinh vít, chân tay nạn nhân bị căng ra một cách vô cùng đau đớn cho tới khi
cổ tay và cổ chân bị kéo ra khỏi những khớp xương tương ứng.
(Mục sư
Bringas còn tả thêm 2 hình cụ tra tấn nữa nhưng vì quá độc ác nên tôi không muốn
dịch. Hai hình cụ đó là: CÁI GIÁ CĂNG THẲNG ĐỨNG (The Vertical Rack) và HÌNH CỤ
TRA TẤN BẰNG NƯỚC (Water Torture). Tuy nhiên, trong phần trích dẫn bằng tiếng
Anh ở cuối bài tôi xin để nguyên lời mô tả những hình cụ này để độc giả tham
khảo. TCN).
...Những
phương pháp độc ác và tàn nhẫn dùng để trừng phạt những người bị kết án là dị
giáo chứng tỏ chiều sâu của sự rồ dại và lạc dẫn sự say mê tôn giáo gây ra bởi
những người tự cho là làm theo ý Chúa."
3
Chúng ta nên để ý rằng, trên đây nhà Thần học Ki Tô Ernie
Bringas chỉ mô tả 5 hình cụ thường dùng để tra tấn những người dị giáo trong số
hơn 40 hình cụ, được phát minh bởi những người con Chúa thường được rao giảng là
Chúa dạy phải thương yêu kẻ thù, trong đó có những hình cụ tra tấn một cách tàn
ác và dã man hơn những hình cụ mô tả ở trên. Độc giả nào tò mò muốn thấy
tận mắt một số những hình cụ này thì tôi xin mời họ hãy đến thăm một bảo
tàng viện có tên là "Medieval Dungeon" ở trên đường Jefferson, khu Fisherman
Warf, thành phố San Francisco, Cali. Trong bảo tàng viện này có trưng bày hơn
40 hình cụ mà các tòa hình án dùng để tra tấn những người bị tố cáo là dị giáo.
Ở ngoài cửa bảo tàng viện có đề:
"Trưng bày
hơn 40 hình cụ man rợ để tra tấn và hủy diệt con người trong thời đại Trung Cổ ở
Âu Châu. Đằng sau những cánh cửa này là sự khủng khiếp thực sự của thời đại
Trung Cổ ở Âu Châu. Những ngày đen tối nhất của cái quá khứ nhơ nhớp của họ."
(More than 40 barbaric exhibitions of torture and annhiliation from European
Medieval days. Beyond these doors lies the true horror of the European Medieval
days. The darkest days of its sordid past.)
Ngoài ra, Linh Mục Joseph Dunn cũng viết trong cuốn
Đám Tín Đồ Công giáo Chúng Tôi (The Rest of Us Catholics, Templegate
Publishers, 1994), trg. 184, như sau:
"Có một
cuộc triển lãm thường xuyên những hình cụ tra tấn tại Amsterdam - Đã một lần
tôi đặc biệt tới xem cuộc triển lãm này. Tôi nghĩ rằng mọi cá nhân mới tuyển
mộ cho Cơ Quan Truyền Bá Đức Tin
(hay Văn
Phòng Thánh, Holy Office, Nguyên là cơ quan chỉ đạo các tòa hình án. TCN) của Hồng Y Ratzinger đều phải đến xem cuộc triển lãm
này và viết một bài nghiên cứu về nó.
Đây là
những hình cụ tra tấn của những tòa hình án xử dị giáo mà Văn Phòng Thánh là cơ
quan thừa kế. Có những hình cụ nghiền nát đầu, nghiền nát ngón tay, giá thang
để căng người, phanh ngực, chẻ đầu gối, hình cụ giống quả lê và làm nó nở ra dần
dần sau khi đâm vào miệng, hậu môn, âm hộ, khuôn người bằng sắt, những cái chĩa
dành cho dị giáo, và những con nhện Tây Ba Nha - kèm theo những bản khắc và tài
liệu chỉ cách những hình cụ này đã được xử dụng như thế nào."
4
Đọc về những tòa hình án xử dị giáo tôi không tài nào
hiểu nổi những hành động dã man, tồi tệ, và phản lại chính tín ngưỡng của
mình, của những tín đồ Công giáo. Thí dụ: một trong những hình cụ tra tấn được
tìm thấy trong nhà tù của Tòa Án Xử Dị Giáo tại vùng Toledo có một bức tượng
giống hình Mary Đồng Trinh. Phía trước có nhiều đinh và dao sắc. Những đòn bẩy
được vận dụng để cho hai tay bức tượng xiết chặt nạn nhân dần dần trong khi
những đinh và dao sắc xuyên qua thân thể. (Plaidy., 143: One of the instruments
of torture, which was discovered in the prison of the Inquisition in Toledo by
the invading French, was a statue built to resemble the Virgin Mary. The front
of the statue was covered with sharp nails and knives. Levers were pulled, and
the arms of the statue would embrace its victim who would be crushed tighter and
tighter, while the knives and nails pierced the naked flesh.). Trong cuốn
“Unzipped: The Popes Bare All”, Tiến sĩ Arthur Frederick Ide mô tả hình cụ tra
tấn mang hình Mary như sau, trang 45, theo tài liệu của Linh Mục Joseph McCabe
trong cuốn Lịch Sử Tra Tấn (Austin, 1980): “Một con đường đi thẳng tới Jesus
hơn [để hiệp thông với Chúa] có thể kiếm thấy trong hình cụ “Bà Đồng
Trinh Bằng Sắt” của những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo. Bà ta khoác một bộ áo choàng
bằng gỗ và sắt, khi mở ra thì có những hàng mũi nhọn trông như những răng của
cái bừa, dài khoảng 20cm. Nạn nhân đứng trên một cánh cửa ở trên một hố nước
sâu, khi hai cánh của hình cụ mở ra và các mũi nhọn rút ra khỏi thân người thì
cái xác sẽ rơi xuống nước ở hố sâu. NHững mũi nhọn được xếp đặt cẩn thận để sao
cho hai cái xuyên vào hai mắt nạn nhân, những cái khác thì xuyên qua ngực và
bụng.” (A more direct route to Jesus was found in the “Iron Virgin” of the
Inquisition. She wore a cloak of wood and iron which when opened revealed an
interior lined with spikes shaped like harrow teeth.. The figure stood above a
trapdoor opening into a moat so that when the doors were opened and the spikes
pulled out of the corpse, it would drop into the water below. The spikes were
carefully placed so that two of them would enter the eyes, others into the
chest, and still others into the abdomen.)
Trong một số sách đã xuất bản, chúng ta cũng có thể thấy
những hình ảnh của những hình cụ tra tấn này, kèm theo lời mô tả cách tra tấn..
Độc giả có thể đọc vài cuốn điển hình, thí dụ như cuốn Những Tòa Hình Án
Tây-Ban-Nha (The Spanish Inquisition) của Jean Plaidy, hoặc cuốn Vạch
Trần Các Giáo Hoàng: Một Khảo Cứu Bộc trực về Vấn Đề Tình Dục và Đồi Bại Trong
Vatican (Unzipped: The Popes Bare All, A Frank Study of Sex & Corruption in
the Vatican) của Arthur Frederick Ide, và nhất là tập sử nổi tiếng
Lịch Sử Những Tòa Hình Án Trong Thời Trung Cổ (The History of the
Inquisition in the Middle Ages) của Henry Charles Lea, nếu muốn biết nhiều hơn
về những sự dã man tàn bạo của Giáo hội Công giáo La Mã.
Sau đây chúng ta hãy đọc vài tài liệu mô tả phần nào chi
tiết về những hành động man rợ, độc ác không thể tưởng tượng được của các con
cái Chúa. Đầu tiên là tài liệu trong cuốn "Các Đại Diện của Chúa KiTô: Mặt
Đen Tối Của Triều Chính Giáo Hoàng (Vicars of Christ: The Dark Side of the
Papacy,Crown Publishers, 1988, trg. 162-166) của Giám Mục Công giáo Peter de
Rosa:
"Khủng bố thực sự bắt đầu với Gregory IX, lên ngôi
giáo hoàng năm 1227.
Hai năm
sau, tại Công Đồng Toulouse ở Languedoc, Gregory ra sắc lệnh giải giao những
người "dị giáo" cho chính quyền dân sự trừng phạt. Ông nói: "Bổn phận của mọi
tín đồ GiaTô là phải truy tố những kẻ dị giáo".
Năm 1232
giáo hoàng đã đi đến một quyết định: Ông ra chiếu chỉ thành lập Tòa Án xử Dị
Giáo. Những Giám mục thì quá lơ là, thực ra là, họ thiếu thì giờ và khả năng để
hoàn thành công việc một cách chu đáo. Những người dị giáo, nghĩa là những
người chống bất cứ lời tuyên bố nào của giáo hoàng, đều phải giải giao cho chính
quyền dân sự thiêu sống
(sau khi
bị Tòa Hình Án tra tấn, thẩm vấn và kết tội; TCN). Nếu họ sám hối họ
sẽ bị tù chung thân. Chưa có giáo hoàng nào dương lên ngọn đuốc khủng bố với sự
thích thú hơn.
Tháng 4,
1233, giáo hoàng chỉ chọn những quan tòa hình án trong dòng Đa Minh
(Dominic) và chẳng bao lâu các linh mục dòng này vinh dự
được sự chọn lựa đó. Ngày 27 tháng 7, 1233, là ngày giáo hoàng phê chuẩn bằng
bút đỏ: hai phán quan của tòa hình án làm việc toàn thời gian được bổ nhiệm -
Peter Seila và Wìliam Arnald. Hai ông này là hai người đầu tiên của một đoàn
dài những công tố viên của nhân loại, làm việc một cách thanh thản và không hề
thắc mắc. Khi bức màn hình án được kéo lên, năm 1239, 2 năm trước khi Gregory
chết, linh mục dòng Đa Minh Robert le Bougre đi tới Champagne để điều tra một
giám mục tên là Moranis. Ông giám mục này bị kết tội là để cho những người dị
giáo sống và lan ra trong giáo phận của mình. Ngày 29 tháng 5, le Bougre đưa
180 người, kể cả ông giám mục, lên giàn hỏa thiêu sống.
Đây là sự
trở lại thời man rợ.
Lịch sử
không ủng hộ quan điểm cho rằng giáo hội Công giáo luôn luôn đứng đầu về vấn đề
nhân quyền. Trong thế kỷ 13, giáo hội vẫn còn đưa ra giáo điều như thuở ban
đầu: dị giáo không có một nhân quyền nào. Họ có thể bị tra tấn không chút đắn
đo, ngại ngùng. Giống như những kẻ phản bội quốc gia, họ tự đặt mình ra ngoài
sự thương xót của luật pháp. Họ phải chết.
Trải qua 3
thế kỷ không có một giáo hoàng nào chống đối cái giáo điều man rợ trên. Do đó,
giáo điều này đã trở thành một phần thường trực trong giáo lý Công giáo. Dựa
vào đó, quyền năng của tòa hình án đã lên tới mức chưa từng thấy. Kết quả là
sự đàn áp toàn diện những người không hề có được một sự bảo vệ nào trước những
sự buộc tội hoặc chỉ bị nghi ngờ là dị giáo.
Tòa hình án
được phép làm bất điều gì. Những phán quan của tòa hình án dòng Đa Minh, được
giáo hoàng bổ nhiệm, họ không ở dưới quyền bất cứ một ai ngoài Thượng đế và giáo
hoàng. Họ đứng ngoài vòng xét xử của các giám mục và luật dân sự. Trong những
quốc gia thuộc quyền giáo hoàng họ chính là luật lệ, vừa đóng vai công tố viên
vừa đóng vai quan tòa xử án. Nguyên lý chỉ đạo của họ là: "Thà giết oan 100
người vô tội còn hơn là để cho một kẻ dị giáo được tự do."
Họ hoạt
động một cách độc đoán và trong vòng bí mật. Bất cứ người nào hiện diện trong
cuộc tra hỏi - nạn nhân, thư ký, người tra tấn - mà tiết lộ thì sẽ bị lên án mà
chỉ có giáo hoàng mới có thể tha cho. Những quan tòa hình án, giống như giáo
hoàng, được hiểu rằng không thể phạm một lỗi lầm nào và không thể làm sai...
Tra tấn
được dùng thả dàn. Mới một trăm năm trước đây, người ta trưng bầy trong cái nhà
ở góc đường của giáo hoàng cuốn Sổ Đen dùng làm chỉ đạo cho những quan tòa hình
án. Cuốn sổ có đánh số trang này thuộc trách nhiệm của Phán Quan Trưởng Tòa
hình án. Cái tên phổ thông của nó là Cuốn Sổ của Thần Chết. Sau đây là một
phần được trích dẫn từ đó:
"Hoặc bị
cáo thú tội và như vậy là có tội theo sự thú tội của chính hắn, hoặc hắn không
thú tội nhưng vẫn là có tội dựa theo chứng cớ của các nhân chứng. Nếu một người
nhận tất các tội đã gán cho hắn, đương nhiên hắn hoàn toàn có tội; nhưng nếu
hắn chỉ thú có một phần các tội trạng, hắn vẫn phải bị coi như là phạm tất cả
các tội, vì phần mà hắn đã thú tội chứng tỏ rằng hắn có khả năng phạm tất cả các
điểm khác trong bản cáo trạng...
Sự tra tấn
thân xác đã chứng tỏ đó là phương cách có ích và hữu hiệu đưa tới sự sám hối
tinh thần. Cho nên, sự chọn lựa một hình cụ tra tấn thích hợp nhất là trách
nhiệm của quan tòa hình án, ông ta sẽ quyết định dựa trên tuổi tác, phái nam hay
nữ, và sự cường tráng thân thể của tội nhân. Nếu, trong trường hợp đã dùng đủ
mọi cách mà con người xấu số kia vẫn không chịu nhận tội, phải coi hắn như là
một nạn nhân của quỷ; và, như vậy, không được hưởng sự thương xót từ các kẻ tôi
tớ của Thượng đế
(các linh
mục xử án), hoặc sự thương hại
hay khoan hồng nào của giáo hội Mẹ Thánh thiện. Hắn là đứa con của sự đày đọa.
Hãy để cho hắn chết rục cùng với những kẻ đã bị đày đọa vĩnh viễn xuống hỏa
ngục."
Thật khó mà
có thể kiếm được một văn kiện nào mà trái với những nguyên tắc công lý tự nhiên
như vậy. Theo cuốn Sổ Đen, một đứa con phải phản bội cha mẹ, một bà mẹ phải
phản bội đứa con. Không làm như vậy là một "tội lỗi đối với Tòa Án Thánh" và
đáng bị tuyệt thông, nghĩa là, không được hưởng các bí tích và, nếu không có tu
chính án, không được lên thiên đàng.
Những ông
Tòa hình án chưa bao giờ thua một vụ nào. Sử liệu cho thấy không có một vụ phán
quyết nào được xem là vô tội. Ngay cả trong trường hợp rất hiếm mà phán quyết
của tòa hình án là Không Đủ Bằng Cớ, thì cũng không ai được công nhận là vô
tội. Nếu bị cáo thực sự không có tội dị giáo cũng không thành vấn đề. Các ông
tòa hình án tin rằng may ra chỉ có một trong trăm ngàn linh hồn thoát được sự
đọa đày mà thôi."
5
Trên đây, Peter de Rosa chỉ nói là các quan án đạo,
thường là linh mục, được quyền tra tấn thả dàn, nhưng không mô tả những cảnh tra
tấn đó như thế nào. Chúng ta có thể thấy thêm một chút ánh sáng về khía cạnh
này qua một đoạn trong cuốn Những Sự Khủng Khiếp Mang Nhãn Hiệu Thánh, Một
Lịch Sử Minh Họa Về Sự Điên Rồ Sát Nhân Tôn Giáo (Holy Horrors, An
Illustrated History of Religious Murder and Madness, Prometheus Books, 1990) của
James A. Haught, trang 61-68. Tôi thành thực khuyên những người yếu tim không
nên đọc đoạn mô tả những cách tra tấn này của giáo hội Công giáo thánh thiện:
Những nỗ lực để tiêu diệt những kẻ lạc đạo đã đưa đến sự
thành lập những Tòa Án Xử Dị Giáo Mang Nhãn Hiệu Thánh (Holy Inquisition), một
trong những hành động khủng khiếp siêu việt của nhân loại. Vào đầu thế kỷ 13,
các giám mục địa phương được quyền kiếm ra, xử án và trừng phạt những kẻ lạc
đạo. Khi các giám mục không tỏ ra là hữu hiệu cho lắm, các quan án đạo của giáo
hoàng, thường là các linh mục dòng Đa Minh (Dominician), được phái từ La Mã đi
khắp nơi để thực hiện cuộc tẩy trừ.
Năm 1252, Giáo hoàng Innocent IV cho phép tra tấn, và những phòng xử án đạo trở
thành những nơi khủng bố. Những người bị tố cáo là lạc đạo bị bắt và giam trong
phòng tối, không được phép có gia đình vào thăm, không được quyền biết tên những
người đã tố cáo họ. Nếu họ không nhận tội ngay, những cảnh độc ác không thể
thốt lên lời bắt đầu xẩy ra. Nhà sử học Thụy Sĩ Walter Nigg kể lại:
“Cái kẹp ngón tay thường là hình cụ được xử dụng đầu
tiên: Các ngón tay bị kẹp giữa những cái kẹp và rồi được vặn xiết lại cho đến
khi các ngón tay bị tóe máu ra và cương bị nghiền nát. Kẻ bị tố cáo có thể bị
đặt ngồi trên một chiếc ghế sắt mà mặt ghế là những đinh sắt nhọn chổng lên và
các đinh này có thể được nung nóng đỏ lên từ phía dưới. Có hình cụ được gọi là
đôi ủng (boots) dùng để nghiền nát xương ống chân. Một hình cụ tra tấn khác
được ưa dùng là làm trật các khớp xương của kẻ lạc đạo trên những giá căng, hay
là buộc chân tay, đeo đá nặng vào người, rồi dùng bánh xe quay, kéo lên hạ
xuống. Để cho những kẻ tra tấn khỏi bị phiền vì những tiếng kêu la, nạn nhân
thường bị nhét giẻ vào miệng. Những cuộc tra tấn kéo dài 3, 4 tiếng đồng hồ là
thường. Trong những cuộc tra tấn, các hình cụ thường được rẩy nước thánh.”
Những nạn nhân không chỉ bắt buộc phải nhận tội mình là
kẻ lạc đạo, mà còn phải tố cáo vợ con, bạn hữu của mình cũng lạc đạo như mình,
do đó những người này cũng phải trải qua cùng một cảnh như mình. Những người ít
tội là những người nhận tội ngay và chịu hình phạt nhẹ hơn. Những người tội
nặng hơn mà sám hối thì sẽ bị tù chung thân và tài sản bị tịch thu. Những kẻ
cứng đầu hơn được mang đi thiêu sống trong một cuộc lễ diễn hành được gọi là
“auto-da fé” (hành động của đức tin). Một sắc lệnh của Giáo hoàng năm 1231 quy
định thiêu sống là hình phạt tiêu chuẩn. Sự hành hình được thi hành bởi các
viên chức dân sự, không phải là linh mục, để bảo tồn sự thánh thiện của giáo hội
[Trong các cuộc thiêu sống, các linh mục thường đứng giơ cây thập ác trước mặt
nạn nhân, một biểu tượng cứu vớt linh hồn lạc đạo của nạn nhân].
Một số quan án đạo giết người như vạt cỏ. Robert le Bourge
đưa 183 người lên dàn hỏa trong một tuần lễ. Bernard Gui kết tội 930 người –
tịch thu tài sản của tất cả 930 người – cho 307 người vào tù, và thiêu sống 42.
Conrad of Marburg thiêu sống mọi người nào cho mình là vô tội.
Theo lịch sử, các cuộc hình án xử dị giáo được chia làm
ba đợt: sự tiêu diệt những kẻ lạc đạo trong thời Trung Cổ, những tòa hình án xử
dị giáo Tây Ban Nha vào thế kỷ 15, và những tòa án xử dị giáo của La Mã, bắt đầu
sau cuộc cải cách [trong đó Tin Lành cũng nhúng tay vào]
Ở Tây Ban Nha, nhiều ngàn người Do Thái đã cải đạo sang
Ki Tô Giáo để tránh tử hình trong những cuộc tàn sát của người Ki Tô Giáo. Một
số người Hồi Giáo cũng vậy. Thuy nhiên, họ vẫn bị nghi ngờ là không được thành
thật khi cải đạo và vẫn bí mật theo đạo cũ. Năm 1487, Giáo hoàng cho phép Vua
Frenidand và Hoàng hậu Isabelle làm sống lại những tòa hình án xử dị giáo để săn
lùng những người “Do Thái bí mật” và những người “Hồi Giáo bí mật” [Những người
bị nghi ngờ là không thành thật cải đạo sang Ki Tô Giáo]. Linh mục dòng Đa Minh
Tomas de Torquemada được chỉ định là Tổng Phán Quan, và hắn ta trở thành biểu
tượng của sự độc ác tôn giáo. Hàng ngàn nạn nhân kêu la bị tra tấn, và ít nhất
là 2000 người bị thiêu sống.
Thời kỳ xử dị giáo của La Mã bắt đầu năm 1542 khi Giáo hoàng
Paul III muốn tiêu diệt tận gốc những ảnh hưởng của Tin Lành ở Ý. Dưới triều
đại Paul IV, những tòa án xử dị giáo là một triều đại khủng bố, giết nhiều người
“lạc đạo” chỉ vì nghi ngờ. Trong số những nạn nhân có cả nhà khoa học-triết gia
Giordano Bruno, người tin theo thuyết các hành tinh quay xung quanh mặt trời của
Copernicus. Ông ta bị thiêu sống ở La Mã vào năm 1600.
Những tòa án xử dị giáo làm tàn lụi nhiều quốc gia trong
nhiều thế kỷ. Ở Bồ Đào Nha, tài liệu ghi lại là 184 người bị thiêu sống. Những
tòa án xử dị giáo được những chiến thắng quân Tây Ban Nha mang tới các thuộc địa
Mỹ Châu, để trừng phạt những thổ dân theo những tôn giáo của họ. Có 879 cuộc xử
án những người lạc đạo ở Mexico vào cuối thế kỷ 16..
Lord Acton, một tín đồ Công giáo, viết vào cuối thế kỷ
19: “Nguyên tắc của Những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo là giết người.. Những giáo
hoàng không chỉ là những tên sát nhân có hạng, mà còn cho sự giết người là một
căn bản hợp pháp của Giáo hội Ki Tô và là một điều kiện của sự cứu rỗi.” 6
Cuối cùng trong bài này, vì tôi không thể đưa ra tất cả
những tài liệu, là thêm một tài liệu về các Tòa Hình Án Xử Dị Giáo của Helen
Ellerbe trong cuốn Cái Mặt Đen Tối Của Lịch Sử Ki Tô Giáo (The Dark Side
of Christian History, Morningstar & Lark, 1995, Chapter VI, pp. 76-92):
Chưa từng có nỗ lực có tổ chức của một tôn giáo để kiểm soát con người và giam
giữ tâm linh của họ như là những tòa hình án của Ki Tô Giáo. Được phát triển từ
trong khuôn khổ hợp pháp của chính giáo hội, những tòa hình án xử dị giáo toan
tính khủng bố con người để bắt họ vào trong vòng tuân phục giáo hội. Như quan
án đạo (Inquisitor) Francisco Pena phát biểu năm 1578: “Chúng ta phải nhớ rằng
mục đích chính của các cuộc xử án và hành hình không phải là để cứu vớt linh hồn
của kẻ bị cáo buộc mà để cho sự tốt lành công cộng và reo rắc sự sợ hãi cho
những kẻ khác.” Những Tòa Án Xử Dị Giáo đã lấy đi vô số mạng người ở Âu Châu
và trên thế giới khi nó theo gót những giáo sĩ thừa sai đi truyền đạo. Cùng với
sự tàn bạo của những tòa án xử dị giáo, những giáo sĩ cũng đem sự biện minh tôn
giáo (như được viết trong Thánh Kinh) để thực hành chế độ nô lệ.
Cái tinh thần bất phục trong thời Trung Cổ có vẻ như đã
làm cho sự đòi hỏi tuyệt đối tuân phục của giáo hội trở nên trầm trọng. Cái
hiểu về Thiên Chúa của Giáo hội là cái hiểu duy nhất. Không làm gì có chuyện
bàn cãi hay tranh luận. Như quan án đạo Bernard Gui nói, tín đồ Công giáo không
có tranh luận với những kẻ bất tín, “mà chỉ cần dùng gươm đâm vào bụng chúng cho
thật sâu.” Trong một thời mà con người nẩy nở tâm linh, giáo hội khăng khăng
cho rằng giáo hội là con đường duy nhất mà con người được phép biết về Thiên
Chúa. Giáo hoàng Innocent III tuyên bố rằng: “bất cứ người nào mà toan tính có
một quan điểm riêng về Thiên Chúa mà không đúng theo những tín điều của giáo hội
đều phải bị thiêu sống mà không được thương sót.”..
Giáo hội xử dụng giáo luật của chính mình để hình thành một cơ quan có thể cưỡng
bức con người phải tuân theo quyền lực của giáo hội. Năm 1231 giáo hoàng
Gregory IX thiếtlập một tòa án riêng biệt, độc lập đối với những giám mục hay
các cấp cao hơn. Những viên chức của tòa án, những quan án đạo, chỉ chịu trách
nhiệm trước giáo hoàng. Luật xử dị giáo của giáo hội thay thế luật truyền thống
thường dùng; “vô tội cho đến khi chứng thực là có tội” bằng luật “có tội cho đến
khi chứng thực là vô tội.” Tuy rằng bề ngoài có vẻ như là một cuộc xử án,
phương thức xử dị giáo khiến cho người bị nghi ngờ lạc đạo không có cách nào có
thể chứng minh mình vô tội; phương thức xử án trên đưa đến kết quả cuộc là kết
tội ngay cả những người chỉ mới là nghi ngờ lạc đạo. Người bị cáo buộc không có
uyền được tham vấn. Không có chi tiết nào được đưa ra về thời gian và nơi chốn
phạm những tội lạc đạo, hoặc những loại lạc đạo nào đã bị nghi ngờ là phạm phải.
Quan Án Đạo (The Inquisitor) chủ tọa phương thức xử dị
giáo như cả hai: vừa là công tố viên vừa là quan tòa tuyên án… Một quan án đạo
được tuyển chọn căn cứ trên sự nồng nhiệt truy tố lạc đạo của ông ta. Ông ta và
những phụ tá, những liên lạc viên và mật thám, được quyền mang vũ khí. Và năm
1245, giáo hoàng cho phép các quan án đạo được tha tội cho những phụ tá của mình
trước bất cứ những hành động bạo lực nào. Điều này khiến cho những tòa án xử dị
giáo, vốn đã không chịu dưới quyền của nền pháp luật thế tục, cũng còn không
chịu trách nhiệm ngay cả trước những tòa án của giới giáo sĩ..
Những quan án đạo trở nên rất giầu có. Họ nhận hối lộ và
tiền hụi hàng năm mà những người giầu có phải trả để tránh bị tố cáo là lạc
đạo. Tòa án xử dị giáo tịch thu tài sản của nhữngngười bị cho là lạc đạo. Vì
các nạn nhân không có cách nào để chứng tỏ mình vô tội trước tòa nên các quan án
đạo không cần chờ đến khi định tội rồi mới tịch thu tài sản của nạn nhân. Không
như luật của La Mã để ra một phần tài sản cho người thừa kế của người có tội,
giáo luật của tòa án xử dị giáo không để lại chút nào. Giáo hoàng Innocent III
đã giải thích là chính Thiên Chúa đã trừng phạt con cái vì tội lỗi của cha mẹ.
Cho nên, trừ khi con cái đứng ra ngay để tố cáo cha mẹ, chúng không được thừa
hưởng chút nào. Những quan án đạo lên án ngay cả những người lạc đạo đã chết,
đôi khi cả tới 70 năm sau khi chết. Chúng khai quật và hỏa thiêu xương cốt của
người mà chúng cho là lạc đạo và rồi tịch thu mọi tài sản của những người thừa
kế..
Những tòa án xử dị giáo thật tàn nhẫn đối với các nạn nhân
của họ. Cùng một người vừa là công tố viên (người kết tội) vừa là quan tòa
(người định tội) quyết định án tội. Năm 1244 Công đồng ở Narbonne ra lệnh rằng
khi định tội những người lạc đạo, phải kết tội luôn người chồng hay người vợ của
nạn nhân, hoặc cha mẹ của đứa con, và không có bản án nào được giảm vì đau ốm
hay tuổi tác.
Tuy Giáo hội đã bắt đầu giết những người lạc đạo vào cuối
thế kỷ 4 và sau đó ở Orléan vào năm 1022, lệnh của giáo hoàng năm 1231 quy định
những người lạc đạo phải bị thiêu sống. Thiêu sống con người tránh được đổ máu
[nhưng khi tra tấn nạn nhân thì tha hồ làm đổ máu] Câu trong Phúc Âm Giăng
(John) được hiểu để trừng phạt nạn nhân bằng cách thiêu sống: “Nếu một người
không tin vào Ta, nó sẽ bị dẹp đi như một cành cây, để khô héo; và các người sẽ
thu thập nó, ném vào ngọn lửa, và chúng bị đốt cháy”(John 15: 16).
Cái sắc thái ác độc nhất của hệ thống xử dị giáo là những
cách dùng để bắt buộc nạn nhân phải thú tội: phòng tra tấn. Tra tấn là hành
động hợp pháp của Giáo hội từ năm 1252 khi được giáo hoàng Innocent IV cho phép
và kéo dài cho tới năm 1917 khi văn kiện Codex Juris Canonici (giáo luật về cách
xử xét) được thi hành. Innocent IV cho phép sự xét xử được kéo dài vô hạn để
lấy lời thú tội, cho các quan án đạo tất cả thời gian họ muốn để tra tấn người
bị kết tội. Năm 1262 những quan án đạo và phụ tá của họ được quyền tha tội cho
nhau vì những tội ác làm đổ máu của họ. Họ chỉ cần giải thích là người bị tra
tấn chết là vì đã bị quỷ bẻ gãy cổ.
Do đó, được phép của chính giáo hoàng, những quan án đạo
tha hồ nghĩ ra những cách độc ác và kinh khủng nhất [để tra tấn kẻ lạc đạo].
Mặc những bộ áo chùng thâm và phủ vải đen trên đầu, các quan án đạo có thể lấy
lời thú tội của bất cứ ai. Họ phát minh ra mọi hình cụ có thể tưởng tượng ra
được để gây đau đớn cho nạn nhân bằng cách từ từ làm trận những khớp xương tr6n
người hoặc làm tứ chi tước khỏi thân thể con người. Trên nhiều hình cụ này được
khắc câu “Chỉ Cho Sự Vinh Quang Của Thiên Chúa”. Giá căng người, bánh xe kéo
người lên xuống, tra tấn bằng nước là những hình cụ thông dụng nhất. Nạn nhân
bị thoa mỡ lên người và từ từ nướng sống. Những lò sát sinh để giết người, biểu
tượng ô nhục của Đức Quốc Xã trong thế kỷ 20, đã được những tòa án xử dị giáo xử
dụng trước hết ở Đông Âu. Nạn nhân bị ném xuống hố sâu có đầy rắn độc và rồi bị
chôn sống. Một cảnh tra tấn ghê rợn là lật úp một cái đĩa chứa đầy chuột trên
bụng trần của nạn nhân. Lửa được đốt từ phía trên làm cho những con chuột hỏang
sợ tìm cách chui rúc vào bụng nạn nhân.
Sự bạo hành nằm trong niềm tin về một đấng siêu đẳng duy
nhất đã đi theo những nhà phiêu lưu và các nhà truyền giáo trên khắp thế giới.
Khi Columbus tới Mỹ năm 1492, hắn ta tưởng lầm đó là Ấn Độ và gọi các thổ dân là
“người Ấn” (Indians). Chính vì mục đích của hắn, chủ trương cải đạo các thổ dân
vào “Đức Tin Thánh” của chúng ta (our Holy Faith) đã đưa đến sự nô lệ hóa và
xuất cảng nhiều ngàn thổ dân Mỹ đi làm nô lệ. Cách đối xử có tính cách diệt
chủng như vậy không phải là vấn đề vì các thổ dân Mỹ đã được cho cơ hội để sống
cuộc sống đời đời trong Ki Tô Giáo.
Những tòa án xử dị giáo mau chóng theo gót nhửng nhà
phiêu lưu và truyền giáo này. Vào khoảng 1570 những tòa hình án xử dị giáo đã
thiết lập những tòa độc lập ở Peru và Mexico với mục đích “giải phóng quốc gia
đã bị ô nhiễm bởi những người Do Thái và kẻ dị giáo”. Những thổ dân không chịu
cải đạo vào Ki Tô Giáo đều bị thiêu sống giống như những kẻ lạc đạo. NHững Tòa
Hình Án Xử Dị Giáo lan sang đến cả Goa, Ấn Độ, ở đ1o vào cuối thế kỷ 16, đầu thế
kỷ 17, ít nhất là 3800 bị giết.
Dù không có những tòa án xử dị giáo ở địa phương, cung
cách truyền giáo minh họa rõ ràng niềm tin vào một Thiên Chúa siêu đẳng duy
nhất. Nếu hình ảnh của một Thiên Chúa thờ phụng ở một quốc gia nào mà không
phải là Thiên Chúa của Ki Tô Giáo, thì đó không phải là Thiên Chúa. Những nhà
truyền giáo Bồ Đào Nha ở Viễn Đông đã phá hủy chùa chiền, bắt buộc các học giả
phải dấu đi nhưng kinh sách của tôn giáo họ, và dẹp bỏ những tục lệ cổ truyền.
Những nhà truyền giáo Ki Tô Giáo thường dự phần vào việc
khai thác bóc lột đất đai ở ngoại quốc một cách vô lương tâm. Nhiều người trở
thành nhà truyền giáo để trở thành giầu có nhanh chóng rồi trở về Âu Châu sống
với những lợi nhuận từ những sự khai thác này. Ở Mễ Tây Cơ, những giáo sĩ dòng
Đa Minh, dòng Augustine, dòng Tên được biết là sở hữu chủ của “những đàn cừu lớn
nhất, những vườn mía tốt nhất, những địa ốc tốt nhất”
[Ở Việt Nam,
Nhà Chung cũng chiếm hữu nhiều đất đai và cơ sở kinh doanh nhất, theo Linh Mục
Trần Tam Tĩnh trong cuốn “Thập Giá và Lưỡi Gươm”]. Đặc biệt là ở Nam Mỹ,
Giáo hội hỗ trợ việc nô lệ hóa các thổ dân và cướp đoạt đất đai của thổ dân.
[Chúng ta hẳn câu nói thời danh của tổng giám mục Desmond Tutu, người đã đoạt
giải Nobel về Hòa Bình năm 1984: “Chúng tôi có đất đai và họ tới với cuốn
Thánh Kinh của họ. Chúng tôi tin họ, cầm cuốn Thánh Kinh trên tay, nhắm mắt cầu
nguyện. Khi chúng tôi mở mắt ra thì chúng tôi có cuốn Thánh Kinh và họ có tất
cả đất đai của chúng tôi.” (We have our lands and they came with their
Bible. We believed in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes
closed. When we open our eyes, we have the Bible and they have our lands]
Một sắc lệnh của giáo hoàng vào năm 1493 cho phép người Ki Tô được khai chiến
với bất cứ dân tộc nào ở Nam Mỹ từ chối không theo Ki Tô Giáo…
Ki Tô Giáo cũng ủng hộ chế độ nô lệ ở Bắc Mỹ. Anh Giáo,
vào thế kỷ 18 khẳng định rõ là Ki Tô Giáo giải tho át con người khỏi sự đầy đọa
vĩnh viễn chứ không phải khỏi những trói buộc của nô lệ.. Tuy nhiên, nô lệ nên
cải đạo vào Ki Tô Giáo, vì họ sẽ trở thành ngoan ngoãn và vâng lời hơn.
Những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo cũng như chế độ nô lệ đều
dựa trên cùng một biện minh tôn giáo. Để giữ niềm tin chính thống của Ki Tô
Giáo vào một Thiên Chúa duy nhất và đáng sợ như là đấng cai trị cao nhất của hệ
thống giáo quyền, quyền năng nằm trong giới có quyền, chứ không nằm trong cá
nhân. Vâng lời và tuân phục được đánh giá cao hơn là tự do và tự quyết. Những
Tòa Hình Án Xử Dị Giáo đã thực hiện những kết quả đen tối của một niềm tin như
vậy qua việc cầm tù và giết hại thể xác cũng như tinh thần của vô số người – và
không chỉ trong một thời gian ngắn. Những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo kéo dài qua
nhiều thế kỷ và vẫn còn tồn tại ở vài nơi cho đến năm 1834. 7
Trên đây chỉ là một số tài liệu lịch sử, lẽ dĩ nhiên
không phải là tất cả, về những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo của Giáo hội Công Giáo
thánh thiện, tông truyền. Theo một số trí thức Công Giáo Việt Nam thì rất có
thể những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo đó là cơ quan thực thi "công lý Công giáo", "ý
niệm về công bằng, bác ái, nhân quyền" của Công giáo (theo giáo sư Đỗ Mạnh Tri
trong cuốn Ngón Tay và Mặt Trăng), hoặc đó là "ý niệm tiến bộ của văn
minh toàn thế giới" và "sứ mạng cao cả của Giáo hội: mang sự thật đến cho nhân
loại" của Công giáo (theo Lý Chánh Trung trong cuốn Tôn Giáo và Dân Tộc).
Tôi không hiểu tại sao những bậc trí thức Công Giáo như Đỗ Mạnh Tri hay Lý Chánh
Trung có thể trơ tráo đến độ có thể viết lên những điều hoàn toàn sai với những
sự thực về lịch sử cũng như bản chất của giáo hội Công giáo như vậy. Viết như
vậy không hiểu họ có biết ngượng hay không, ngượng vì chính cái lịch sử ô nhục
đẫm máu của Công Giáo, hay ngượng vì chính sự ngu dốt của mình đã tin theo những
lời lừa bịp của giáo hội. Thật là khó hiểu, Công giáo đã không từ một hành động
tàn ác bất nhân nào để vinh danh Chúa và Mary Đồng Trinh và làm cả tượng “Đồng
Trinh” để tra tấn và giết hại con người. Làm sao mà Giáo hội có thể gột sạch
được những vết nhơ như thế. Hay là Giáo hội nghĩ rằng, nếu các tín đồ không
biết đến những vết nhơ này thì sẽ không có vết nhơ nào trên khuôn mặt Giáo hội?
Tôi không hiểu các tín đồ Công Giáo Việt Nam, khi đọc những tài liệu về những
hành động vô cùng ác độc của giáo hội Công Giáo đối với con người như trên, sẽ
nghĩ sao về cái “giáo hội thánh thiện” của họ, và họ có còn dám ngửng mặt lên
nhìn những người ngoại đạo và huênh hoang ca tụng Công Giáo láo như Đỗ Mạnh Tri
và Lý Chánh Trung như ở trên hay không?
Về sau những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo cũng được Tin Lành áp
dụng ở khắp nơi mà Tin Lành nắm quyền, kể cả ở Mỹ, nhưng thường ở mức độ thấp
hơn. Qua một số sự kiện lịch sử kể trên, tôi xin để cho quý độc giả tùy ý nhận
định về ảnh hưởng và thực chất của một tôn giáo thường được rêu rao vào tai con
người bằng những danh từ hoa mỹ như "cao quý, thiên khải, thánh thiện, cứu thế,
bác ái, mang tới "tin mừng", tôn trọng nhân quyền, tự do, duy nhất chân thật
v...v..." Tiếp nối tinh thần của những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo là những cuộc
Săn Lùng Phù Thủy không kém phần dã man của giáo hội Công giáo thánh thiện, tông
truyền. Đây là đề tài của “Núi Tội Ác Thứ Tư Của Công Giáo” trong loạt
bài về “Công Giáo Hắc Sử”.
__________________________________________________
1. It is a plausible excuse; but we must remember that it
was fear of the heretic which inspired the foundation of the Inquisition; and
that its victims were more likely to be rich men, whose goods were worthy of
confiscation, than men whose wordly goods were few.
2. With the growth in knowledge and critical thinking,
inevitably came the desire for more freedom. Both the papacy and the monarchies
of Europe recognized this grave threat. It is no wonder, then, that an all-out
war was declared on those who sought to free humankind from the twin shackles of
king and pope. This was the true purpose of the Inquisition.
3. The accused heretics first were arrested and
isolated from the outside world. They were considered guilty from the outset,
and it was regarded as the God-given obligation of the inquisitor to shake loose
confessions. Only in this way, it was believed, could the accuseds's souls be
saved from the clutches of the devil. Defense lawyers were not allowed; the
accused had to rely on his own resources.
In contrast, the prosecution was authorized to produce
any number of witnesses, including blood relatives.
Testimony and hearsay by even the most unreliable
witnesses, including children, were accepted as conclusive evidence of guilt.
The accused was not allowed to challenge witnesses or even know who they were.
The accused, however, was permitted to testify.
Not surprisingly, torture was the quickest and most
effective method of obtaining a confession. The heretics first were dragged
into the torture chamber and shown all the instruments of torment. If they did
not confess their alleged guilt, torture was applied slowly with increasing
intensity. These sessions usually lasted two to four hours, leaving the victims
violated and shattered.
Often the torture instruments used in these
interrogations were first sprinkled with holy water (water blessed by a
priest). These numerous devices included:
THE THUMBSCREW. The accused's fingers were placed between
clamps. The screws were turned until blood spurted and the bones were crushed.
THE BOOTS. This effective device was used to crush the
shinbones.
THE RACK. The accused was stretched across a triangle
frame, bound hand and foot to prevent movement. Wrists and ankles were secured
by cords affixed to a jackscrew. When the screw was turned, the limbs were
stretched execruciatingly until the wrists and ankles were pulled from their
sockets.
THE STRAPPADO (Vertical Rack). The accused's hands were
tied behind his or her back and raised by a rope attached to a pulley to the
ceiling. The prisoner was then dropped repeatedly with a jerk to within a few
inches of the floor. On occasion, weights were tied to the victim's feet to
increase the shock and agony of the fall.
THE TOCA (Water torture). The accused was tied to a rack,
the mouth was kept forcibly open, and a linen cloth put down the throat to
conduct water poured slowly from a vessel. The severity of this torture
depended on the amount of water released.
...The cruel and heartless methods used to punish persons
accused of heresy indicates the depth of madness and misguided religious passion
perpetrated by those who claimed to be doing God's will.
4. There is a permanent exhibition of torture instruments
in Amsterdam - I once made a special point of going to see it. I think that
every new recruit to Cardinal Ratzinger's Congregation of the Doctrine of the
Faith (or Holy Office) should be required to visit the exhibition and write a
study paper on it.
Here are the tools of the Inquisitions of which the Holy
Office is the heir. There are headcrushers, thumbscrews, ladder racks, breast
rippers, knee splitters, oral, rectal, and vaginal pears, iron maidens, heretic
forks, and Spanish spiders - with woodcuts, engraving and documents to show how
they were used.
5. The terror began in earnest with Gregory IX, who
ascended the papal throne in the year 1227.
Two years later, at the Council of Toulouse in Languedoc,
Gregory decreed that heretics had to be handed over to the secular arm for
punishment. "It is the duty of every Catholic," he said, "to persecute
heretics."
In the year 1232 he made his decisive move. He published
a Bull establishing the Inquisition. Bishops were too lax and, in any case,
they lacked the time and talent to do a thorough job. Heretics, that is, all
opposed to any papal pronouncement, were to be handed over to the civil
authorities for burning. If they repented, they were to be imprisoned for
life. No pope ever took up the torch of terror with more enthusiasm.
In April 1233 he restricted inquisitors to members of the
mendicant orders; soon, the Dominicans had the honor to themselves. The 27th
day of July 1233 was a red-letter day for the pontiff: the first two full-time
inquisitors were appointed - Peter Seila and William Arnald. They were the
first in a long line of serene untroubled persecutors of the human race. As a
curtain-raise, in 1239, two years before Gregory died, the Dominican Robert le
Bougre went to Champagne to investigate a bishop named Moranis. He was accused
of allowing heretics to live and spread in his diocese. On 29 May he sent
180 people, including the bishop, to the stake.
This was a return to barbarism. ..
History does not support the view that the Catholic
church has always championed the rights of man. In the 13th century, it went so
far as to teach what the early church condemned: heretics have no rights. They
can be tortured without scruple. Like traitors to the state, heretics have put
themselves outside the mercy of the law. They must be put to death.
No one pope for over three centuries opposed this
teaching which should therefore by rights be a permanent part of Catholic
doctrine. By means of it, the Inquisition achieved unprecedented power. The
result was wholesale intimidation of those who had no protection against the
charge or even slightest suspicion of heresy.
To the medieval Inquisition, everything was permitted.
The Dominican Inquisitors, being the pope's appointees, were subject to no one
but God and his Holiness. They were outside the juridiction of bishops and of
civil law. In the Papal States they were a law unto themselves, acting as
prosecutors and judges. Their guiding principle was: "Better for a hundred
innocent people to die than for one heretic to go free."
They operated arbitrarily and in secrecy. Anyone present
at the interrogation - victim, scribe, executioner - who broke his silence
incurred a censure that only the pope could lift. The inquisitors, like
the pope, could make no mistake and do no wrong...
Torture was freely used. Only a hundred years ago, there
was on display in the pope's House on the Corner the Black Book, or Libro
Nero, for the guidance of
inquisitors. This manuscript in folio form was the charge
of the Grand Inquisitor. Its popular name was the Book of the Death. This is
part of what it said:
Either the person confesses and he is proved guilty from
his own confession, or he does not confess and is equally guilty on the evidence
of witnesses. If a person confesses the whole of what he is accused of, he is
unquestinably guilty of the whole; but if he confesses only a part, he ought
still to be regarded as guilty of the whole, since what he has confessed proves
him to be capable of guilt as to the other points of the accusation...
Bodily torture has ever been found the most salutary and
efficient means of leading to spiritual repentance. Therefore, the choice of
the most befitting mode of torture is left to the Judge of the Inquisition, who
determines according to the age, the sex, and the constitution of the
party...If, notwithstanding all the means employed, the unfortunate wretch
still denies his guilt, he is to be considered as a victim of the devil: and, as
such, deserves no compassion from the servants of God, nor the pity and
indulgence of Holy Mother Church: he is a son of perdition. Let him perish
among the damned.
It
would be hard to find any document so contrary to the principles of natural
justice. According to the Black Book, a child must betray his parents, a
mother betray her child. Not to do so is a "sin against the Holy Office" and
merits excommunication, that is, exclusion from the sacraments and,
if there is no amendement, exclusion from heaven...
The inquisitors never lost a single case. There is no
record of an acquittal. When, rarely, the verdict was Not Proven, no one was
declared innocent. If the accused was not actually guilty of heresy, no
matter. Inquisitors believe that only one in every hundred thousand souls would
escape damnation anyway.)
6. Efforts to stamp out heresy led to the establishment of
the Holy Inquisition, one of mankind’s supreme horrors. In the early 1200s,
local bishops were empowered to identify, try, and punish heretics. When the
bishops proved ineffective, traveling papal inquisitors, usually Dominician
priests, were sent from Rome to conduct the purge.
Pope Innocent IV authorized torture in 1252, and the
Inquisition chambers became places of terror. Accused heretics were seized and
locked in cells, unable to see their families, unable to know the names of their
accusers. If they didn’t confess quickly, unspeakable cruelties began. Swiss
historian Walter Nigg recounted:
“The thumbscrew was usually the first to be applied: The
fingers were placed in clamps and the screws turned until the blood spurted out
and the bones were crushed. The defendant might be placed on the iron torture
chair, the seat of which consisted of sharpened iron nails that could be heated
red-hot from below. There were the so called boots, which were employed to
crush the shinbones. Another favorite torture was dislocation of the limbs on
the rack or the wheel on which the heretic, bound hand and foot, was drawn up
and down while the body was weighted with stones. So that the torturers would
not be disturbed by the shrieking of the victim, his mouth was stuffed with
cloth. Three-and-four-hour sessions of torture were nothing unusual. During
the procedure the instruments were frequently sprinkled with holy water.”
The victim was required not only to confess that he was a
heretic, but also to accuse his children, wife, friends, and others as fellow
heretics, so that they might be subjected to the same process. Minor offenders
and those who confessed immediately received lighter sentences. Serious
heretics who repented were given life imprisonment and their possessions were
confiscated. Others were led to the stake in a procession and church ceremony
called the “auto-da-fé” (act of the faith). A papal statute of 1231 decreed
burning as the standard penalty. The actual executions were performed by civil
officers, not priests, as a way of preserving the church’s sanctity.
Some inquisitors cut terrible swathes. Robert le Bourge
sent 183 to the stake in a single week. Bernard Gui convicted 930 –
confiscating the property of all 930 – sending 307 to prison, and burning
forty-two. Conrad of Marburg burned every suspect who claimed innocence.
Historically, the Inquisition is divided into three
phases: the medieval extermination of heretics; the Spanish Inquisition in the
1400s; anf the Roman Inquisition, which began after the Reformation.
In Spain, thousands of Jews had converted to Christianity
to escape death in recurring Christian massacres. So, too, had some Muslims.
They were, however, suspected of being insincere converted clandestinely
practicing their old religion. In 1478 the pope authorized King Fernidand and
Queen Isabella to revive the Inquisition to hunt “secret Jews” and their Muslim
counterparts. Dominican friar Tomas de Torquemada was appointed inquisitor
general, and he became a symbol of religious cruelty. Thousands upon thousands
of screaming victims were tortured, and at least 2,000 were burned.
The Roman period began in 1542 when Pope Paul III sought
to eradicate Protestant influences in Italy. Under Pope Paul IV, this
inquisition is a reign of terror, killing many “heretics” on mere suspicion.
Its victims included scientist-philosopher Giordano Bruno, who espoused
Copernicus’s theory that planets orbit the sun. He was burned at the stake in
1600 in Rome.
The Inquisition blighted many lands for centuries. In
Portugal, records recount that 184 were burned alive. The Inquisition was
brought by Spaniards to the American colonies, to punish Indians who reverted to
native religions. A total of 879 heresy trials were recorded in Mexico in the
late 1500s…
Lord Acton, himself a Catholic, wrote in the late 1800s:
“The principle of the Inquisition was murderous..The popes were not only
murderers in the great style, but they also made murder a legal basis of the
Christian Church and a condition of salvation.”
7. There has been no more organized effort by a reeligion
to control people and contain (giam giữ) their spirituality than the Christian
Inquisition. Developed within the Church’s own legal framework, the Inquisition
attempted to terrify people into obedience. As the Inquisitor Francisco Pena
stated in 1578, “We must remember that the main purpose of the trial and
execution is not to save the soul of the accused but to achieve the public good
and put fear into others.” The Inquisition took countless human lives in Europe
and around the world as it followed in the wake of missionaries. And along with
the tyranny of the Inquisition, churchmen also brought religious justification
for the practice of slavery.
The unsubmissive spirit of the Middle Ages only seemed to
exacerbate the Church’s demand for unquestioning obedience. The Church’s
understanding of God was to be the only understanding. The was to be no
discussion or debate. As the Inquisitor Bernard Gui said, the layman must not
argue with the unbeliever, but “trust his sword into the man’s belly as far as
it will go.” In a time burgeoning ideas about spirituality, the Church insisted
that it was the only avenue through which one was permitted to learn of God.
Pope Innocent III declared “that anyone who attempted to construe a personal
view of God which conflicted with Church dogma must be burned without pity.”…
The Church turned to its own canon law to authenticate an
agency which could enforce adherence to Church authority. In 1231 Pope Gregory
IX estabhished the Inquisition as a separate tribunal, independent of bishops
and prelates. It administrators, the inquisitors, were answerable only to the
Pope. Its inquisitinal law replaced the common law tradition of “innocent until
proven guilty” with “guilty until proven innocent”. Despite an ostensible
trial, inquisional procedure left no possibility for the suspected to prove his
or her innocence; the process resulted in the condemnation of anyone even
suspected of heresy. The accused was denied the right of counsel. No
particulars were given as to the time or place of the suspected heresies, or to
whatkind of heresies were suspected…
The inquisitor presided over the inquisitional procedure as
both prosecutor and judge… An inquisitor was selected primarily on the basis of
his zeal to prosecute heretics. He and his assistants, messengers and spies
were allowed to carry arms. And in 1245, the Pope granted him the right to
absolve these assistants for any acts of violence. This act rendered the
Inquisition, which was already free from any secular juridiction, unaccountable
to even ecclesiastical tribunals..
Inquisitors grew very rich. They received bribes and annual
fines from the wealthy who paid to escape accusation. The Inquisition would
claim all the money and property of alleged heretics. As there was little
chance of the accused being proven innocent, there was no need to wait for
conviction to confiscate his or her property. Unlike Roman law that reserved a
portion of property for the convicted’s nearest heirs, canon and inquisitional
law left nothing. Pope Innocent III had explained that God punished children
for the sins of their parents. So unless children had come forth spontaneaously
to denounce their parents, they were left penniless. Inquisitors even accused
the dead of heresy, sometimes as much as seventy years after their death. They
exhume and burned the alleged heretic’s bones and then confiscated all property
from the heirs…
The Inquisition was merciless with its victims. The same
man who had been both prosecutor and judge decided upon the sentence. In 1244
the Council of Narbonne ordered that in the sentencing of heretics, no husband
should be spared because of his wife, nor wife because of her husband, nor
parent because of helpless children, and no sentence should be mitigated because
of sickness or old age.
Although the Church had began killing heretics in the late
fourth century and again in 1022 at Orléan, papal statutes of 1231 now insisted
that heretics suffered death by fire. Burning people to death technically
avoided spilling a drop of blood. The words of the Gospel of John were
understood to sanction burning: “If a man abide not in me, he is cast forth as a
branch, and is withered; and men gather them, and cast them into the fire, and
they are burned” (John 15: 16)
By far the cruelest aspect of the inquisitional system was
the means by which confessions were wrought: the torture chamber. Torture
remained a legal option for the Church from 1252 when it was sanctioned by Pope
Innocent IV until 1917 when the new Codex Juris Canonici was put into effect.
Innocent IV authorized indefinite delays to secure confessions, giving
inquisitors as much time as they wanted to torture the accused… In 1262
inquisitors and their assistants were granted the authority to quietly absolve
each other from the crime of bloodshed. They simply explained that the tortured
had died because the devil broke their necks.
Thus, with licence granted by the Pope himself, inquisitors
were free to explore the depths of horror and cruelty. Dressed as black-robed
fiends with black cowls over their heads, inquisitors extracted confessions from
nearly anyone. The Inquisition invented every conceivable devise to inflict
pain by slowly dismembering and dislocating the body. Many of these devices
were inscribed with the motto “Glory be only to God”. The rack, the hoist and
water tortures were the most common. Victims were rubbed with lard or grease
and slowly roasted alive. Ovens built to kill people, made infamous in 20th
century Nazi Germany, were first used by the Christian Inquisition in Eastern
Europe. Victims were thrown into a pit full of snakes and buried alive. One
particularly grusome torture involved turning a large dish full of mice upside
down on the victim’s naked stomach. A fire was the lit on top of the dish
causing the mice to panic and burrow into the stomach…
The tyranny inherent in the belief in singular supremacy
accompanied explorers and missionaries throughout the world. When Columbus
landed in America in 1492, he mistook it for India and called the native
inhabitants “Indians”. It was his avowed aim to “convert the heathen Indians to
our Holy Faith” that warranted the enslaving and exporting of thousands of
Native Americans. That such treatment resulted in complete genocide did not
matter as much as that these natives had been given the opportunity of
everlasting life through their exposure to Christianity…
The Inquisition quickly followed in their wake. By 1570 the
Inquisition had established an independent tribunal in Peru and the city of
Mexico for the purpose of “freeing the land, which had become contaminated by
Jews and heretics. Natives who did not convert to Christianity were burned like
any other heretic. The Inquisition spread as far as Goa, India, where in the
late 16th and early 17th centuries it took no less than
3,800 lives.
Even without the formal Inquisition present, missionary
behavior clearly illustrated the belief in the supremacy of a single image of
God… If the image of God venerated in a foreign land was not Christian, it was
simply no divine. Portuguese missionaries in the far East destroyed pagodas,
forced scholars to hide their religious manuscripts, and suppressed older
customs.
Missionaries often took part in the unscrupulous
exploitation of foreign lands. Many became missionaries to get rich quickly and
then to return to Europe to live off their gains. In Mexico, Dominicans,
Augustinians and jesuits were known to own “the largest flocks of sheep, the
finest sugar ingenios, the best kept states. The Church, particularly in South
America, supported the enslavement of native inhabitants and the theft of native
lands. A 1493 papal Bull justified declaring war on any natives in South
America who refused to adhere to Christianity…
Orthodox Christianity also supported the practice of slavery
in North America. The 18th century Anglican Church made it clear
that Christianity freed people from eternal damnation, not from the bonds of
slavery…Slaves should, howver, be converted to Christianity, it was argued,
because they would then become more docile and obedient..
Both the Inquisition and those supporting the practice of
slavery relied upon the same religious justification. In keeping with the
orthodox Christian belief in a singular and fearful God who rules as the
pinnacle of hierarchy, power resided solely with authority, not with the
individual. Obedience and submission were valued far more than freedom and self
determination. The Inquisition played out the darkest consequences of such a
belief system as it imprisoned and killed the bodies and spirits of countless
people – and not simply for a brief moment of time. The Inquisition spanned
centuries and was still in some places as late as 1834.
Sau
đây là vài hình ảnh điển hình về các cảnh tra tấn và hình cụ tra tấn dị giáo của
giáo hội Công giáo thánh thiện tông truyền trong thời Trung Cổ. Quý độc giả có
thể vào Internet đánh chữ GALLERY INQUISITION trong mục SEARCH thì có thể thấy
rất nhiều hình ảnh về một trong những trang sử đen tối nhất của Giáo hội Công
Giáo.
|

Một Hình Cụ Tra Tấn |
 Một Loại Giá Căng Người |

Hình
cụ tra tấn này
sau khi đâm vào miệng,
hậu
môn, âm hộ
rồi vặn cho nó nở ra dần.
 |
Hai Hình ảnh Tra Tấn Dị Giáo Của |
 |
Giáo Hội Công Giáo
Trong Thời Trung Cổ |
3.4. NÚI TỘI ÁC THỨ BỐN CỦA CÔNG
GIÁO:
300 NĂM SĂN LÙNG PHÙ THỦY
3.4.1: NGUYÊN NHÂN.
Vài Lời Nói Đầu:
René Descartes (1596-1650), triết gia Pháp: Những người đã trở thành
quá quen đi trong bóng tối đã làm yếu đi cặp mắt của mình đến độ không thể chịu
được ánh sáng ban ngày.
[Tiến sĩ Barnado nhận định những tín
đồ Công Giáo đang sống trong “cái bóng tối dày đặc của Giáo hội La Mã” (In the
thick darkness of Romanism)]
(René
Descartes (1596-1650), French philosopher: Those who so become accustomed to
walk in darkness weaken their eyesight so much that afterwards they cannot bear
the light of day.)
Stopford A. Brooke (1831-1916), Mục sư Anh-Ái Nhĩ Lan: Nếu một ngàn niềm tin cổ xưa bị sụp đổ trong cuộc hành
trình của chúng ta đi tới chân lý thì chúng ta vẫn phải tiếp tục cuộc hành
trình. [Tây phương đang
tiếp tục cuộc hành trình này, bởi vậy Giáo Hoàng Benedict 16 mới phải than: “Ở
Âu Châu, Úc và Mỹ , không còn bằng chứng là con người còn cần đế Thượng đế,
đừng nói đến Chúa Ki-Tô” (Pope Benedict said to Italian priests: “in
Europe, Australia and the USA: "There's no longer evidence for a need of God,
even less of Christ," )]
(Stopford A. Brooke (1831-1916), Anglo-Irish Minister: If a thousand old
beliefs were ruined in our march to truth we must still march on.)
Maurice Maeterlinck ( 1862-1949), tác giả người Bỉ: Một
sự thật làm chúng ta đau lòng vì nó là sự thật thì có giá trị hơn là những sự
giả dối gây thích thú cho chúng ta rất nhiều
[Samuel Butler viết: Người Ki-Tô
không sợ tội lỗi, chỉ sợ sự thật.]
(Maurice Maeterlinck ( 1862-1949), Belgian author: A truth that disheartens
because it is true is of far more value than the most stimulating falsehoods.)
Học
giả và nhà thần học người Đức Joachim Kahl:
Người nào chưa bao giờ thấy mình căm phẫn Ki-tô Giáo thì chưa bao giờ
thực sự biết về Ki-tô Giáo.
(Joachim Kahl, German scholar and theologian: Anyone who has never become
indignant about Christianity has never really known it.)
Trong Phần Dẫn Nhập, chúng ta đã biết, Hồng Y John O’Connor, tổng giám
mục giáo phận New York, đã nhận định như sau, sau khi Giáo Hoàng John Paul II
xưng thú 7 núi tội ác của giáo hội Công Giáo trước thế giới:
"Hầu hết các tín đồ Công Giáo
không biết đến cái lịch sử mà Giáo hoàng nói đến, và nếu tín
đồ Công Giáo phải "được sự thật giải phóng", thì họ phải biết sự thật đó như thế
nào."
(Most Catholics are unaware of the history to which the pope alluded, an if,
Catholics are to be "liberated by the truth", then they must know what that
truth is.)
Vì đã quen đi trong bóng tối, cho nên chúng ta thấy rõ các tín đồ Công Giáo,
nhất là những tín đồ Công Giáo Việt Nam, không chịu được ánh sáng của những sự
thật về tôn giáo của họ.
Bài
viết này có mục đích nghiên cứu một trong những trang sử đen tối nhất của Công
Giáo La Mã và Tin Lành: chủ trương “Săn Lùng Phù Thủy”, kéo dài từ thế
kỷ 13 đến thế kỷ 18 ở khắp Âu Châu, với cao điểm cực kỳ dã man tàn bạo trong 300
năm, từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17, như sẽ được trình bày qua một số tài liệu trong
một phần sau. Chủ trương “Săn Lùng Phù Thủy” cũng được Tin Lành áp dụng
ở Mỹ, Salem và Boston, Massachusetts, năm 1692: 19 người bị treo cổ vì bị kết
tội là phù thủy, 150 người bị giam tù..
R. H. Robbins đã gọi mấy trăm năm săn lùng và giết hại phù thủy này là:
“Cơn ác mộng làm mọi người sửng sốt, tội ác nhơ nhuốc nhất và sự ô nhục sâu
thẳm nhất của nền văn minh Tây phương” (The shocking nightmare, the
foulest crime and deepest shame of Western civilization) (mà Ki Tô Giáo thường
coi là nền văn minh Ki Tô Giáo). Và Helen Ellerbe cũng viết: “Số lớn người
bị bạo hành và giết bỏ, cũng như tác động của quan niệm thông thường về Thiên
Chúa, làm cho những cuộc săn lùng phù thủy là một trong những chương sử đen tối
nhất của nhân loại.” (The vast numbers of people
brutalized and killed, as well as the impact upon the common perception of God,
make the witch hunts one of the darkest chapters of human history) [HE, 138].
Bài viết này không ngoài mục đích là theo lời Hồng Y John O'Connor, giúp cho các tín
đồ Công Giáo và Tin Lành Việt Nam, biết một phần sự thật về những tội ác của Ki
Tô Giáo, hi vọng họ có thể “được sự thật giải phóng”, nếu họ có đủ can
đảm bỏ được cái tâm cảnh sợ sự thật...
Đã vài lần tôi đặt trước giới trí thức Công Giáo, giới Linh Mục câu hỏi:
Tại sao Giáo Hội Công
Giáo, một giáo hội do chính Chúa thành lập, thường tự xưng là "thánh thiện", là
"ánh sáng của nhân loại", là quán quân về "công bằng và bác ái", được "thánh
linh hướng dẫn" v...v... lại có thể phạm những tội ác vô tiền khoáng hậu trong
suốt 2000 năm nay đối với nhân loại như vậy? trong khi các đạo khác, thí dụ như
đạo Phật, thường bị Ki Tô Giáo, và ngay chính Giáo hoàng John Paul II trong
cuốn “Bước Qua Ngưỡng
Cửa Hi Vọng”, chụp cho cái mũ vô thần lên đầu, lại không hề làm đổ một giọt
máu hoặc gây nên bất cứ một phương hại nào cho con người trong quá trình truyền
bá trải dài hơn 2500 năm, từ trước Ki Tô Giáo hơn 500 năm? Tại sao và tại sao ???
Cho tới nay, tôi chưa thấy một lời giải đáp nào về phía Công Giáo, từ
Giáo hoàng trở xuống cho tới các con chiên. Họ không muốn và không thể trả lời
câu hỏi này. Và họ cũng không dám chấp nhận sự thật là: Giáo hội Công Giáo
không do Chúa thành lập [trái với lời Chúa phán trong Tân Ước là ngày tận
thế sẽ tới ngay khi một số tông đồ của ông còn sống, vậy lập ra giáo hội để làm
gì?], Giáo hội Công Giáo cũng không phải là
"thánh thiện", là "ánh sáng của
nhân loại", là quán quân về "công bằng và bác ái", được "thánh linh hướng dẫn"
v...v... [xét đến lịch
sử ô nhục, đẫm máu của giáo hội, đã được trình bày sơ lược trong 3 phần trước].
Tất cả chỉ là những điều dối trá lừa bịp đám tín đồ thấp kém, vậy thì làm sao họ
có thể trả lời câu hỏi trên? Cho nên họ phải giữ im lặng, hi vọng đó là giải
pháp tốt đẹp nhất để giữ tín đồ trong ngục tù tăm tối của tâm linh. Tuy họ không trả lời nhưng tôi sẽ tiếp tục nhắc đi nhắc lại
câu hỏi trên, và tôi hi vọng những người ngoại đạo, mỗi khi đối thoại với người
Công Giáo, trước hết hãy mang câu hỏi này đặt với họ xem họ trả lời ra sao. Có
một câu trả lời có tính cách mạ lỵ đầu óc con người mà giáo hội thường dùng để
“giải thích” cho đám tín đồ thấp kém những điều không thể giải thích được:
“Đó là ý Chúa, mà ý Chúa thì con người không thể nào hiểu nổi”. Nhưng rồi,
mặt khác, Giáo hội lại diễn giải Kinh Thánh, đặt ra những tín lý, đều nói là
theo “ý Chúa” cả, tuy rằng theo định nghĩa về Chúa của họ, con người không ai có
thể hiểu được “ý Chúa”. Ngoài ra, như chúng ta đã biết, phát động các cuộc Thập
Ác Chinh (crusades), kích động tín đồ đi giết người ngoại đạo cũng được giáo
hoàng nói đó là “ý Chúa”. Và con người, vì một cái bánh vẽ trên trời, vẫn tiếp
tục lao đầu vào vòng mê tín để cho Giáo hội khai thác, tự tạo quyền lực và vơ
vét của cải thế gian. Tâm cảnh nô lệ Vatican của các giáo hội Công giáo địa
phương, trong đó có Việt Nam, và tài sản của Vatican đã lên tới cả ngàn tỷ đô
la, trong khi giáo hội và các linh mục thuộc hạ của giáo hội ở Việt Nam vẫn
quảng cáo Công Giáo là tôn giáo của người nghèo, là những bằng chứng chứng minh
rõ ràng hơn gì hết sự khai thác tâm linh tín đồ và vơ vét của cải thế gian của
Vatican.
Nguyên Nhân Của Chủ
Trương Săn Lùng Phù Thủy.
Nguyên nhân từ đâu mà Ki Tô Giáo, Công Giáo cũng như Tin Lành, lại chủ
trương săn lùng để tiêu diệt phù thủy, tuyệt đại đa số là phụ nữ. Chính là vì
đầu óc quá hẹp hòi, mê tín, u mê cuồng tín của những người lãnh đạo giáo hội:
tuyệt đối tin vào những điều không thể tin được trong Kinh Thánh, cộng với lòng
tham lam vơ vét tích tụ của cải thế gian, và cộng với tâm cảnh giáo phụ: coi
thường, nhục mạ phái nữ. Do đó, những bậc lãnh đạo Ki Tô Giáo đã cùng nhau dẫn
giắt đám tín đồ thấp kém đi vào ma đạo, vì chỉ có ma đạo mới có thể có một lịch
sử với nhiều tội ác như vậy. Ai không đồng ý xin lên tiếng !
Charlie Nguyễn, một trí thức Công Giáo tỉnh ngộ, trong bài viết về Quan niệm
về phụ nữ của đạo Do Thái và đạo Ki Tô, có viết về đề tài Tội Ác Dã Man
đối với Phụ Nữ của Công Giáo La Mã và Thệ Phản Giáo dưới chiêu bài Diệt Nạn Phù
Thủy một cách hết sức tóm tắt như sau:
Tác
phẩm “Búa Phù Thủy”, do bác sĩ Trần Quý Nhu dịch, Giao Điểm xuất bản Hè 2003.
Nguyên tác bằng tiếng La-tinh “Malleus Maleficarum” của hai linh mục “quan án
đạo” là Heinrich Kramer và Jacob Sprenger [2 linh mục dòng Đa Minh]. Tác phẩm
được xuất bản lần đầu vào năm 1486 để làm tài liệu chính thức cho các quan tòa
án đạo xử dụng.
Mấy trang đầu sách có in sắc lệnh 1482 của giáo hoàng
Innocent VIII. Sắc lệnh của giáo hoàng là văn kiện luật pháp tối cao chỉ đạo
công cuộc diệt phù thủy. Đây là chứng tích không thể chối cãi về một thời kỳ
kinh hoàng cho phụ nữ kéo dài 300 năm (1450-1750). Bất cứ một phụ nữ nào cũng có
thể dễ dàng bị ghép vào tội phù thủy. Người phụ nữ có thể bị người hàng xóm thù
ghét vu cáo cho tội đã dùng bùa phép làm chết con bò hay con ngựa của hắn ta.
Thế là người phụ nữ đó có thể bị truy tố ra Tòa Án Đạo, kết tội là phù thủy, tra
tấn cực hình đến khi phải thú nhận. Một phụ nữ bỗng nhiên bị nổi ở trên mặt một
vài cái nốt ruồi hay mụn cơm có hình thù đặc biệt khiến cho kẻ mê tín tin đó là
dấu hiệu của ma quỉ. Người phụ nữ đó có thể bị kết án về tội phù thủy.
Vào đầu thế kỷ 15, các tu sĩ dòng Đa Minh (Dominicans) được giáo hoàng cử làm
các quan án xử tội phù thủy. Trong hai thế kỷ 15 và 16, riêng tại Đức có 100,000
người bị giết bằng cách thiêu sống trên dàn hỏa.
Năm 1572, tại Saxony, phe Thệ Phản giáo (Tin Lành) tỏ ra còn khắc khe với phù
thủy hơn cả Công giáo La Mã. Cuối thế kỷ 16, phe Thệ Phản giáo thiêu sống 20,000
người riêng tại Saxony. Từ 1615-1635, hơn 5,000 người bị đưa lên dàn hỏa về tội
phù thủy tại miền Strasburg.
Sắc lệnh 9-12-1482 của giáo hoàng Innocent VIII
Sắc lệnh của giáo hoàng đưa ra nhiều “kiến thức lạ lùng” về phù thủy, thầy pháp,
bói toán... Giáo hoàng cũng đưa ra nhiều “niềm tin mê tín” của riêng ông ta để
dạy dỗ các quan án :
-Các phù thủy có thể thông đồng với “quỉ
đực, quỉ cái” để gây ra bão táp phá hoại mùa màng, giết hại súc vật.
-Bọn phù thủy đã lạc ra ngoài đức tin Công
giáo, sa vào tay quỉ dữ và có khả năng xử dụng tà thuật , phù phép, bùa ngải để
làm các việc ác.
-Phù thủy có khả năng vận dụng sự di chuyển
các ngôi sao để gây ra bệnh hoạn. Họ kết ước với ma quỉ để có thể biết trước
tương lai bằng cách đoán mộng.
Đó là tiêu biểu những “kiến thức” của giáo hoàng về phù thủy. Giáo hoàng đã tán
bậy theo sự suy tưởng ngu xuẩn của hắn.
Giáo hoàng và bọn quan án đạo đã vận dụng cái ngu và cái ác của Thiên Chúa trong
Kinh Thánh hợp với cái ngu và lòng mê tín ác nghiệt của chúng để tạo thành một
căn bản luật pháp tôn giáo. Bọn chúng đã dám dựa vào cái lòng tin ngu xuẩn của
chúng để ra lệnh tàn sát bao nhiêu ngàn sinh linh! Trong 300 năm, từ 1450 đến
1750, ít nhất cũng có 200,000 phụ nữ bị thiêu sống dưới cái tội danh “phù thủy”
vu vơ, không có thật. Tội danh này thật sự đã được tạo ra do sự tưởng tượng của
những kẻ nặng đầu óc mê tín mà thôi.
Phải chăng Charlie Nguyễn đã viết đoạn trên một cách vu vơ, vô căn cứ? Không
hẳn vậy. Trong Kinh Thánh có những câu, Exodus 22: 18: NGƯƠI KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ
CHO MỘT PHÙ THỦY ĐƯỢC SỐNG SÓT [King James Version: “You shall not suffer a
witch to live”; Revised English Version: “You must not allow a witch to
live.”]; Leviticus 19:26 “Thiên Chúa sẽ đối mặt với các kẻ làm thầy pháp và
giết hết bọn này trước mặt dân chúng”; Levi. 20:26-27 “Những kẻ làm phù
thủy hoặc bói toán phải được đem ra giết hết”. Và Giáo hội Công Giáo La Mã
cũng như Tin Lành sau này đã theo đúng những luật man rợ này của Thiên Chúa
trong Kinh Thánh để tiêu diệt những phù thủy, sản phẩm tưởng tượng của Thiên
Chúa trong Kinh Thánh mà Công Giáo cũng như Tin Lành tin là có thật, hay vu là
có thật, để theo đuổi những mục đích thế tục. Bác sĩ Trần Quý Nhu, tác giả bản
dịch cuốn Malleus Maleficarum (Búa Phù Thủy) của hai linh mục dòng Đa
Minh, Heinrich Kramer và James Spencer, cũng viết trong Chương Dẫn Nhập như sau,
trang 6:
Giáo hội Công Giáo
không những chỉ dồn lực lượng vào những cuộc chiến diệt các nhóm dị giáo, mà còn
chú trọng đến việc tiễu trừ những cá nhân lẻ loi về tội tin vào thần khác thay
vì tin vào Thiên Chúa và Giê-su. Giáo hội Công Giáo gọi những thần khác
là quỉ sứ và nhiều cá nhân như thế bị kết tội là phù thủy.
Chủ trương diệt phù thủy đã được dạy trong Thánh Kinh. Giê-su phán rằng: “Đừng
tưởng ta đến để phá luật pháp hay lời các nhà tiên tri
[trong Cựu Ước]. Ta đến không để phá mà để thực hiện
toàn vẹn. Ta đoan chắc rằng, chừng nào mà trời đất còn tồn tại, thì một dấu
chấm, một nét phảy trong luật pháp cũng không được bỏ qua cho đến khi tất cả các
luật đều được thi hành trọn vẹn.
Một
trong những luật man rợ này là Exodus 22: 18: NGƯƠI KHÔNG ĐƯỢC ĐỂ CHO MỘT
PHÙ THỦY ĐƯỢC SỐNG SÓT [King James Version: “You shall not suffer a witch to
live”; Revised English Version: “You must not allow a witch to live.”]. Chúng
ta thấy, từ “Chúa” Giê-su cho đến tín đồ các cấp về sau, đều tin nhảm tin nhí
vào những luật mà ngày nay không ai không cho rằng man rợ thuộc thời bán khai,
sản phẩm của những đầu óc chưa mở mang, đặt những sản phẩm này vào đầu một Thần
theo sự tưởng tượng và mê tín của họ: Thiên Chúa. Cũng vì vậy mà Giám mục John
Shelby Spong đã phải than: “Cuốn Thánh Kinh mang đến cho tôi một Thiên Chúa
mà tôi không thể kính trọng đừng nói đến thờ phụng”. [It (the Bible) offers
me a God I cannot respect, much less worship] (JS, 24)
Một
yếu tố khác góp phần trong cuộc săn lùng tiêu diệt phù thủy của Công Giáo La Mã
chúng ta có thể thấy qua một trong 7 núi tội lỗi của Giáo Hội Công Giáo mà Giáo
Hoàng John Paul II đã xưng thú cùng thế giới: “tội lỗi trong sự kỳ thị phái
nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ”. Vậy có lẽ chúng ta cũng nên biết qua Công
Giáo đã kỳ thị, hạ thấp và nhục mạ phụ nữ như thế nào? Tôi không hiểu, một khi
phái nữ trong giáo hội Công Giáo biết rõ sự kỳ thị, nhục mạ, coi thường phẩm giá
phụ nữ, thì họ sẽ nghĩ như thế nào về cái giáo hội của họ. Phải chăng, đầu óc
của họ đã bị nhồi sọ cho nên chỉ cần đến cái bánh vẽ “cứu rỗi” trên trời và
không cần để ý đến chuyện giáo hội đã từng coi họ còn thấp hơn cả súc vật. Sau
đây là một số quan điểm về phụ nữ của các bậc “thượng phụ” trong “hội thánh”
Công Giáo và trong Kinh Thánh:
Thánh Clement ở Alexandria (150-215): “Mọi phụ nữ đều
nên cảm thấy mình nhục nhã vì nghĩ đến điều mình đã sinh ra là đàn bà”
(Every woman should be filled with shame by the thought that she is a woman.
[HE, 114]
Thánh Jerome (342-420): “Về phần tôi, tôi nói rằng những
người con gái đã trưởng thành không được tắm, vì họ sẽ cảm thấy xấu hổ nhìn thấy
mình trần truồng.” (But for my part I say that mature girls must not bathe
at all, because they ought to blush to see themselves naked.” [JD, 175];
“Đàn bà là cửa ngõ của quỷ, của đường ác, cái chích của con bọ cạp, nói tóm lại,
là một vật nguy hiểm.” (Woman is the gate of the Devil, the way of evil, the
sting of the scorpion, in a word, a dangerous thing.) [EB, 47]
Thánh John Chrysostom (347-407): "Trong những
thú dữ, không có con nào gây hại như một người đàn bà" (Among savage
beasts none is found so harmful as a woman). Trách cứ những người đàn ông đi
chơi gái điếm, Thánh John Chrysostom còn phán: “Các người không chỉ để một
gái điếm như là một gái điếm, mà các người còn làm cho nó thành một sát nhân
Đàn bà, được tạo nên để sinh sản, vì các ngươi mà trở thành công cụ của sát
nhân.” [vì gái điếm dùng các phương pháp ngừa thai]…(You not only let
a harlot be a harlot, you made her into a murderess….Woman, made for
reproduction, becomes, because of you, a tool of murderer.)
Thánh Augustine (354-430): “Tôi không thấy
người đàn bà đã được tạo ra để giúp cho đàn ông như thế nào, ngoài mục đích sinh
sản. Nếu người đàn bà không giúp đàn ông để sinh con, thì họ có thể giúp được
gì?“ (I don’t see what sort of help woman was created to provide man with,
if one excludes the purpose of procreation. If woman is not given to man for
help in bearing children, for what help could she be? [JH, 80]
Thánh Anthony (1195-1231):
"Khi các
ngươi thấy một người đàn bà, hãy coi như là các ngươi đối diện với, không phải
là một con người mà chính là một con quỷ. Tiếng nói của người đàn bà là tiếng
phun phì phì của con rắn." (When you see a woman, consider that you face
not a human being, but the devil himself. The woman's voice is the hiss of the
snake.)
Thánh Thomas Aquinas (1225-1274): “Thiên Chúa đã
phạm phải một sai lầm khi sáng tạo ra người đàn bà: không nên tạo ra cái gì
thiếu sót hoặc hư hỏng [như đàn bà] khi sáng tạo ra những vật đầu tiên;
do đó đàn bà không nên được tạo ra khi đó.” (God had made a mistake in
creating woman: nothing (deficient) or defective should have been produced in
the first establishment of things; so woman ought not to have been produced
then. [HE, 115])
Odo of Cluny, 10th century: “Ôm người đàn
bà là ôm một túi phân” (To embrace a woman is to embrace a sack of manure..
[HE, 115])
Thượng phụ Tertullian: “Đàn bà xứng đáng ở vị thế thấp
kém và bị khinh khi. “Ngươi là cửa ngõ của quỷ”. (Women deserve their
status as despised and inferior human beings. “You are the devil’s gateway”)
Boethius, một triết gia Công Giáo trong thế kỷ 6: “Đàn bà
là một đền thờ xây trên những ống cống” (Women is a temple built upon sewer.
[HE, 115])
Thánh Paul, 1 Corinthians 7:1 : “Thật tốt cho
đàn ông là đừng có dính dáng gì tới một người đàn bà.” (It is a good thing
for a man to have nothing to do with a woman.)
Thánh Paul, 1 Corinthians 11:3: “Nhưng tôi muốn
các người hiểu rằng đấng Ki Tô là chủ nhân của mọi đàn ông, chủ nhân của mọi đàn
bà là chồng họ, và chủ nhân của đấng Ki Tô là Thượng đế.” (But I want you to
understand that the head of every man is Christ, the head of every woman is her
husband, and the head of Christ is God.)
Leviticus 12: 1-5: “Một người đàn bà thì không được
sạch sẽ 40 ngày sau khi sinh con trai, 80 ngày sau khi sanh con gái.” (A
woman is unclean 40 days after the birth of a son, 80 days after the birth of a
daughter.)
Thánh Paul, 1 Tim. 2:11-12: “Hãy để cho
người đàn bà học sự phục tùng trong im lặng. Tôi không cho phép người đàn bà
nào được giảng dạy hay được quyền hơn người đàn ông; họ phải giữ im lặng”
(Let a woman learn in silence with all submissiveness. I permit no woman to
teach or to have authority over men; she is to keep silent.) [Phải chăng vì vậy
mà cho đến ngày nay Giáo hội vẫn không cho phụ nữ làm linh mục?? Và ngay trong
thời buổi này, ngày 9/8/2006, Mục sư Timothy Labouf của First Baptist Church,
Watertown, N.Y., đã giải nhiệm bà Mary Lambert, một thầy giáo dạy các lớp học
ngày chủ nhật trong 54 năm, giải thích là theo đúng lời Thánh Paul dạy như trên
trong Kinh Thánh. Ông mục sư này đần đến độ không hiểu rằng phụ nữ ngày nay giữ
nhiều chức vụ cao cấp trong ngành giáo dục.]
Martin Luther (1483-1546): “Đàn ông thì
vai rộng, hông hẹp, do đó họ thông minh. Đàn bà vai hẹp, hông lớn. Đàn bà phải
ở trong nhà: cách sáng tạo ra cơ thể họ chứng tỏ vậy, vì họ có hông lớn, bàn
tọa rộng để ngồi, làm việc nhà, sinh con và nuôi con” (Men have broad
shoulder and narrow hips, and accordingly they possess intelligence. Women have
narrow shoulders and broad hips. Women ought to stay home: the way they were
created indicates this, for they have broad hips and a wide fundament to sit
upon, keep house and bear and raise children. [EB, 49])
Xét đến vai trò của phụ nữ trong xã hội Việt Nam từ
xưa, từ những Nữ Tướng như Hai Bà Trưng, Bà triệu, Bùi Thị Xuân v..v.. cho đến
các bậc văn tài như Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương v..v.., và
vai trò của phụ nữ trong những xã hội văn minh tiến bộ ngày nay trên thế giới,
chúng ta thấy rằng quan niệm về phụ nữ trong đầu óc của những bậc Thánh trong
Công Giáo, cũng như của những lãnh tụ Tin Lành như Martin Luther, John Calvin
v..v…, đều thuộc loại bán khai, ngu si vô trí.
Cũng vì vậy mà sự tin nhảm tin nhí vào phù thuỷ có thực trên thế gian không chỉ
ở trong Công Giáo mà còn trong Tin Lành. Thật vậy,
Martin Luther, ông tổ của Phản Thệ Giáo, alias Tin Lành [thực sự chỉ là Tin Dữ], tin
chắc cuốn Kinh Thánh là quyền uy tối cao, không ngần ngại thiêu sống phù thủy.
Ông ta cho phép thiêu sống 4 phù thủy ở Wittenberg,. Ông ta phát biểu: “Tôi
không hề có lòng thương các phù thủy..Tôi có thể thiêu sống tất cả bọn họ.”
(Martin Luther, upholding the Bible as the supreme authority, had no
reservations about burning witches. He sanctioned 4 executions at Wittenburg.
“I should have no compassion on the witches…I would burn them all.” [EB, 53] và
John Calvin (1545) đích thân chỉ huy một chiến dịch ở Geneva chống 31
người bị kết án là phù thủy. Calvin tuyên bố: “Kinh Thánh dạy chúng ta là có
những phù thủy và họ phải bị giết.. luật này của Thiên Chúa là một luật phải
được áp dụng khắp nơi” (John Calvin personally led a campaign in Geneva
against 31 persons accused of witchcraft. Calvin declared: The Bible teaches
us that there are witches and they must be slain… this law of God is a universal
law.” [EB, 52-53]
Chắc quý độc giả cho rằng niềm tin về sự có thực của phù thủy và phải thiêu sống
họ chỉ có trong quá khứ chứ ngày nay không còn ai nghĩ như vậy nữa. Không hẳn
vậy. Sau vụ 9-11 ở New York, trước ngày lễ Halloween, 31 tháng 10 hàng năm, Mục
sư Tin Dữ Deacon Fred, trong một bài giảng cho các tín đồ, cho rằng bổn phận của
người Ki-tô là phải giết phù thủy ngay trong thời đại này:
Thiên Chúa rất rõ ràng ở đây, thưa quý vị, ông ta không muốn cho các phù thủy
sống. Chúng ta phải giết các phù thủy! Nếu không, chúng ta đang bất tuân lệnh
của Thiên Chúa. Jesus sẽ vui mừng đến chảy nước mắt nếu ông ta từ trên đám mây
cúi xuống và hít hà lên mùi thịt nướng của một phù thủy trong ngày lễ Halloween
này. [Trong ngày lễ
Halloween vào 31 tháng 10 mỗi năm, rất nhiều người ăn mặc giả làm phù thủy kéo
ra chật đường phố] Có phải là như vậy đã phá tan ngày sinh nhật nhỏ của
Satan không? Hãy ca tụng Thiên Chúa. [Vui mừng khi được hít hà mùi thịt
nướng của một con người] Thật là xấu hổ vì chính quyền Mỹ đã ngăn cấm người
dân không được thực hành lệnh trong Kinh Thánh là phải thiêu sống phù thủy.
(God
is very clear here, folks, he doesn't want witches to live. We are supposed to
be killing witches! If we don't, we are disobeying God. Jesus would weep tears
of joy if He leaned down off His cloud and sniffed up the burning flesh of a
witch this Halloween. Wouldn't that ruin Satan's little birthday party! Praise
God! It's just a shame that the United States Government has placed restrictions
on the Biblically-mandated practice of witch burning.) [I]
Sự tai hại của niềm tin vào những điều viết nhảm nhí
trong Kinh Thánh thật đã rõ rệt. Ở nơi nào mà Khi Tô Giáo, đặc biệt là đám Tin
Lành cuồng tín, đám người tin tất cả vào uy quyền tối thượng của Kinh Thánh,
nắm quyền thế tục thì lịch sử đẫm máu của Ki Tô Giáo sẽ lại tái diễn. Tất cả bắt
nguồn từ niềm tin vào cuốn sách gọi là Kinh Thánh và nhân danh Thiên Chúa của
họ. Do đó, mọi người Việt Nam phải gia tâm bác bỏ đạo Tin Lành, một đạo hoàn
toàn không thích hợp với người Việt Nam vì những niềm tin thuộc thời man rợ bán
khai của họ..
Sau đây chúng ta hãy đi vào một số chi tiết về 300 năm
săn lùng phù thủy của Ki Tô Giáo, Công Giáo cũng như Tin Lành, để thấy rằng
chính giáo hoàng của Công Giáo La Mã, các linh mục Công Giáo, các Mục sư Tin
Lành, và cả các trí thức Ki Tô Giáo, trong 300 năm tội ác ngập trời trên, thực
sự mới là hiện thân của quỷ (human demons) chứ không phải là người. Họ săn lùng
tiêu diệt phù thủy mà họ cho là ma quỷ theo sự tưởng tượng của họ chứ sự thực
không làm gì có phù thủy hay ma quỉ, kết quả là họ hành động như những ác quỷ
của thế gian. Thật vậy, chúng ta có thể đọc trên Internet đoạn sau đây trong
bài The Witch Hunters of Europe, The Cruelest of Executioners
[Những Đao Phủ Tàn Ác
Nhất: Những Kẻ Săn Lùng Phù Thủy Ở Âu Châu]:
Cuộc săn lùng phù thủy một cách điên cuồng đã làm chấn động Âu Châu trong những
thế kỷ 15, 16, 17 có thể đã không chứng minh được sự hiện hữu của những con quỷ
siêu nhiên [phù thủy]
nhưng đã sinh sản ra một đám kỳ
cục những con quỷ người ~ những người săn lùng phù thủy ~ một tổ chức những
người bệnh hoạn tự cho là mình đúng và hiến thân cho công cuộc săn lùng những
đầy tớ gái của quỷ [phù
thủy]
(The witch hunting mania that convulsed Western Europe during the 15th, 16th and
17th centuries may not have revealed the existence of supernatural demons but it
did generate an extraordinary array of human monsters ~ the witch hunters ~ a
pathological righteous brotherhood that devoted itself to ferreting out
suspected handmaidens of the devil.)
Điều đặc biệt nhất trong Ki Tô Giáo, Công Giáo cũng như Tin Lành, là những con
quỷ người này lại thường là các linh mục, mục sư, nhà thần học, luật sư, y sĩ
v..v.. trong Ki Tô Giáo, những người tự cho là đã ở trong một “hội Thánh” thánh
thiện, trong người tràn đầy Thánh Linh, nhưng thực ra chỉ là những con người
thường như mọi người khác, cũng mê tín như Giáo hoàng của họ, và gồm cả các Mục
sư Tin Lành nổi tiếng như Martin Luther và John Calvin.
3.4.2 Những Biện Pháp Săn Lùng
Và Tiêu Diệt Phù Thủy:
Jakob Sprenger và
Heinrich Kramer, tác giả cuốn Búa Phù Thủy (Malleus Maleficarum):
“Chưa từng biết có một người vô tội nào bị trừng phạt vì
nghi ngờ là phù thủy, và không còn nghi ngờ gì là Thượng đế sẽ không bao giờ cho
phép việc đó xảy ra.”
(It
has never yet been known that an innocent person has been punished on suspicion
of witchcraft, and there is no doubt that God will never permit such a thing to
happen.)
Ronald Seth trong
Witches and Their Craft:
“Công lý đã sai lầm và nhiều ngàn nam nữ chết vì những bằng
chứng kết tội ngụy tạo của những kẻ đố kỵ hoặc trả thù ”
(Justice was perverted and thousands of innocent man and women died on the false
evidence of envious or vengeful accusers.)
Mark Twain trong
Europe and Elsewhere:
“Có những phù thủy trong nhiều thời đại. Thánh Kinh viết
vậy. Thánh Kinh ra lệnh không được để cho các
phù thủy sống sót. Do đó, Giáo hội thu thập những giây thòng lọng, những cái
kẹp ngón tay, và củi lửa, rồi khởi sự công cuộc thánh thiện trong sự hăng say
nhất.. [để tra tấn, treo cổ và thiêu sống
các nạn nhân] Rồi người ta
khám phá ra rằng chẳng có cái gì là phù thủy, và chưa từng bao giờ có phù thủy.
Người ta không biết nên cười hay khóc”
(During many ages there were witches. The Bible said so. The Bible
commanded that they should not be allowed to live. Therefore, the
Church…gathered up its halters, thumbscrews. and firebrands, and set about its
holy work in earnest.. Then it was discovered that there was no such thing as
witches, and never had been. One does not know whether to laugh or cry.)
Clifford Lindsey
Alderman trong The Devil’s Shadow:
“Quy tội
(phù thủy) cho hàng trăm nam nữ thật là vô nghĩa, và những phiên xử
án chỉ là những trò hề công lý.”
(The charges brought against the hundreds of women and men were senseless, and
the trials themselves travesties of justice.)
*
Trong Phần trên: 3.4.1, viết về nguyên nhân của chủ trương săn lùng và
giết hại phù thủy của giáo hội Công Giáo trong 300 năm ở Âu Châu, tôi đã đưa ra
nhận định của một trí thức đạo gốc, Charlie Nguyễn, như sau:
Giáo hoàng và bọn quan án đạo đã vận dụng cái ngu và cái ác của Thiên Chúa trong
Kinh Thánh hợp với cái ngu và lòng mê tín ác nghiệt của chúng để tạo thành một
căn bản luật pháp tôn giáo. Bọn chúng đã dám dựa vào cái lòng
tin ngu xuẩn của chúng để ra lệnh tàn sát bao nhiêu ngàn sinh linh! Trong 300 năm, từ 1450 đến 1750, ít nhất cũng có 200,000
phụ nữ bị thiêu sống dưới cái tội danh “phù thủy” vu vơ, không có thật. Tội danh
này thật sự đã được tạo ra do sự tưởng tượng của những kẻ nặng đầu óc mê tín mà
thôi.
Sau đây chúng ta hãy đi vào một số chi tiết về thời kỳ mấy trăm năm săn lùng và giết hại phù thủy này
mà R. H. Robbins đã gọi là:
“Cơn ác mộng làm mọi người sửng
sốt, tội ác nhơ nhuốc nhất và sự ô nhục sâu thẳm nhất của nền văn minh Tây
phương” (The shocking nightmare, the foulest
crime and deepest shame of Western civilization), một thời kỳ “đã sinh sản ra
một đám kỳ cục những con
quỷ người ~ những người săn lùng phù thủy ~ đặc biệt là những con quỷ
người này thường lại là các giám mục, linh mục, mục sư, nhà thần học, luật sư, y
sĩ v..v.. trong Ki Tô Giáo, những người tự cho là đã ở trong một “hội Thánh”
thánh thiện, trong người tràn đầy Thánh Linh. “
Đọc những tài liệu về
“cơn ác mộng” trên, chúng ta không thể tưởng tượng được là tại sao một tôn giáo, theo định
nghĩa là phải có mục đích hướng dẫn tâm linh con người theo sự thăng tiến của
trí tuệ và đạo đức, nhưng ngược lại, lại nhốt con người vào những tù ngục tâm
linh tăm tối, cùng lúc lại có những hành động vô cùng độc ác đối với nhân loại.
Vậy thực chất Ki Tô Giáo có phải là một tôn
giáo hay không, và những tín đồ Ki Tô Giáo nghĩ sao về cái
“lịch sử tội ác nhơ nhuốc nhất và sự
ô nhục sâu thẳm nhất” của tôn giáo mà mình
đang theo. Trên thế gian từ xưa tới nay không thiếu gì những sự bạo hành ở khắp
nơi, trong những chế độ phong kiến và quân phiệt, và ngay trong thời đại này
trong sách lược xuất cảng dân chủ của Mỹ. Nhưng tại sao những sự bạo hành
vô tiền khoáng hậu đó lại nằm trong chính sách của một tôn giáo? Mà
tôn giáo này lại do Chúa thành lập, một vị Chúa “quá thương yêu thế gian” theo
như lời rao giảng của giáo hội cho đám tín đồ ở dưới, và một số không nhỏ các
giáo hoàng thừa kế tự nhận là đại diện của Chúa trên trần (Vicars of Christ)
nhưng lại phạm đủ mọi tội ác trên thế gian, những tội ác mà những người không hề
biết đến Chúa không bao giờ có thể phạm. Ai có
thể giải thích tại sao và cho tôi biết thực chất của Ki Tô Giáo là như thế nào,
xin lên tiếng. Phải chăng các tín đồ Ki Tô Giáo đã bị mờ mắt trước những cái
bánh vẽ “cứu rỗi”, “thiên đường” mà không nhìn thấy những sự việc sờ sờ ngay
trước mắt trong tôn giáo của mình?
Giáo hội Công giáo cố
che dấu lịch sử của giáo hội, nhưng Giê-su đã từng nói, Mark 4:22:
“Không có gì được che dấu mà không
bị phanh phui ra, cũng như không có gì được giữ bí mật mà không bị đưa ra ánh
sáng.” [Mark 4:22: "For there is nothing
hidden which will not be revealed, nor has anything been kept secret but that
it should come to light."]
Vậy, sau đây chúng ta hãy đưa ra
ánh sáng một số chi tiết về các cuộc săn lùng phù thủy của giáo hội Công Giáo
thánh thiện tông truyền. Các tài liệu này đều là của các nghiên cứu gia trong
giáo hội cũng như ngoài giáo hội ở Tây phương, không có một tài liệu nào của
Phật Giáo hay của Cộng Sản [Tôi xin nhấn mạnh điểm này], do đó những luận điệu
chống đối lố bịch như nhân danh Phật Giáo để gây chia rẽ tôn giáo, hay theo sách
lược chống Thiên Chúa Giáo của Cộng Sản v..v… đều chỉ là những luận điệu chụp mũ
vu vơ của những kẻ hạ căn, thiển cận, không thuộc hàng ngũ trí thức. Và đây
cũng chỉ là vài tài liệu điển hình trong số hàng trăm các tài liệu viết về một
trang sử ô nhục nhất của Ki Tô Giáo.
1.
Milton Meltzer,
Witches and Witch-Hunts: A History of Persecution, The Blue Sky Press, New York, 1999:
Một cuộc săn lùng phù thủy điên
cuồng , kéo dài hơn 400 năm – từ thế kỷ 14 qua thế kỷ 17 – đã giết hại nhiều
triệu người ở Âu Châu, tuyệt đại đa số là phụ nữ. Sự điên cuồng này khởi sự
trong thời trung Cổ và kéo dài cho tới Thời Đại Lý Trí. Lâu sau đó, trong thế
kỷ 20, nhà độc tài Đức Quốc Xã, Adolf Hitler, đã chỉ đạo một chiến dịch bạo hành
có tổ chức – thường gọi là săn lùng phù thủy – những người Do Thái ở Đức và Âu
Châu đưa đến cái chết của 6 triệu người đàn ông, đàn bà và con trẻ.
Cuốn Thánh Kinh chỉ đạo cuộc săn lùng phù thủy xuất hiện năm 1486.. Đó là một
cuốn sách dày gọi là Búa
Phù Thủy (Malleus
Maleficarum). Đây là cuốn sách đầu tiên về ảo thuật và phù thủy, viết bởi hai
linh mục dòng Đa Minh ở Đức: Heinrich Kramer và Jacob Sprenger.
Hai năm trước, Giáo Hoàng Innocent VIII đã cho phép hai ông linh mục này quét
sạch phù thủy ờ Đức. Cuốn sách chỉ nam về bạo hành này đã là một dụng cụ ở
trong tay mọi ông tòa xét xử phù thủy và mọi kẻ săn lùng phù thủy trong 3 thế
kỷ. Cuốn Búa Phù Thủy đã được tái bản 14 lần. Nó trở thành
một cuốn sách có ảnh hưởng nhất trong những cuốn sách đã được in ra trước đó.
Cuốn sách mở đầu bằng sự phản bác quan niệm về sự không hiện hữu của phù thủy.
Cuốn sách viết, đức tin chân thật dạy rằng có một số thiên thần sa ngã từ thiên
đường xuống và nay trở thành quỷ và do bản chất quỷ của chúng, chúng có thể làm
những việc phi thường mà chúng ta không làm được. Các tác giả trên viết rằng
Satan và các quỷ có thể tự chúng làm những điều tác hại, hoặc cùng với, hoặc qua
các phù thủy để tác hại. Cuốn sách mô tả những chuyện phù thủy có thể làm và
những phương thức chống phù thủy.
Hai linh mục trên viết ra từ
những kinh nghiệm của mình, vì chính họ đã đích thân xử 50 phù thủy trong đó 48
là phụ nữ. Cuốn
Búa Phù Thủy trở thành quyền hành chỉ đạo cho những cuộc săn lùng phù
thủy có tổ chức. Những
cuộc săn lùng phù thủy được phát động và thi hành bởi giáo hội và chính quyền [trong thời mà thần quyền đứng trên chính
quyền]. Cuốn
Búa Phù Thủy dạy phải tra tấn nạn nhân như thế nào
để cưỡng bách họ phải thú tội rồi kết án họ ra sao. Cách
tra tấn thông thường là lột trần truồng người phụ nữ bị cho là phù thủy, cạo hết
lông trên người, rồi dùng cái kẹp ngón tay, giá căng người, những hình cụ có
đinh dài nhọn hoặc dùng để nghiền gẫy xương, và đánh đập hoặc bỏ đói.
Khi cơn lốc bạo hành đi vào thế
kỷ 15, số nạn nhân thật nhiều vô kể. Nicholas Remy, một quan án đạo ở Lorraine,
Pháp, chủ tọa các cuộc xử án phù thủy, viết rằng sau một thời gian tra tấn phù
thủy, ông ta biết rằng “chúng xứng đáng chịu mọi sự tra tấn và rồi thiêu sống… và những cảnh khủng
khiếp này có thể dùng làm gương và cảnh báo cho những người khác.”
Remy đã thiêu sống từ 2000 đến 3000 nạn nhân trong khoảng 21 năm, từ 1595 đến
1616.
Torquemada (1420-1498), Đại Phán Quan (Grand Inquisitor) Tây Ban Nha được biết
là đích thân đã thiêu sống hơn mười ngàn (10000) người và kết án 97 ngàn người
khác trong vòng chưa đầy 20 năm. [Theo Bernard Fall trong The Two Viet-Nams"
, Frederik A. Praeger Publisher, New York 1967, trang 236, thì Ngô Đình Diệm
cũng là một loại Phán Quan Tây Ban Nha (Spanish Inquisitor) : Tính hiếu chiến
của ông Ngô Đình Diệm thuộc loại như thế này: Đức tin của ông ta ít có tính chất
từ ái của các tông đồ hơn là tính hiếu chiến tàn nhẫn của một Đại Phán Quan
Tây Ban Nha của Tòa Án Dị Giáo (Torquemada) (Ngo Dinh Diem's militancy is of
that kind: His faith is made less of the kindness of the apostles, than of the
ruthless militancy of the Grand Inquisitor) ]
Trong 12 năm, từ 1581 đến 1593,
những sự bạo hành phù thủy hoành hành khắp thị trấn Trier đầy nhà thờ ở Đức.
Giám mục thị trấn Trier, Peter Binsfield, tuyên án tử hình khoảng 6000 người.
Năm 1620 ở vùng Wurzburg, Đức, chúng ta có thể thấy những thí dụ ngoạn mục về
một sự tận diệt toàn diện các phù thủy. Giám Mục Wurzburg thiêu sống 900 người
vì tội làm phù thủy..
Tổng giám mục Trier thiêu sống 268 phù thủy trong 22 làng mạc trong khoảng từ
1587 đến 1593. Trong 2 làng trong số này, tới năm 1595 chỉ có một phụ nữ được
sống sót.
Người Do Thái là một nhóm người khác bị bạo hành, nhất là khi những cuộc săn
lùng phù thủy ở cao điểm. Trong Tân ước, John 8:44 gọi quỷ là cha đẻ của dân Do
Thái. Trong Khải Huyền 2:9 và 3:9 có nói đến
“giáo đường [nơi người Do Thái tụ họp cầu nguyện]
của Satan”. Những vị lãnh đạo trong giáo hội Ki
Tô Giáo lên án người Do Thái thờ phụng Satan và trao con cái cho các quỷ.
Ở Anh quốc, dưới triều đại Tin Lành của Henry
VIII và Elizabeth 1, sự bạo hành thật nghiêm trọng. Và đó không phải là những
nhà cầm quyền Tin Lành duy nhất đã kẹp gẫy xương phù thủy trên giá căng hay áp
sắt nung đỏ vào người nạn nhân. Ở Netherland
cũng vậy, tra tấn bằng roi, kẹp sắt, và thiêu sống cũng là điều hiển nhiên.
Martin Luther, 1483-1546, người sáng lập ra giáo phái Chống
Đối [Tin Lành], đã tăng gia sự mê tín trong thời
của ông ta. Những tác phẩm ông viết ra làm
chứng cho những sự tấn công của quỷ đối với ông ta, và ông ta thường cho những
hành động ác ôn là của phù thủy – trong số này ông ta gồm những người đối nghịch
với ông. Ông ta nghĩ rằng quyền năng của phù thủy thật đáng kinh ngạc; đã có
lần ông viết: “ Tôi không
có sự thương hại nào đối với các phù thủy, tôi có thể thiêu sống tất cả chúng.”
Thôi thúc bởi cuốn
Búa Phù Thủy, nước Đức [nước của Hitler và của giáo
hoàng đương nhiệm: Benedict XVI] có một lịch sử đen tối nhất về sự bạo hành phù
thủy, nhưng các nước khác – Pháp, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Tô Cách Lan – tất cả đều
nâng cao tổng số sát nhân. Khi cuộc khủng bố đạt tới đỉnh cao [trí tuệ của Ki
Tô Giáo] , những người nghi ngờ bắt buộc phải tỏ sự đồng tình tin là có phù
thủy. Tỏ ý không tin là có phù thủy đặt con người vào nguy cơ là chính họ sẽ bị
tố cáo là phù thủy. 1
2. James A. Haught,
Holy Horrors: An Illustrated History
of religious Murder and Madness, Prometheus Books, New York, 1990, p.73-76:
Trong thế kỷ 15, Những Tòa Hình Án Xử Dị Giáo Thánh
Thiện [The Holy Inquisition] chuyển mục tiêu sang các phù thủy, và ba thế kỷ
tiếp theo đã chứng kiến sự cuồng loạn kỳ quái của ảo tưởng tôn giáo. Nhân viên của
Giáo Hội đã tra tấn vô
số ngàn người phụ nữ, và
một số đàn ông, để bắt họ phải thú nhận là họ đã bay trên không để thi hành những nhiệm
vụ của quỷ, làm tình với Satan, tự biến thành súc vật, tự làm cho mình trở nên
vô hình, và làm những việc ác siêu nhiên. Hầu như mọi người bị kết án là phù thủy đều bị xử chết.
Mới đầu Giáo Hoàng Gregory IX cho phép giết các phù
thủy trong thế kỷ 13, và
những tòa xử phù thủy không nhiều, nhưng sự điên cuồng không bắt lửa cho đến thế
kỷ 15. Năm 1484 Giáo
hoàng Innocent VIII ban một sắc lệnh tuyên bố về sự hiện hữu tuyệt đối có thật
của phù thủy – do đó nghi
ngờ sự hiện hữu của phù thủy là lạc đạo [nghĩa là có thể bị các Tòa Hình Án xử
dị giáo xử]. Truy tố phù thủy tăng lên vùn vụt. Quan án đạo Cumanus thiêu sống
41 phụ nữ trong năm tới và một đồng nghiệp ở Piedmont nước Ý hành quyết 100
người.
Sau đó không lâu, hai quan án đạo dòng Đa Minh, Jakob Sprenger
và Heinrich Kramer, xuất bản cuốn sách ô nhục Malleus Maleficarum (Búa Phù Thủy) nêu ra một bản kinh cầu
khủng khiếp về những hành động quỷ thuật của các phù thủy và những tiểu yêu ,
những thân nhân, ma quái, quỷ, quỷ đực, quỷ cái của chúng. Cuốn sách mô tả những phù thủy đã làm hại mùa màng, ăn
thịt trẻ con, làm ra bệnh tật, và làm phù chú như thế nào. Cuốn sách chứa đầy những chuyện tình
dục của phù thủy và coi phụ nữ như
là xảo quyệt và đáng khinh. Jakob Sprenger và Heinrich Kramer
viết: “Mọi phù thủy đều xuất thân từ sự khao
khát xác thịt, điều mà phụ nữ không bao giờ thỏa mãn.” Khoa tâm lý học hiện đại nhận ra dễ
dàng chứng bấn loạn thần kinh của các linh
mục này về tình dục –
nhưng
trong nhiều thế kỷ cuốn sách của họ đã là cuốn chỉ nam chính thức cho các quan
án đạo để đưa các phụ nữ đến những cái chết khủng khiếp.
Những cuộc săn lùng phù thủy nở rộ ở Pháp, Đức, Hung
Gia Lợi, Tây Ban Nha, Ý, Thụy Sĩ, Thụy Điển và hầu như trên khắp mọi nơi ở Âu
Châu – sau cùng lan tới Anh, Tô Cách Lan, và vùng thuộc địa Vịnh Massachusetts
(Đông Bắc Mỹ). Hầu hết các nạn nhân là phụ nữ đã già mà những hành
động khác thường đã gây nên sự nghi ngờ trong láng giềng. Một số khác còn trẻ,
đẹp. Vài người là đàn ông. Nhiều người trong lục địa Âu Châu chỉ là những công
dân bình thường nhưng tên của họ là do những nạn nhân bị tra tấn khai ra [vì
không chịu nổi sự tra tấn] khi được lệnh phải khai ra đồng bọn.
Phương thức xử dị giáo tiêu chuẩn là cô lập và tra hỏi
những người bị nghi ngờ là phù thủy – thêm vào một bước: những nạn nhân bị lột
trần truồng, cạo hết lông trên người, và dùng mũi nhọn đâm dò trên người. Cuốn
Malleus Maleficarum chỉ rõ rằng mọi phù thủy đều mang trên người một “dấu
của quỷ” không có cảm giác, mà người ta có thể dò ra được bằng cách đâm để dò
bằng một vật nhọn. Những quan án đạo cũng nhìn vào các đầu núm vú của “phù
thủy”, những vết chàm có thể là những đầu vú bí mật để cho các quỷ bú.
Nếu tìm dò trên người không thấy thì sự tra tấn bắt đầu.
Móng tay bị rút ra. Những miếng sắt nóng đỏ được áp vào ngực. Nhà nghiên cứu
Nancy Van Vuuren viết: “Bộ phận sinh dục của phụ nữ đặc biệt hấp dẫn những
người tra tấn phái nam”. Thân thể bị căng trên giá hay trên bánh xe. Erica Jong viết “Tay
bị trật khớp xương và nạn nhân thường thú nhận có những thỏa thuận hoặc hội họp
với quỷ.” Hầu như mọi nạn nhân bị tra tấn như vậy đều thú tội – và bị hành
quyết dựa trên sự thú tội này.
Ở vùng Basque, Tây Ban Nha, hồ sơ ghi chép của giáo hội
Công giáo ghi rõ là trong cuộc tra tấn, Maria ở Ituren đã thú nhận chính mình và
các chị em phù thủy đã tự biến thành những con ngựa phi trên trời. Ở một quận
trong nước Pháp, 600 phụ nữ thú nhận là đã làm tình với quỷ.
Tổng số phù thủy bị chết không thể biết được. Một vài hồ
sơ lịch sử còn hiện hữu; một số đã mất mát. Các ghi chép viết 5000 phù thủy bị
giết ờ tỉnh Alsace, 900 ở thị trấn Bamberg, 2000 ở Bavaria, 311 ở Vaud, 167 ở
Grenoble, 157 ở Wurzburg, 133 trong một ngày ở Saxony. Trong vài làng mạc, phụ
nữ bị tận diệt.
Sự điên cuồng tiếp tục cho đến thế kỷ 18. Ở Scotland,
một bà già bị thiêu sống năm 1722 sau khi bị kết tội là đã biến đứa con gái mình
thành con ngựa con rồi cưỡi nó đến dự cuộc họp của các phù thủy. Ở Đức, một nữ
tu bị thiêu giữa chợ ở Wurzburg năm 1749 sau khi các nữ tu khác chứng nhận là nữ
tu này trèo qua tường của tu viện dưới dạng một con heo. Cuộc hành quyết phù
thủy cuối cùng là ở Thụy Sĩ, vào năm 1782. Tới thời kỳ này, nhiều khoa học gia
và học giả đã nêu lên những nghi vấn về sự thực hữu của các phù thủy do đó chấm
dứt sự điên cuồng [tiêu diệt phù thủy của giáo hội].
Một sự khôi hài sâu đậm về những cuộc săn lùng phù thủy
là chúng được chỉ đạo, không phải bởi những người man rợ mê tín, nhưng bởi những
giám mục có học thức, những ông Tòa, giáo sư, và các cấp lãnh dạo khác trong xã
hội. Những thế kỷ ám ảnh bởi phù thủy cho thấy quyền năng khủng khiếp của những
niềm tin vào siêu nhiên.
2
3. Helen Ellerbe, The Dark Side Of Christian History,
Chapter 8, The Witch Hunts, pp. 114-138:
Giáo hội Công giáo đã tạo ra một quan niệm tinh vi về sự thờ phụng quỷ và rồi
dùng sự bạo hành của giáo hội để đối phó và quét sạch những người bất đồng ý
kiến, đưa con người vào vòng kiểm soát độc đoán của giáo hội và công khai hạ
thấp phụ nữ.
Phải mất một thời gian lâu giáo hội mới làm cho xã hội
tin rằng phụ nữ thường có khuynh hướng thờ phụng quỷ và làm những việc ác của
phù thủy…Trong thế kỷ 13, giáo hội bắt đầu miêu tả phù thủy là nô lệ của quỷ..
Giáo hoàng John XXII chính thức hóa sự bạo hành phù
thủy năm 1320 khi ông ta
cho phép tòa án xử dị giáo truy tố phù thủy. Sau đó những
sắc lệnh và tuyên ngôn của giáo hoàng càng ngày càng lên án mãnh liệt phù thủy.
Năm 1484 giáo hoàng Innocent VIII ban sắc lệnh Summis Desiderates cho phép hai
quan án đạo Kramer và Spencer hệ thống hóa sự bạo hành phù thủy. Hai năm sau, cuốn
Búa Phù Thủy của họ được xuất bản, sau đó với 14 ấn
bản trong khoảng 1487-1520 và ít nhất là 16 ấn bản trong khoảng 1574-1669. Một
sắc lệnh của giáo hoàng năm 1488 kêu họ mọi quốc gia ở Âu Châu hãy cứu giáo hội
bị “nguy hại bởi những nghệ thuật của Satan”. Giáo hoàng
triều và cơ quan xử dị giáo đã thành công biến đổi phù thủy từ một hiện tượng mà
trước đó giáo hội cực lực phủ nhận thành một hiện tượng có thực, rất đáng sợ,
đối nghịch với Ki Tô Giáo, và tuyệt đối đáng bị bạo hành.
Vì những tác giả cuốn Malleus Maleficarum ghi rằng: “Niềm tin vào sự hiện hữu của các phù thủy là phần cần thiết của đức tin
Công Giáo nên bướng bỉnh không chịu tin như vậy là lạc đạo”. Đoạn trong
Thánh Kinh như
“Ngươi không
được để cho một phù thủy nào được sống sót” được viện dẫn để biện minh cho sự bạo hành phù thủy. Cả
Calvin và Knox [hai nhà lãnh đạo Tin Lành] đều tin rằng phủ nhận sự hiện hữu của
phù thủy nghĩa là là phủ nhận quyền năng của Thánh Kinh. Nhà sáng lập hệ phái
Tin Lành Giám Lý trong thế kỷ 18, John Wesley, tuyên bố về những người nghi ngờ
sự hiện hữu của phù thủy là: “loại bỏ sự hiện hữu của phù thủy là loại bỏ Thánh
Kinh.” Và một luật sư người Anh nổi tiếng viết:
“Phủ nhận sự khả hữu, không, sự hiện hữu thực sự của
phù thủy, là lập tức dứt khoát tỏ sự mâu thuẫn với những lời mạc khải của thiên
chúa trong nhiều đoạn trong Cựu Ước và Tân ước.”
Sự bạo hành phù thủy đã giúp kéo dài thời gian thu
thập những lợi nhuận của những tòa án xử dị giáo của giáo hội. Những tòa án xử dị giáo đã khiến cho
nhiều vùng suy sụp về kinh tế đến độ quan án đạo Eymeric phải than phiền:
“Trong thời này, không còn những kẻ lạc đạo giầu có nữa.. thật là đáng tiếc là
một định chế có ích lợi như của chúng ta lại không chắc về tương lai của nó.”
Thêm những tội ác của những phù thủy vào những người mà giáo hội bạo hành ngoài
những kẻ dị giáo, những tòa án xử dị giáo có cả một nhóm người mới để có thể thu
vét tiền bạc từ nhóm này và giáo hội lợi dụng tối đa cơ hội này. Tác giả
Barbara Walker ghi nhận:
“Những nạn nhân phải trả tiền cho ngay
cả sợi giây thừng trói họ và mớ củi thiêu sống họ. Mỗi một phương cách tra tấn
đều có một giá (mà nạn
nhân phải trả).
Sau khi hành quyết một nạn nhân giầu có, các viên chức
của giáo hội thường mở tiệc ăn mừng dùng tiền từ tài sản của nạn nhân.”
Năm 1592, linh mục Cornelius Loos viết:
“Những nạn
nhân khốn khổ vì bị tra tấn tàn bạo bắt buộc phải thú nhận những điều họ chẳng
bao giờ làm, và do đó những con người vô tội bị chết bởi cái lò sát sinh độc ác;
và bằng thuật luyện kim mới, vàng bạc được lấy ra từ máu người.”
3
4.
Malise Ruthven, Torture: The Grand Conspiracy,
Weidenfeld and Nicolson, London, p. 119:
Cuốn Thánh Kinh chỉ đạo cho những kẻ sát nhân khủng khiếp này là cuốn
“Búa Phù Thủy” ô nhục, một cuốn sách viết
bởi hai linh mục cuồng tín dòng Đa Minh và xuất bản năm 1486. Đối với các tác giả của cuốn sách, không có mánh khóe gian dối nào là
thủ đoạn, không có sự tra tấn nào là quá mức khi dùng để lấy lời thú tội. Cũng không có lý do nào được phép nghi ngờ hay nhân
nhượng. Phương châm của cuốn sách là: “Không tin có phù thủy là là lạc đạo
nghiêm trọng nhất.”
Một
trong những “Búa” nổi tiếng nhất là triết gia – luật sư Pháp Jean Bodin
(1529-96). Có lẽ ông ta là người đầu tiên thảo ra định nghĩa “hợp pháp” về một
phù thủy ~ “người đã biết luật của thiên chúa nhưng lại có những hành động với
sự đồng thuận của Quỷ”
Bodin hữu hiệu ghê gớm trong việc truy tố những người bị nghi ngờ là phù thủy.
Đích thân hắn ta tra tấn những em nhỏ và những người tàn tật để moi ra
những lời thú tội, và tuyên bố rằng, thiêu sống những người bị kết án là phù
thủy thì làm cho chúng chết quá mau đi ~ không lâu hơn nửa tiếng đồng hồ. Năm
1580, vào cuối cuộc đời, Bodin viết cuốn Demonomanie [Hành Động Ác Ôn Của
Quỷ]. Gay gắt và xảo quyệt hơn ngay cả đối với cuốn “Búa Phù Thủy” ,
cuốn đó được nhiều người đón nhận và được nhiều người đọc.
Quan án đạo ở Lorraine, Nicholas Remy, cùng thời với Bodin và, nếu không ngang
hàng trí tuệ với Bodin, thì chắc chắn là ngang hàng với hắn về bạo hành. Trong
15 năm xử án phù thủy hắn đã chịu trách nhiệm về sự hành quyết khoảng 900 người.
Khi
đứa con cả của hắn chết vào năm 1582, Remy nghi ngờ là do phù thủy làm, sau đó
lên án và kết án một người hành khất mà hắn đã đuổi đi trước khi con hắn chết ít
lâu. Remy giải thích: “Những phù thủy có cách xảo trá nhất để đánh thuốc độc,
vì tay của chúng đã thoa đầy thuốc độc, chúng nắm lấy quần áo của một người và
do đó gài vào để hại người đó.” Giống như Bodin, Remin về hưu với tư cách một
người danh giá và viết một cuốn sách kể lại kinh nghiệm của mình. Hắn ta thú
nhận, điều đáng tiếc nhất trong đời của hắn là hắn không giết được nhiều hơn
những con cái của phù thủy.
Trong số những người đi săn phù thủy, người giết nhiều nhất là Giám mục dòng Tên
Peter Binsfeld ở Suffragan, Trier, nước Đức, vào cuối thế kỷ 16. Hắn là người
năng nổ truy tố phù thủy và nhấn mạnh là tra tấn nhẹ là chẳng phải là tra tấn.
Người ta cho rằng Binsfeld chịu trách nhiệm về cái chết của 6500 đàn ông, đàn bà
và trẻ con. Bản Luận Về Những Lời Thú Tội Của Những Ác Nhân và Phù Thủy
được nhiều người cùng thời coi như là một tài liệu hợp pháp. Ít người dám cất
lên tiếng nói để chống đối nghiệp vụ đẫm máu về săn lùng phù thủy. Khi học giả
Hà Lan Cornelius Loos, khủng khiếp trước sự quá độ của Binsfeld trong việc cho
phép giết người theo phán quyết của hắn, toan tính phản đối nhân danh nhân loại,
thì ông ta bị lên án và phải công khai sửa sai trước quần chúng.
Sự kiện là hầu hết những người săn lùng phù thủy thành thực tin vào sự
chính đáng của những công cuộc đeo đuổi giết người đó cũng không làm cho cái
lôgíc tai ác của họ, thiên kiến cực đoan và phương pháp bất nhân của họ kém kinh
khủng đối với chúng ta ngày nay.
Henri Boguet (1550-1619), một luật sư người Pháp được biết là đã tiêu diệt
khoảng 600 “phù thủy”, đã giúp kết án một người sùng tín căn cứ trên cây thánh
giá bà ta đeo trên chuỗi tràng hạt có một vết nhỏ trên đó ~ một dấu chỉ rõ ràng
mà Boguet nói rằng cái đó chứng tỏ là bà ta là đồng bọn với quỷ.
Pierre de Lancre, viên chức săn lùng phù thủy trong vùng Basque của Vua Pháp
Henry IV, cũng giỏi trong việc dò ra được sự hiện diện của phe phái Satan. Vì
những lý do mù mờ có vẻ như liên hệ đến vấn đề tình dục, de Lancre tin rằng tất
cả 30000 người dân (gồm cả các linh mục) trong địa phận Labourd đều là phù thủy.
Khi
người dân nghe được tin này, hàng ngàn người đã bỏ nhà chạy khỏi, một số di dân
xa đến tận Newfoudland để thoát khỏi cuộc truy tố không thể tránh được. Trong
vòng 4 tháng, de Lancre thiêu sống khoảng 600 người còn lại trong địa phận, rồi
hắn ta vinh quang trở lại Paris và được Vua Henry tạ ơn phong cho chức cố vấn
quốc gia.
Người Anh săn lùng phù thủy nổi tiếng nhất là một luật sư thất bại,
theo hệ phái Thanh Giáo Tin Lành, tên là Matthew Hopkins. Không như các đồng
nghiệp săn lùng phù thủy, trong một thời gian ngắn vào thập niên 1640 hắn chỉ có
thể giết vào khoảng 600 người. Ngoài ra, vì một sắc lệnh của Quốc hội, hắn ta
bắt buộc phải bỏ phương pháp đầu tiên của hắn dùng để tìm ra phù thủy: ném những
người bị nghi ngờ là phù thủy đã bó chặt lại xuống sông xem có nổi hay không,
nếu chúng nổi thì đúng là phù thủy, vì quỷ đã đỡ chúng. [Lẽ dĩ nhiên không có ai
nổi và sẽ bị chết chìm]… Một trong những phương pháp hắn dùng thành công nhất là
tra tấn tâm lý: các nạn nhân bị bắt buộc phải đi không ngừng, không được ăn, ngủ
cho đến khi kiệt sức hay trở thành mê sảng, và thú nhận là phù thủy. 4
Trên đây chỉ là vài tài liệu trong số hàng trăm tài liệu về vài chi tiết của
những cuộc săn lùng phù thủy của Ki Tô Giáo. Hiển nhiên là tuyệt đại đa số tín
đồ Ki Tô Giáo, Công Giáo cũng như Tin Lành, không hề biết đến những trang sử đen
tối của Ki Tô Giáo nói chung. Vì vậy, họ vẫn hãnh diện tự cho là mình được ở
trong những “Hội Thánh Ki Tô”. Hi vọng ánh sáng của những sự thật lịch sử trong
Ki Tô Giáo sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về chính tôn giáo của họ, và từ đó sẽ có một
thái độ khác hơn, khiêm nhường hơn đối với những người phi Ki-Tô và các tôn giáo
khác, những tôn giáo mà lịch sử truyền đạo chưa từng bị vấy một giọt máu.
Để
kết luận, tôi xin trích dẫn nhận định của Aldous Huxley trong cuốn The Devis
of Loudun, xuất bản năm 1952, một cuốn sử viết về quỷ ám, mê tín và cuồng
tín tôn giáo trong thế kỷ 17 ở Pháp, dựa trên những biến cố trong tỉnh nhỏ
Loudun. [It is a
historical account of demonic possession, superstition and religious fanaticism
in
seventeenth-century France,
based on events which took place in the small town of Loudun]:
Điều đáng sợ nhất, và lố bịch nhất, là đầu óc của những kẻ bảo thủ Ki Tô Giáo có
thể viện vấn đề “tâm linh” ra để biện minh cho những sự độc ác như vậy, cho bất
cứ nguyên nhân nào.
Sự
ngu xuẩn và mê tín của những kẻ bảo thủ Ki Tô Giáo lên cao đến cực điểm vào thế
kỷ 17, được khuyến khích, xúi giục bởi giáo hội, vì giáo hội dạy rằng có quỷ ở
khắp nơi, và bất cứ hiện tượng nào khác lạ đều có thể là kết quả hành động của
quỷ. Mưa đá, gió lớn, rận chấy, sữa trở thành chua, hay một con lừa khó bảo đều
có thể quy trách cho người phụ nữ láng giềng. Tỏ ý nghi ngờ về sự hiện hữu của
các phù thủy thì có giá trị như chính mình là quỷ, và bất cứ người nào tỏ ý
chống đối đều bị nghi ngờ, canh chừng, và coi là phù thủy.
Sự
ám ảnh của Ki Tô Giáo về Quỷ và phù thủy thực sự đã cổ vũ và tăng gia sự đàn áp
của Ki Tô Giáo; và như là trước đây, ngày nay cũng vậy.
“Để
biện minh cho những hành động của họ, họ đã biến những lý thuyết của họ thành
những tín điều, những quy chế của họ thành những nguyên lý căn bản, những lãnh
đạo chính trị của họ thành những Thiên chúa, và tất cả những người không đồng ý
với họ đều là hiện thân của quỷ. Sự biến đổi để mà sùng bái cái tương đối thành
cái tuyệt đối, nhân bản thành thần bản, đã làm cho họ có thể say đắm trong những
tình cảm đam mê xấu xa đáng sợ nhất với một lương tâm yên ổn và trong niềm tin
chắc là đang phục vụ cho Thượng đế. Và khi những niềm tin đó tự chúng trở thành
ngu mê, thì một tập hợp những niềm tin mới sẽ được phát minh ra để cho những sự
điên rồ khi xưa có thể tiếp tục mang những bộ mặt quen thuộc của tính hợp pháp,
của lý tưởng, và của tôn giáo chân thật. 5
1.
Milton Meltzer, Witches and Witch-Hunts: A History of Persecution, The Blue Sky Press, New York, 1999:
A witchcraft craze lasting more than 400 years – from the 14th
through the 17th centuries – caused the deaths of millions in Europe,
the great majority of them women. The craze arose in the Middle Ages and lasted
well into the Age of Reason. Long after, in the 20th century, the
Nazi dictator, Adolf Hitler, led an organized campaign of persecution – often
called a witch-hunt – of the Jews in Germany and Europe that led to the deaths
of six million men, women, and children.
The
Bible of witch-hunting appeared in 1486.. It was a book of great length called
the Malleus Maleficarum, or Hammer of Witches. The first
printed encyclopedia of magic and witchcraft, it was written by two Dominician
priests of Germany, Heinrich Kramer and Jacob Sprenger.
Two years earlier, Pope Innocent VIII had authorized the two priests to wipe out
witchcraft in Germany. Their manual on persecution was a tool in the hand of
every judge and witch-hunter for three centuries. The Malleus was reprinted in
14 editions very quickly. It became one of the most influential of all early
printed books. The Malleus begins by challenging the opinion that witches do
not really exist. The true faith, it says, “teaches us that certain angels fell
from heaven and are now devils” who “by their very nature…can do many wonderful
things we cannot do.” The authors state that Satan and demons can do harm by
themselves, or by acting with or through witches. It dealt in much detail with
the practice of witchcraft and with the judicial procedures to be used against
it.
The two priests spoke from experience, for they themselves had tried 50 people
for witchcraft, 48 of whom were women. The Malleus became the authoritative
guide to organized witch-hunting. The hunts were initiated, and carried out by
church and state…The Malleus told how to use torture to force confession and
further accusations. The common practice was to strip the accused naked, shave
off all her body hair, subject her to thumbscrew and the rack, to spikes and
bone-crushing devices, and to beat her and starve her.
When the whirlwind of persecution descended in the 15th century, the
toll was immense. Nicholas Remy, a judge from Lorraine, France, who presided
over witch trials, wrote that after spending much time grilling witches, he knew
that “they are justly to be subjected to every torture and put to death in the
flames.. and that its very awfulness may serve as an example and a warning to
others.” Remy sent between two and three thousand victims to the stakes between
1595 and 1616…
Torquemada (1420-1498), the Spanish churchman known as the Grand Inquisitor, is
credited personally with burning more than ten thousand people and with
condemning another 97 thousand in less than two decades.
For 12 years, from 1581 to 1593, witch persecutions raged through the cathedral
city of Trier in Germany. The bishop of Trier, Peter Binsfield, ordered the
death of some 6000 people..
In the 1620s the area of Wurzburg, Germany, saw spectacular examples of
wholesale extermination. The bishop of Wurzburg burned 900 people for
witchcraft…The archbishop of Trier burned 268 witches from 22 villages between
1587 and 1593. In two of these villages, by 1595 only one woman was left alive.
Jews were another group that suffered especially during the height of the
witch-hunts. In the New Testament, John 8:44 calls the Devil the father of the
Jews. It is in Revelation 2:9 and 3:9 that the “synagogue of Satan” is first
mentioned. Church leaders accused Jews of worshiping Satan and giving their
children to the demons..
In England, under the Protestant rulers Henry VIII and Elizabeth I, persecution
was severe. And they were not the only Protestant rulers to break bones on the
rack or brand with hot irons. In the Netherlands, too, the whip, steel pincers,
and burning at the stake were much in evidence.
Martin Luther, who lived from 1483 to 1546 and was the founder of Protestantism,
reinforced the superstition of his time. His writings testify to the Devil’s
assaults upon him, and he often refers to the evil actions of witches – among
them he includes his opponents. He thought the power of witches was awesome; he
once wrote, “I should have no compassion on these witches, I would burn all of
them.”
Spurred on by the Malleus, Germany had the worst history of
witchcraft persecution, but other countries – France, Switzerland, Sapin,
Sweden, Scotland – all swelled the total number of murders. When the terror
reached its peak, doubters felt obliged to voice a belief in witches. Denying
the existence of witchcraft placed people in great danger of themselves being
accused.
2. James A. Haught, Holy Horrors: An Illustrated History
of religious Murder and Madness, Prometheus Books, New York, 1990, p.73-76:
During the 1400, the Holy Inquisition shifted its focus toward witchcraft, and
the next three centuries witnessed a bizarre orgy of religious delusion. Agents
of the Church tortured untold thousands of women, and some men, into confessing
that they flew through the sky on demonic missions, engaged in sex with Satan,
turned themselves into animals, made themselves invisible, and performed
supernatural evils. Virtually all the accused were put to death.
Pope Gregory IX originally authorized the killing of
witches in the 1200s, and random witch trials were held, but the craze didn’t
catch fire until the 15th century. In 1484 Pope Innocent VIII issued
a bull declaring the absolute reality of witches – thus it became heresy to
doubt their existence. Prosecutions soared. The inquisitor Cumanus burned 41
women the following year, and a colleague in the Piedmont of Italy executed 100.
Soon afterward, two Dominician inquisitors, Jakob
Sprenger and Heinrich Kramer, published their infamous Malleus Maleficarum
(Withches’ Hammer) outlining a lurid litany of magical acts performed by witches
and their imps, familiars, phantoms, demons, succubi, and incubi. It described
how the evil women blighted crops, devoured children, caused disease, and
wrought spells. The book was filled with witches’ sexual acts and portrayed
women as treacherous and contemptible. “All witchcraft comes from carnal lust,
wich is in women insatiable,” they wrote. Modern psychology easily perceives
the sexual neusoris of these priests – yet for centuries their book was the
official manual used by the inquisitors sending women to horrible deaths.
Witch-hunts flared in France, Germany, Hungary, Spain,
Italy, Switzerland, Sweden, and nearly every corner of Europe – finally reaching
England, Scotland, and the Massachusetts Bay Colony. Most of the victims were
old women whose eccentricities roused suspicions of neighbors. Others were
young, pretty women. Some were men. Many in the continental Europe were simply
citizens whose names were shrieked out by torture victims when commanded to
identify fellow witches.
The standard Inquisition procedure of isolating and
grilling suspects was followed – plus an added step: the victims were stripped
naked, shaved of all body hair, and “pricked”. The Malleus Maleficarum
specified that every witch bore a numb “devil’s mark”, which could be detected
by jabbing with a sharp object. Inquisitors also looked for “witches’ tits”,
blemishes that might be secrets nipples whereby the women suckled their demons.
If the body search failed, the torture began.
Fingernails were pulled out. Red-hot tongs were applied to breasts. “The
women’s sex organ provided special attraction for the male torturer,” researcher
Nancy Van Vuuren wrote. Bodies were stretched on racks and wheels. “Arms came
out of sockets and trysts with the Devil came out of the unlikeliest mouths”,
novelist Erica Jong wrote. Virtually every mangled and broken victim confessed
– and was executed on the basis of the confession.
In the Basque region of Spain, church records dutifully
report that Maria of Ituren admitted under torture that she and sister witches
turned themselves into horses and galloped through the sky. In a district of
France, 600 women confessed to copulating with demons.
The complete death toll is impossible to learn. Some
historical records exist; others are gone. Various accounts say 5000 witches
were killed in the province of Alsace, 900 in the city of Bamberg, about 2000 in
Bavaria, 311 in Vaud, 167 at grnoble, 157 at Wurzburg, 133 in a single day in
Saxony. Some entire villages were exterminated.
The mania continued until the 18th century.
In Scotland, an old woman was burned in 1722 after being convicted of turning
her daughter into a pony and riding her to a witches’ coven. In Germany, a nun
was burned alive in the marketplace of Wurzburg in 1749 after other nuns
testified that she climbed over convent walls in the form of a pig. The last
legal execution of a witch occurred in Switzerland in 1782. By that time,
various scientists and scholars had raised enough doubt about the reality of
witchcraft to bring an end to the madness.
A profound irony of the witch-hunts is that they were
directed, not by superstitious savages, but by learned bishops, judges,
professors, and other leaders of society. The centuries of witch obsession
demonstrated the terrible power of supernatural beliefs.
3. Helen Ellerbe, The Dark Side Of Christian History,
Chapter 8, The Witch Hunts, pp. 114-138: The Church created the elaborate
concept of devil worship and then, used the persecution of it to wipe out
dissent, subordinate the individual to authoritarian control, and openly
denigrate women…
It took the Church a long time to persuade society that
women were inclined toward evil witchcraft and devil worship… In the 13th
century the Church began depicting the witch as a slave of the devil…
Pope John XXII formalized the persecution of witchcraft
in 1320 when he authorized the Inquisition to prosecute sorcery. Thereafter
papal bulls and declarations grew increasingly vehement in their condemnation of
witchcraft. In 1484 Pope Innocent VIII issued the bull Summis Desiderates
authorizing two inquisitores Kramer and Sprenger, to systematize the persecution
of witches. Two years later their manual, Malleus Maleficarum, was
published with 14 editions following between 1487-1520 and at least 16 editions
between 1574-1669. A papal bull in 1488 called upon the nations of Europe to
rescue the Church of Christ which was “imperiled by the arts of Satan”. The
papacy and the Inquisition had successfully transformed the witch from a
phenomenon whose existence the Church had previously rigorously denied into a
phenomenon that was deemed very real, very frightening, the antithesis of
Christianity, and absolutely deserving of persecution.
It was now heresy not to believe in the existence of
witches. As the authors of the Malleus Maleficarum noted, “A belief that there
are such things as witches is so essential a part of Catholic faith that
obstinately to maintain the opposite opinion savors of heresy.” Passage in the
Bible such as “Thou shalt not suffer a witch to live” were cited to justify the
persecution of witches. Both Calvin and Knox believed that to deny witchcraft
was to deny the authority of the Bible. The 18th century founder of
Methodism, John Wesley, declared to those skeptical of witchcraft, “The giving
up of witchcraft is in effect the giving up of the Bible. And an eminent
English lawyer wrote, “To deny the possibility, nay, actual existence of
witchcraft and sorcery, is at once flatly to contradict the revealed word of God
in various passages both of the Old and New Testament.
The persecution of witchcraft enabled the Church to
prolong the profitability of the Inquition. The Inquisition had left regions
so economically destitute that the inquisitor Eymeric complained, “In our days
there are no more rich heretics..it is a pity that so salutary an institution as
ours should be so uncertain of its future.” By adding witchcraft to the crimes
it persecuted, however, the Inquisition exposed a whole new group of people from
whom to collect money. It took every advantage of this opportunity. The auther
Barbara Walker notes:
“Victims were charged for the the very ropes that bound
them and the wood that burned them. Each procedure of torture carried its fee.
After the execution of a wealthy witch, officials usually treated themselves to
a banquet at the expense of the victim’s estate”
In 1592 Father Cornelius Loos wrote:
“Wretched creatures are compelled by the severity of the
torture to confess things they have never done.. and so by the cruel butchery
innocent lives are taken; and, by a new alchemy, gold and silver are coined from
human blood.”
4.
Malise Ruthven, Torture: The Grand Conspiracy, Weidenfeld and Nicolson,
London, p. 119:
The
bible of these macabre killers was the infamous Malleus Maleficarum
(Hammer of Witches), a book written by two fanatical Dominican priests and
published in 1486. For the book's authors no deceit was too devious, no torture
too extreme to be used in the pursuit of confessions. Nor was there any room for
skepticism or moderation; "Not to believe in witchcraft," read the book's motto,
"is the greatest of heresies."
One of
the most famous of the Malleus was the French lawyer-philosopher Jean Bodin
(1529-96). Possibly the first to formulate a "legal" definition of a witch ~
"someone, who, knowing God's laws, tries to bring about some act through an
agreement with the Devil"
Bodin
was hideously efficient in his prosecution of suspected witches. He personally
tortured young children and invalids in the effort to extract confessions, and
proclaimed that burning condemned witches brought death too quickly ~ in not
much more than half an hour. In 1580, towards the end of his life, Bodin wrote a
book of his own, Demonomanie. Harsher and more insidiously circumstantial
even than the Malleus, it was well received and widely read.
The
inquisitor of Lorraine, Nicholas Remy, was Bodin's contemporary and, if not his
intellectual equal, certainly his persecutional peer. During 15 years of judging
witchcraft cases he was responsible for the execution of approximately 900
people.
When
his eldest son died in 1582, Remy inevitably suspected witchcraft, later
accusing and condemning a beggar whom he had turned away shortly before his
son's death. As Remy explained, "Witches have a most treacher manner of applying
their poison, for having their hands smeared with it, they take hold of...a
man's garment as it were to entreat and propitiate him." Like Bodin, Remy
retired an honoured man and wrote a book about his experiences. His main regret
in life, he confessed, was that he did not kill more witch children.
By far
the most lethal of the witch hunters was Jesuit-trained Peter Binsfeld,
Suffragan Bishop of Trier, Germany, in the late 16th century.
A
relentless witch prosecutor who insisted that "light" torture amounted to no
torture at all. Binsfeld is said to have been responsible for the deaths of
about 6,500 men, women and children.
His
Treatise on Confessions by Evildoers and Witches was considered by many of
his contemporaries to be one of the great legal works of it's day. Few voices
were raised in opposition to the bloody business of witch hunting. When Dutch
scholar Cornelius Loos, horrified at the enormity of Binsfeld judicially
sanctioned murders, attempted to protest in the name of humanity, he was
condemned and made to recant publicly.
The
fact that most of the witch hunters sincerely believed in the rightness of their
murderous pursuits does not make their perverse logic, immoderate prejudice and
inhumam methods any less horrifying today.
Henri
Bogeut (1550-1619), a French lawyer credited with exterminating about 600
"witches", was, for example, able to help condemn one pious suspect on the
grounds that the crucifix she wore on her rosary had a minute flaw in it ~ a
clear indication, said Boguet, that she was in league with the devil.
Pierre
de Lancre, French King Henry 1V's official witch hunter in the Basque country,
was equaly skilled at detecting the presence of of Satanism. For reasons that
are obscure but that seem to have had morbid sexual undertones, de Lancre became
convinced that all 30,000 (including priests) inhabitants of the Labourd
district were witches.
When
news of de Lancre's conclusions became known, thousands fled their homes, some
emigrating as far as Newfoundland to escape the inevitable conflagration. In the
space of four months de Lancre burned some 600 of the people who remained, then
returned to Paris in triumph to be made state counselor by a grateful King
Henry.
The
most notorious of the English witch hunters was a puritanical, failed lawyer
named Matthew Hopkins.
Unlike
some of his counterparts on the Continent, Hopkins, who flourished for a
relatively brief period in the 1640s, only managed to kill about 600 people. In
addition, because of a parliamentary decree, he was obliged to forgo his early
method of identifying witches ~ throwing the suspects, trussed, into a river to
see if they floated, if they did they were considered guilty, as the devil was
supporting them…
One of
the methods he used most successfully was a form of psychogical torture, in
which victims were forced to walk constantly, without food or sleep, until,
exhausted or delirious, they confessed to witchcraft.
5.
(Aldous Huxley, The Devils of Loudun, 1952, Harper and Brothers, N.Y.):
The scariest part is the fundamentalist mind that could justify such cruelty,
for any cause, most ironically, a 'spiritual' one.
Fundamentalist ignorance and superstition reached a peak in the 1600's,
instigated by the church, who taught that the Devil was everywhere, and that any
undesireable manifestation could be and probably was the result of witchcraft
and devils. Hail, wind, lice, sour milk, or a difficult mule could all be blamed
on the woman next door. Expressing doubt about the existence of witches was
tantamount to being a witch, and anyone voicing opposing opinions was suspect,
to be watched, and targeted.
The
Christian obsession with the Devil and witchcraft actually fostered and
propagated what they tried so hard to repress; and as it was then, it is today.
"In
order to justify their behavior, they turn their theories into dogmas, their
bylaws into First Principles, their political bosses into Gods and all those who
disagree with them into incarnate devils. This idolatrous transformation of the
relative into the Absolute and the all too human into the Divine, makes it
possible for them to indulge their ugliest passions with a clear conscience and
in the certainty that they are working for the Highest Good. And when the
current beliefs come, in their turn, to look silly, a new set will be invented,
so that the immemorial madness may continue to wear its customary mask of
legality, idealism, and true religion."
Tài Liệu Tham Khảo:
AI =
Arthur Frederick Ide, Unzipped The Popes Bare all: A Frank Study of Sex &
Corruption in the Vatican, AAP, Inc., Austin, Texas, 1987.
BB =
Joanne Carlson Brown & Carole R. Bohm, Editors, Christianity, Patriarchy, and
Abuse: A Feminist Critique, The Pilgrim Press, Cleveland, Ohio, 1989.
EB =
Ernie Bringas, Going By The Book, Past and Present Tragedies of Biblical
Authority, Hampton Roads Publishing Company, Inc., Charlottesville, VA,
1996.
GW =
Gary Wills, Papal Sin, Doubleday,New York, 2000
HE =
Helen Ellerbe, The Dark Side of Christian History, Morningstar and Lark,
Orlando, FL., 1995
I =
Internet, Tài liệu trên Internet
JD =
John Dollison, Pope-Pouri, A Fireside Book, New York, 1994
JH =
James A. Haught, Holy Horrors: an Illustrated History of Religious Murder and
Madness, Prometheus Books, New York, 1990.
JS =
John Shelby Spong, Rescuing the Bible From Fundamentalism: A Bishop rethinks
The Meaning of Scripture, Harper, San Francisco, 1991.
MM =
Milton Meltzer, Witches and Witch-Hunts: A History of Persecution, The
Blue Sky Press, New York, 1999.
MR =
Malise Ruthven, Torture: The Grand Conspiracy, Weidenfeld and Nicolson,
London, p. 119
NC =
Norman Cohn, Europe’s Inner Demons, Paladin Book, Sussex University
Presss, Great Britain, 1975
PR =
Peter de Rosa, Vicars of Christ: The Dark Side of the Papacy, Crown
Publishers, Inc., New York, 1988.
TQN =
Trần Quý Nhu, Búa Phù Thủy [Chuyển ngữ từ cuốn Malleus Maleficarum của
hai linh mục Heinrich Kramer và James Sprenger], Giao Điểm, 2003.
UH =
Uta Ranke-Heinemann, Eunuchs For The Kingdom of Heaven, The Book that
accuses the Roman Catholic Church of degrading women and undermining the
sexuality of believers, Penguin Books, New York, 1990.
3.5. NÚI TỘI ÁC THỨ MĂM CỦA
CÔNG GIÁO:
GÂY HẬN THÙ VÀ BÁCH HẠI NGƯỜI DO
THÁI
Khi nói đến vấn đề bách hại người Do Thái, thường chúng ta nghĩ ngay đến lò
“thiêu người tập thể” (Holocaust) của Đức Quốc Xã (Nazis). Tuy nhiên, những lò
“thiêu người tập thể” này chỉ là sự tiếp nối và là giai đoạn cuối của chính sách
kỳ thị và bách hại người Do Thái của Ki Tô Giáo, mới đầu là Ca Tô Giáo (Công
giáo) trong mấy thế kỷ đầu, rồi sau đó, từ thế kỷ 16, song hành với Tin Lành.
Chính sách kỳ thị và bách hại người Do Thái được thi hành qua ba chủ trương:
cưỡng bức cải đạo; cưỡng bức cải đạo không được thì trục xuất; trục xuất không
được thì giết. Vậy 6 triệu sinh mạng Do Thái bị hủy diệt bởi Đức Quốc Xã ở Âu
Châu trong Thế Chiến thứ hai, xảy ra trong các nước Ki Tô Giáo ở Âu Châu như
Đức, Pháp, Ý, Ba Lan, Tiệp Khắc v..v.., và vô số sinh mạng Do Thái bị hủy diệt
bởi Ki Tô Giáo trong các cuộc Thập Ác Chinh, trong các Tòa Án Xử Dị Giáo
v..v.., tất cả đều nằm trong giai đoạn cuối của chính sách chống Do Thái của Ki
Tô Giáo.
Thật
vậy, học giả nổi tiếng Raul Hillberg, chuyên gia nghiên cứu về Holocaust, đã
viết trong cuốn “Sự Tiêu Diệt Những Người Do Thái Âu Châu” (The
Destruction of the European Jews, Holmes & Meier, New York, 1985), pp 7f, như
sau:
Từ thế kỷ
thứ 4 đã có ba chính sách chống Do Thái: cưỡng bức cải đạo, trục xuất khỏi xứ,
và hủy diệt. Chính sách
thứ hai là chính sách thay thế cho chính sách thứ nhất khi chính sách này không
thành công, và chính sách thứ ba cũng là để thay thế cho chính sách thứ hai…
Những nhà truyền giáo Ki Tô Giáo đã chẳng từng nói: Các ngươi không có quyền
sống giữa chúng tôi như là người Do Thái
[nghĩa là phải cải đạo thành tín đồ Ki Tô và mất đi căn
cước Do Thái].
Các nhà
cai trị thế tục [thường là ở
dưới thần quyền hay cai trị song song với thần quyền]
tuyên bố:
Các người không có quyền sống cùng với chúng tôi
[nghĩa là phải bị trục xuất ra khỏi xứ, thí dụ, theo đề
nghị của Marin Luther v..v..].
Sau cùng,
Đức Quốc Xã ra nghị định: Các người không được quyền sống
[do đó thực hiện “Giải pháp cuối cùng” (Final solution),
nghĩa là tận diệt người Do Thái]
Quá trình này bắt đầu bằng toan tính lùa người Do Thái
vào Ki Tô Giáo. Một sự phát triển chính sách được tiếp nối để cưỡng bách trục
xuất những nạn nhân. Và cuối cùng là lùa người Do Thái vào chỗ chết. Như vậy, Đức quốc xã (Nazis) không
dẹp bỏ quá khứ
[chống Do Thái của Ki Tô Giáo] mà
được xây dựng trên đó, không bắt đầu sự phát triển chính sách chống Do Thái mà
là hoàn tất chính sách đã có.
[Since the fourth century after
Christ there have been three anti-Jewish policies: forced conversion, expulsion,
annihilation. The second appeared as an alternative to the first, and the third
emerged as an alternative to the second… The missionaries of Christianity had
said in effect: You have no right to live among us as Jews. The secular rulers
who followed proclaimed: You have no right to live among us. The Nazis at last
decreed: You have no right to live.
The
process began with the attempt to drive the Jews into Christianity. The
development was continued in order to force the victims into exile. It was
finished when the Jews were driven to the death. The German Nazis, then, did
not discard the past; they built upon it. They did not begin a development;
they completed it.]
John
Cornwell, một học giả Ca-Tô, viết trong cuốn “Giáo Hoàng Của Hitler”
(Hitler’s Pope):
“Vào khoảng giữa
năm 1997, tôi ở trong tình trạng bị một cú “sốc” về đạo lý. Những tài liệu tôi
thu thập được không thể dùng được để miễn trách nhiệm [cho Giáo hoàng Pius
XII] mà là một bản cáo trạng còn gây tai tiếng hơn là bản cáo trạng của
Hoshhuth [Rolf Hoshhuth là người đã chỉ trích Pius XII.
Bằng chứng thật là mạnh mẽ. Lần đầu tiên nó chứng tỏ Pacelli
[tên tục của Pius XII]], qua chính những lời của ông
ấy, là một người chống Do Thái có môn bài.
Nó chứng tỏ rằng ông ta đã giúp cho Hitler lên cầm quyền và cùng lúc phá ngầm khả năng kháng chiến của Ca Tô Giáo ở
Đức. Nó chứng tỏ rằng ông ta
ngụ ý phủ nhận và tầm thường hóa những lò sát sinh của Đức Quốc Xã dù rằng ông
ta đã biết rõ nội vụ. Và tệ hơn cả, ông ta là một người đạo đức giả, vì sau khi
đệ nhị thế chiến chấm dứt ông ta lại mang danh không xứng đáng là người đã công
khai chống sự bạo hành của Nazi.”
(By the middle of 1997, I was in a state of moral shock. The material I
had gathered amounted not to an exoneration but to an indictment more scandalous
than Hochhuth's. The evidence was explosive. It showed for the first time that
Pacelli was patently, and by the proof of his own words, anti-Jewish. It
revealed that he had helped Hitler to power and at the same time undermined
potential Catholic resistance in Germany. It showed that he had implicitly
denied and trivialized the Holocaust, despite having reliable knowledge of its
true extent. And, worse, that he was a hypocrite, for after the war he had
retrospectively taken undue credit for speaking out boldly against the Nazis’
persecution.)
Và Sam Harris, trong cuốn sách mới xuất bản, Thư Cho
Một Quốc Gia Ki Tô (Letter To A Christian Nation, Alfred A. Knopf,
New York, 2006), đã viết, trang 41-42:
Hãy xét đến những lò thiêu sống tập thể của Đức Quốc Xã:
chủ nghĩa
chống Do Thái dựng lên những trại tử thần của Nazi là thừa hưởng trực tiếp chính
sách của Ki Tô Giáo thời Trung Cổ. Trong nhiều thế kỷ, những người Âu Châu Ki Tô đã coi những người Do Thái
như là những giống người lạc đạo tệ mạt nhất và gán cho sự hiện diện của người
Do Thái trong đám tín đồ Ki Tô là nguyên nhân của mọi điều xấu xa trong xã hội…
Chính Vatican đã thường xuyên quy tội cho người Do Thái giết Chúa trong
báo chí của Vatican cho tới năm 1914. Và cả hai giáo
hội, Ca-Tô cũng như Tin Lành, đều có một thành tích ô nhục đồng lõa trong chính
sách diệt chủng dân Do Thái.
(Consider the Holocaust: the anti-semitism that built
the Nazi death camps was a direct inheritance from medieval Christianity. For
centuries, Christian Europeans had viewed the Jews as the worst species of
heretics and attributed every societal ill to their continued presence among the
faithful… The Vatican itself perpetuated the blood libel in its newspapers as
late as 1914. And both Catholic and Protestant churches have a shameful record
of complicity with the Nazi genocide.)
Từ vài tài liệu trên trong vô số tài liệu về sự liên hệ
giữa chính sách chống Do Thái của Ki Tô Giáo và lò sát sinh của Đức Quốc Xã,
ngày nay không ai còn có thể phủ nhận sự liên hệ ô nhục giữa một tôn giáo, Ki Tô
Giáo, và một chính quyền thế tục, Đức Quốc Xã, đưa đến kết quả là 6 triệu người
Do Thái đủ mọi lứa tuổi bị giết không thương tiếc. Sau đây, chúng ta sẽ đi sâu
thêm vào Núi Tội Ác Thứ Năm của Ca-Tô Giáo Rô-Ma: Bách hại người Do Thái.
Nghiên cứu lịch sử, chúng ta sẽ thấy rằng, những chính
sách chống Do Thái là những sản phẩm đặc thù của Ca Tô Giáo cũng như Tin
Lành, được chế tạo ra từ những đầu óc thuộc loại cuồng tín cùng cực hẹp hòi
thuộc thời bán khai của một số Giáo hoàng như Innocent III; của một số “Thánh”
Ca Tô như Paul (Phao Lồ), John
(Giăng) trong Tân ước; của một số “Thánh thượng phụ” Công Giáo như Chrysostom,
Bernard, Augustine; và của những nhà lập giáo Tin Lành như Martin Luther, John
Calvin v..v.. Cuồng
tín hẹp hòi vì chỉ dựa vào một vài câu viết bậy trong Tân ước mà vu cho người Do
Thái cái tội “giết Chúa”, nếu Chúa toàn năng, toàn trí của họ có thể bị giết bởi
người thường.
Trước khi trích dẫn những “lời nói kỳ thị, nguyền rủa”
của các vị trên về người Do Thái, chúng ta hãy điểm qua một số ý kiến của các
học giả về sự liên hệ giữa chính sách chống Do Thái của Ki Tô Giáo và những lò
“thiêu người tập thể” của Đức Quốc Xã.
Trước hết chúng ta hãy đọc vài đoạn trong cuốn “Một
Mặt Đen Tối Của Lịch Sử: Chính Sách Chống Do Thái Qua Các Thời Đại” (A Dark
Side of History: Antisemitism Through The Ages, Anti-Defamation League, 2000)
của Jerome A. Chanes, đã viết như sau, trang 11:
Tác giả Ca Tô Giáo Rô-ma (Roman Catholicism) có tên tuổi, Malcolm Hay, đã
viết cho Jules Isaac cách đây 40 năm như sau:
“Auschwitz
(Nơi thiêu người tập thể kinh khủng nhất của Đức Quốc Xã)
không thể
nào thực hiện được nếu không có những lời nói láo độc địa mà các Giáo hội Ki Tô
đã làm nhiễm độc các dân tộc Ki Tô trong ít nhất là 1600 năm”
[Trg. 11]
Không quá 40 năm trước đây, nghiên cứu những chủ đề và những tài liệu về
chống Do Thái của Ki Tô Giáo thường bị coi là điều cấm kỵ. Trong những năm gần đây,
những nghiên cứu về Holocaust, do tinh thần thảo luận cởi mở trong
các giáo hội Ki Tô, đã phanh
phui ra vai trò cốt yếu của Giáo hội trong chính sách bạo hành những người Do
Thái sống trong những xứ Ki Tô.
[Trg. 29]
(The distinguished Roman Catholic author Malcolm Hay wrote to Jules Isaac 40
years ago that “Auschwitz would have been impossible had it not been for the
poisonous lies with which the churches have infected Christian populations for
at least 1600 years.”)
No
more than 40 years ago, the subjects of Christian antisemitism and the Christian
sources of antisemitism were generally considered taboo.
In
recent years, research on the Holocaust, together with a growing tolerance for
discussion within the churches, has revealed the crucial role played by the
Church in the persecution of Jews in Christendom.)
Thái độ của Luther chẳng bao lâu
trở thành chống Do Thái một cách hiển nhiên.
Năm 1542, Luther phát tán một tờ truyền đơn, “Về người Do Thái và nhưng lời nói
láo của họ”, tiếp theo là một tiểu luận khác trong đó ông ta chỉ trích gắt gao
bằng loại ngôn từ không kém độc địa như những lời đã đã từng đưa ra đối với
người Do Thái từ trước hoặc sau đó. Luther, với lời lẽ vừa châm biếm vừa tục
tĩu, nhắc lại mọi luận điệu lên án Do Thái từ trước, với những điều chúng ta đã
quen thuộc: Người Do Thái là những kẻ bỏ thuốc độc
[vào giếng nước]; nhũng kẻ cho vay nặng lãi; những
ký sinh trùng trong xã hội Ki-Tô; song hành với Satan; những kẻ bị đầy đọa xuống
hỏa ngục. Trong những bản văn của Luther, một hình ảnh cũ được đưa ra: Do Thái
là những kẻ ”chống-Chúa.”
Luther không để cho những độc giả
của ông ta tự tưởng tượng ra những điều ông ta quan niệm về một chương trình đối
xử với người Do Thái. Ông ta vạch rõ: cần phải đốt sập những giáo đường Do
Thái, tịch thu sách vở Do Thái, cưỡng bách người Do Thái phải lao động chân tay
cực nhọc, tốt hơn nữa, cần phải trục xuất người Do Thái ra khỏi những đất đai
của họ.
(p.105: Luther’s attitude toward the Jews became one that before too long was
blatantly antisemitic. In 1542, Luther published a tract, Concerning the
Jews and Their Lies, soon followed by another essay, which excoriated the
Jews in Language that equaled in virulence anything uttered against them before
or since. Luther, in language both sarcastic and scatological, renewed all the
old charges of the past, perpetuating patterns with which we have become
familiar during the course of these talks: Jews are poisoners; Jews are usurers;
Jews are parasites on Christian society; Jews consort with Satan himself; Jews
are doomed to Hell. In Luther’s writings a new locution of an old image of the
Jew emerged: the Jew as “Anti-Christ”
Luther
did not leave to his readers’ imagination what he conceived as the appropriate
agenda to deal with the Jews. He was quite explicit: their synagogues should be
burned, their books seized; they should be forced into back-breaking manual
labor; better still, they should be expelled from their territories.)
Theo sử gia Lucy Dawidowics, “Người ta có
thể dễ dàng kéo một đường chống Do Thái thẳng từ Martin Luther tới Adolf
Hitler”. Cả Luther và
Hitler đều bị ám ảnh bởi một vũ trụ quỷ sứ mà người Do Thái sống trong đó.
Khi
chúng ta duyệt lịch sử chống Do Thái trong thế kỷ 20 ở Tây Âu, chúng ta nhận ra
rằng có một chuỗi xích quan niệm và triết lý nối sự Cải Cách của Ki Tô Giáo và
sự nổi giậy của chủ nghĩa Hitler.
(p 151: According to historian Lucy Dawidowics, “A line of antisemitism descent
from Martin Luther to Adolf Hitler is easy to draw” Both Luther and Hitler were
obsessed by a demonologized universe inhabited by Jews. As we trace the history
of antisemitism to 20th century Western Europe, we note that there is
a direct conceptual and philosophical chain connecting the Christian Reformation
and the rise of Hitlerism.)
Tiến sĩ Michael L. Brown, Khoa Trưởng Trường Cao Cấp về Thần học tại
Gaithersburg, Maryland, USA, trong cuốn
"Bàn tay của chúng ta dính nhơ đầy máu" (Our Hands are Stained With
Blood, Messiah Biblical Institute, MD, 1992, p. 7) viết với nhiều chi tiết về
chương trình đối xử với người Do Thái của Martin Luther như sau:
"Thứ nhất, phải đốt sạch những giáo đường Do Thái... Thứ nhì, nhà cửa của họ
cũng phải thiêu hủy...Thứ ba, họ không được giữ những cuốn kinh cầu nguyện và
Thánh kinh Do Thái. Thứ tư, phải cấm những giáo sĩ của họ giảng đạo nếu
không sẽ bị xử tội chết... Thứ năm, những quyền lợi về giấy thông hành và du
hành của những người Do Thái phải tuyệt đối cấm. Thứ sáu, họ phải ngưng lấy lãi
khi cho vay tiền...Thứ bảy, hãy cấp cho thanh thiếu niên nam nữ Do Thái những
cái đập lúa, búa dìu, cuốc, thuổng để chúng kiếm ăn bằng mồ hôi trên mũi
chúng.. Chúng ta phải trục xuất bọn nhãi ranh lười biếng trên
ra khỏi hệ thống của chúng ta. Như vậy là đuổi chúng cút đi chỗ khác.
Nói tóm lại, các ông hoàng và nhà quý phái thân yêu mà có người Do Thái trong
các xứ của mình, nếu lời khuyên này của tôi không hợp với các người, thì các
người hãy tìm một cách tốt hơn để quý vị và tôi không còn phải mang cái gánh
nặng không thể chịu đựng được nữa của những kẻ gian ác – người Do Thái"
(First, their synagogues should be set on fire..
Secondly, their homes should likewise be broken down and destroyed...Thirdly,
they should be deprived of their prayer-books and Talmuds...Fourthly, their
rabbis must be forbidden under threat of death to teach any more...Fiftly,
passport and traveling privileges should be absolutely forbidden to the
Jews...Sixthly, they ought to be stopped from usury (charging interest on
loans)...Seventhly, let the young and strong Jews and Jewesses be given the
flail, the ax, the hoe, the spade...and let them earn their bread by the sweat
of their noses...We ought to drive the rascally lazy bones out of our system..
Therefore away with them.
To sum up, dear princes and nobles who have Jews in your
domains, if this advice of mine đoes not suit you, then find a better one so
that you and we may all be free of this insufferable devilish burden – the Jews)
Trong một đoạn khác, tiến sĩ Brown viết, trang 7:
"Ki Tô Giáo không tạo ra sự hủy diệt tập thể dân Do Thái
[của Đức Quốc Xã], nhưng Ki Tô Giáo đã làm cho sự hủy diệt trên thành
hình. Không có sự
chống Do Thái của Ki Tô giáo, người ta không thể quan niệm nổi một chính sách
hủy diệt như vậy. Hitler và
những đảng viên quốc xã đã tìm thấy trong pháp chế chống Do Thái của Công giáo
trong thời Trung Cổ một mẫu mực hành dộng cho chính họ, và họ in lại những văn
kiện chống Do Thái độc địa của Martin Luther. Chúng ta nên biết chính sách hủy
diệt tập thể này chỉ được gây ra bởi một nước lớn ở Âu châu trong đó số tín đồ
Công giáo và Tin Lành xấp xỉ bằng nhau. Cả hai tôn giáo trên đều chứa đầy sự
thù hận người Do Thái.
Trong gần 2000 năm, thế giới Ki Tô đã tàn nhẫn làm mất nhân tính của người Do
Thái khiến cho chính sách hủy diệt tập thể, kết quả chung cùng của sự làm mất
nhân tính này, có thể thành tựu.
Trong những năm dài, đen tối của thời Trung Cổ, người Do
Thái thường được phép chọn: rửa tội hoặc bị trục xuất, rửa tội hoặc bị tra tấn,
rửa tội hoặc là chết"
(Christianity did not create the Holocaust; indeed
Nazism was anti-Christian, but it made it possible. Without Christian
antisemitism, the Holocaust would have been inconceivable...Hitler and the Nazis
found in medieval Catholic anti-Jewish legislation a model for their own,
and they read and reprinted Martin Luther's virulently antisemitic writings. It
is instructive that the Holocaust was unleashed by the only major country in
Europe having approximately equal numbers of Catholics and Protestants.
Both traditions were saturated with Jew-hatred.
For nearly 2000 years, the Christian world relentlessly
dehumanized the Jew, enabling the Holocaust, the ultimate consequence of this
dehumanization, to take place.
During the long, dark years of the Middle Ages, Jews were
frequently given the option of baptism or expulsion, baptism or torture, baptism
or death )
Một tài liệu khác trên Internet cho chúng ta biết thêm chi tiết về con người của
Martin Luther đối với người Do Thái:
“Đây là một phần những gì Luther viết vào năm 1543. Nên để ý là có vẻ như
Adolf Hitler đã dùng chúng như là sự chỉ đạo tổng quát để áp dụng giai đoạn đầu
tiên trong “giải pháp cuối cùng” đối với người Do Thái:
“Hãy để tôi cho các người những lời
khuyên chân thật của tôi;
Thứ nhất, hãy đốt sạch mọi giáo đường hay trường học của chúng và chôn vùi
chúng dưới lòng đất những gì không thể đốt được, để cho không ai có thể thấy
được một viên đá hay một mảnh than cháy dở. Phải thực hành
điều này để vinh danh Chúa của chúng ta và cho tập thể người Ki Tô.
Thứ nhì, hãy phá hủy triệt hạ nhà của chúng.
Thứ ba, phải cướp đi mọi kinh cầu nguyện, và kinh Talmud mà những điều viết
trong đó có những lời nói láo, nguyền rủa, phỉ báng và thờ thần tượng.
Thứ tư, phải cấm không cho những thầy tu Do Thái giảng đạo nếu không sẽ bị
hành quyết và chặt chân tay.
Thứ năm, phải cấm tuyệt không cho chúng du hành tự do trên các trục giao
thông. Vì chúng không có nhiệm vụ gì ở các vùng quê, vì chúng không phải là
những lãnh chúa, viên chức chính quyền, thương gia v..v.. Hãy bắt chúng ở yên
trong nhà [Nhà nào ?? Sau khi đã phá hủy và triệt hạ nhà của người
Do Thái trong “lời khuyên” thứ hai]
Thứ sáu, phải cấm chúng hành nghề cho vay lãi, và phải tịch thu mọi tiền bạc,
vàng bạc quý giá của chúng, giữ riêng nơi an toàn
[ai giữ riêng??]
Thứ bảy, hãy cấp cho thanh thiếu niên nam nữ Do Thái những cái
đập lúa, búa dìu, cuốc, thuổng để chúng kiếm sống bằng mồ hôi trên lông mày
chúng.”
(
Here in part is what Luther wrote in C.E. 1543. Note that Adolf Hitler seemed to
use it as a general guide for implementing the earlier phase of his "final
solution" against the Jews:
Let
me give you my honest advice:
First, to set fire to their synagogues or schools and to bury and cover with
dirt whatever will not burn, so that no man will ever again see a stone or
cinder of them. This is to be done in honor of our LORD and of Christendom.
Second, I advise that their houses also be razed and destroyed.
Third, I advise that all their prayer books and Talmudic writings, in which such
idolatry, lies, cursing, and blasphemy are taught, be taken from them.
Fourth, I advise that their rabbis be forbidden to teach henceforth on pain of
loss of life and limb.
Fifth, I advise that safe conduct on the highways be abolished completely for
the Jews. For they have no business in the countryside, since they are not
lords, officials, tradesmen, or the like. Let them stay at home.
Sixth, I advise that usury be prohibited to them, and that all cash and treasure
of silver and gold be taken from them, and put aside for safe keeping.
Seventh, I recommend putting a flail, an ax, a hoe, a spade, a distaff, or a
spindle into the hand of young, strong Jews and Jewesses and letting them earn
their bread in the sweat of their brow.)
Linh mục David R. Mason, Giáo sư về tôn giáo, đại học John Carroll ở
Cleveland, Ohio, viết , trang 27: (Anti-Semitism, Mark McKain, Editor,
Green Haven Press, MI 2005)
Không còn nghi ngờ gì là lò thiêu sống tập thể người Do Thái
trong những thập niên 1930 vá 1940 ít nhất cũng là một phần kết quả trực tiếp
của 2000 năm người Ki-Tô chống Do Thái. Hơn nữa, sự lương thiện trí thức đòi
hỏi rằng căn nguyên của những lời phỉ báng chống Do Thái của Ki Tô Giáo thì nằm
trong chính cuốn Tân Ước, đặc biệt là những Phúc Âm..
(There
can be little doubt that the Holocaust of the Jews in the 1930’s and 1940’s is,
at least partially the direct result of 2000 years of Christian anti-Judaism.
Moreover, honesty demands that the root of much Christian anti-Jewish slander be
located in the New Testament itself, especially the Gospels…)
Và học
giả Eliezer Berkovits, viết trong cuốn “Đạo Do Thái Trong Thời Kỳ Hậu Ki Tô”
(Judaism in the Post-Christian Era), về “sự phá sản đạo đức của nền văn minh
Ki Tô Giáo và sự phá sản Tâm Linh của Ki Tô Giáo” (The moral bankrupcy of
Christian civilization and the spiritual bankrupcy of Christian religion) như
sau, trang 287:
“Sau 19 thế kỷ của Ki Tô Giáo, sự
hủy diệt 6 triệu người Do Thái, trong đó có một triệu rưỡi là trẻ con, được thi
hành với máu lạnh ngay trong lòng của Ki Tô giáo ở Âu Châu , được khuyến khích
bởi sự im lặng tội lỗi của hầu như toàn thể thế giới Ki Tô Giáo, gồm cả một “Đức
Thánh Cha” không thể sai lầm ở La Mã, đó chính là kết quả tất nhiên của sự phá
sản. Có một đường thẳng kéo dài từ hành động áp bức đầu tiên đối với người Do
Thái và đạo Do Thái vào thế kỷ 4 cho đến các lò “giết người tập thể” trong thế
kỷ 20.”
(After 19 centuries of
Christianity, the extermination of 6 million Jews, among them one-and-a-half
million children, carried out in cold blood in the very heart of Christian
Europe, encouraged by the criminal silence of virtually all Christendom,
including that of an infallible Holy Father in Rome, was the natural culmination
of this bankrupcy. A straight line leads from the first act of oppression
against Jews and Judaism in the fourth century to the holocaust in the
twentieth.)
Chính
sách diệt chủng Do Thái của Ki Tô Giáo là một sự kiện bất khả phủ bác. Chính
Giáo Hoàng John Paul II cũng đã thú nhận núi tội ác này của Ca Tô
giáo. Đúng vậy, năm 2000, Giáo Hoàng John
Paul II đến thăm viếng Do Thái, bày tỏ lòng tôn kính đối với những nạn nhân
Holocaust của Đức quốc Xã, và để lại giữa những tảng đá cổ của bức tường phía
Tây Jerusalem lời cầu nguyện sau đây:
“Thiên Chúa của cha chúng tôi, Ngài đã chọn Abraham và những hậu duệ của ông ta
để mang tên Ngài tới những quốc gia: chúng con vô cùng sầu thảm về những hành
động của những người trong dòng lịch sử đã làm cho con cái của Ngài đau đớn, và
xin Ngài tha thứ , chúng con ước mong sẽ dấn thân trong cuộc tạo tình anh em
chân thật với dân tộc mà Ngài đã giao ước.”
(Pope John Paul II visits Israel.
He pays tribute to the victims of the Holocaust, and he leaves the following
prayer between the ancient stones of the Western Wall in Jerusalem:
“God of our fathers, you chose Abraham and his descendants to bring your Name to
the Nations: we are deeply saddened by the behavior of those who in the course
of history have caused these children of yours to suffer, and asking your
forgiveness, we wish to commit ourselves to genuine brotherhood with the people
of the Covenant.”)
Những người trong dòng
lịch sử
mà giáo hoàng nói đến là những người nào? Giáo hoàng không
nói rõ nhưng ai cũng biết đó chính là những người Ki Tô Giáo, Ca-Tô Giáo cũng
như Tin Lành. Chúng ta hẳn còn nhớ, ngày 12 tháng 3 năm 2000, Giáo Hoàng John
Paul II cùng một số Hồng Y và Tổng Giám Mục đã xưng thú 7 núi tội ác của Ca-Tô
Giáo Rô-ma đối với nhân loại tại Vatican, và một trong 7 núi tội ác này là vu khống cho người Do Thái cái
tội giết Chúa và bách hại người Do Thái trong nhiều thế kỷ.
Lời cầu nguyện trên chứng tỏ là
Ca Tô Giáo thờ cùng một Thiên Chúa với người Do Thái. Suốt 2 ngàn năm lịch sử,
Ca Tô Giáo đã gây ra hết tội ác này đến tội ác khác đối với nhân loại. Bất cứ
khi nào cần, hoặc khi không còn có thể che dấu tội ác của Giáo hội trước những
tác phẩm nghiên cứu của các học giả ở trong cũng như ở ngoài giáo hội, thì Giáo
hội lại diễn xuất màn kịch ăn năn hối cải, và xin được Thiên Chúa tha thứ chứ
không phải là xin được các nạn nhân của Giáo hội tha thứ, và lương tâm giáo hội
lại yên ổn để tiếp tục làm tội ác, bất kể là thực ra có Thiên Chúa hay không và
nếu có thì Thiên chúa có chịu tha tội cho giáo hội hay không. Nhưng ngày nay,
đối với giới trí thức và hiểu biết, thì vấn đề xin Thiên Chúa tha thứ cho Giáo
hội đã trở thành vô nghĩa mà thực chất chỉ là hành động che dấu tội ác
(cover-ups). Bởi vậy, Lloyd Graham đã viết trong cuốn “Những Dối Trá Và
Huyền Thoại Của Thánh Kinh” (Deceptions and Myths of the Bible), trang 425,
như sau: “Con người!
Hãy tha thứ cho Thiên chúa, vì hắn ta không biết là mình đã làm gì [dựa theo một câu của
Giê-su trước khi chết trên cây thập giá].
Tất cả sự sống đã chứng tỏ sự
kiện thê thảm này, do đó, vấn đề không phải là Thiên Chúa có tha thứ tội lỗi của
con người không? mà là con người có thể tha thứ cho sự độc ác của Thiên chúa
không? (Man! forgive God, for he knows
not what he does. All life attests this tragic fact, and so the question is
not, will God forgive man for his sins? but can man forgive God for his
cruelty?) Và ngày nay, vấn đề đặt ra không
phải là Thiên chúa có tha thứ cho Giáo hội hay không, mà là những nạn nhân của
Giáo hội trong suốt 2000 năm nay có chịu tha thứ cho Thiên Chúa của Giáo hội hay
không, vì tất cả những gì Giáo hội làm đều nhân danh Thiên Chúa và áp dụng những
điều Thiên Chúa đã dạy trong Thánh Kinh, đặc biệt là coi người Do Thái như là
tập đoàn kẻ thù đã “giết Chúa”.
Phân tích vấn đề, chúng ta thấy, Giê-su, cùng với bà mẹ Mary, 12 tông đồ, và 3
trong 4 tác giả của 4 phúc âm, đều là người Do Thái. Vậy tại sao Ki Tô Giáo lại
reo rắc hận thù và bách hại người Do Thái trong gần 2000 năm nay. Vấn đề chính
là dân Do Thái không tin Giê-su là Chúa Cứu Thế, chỉ coi Giê-su như là một nhà
tiên tri Do Thái như mọi nhà tiên tri khác. Điều này trái với tín ngưỡng của Ca
Tô Giáo, chủ trương đưa con người vào trong vòng mê tín, thờ phụng thần linh mà
họ gọi là Chúa. Chúng ta đã biết, Ca Tô Giáo tự nhận là “Tông truyền” cho nên
bất cứ niềm tin nào khác với Ca Tô Giáo đều phải diệt bỏ. Trong thời Trung Cổ,
Giáo hội Công Giáo đã phát động những cuộc Thập Ác Chinh, không những để diệt
những người Hồi Giáo, Do Thái Giáo, mà con tiêu diệt cả những tín đồ Ki Tô Giáo
nào không phải là Ca Tô Giáo chính thống, thí dụ như dân Cathars ở Languedoc,
Pháp, chẳng hạn..
Để khuyến khích và nuôi dưỡng sự thù hận của tín đồ Ki
Tô đối với dân Do Thái, Giáo hội Ca Tô, bắt đầu từ Thánh Phaolồ (Paul), vu khống cho dân
Do Thái cái tội “giết Chúa”. Nhưng Giáo hội cố tình quên rằng, Giê su là người
Do Thái, bố mẹ Giê su là người Do Thái, tổ tiên Giê su là người Do Thái, 12 tông
đồ đầu tiên của Giê su cũng là người Do Thái, và Giê su chịu ảnh hưởng rất nhiều
của Do Thái Giáo, qua cuốn Cựu Ước. Tuy có thể người đóng đinh Giê-su lên thập
giá là người Do Thái, nhưng người kết tội tử hình Giê su là Pilate, toàn quyền
La Mã, vậy những người đóng đinh Chúa trên thập giá chỉ là những người thi hành
một bản án, cũng như các đao phủ khi xưa chém đầu tội nhân bị kết án tử hình.
Ngoài ra, Giáo hội luôn luôn dạy rằng: "Chúa là con
một của Thượng đế, giáng trần để làm nhiệm vụ chuộc tội cho nhân loại trước sự
đầy ải thù hằn của Thượng đế, tình nguyện chết trên thập giá, dùng máu mình để
"rửa sạch tội lỗi của con người"”, vậy những người đóng đinh Giê-su trên
thập giá, dù họ thực sự là người Do Thái, thì đó chẳng qua họ chỉ làm theo sở
nguyện của chính Chúa Giê su, đáng lẽ phải được tuyên dương công trạng vì đã
giúp Chúa hoàn thành nhiệm vụ chuộc tội, chứ sao lại bị kết tội là giết Chúa.
Kết tội người Do Thái giết Chúa là thừa nhận Giê su
không phải là Chúa con, quyền phép vô biên, và phủ nhận luôn việc ý nghĩa của
việc Chúa giáng trần, ý nghĩa của việc tình nguyện chịu đóng đinh trên thập giá
v...v... Nhưng theo những
chuyện không thể tin được trong Tân ước thì Giê-su đâu có chết, vì chưa đầy 3
ngày sau ông ta đã sống giậy và 40 ngày sau đó bay lên trời. Vậy thì thực ra
Giê-su chết hay không chết? Nếu không chết thì ai là người “giết
Chúa”? Và cái màn bị đóng đinh trên cây thập giá chỉ là một
màn bịp bợm về cái gọi là “chịu khổ nạn để chuộc tội cho thế gian”. Những sự mâu
thuẫn cùng cực trong sách lược chống Do Thái của Giáo hội Ca Tô như trên không
hề làm bận tâm các tìn đồ, và họ thản nhiên hành hạ, tàn sát người Do Thái theo
sách lược của Giáo hội, và tiếp tục thù ghét người Do Thái cho tới ngày nay, khi
họ không còn quyền lực để cưỡng bức người Do Thái phải cải đạo, trục xuất lưu
đầy, hoặc thiêu sống người Do Thái như họ đã làm trong quá khứ.
Đọc về những cung cách đối xử với dân Do Thái của Giáo
hội Ca Tô Rô-ma nói riêng,
của Ki Tô Giáo nói chung, tôi thấy thật là tội nghiệp cho dân Do Thái và tội
nghiệp luôn cho đám tín đồ Ki Tô, đầu óc mù mịt, nhắm mắt theo sách lược chống
Do Thái của Ki Tô Giáo, để cho những bàn tay của mình dính đầy máu của những
người Do Thái vô tội mà không hề biết đến những mâu thuẫn cùng cực trong sách
lược này.
Sau đây tôi sẽ đi vào một số chi tiết của những biện pháp
mà một số Giáo hoàng, những vị đại diện của Chúa trên trần, và một số chức sắc
cao cấp trong hàng Giáo phẩm
Ca Tô và Tin Lành đã dùng để đối phó với dân
Do Thái.
Chính sách chống Do Thái của Ki Tô Giáo, đặc biệt là
Ca Tô Giáo Rô-ma, suốt 2000 năm nay
được Mục Sư Bringas (Ibid., trg. 27-35) tóm tắt trong 7 trang sách, sau đây
là vài đoạn trích dẫn:
"Điều rõ ràng là nhiều sự bạo tàn đối với người Do Thái
trong 2000 năm qua có thể tìm thấy trong những hạt giống nghi ngờ và bất tín
gieo trong Tân Ước. Ngay từ thời đầu của Ki Tô Giáo, các tín đồ đã coi người Do Thái như
là những đứa con ương ngạnh của Thượng đế và là kẻ thù của Giê-su. Những cảm nghĩ chống Do Thái này ta có thể thấy rõ ràng
trong quyển "Công Vụ các Sứ Đồ" trong đó người Do Thái bị gọi bằng những danh từ
"cứng cổ," "phản bội," và "dân giết người". Cái luận điệu này đã được nhấn mạnh trong bức thư tông đồ đầu tiên của
Phao-lồ gửi cho dân Thessalonians trong đó ông đổ cho người Do Thái cái tội giết
Chúa.
Phúc âm Matthew mô
tả người Do Thái đã thốt ra một lời nguyền rủa trên chính dân tộc của họ: "Hãy
đòi máu Chúa trên chúng tôi và con cái chúng tôi". Tuy rằng
ngày nay hầu hết các học giả đều cho câu trên là do sự ngụy tạo của tác giả phúc
âm Matthew, qua nhiều thế kỷ, câu trên đã được dùng làm cái cớ và biện minh cho
sự giết chóc người Do Thái.
Có lẽ luận điệu chống Do Thái mạnh nhất là ở trong phúc âm của John. Thật
khôi hài là trong phúc âm này, mà nhiều tín đồ Ki Tô gọi là "phúc âm của tình
thương yêu", lại có những câu phỉ báng và nguyền rủa người Do Thái... Chỉ là vấn
đề thời gian cho đến khi những lời trên và những lời khác làm giảm giá trị của
Thánh kinh được làm nhiên liệu cho những ngọn lửa của đức tin mù quáng. Người Do
Thái đã trở thành mục tiêu của nền thần học méo mó dựa trên sự ngu tối, thiên
kiến, và uy quyền tràn ngập kết hợp với những điều viết trong Thánh kinh.
...Ngay từ buổi sơ khai, các tín đồ Ki Tô coi người Do Thái như là "những kẻ
giết Chúa" và là kẻ thù của Ki Tô Giáo. Những thái
độ độc địa này lan nhanh từ cộng đồng Ki Tô sang mọi khu vực của xã hội, và
đưa đến sự bách hại người Do Thái, đặc biệt là sau khi Ki Tô Giáo trở thành tôn
giáo của Rô-ma
[Công giáo Rô-ma]
dưới thời Constantine ở thế kỷ thứ tư.
Hàng giáo phẩm Ca Tô giáo khuyến khích các hoàng đế La Mã
đối đãi khắc nghiệt với người Do Thái. Dân thường không được theo đạo Do Thái và đời sống của
người Do Thái bị nhiều hạn chế. Những người Do Thái và Ca Tô giáo
lấy nhau bị xử tội chết. Hoàng đế La Mã
Theodosius II cấm người Do Thái không được giữ những chức vụ trong chính quyền
hoặc xây những giáo đường. Hoàng đế Justinian còn đi xa hơn:
kết án người Do Thái là dị giáo và ra lệnh tịch thu các giáo đường Do Thái để
làm nhà thờ Ca Tô. Justinian cũng còn hợp pháp hóa
những hành động của những giám mục và linh mục Ca-Tô cướp phá và thiêu hủy các
giáo đường Do Thái.
Những đạo luật chống Do Thái ở Tây Ba Nha còn khắc nghiệt hơn. Năm 694,
công đồng thứ bảy ở Toledo tuyên cáo mọi người Do Thái là nô lệ, và ra lệnh tịch
thu tài sản của họ.
Công đồng cũng ra sắc lệnh là khi các em nhỏ Do Thái lên bảy tuổi thì phải tách
chúng ra khỏi gia đình để cho hàng giáo phẩm Ca Tô giáo
dạy dỗ
chúng và khi lớn lên chúng phải kết hôn với người Ca Tô.
Sử gia nổi tiếng
Solomon Grayzel ước tính có 10000 Do Thái bị giết ở Trung Âu trong cuộc đệ
nhất thánh chiến. Sự tàn sát tập thể kéo dài và ghê rợn, những nạn nhân người
Hồi giáo và Do Thái giáo - nam, nữ và trẻ con - đã gia tăng khi Jerusalem thất
thủ. Nhiều người Do Thái bị thiêu sống ngay trong giáo đường của
họ.
Năm 1215, dưới triều đại của Giáo hoàng Innocent III, sắc
lệnh được ban bố quy định mọi người Do Thái, nam trên 13 tuổi, nữ trên 11 tuổi,
đều phải mang một mảnh băng màu vàng ở đằng trước và đàng sau áo của họ. Cái
"huy hiệu" này được coi như một dấu hiệu của sự ô nhục, tượng trưng cho sự chia
rẽ thù nghịch giữa người Ca Tô giáo và những kẻ được gọi là giết Chúa.
... Sự bách
hại dân Do Thái này đã được tiếp tục suốt trong thời Trung Cổ. Ngày 4 tháng 6,
1391, phó chủ giáo ở Ecija xúi giục một cuộc nổi giậy ở Seville, Tây Ba Nha, với
kết quả là có 4000 người Do Thái bị giết. Cùng mùa hè năm đó, từ thị trấn này
qua thị trấn khác ở khắp châu Âu, người Do Thái bị thiêu sống trong nhà hoặc
giáo đường của họ. Số người chết lên tới 50000.
Ngay từ
lúc đầu, đạo Tin Lành cũng chống Do Thái như là đạo Ca Tô. Martin
Luther, sáng lập viên
và lãnh tụ của cuộc cải cách Tin Lành (1517) cũng mãnh
liệt bách hại người Do Thái. Điều này đã đưa chúng ta tới một kỷ nguyên chống Do Thái kinh khủng nhất
mà thế giới đã thấy. Sự tàn sát tập thể nhiều triệu người Do Thái bởi những
lực lượng Đức quốc xã trong kỳ đệ nhị Thế Chiến là kết quả của nhiều yếu tố xã
hội, chính trị, văn hóa, tâm lý, và tôn giáo. Tuy nhiên, Ki Tô giáo phải gánh
một phần trách nhiệm.
Adolf
Hitler là một tín đồ Ca Tô. Hắn chưa
bao giờ bỏ Giáo hội, và cũng chưa bao giờ bị tuyệt thông. Trong cuộc thảo luận với Giám mục
Berning ở Osnabruk vào tháng 4 , 1933, Hitler
ghi nhận: "Đối với dân Do Thái, tôi chỉ thi hành cùng một chính sách mà Giáo
hội Ca Tô đã theo trong 1500 năm." Hitler cho rằng mình đã theo
sự chỉ đạo của Giáo hội, đặt kế hoạch thực hiện những gì mà những tín đồ Ca Tô
đã làm trong suốt dòng lịch sử, giết người Do Thái.
Không còn nghi ngờ gì nữa là sự chống Do Thái của Đức
quốc xã là dẫn xuất từ, ít ra là một phần, chính sách chống Do Thái của Ki Tô
giáo, nền tảng của chính sách này do Giáo hội Ca Tô đặt ra và những điều mà
Luther chủ trương sau này. Cùng nhau, lòng tin mù quáng của
Ki Tô Giáo và ý niệm quốc gia của Đức đã gây nên sự điên rồ giết hại 6 triệu
người Do Thái."
(It is no secret that many atrocities committed against the Jews over the past
2000 years can be traced to the seeds of suspicion and distrust sown in the NT.
Since the very beginning of Christianity, believers have regarded the Jew as the
wayward children of God and the enemies of Jesus. These anti-Jewish sentiments
are clearly reflected in the Book of Acts. Jews are variously called
"stiff-necked," "betrayers," and "murderous people" (Acts 7: 51-53). This theme
is reinforced in Paul's first letter to the Thessalonians (2:15-16) in which he
blames the Jews for the death of Jesus...The Book of Mathew (27:25) describes
the Jew as pronouncing a curse upon themselves: "His blood be on us and
our children!" Although this statement is now considered by most scholars to
have been fabricated by the author of Mathew, throughout the centuries it served
to excuse and justify the killing of Jews.
Perhaps the strongest anti-Jewish emotion is registered in the Gospel of John.
It is ironic that here, in what many Christians call the "love book," are
statements vilifying and damning the Jews...It was only a matter of time until
these and other derogatory biblical sentiments fueled the fires of bigotry. The
Jews became the targets of distorted theology based on ignorance, bias, and the
overwhelming authority associated with biblical writing.
...Early
on, Christians looked upon the Jews as "Christ killers" and enemies of
Christianity. The venomous attitudes spread quickly from the Christian
community to every sector of society, and eventually led to the vicious
persecution of Jews, especially after Christianity became the official religion
of Rome under Constantine in the fourth century.
The
Christian clergy encouraged Roman emperors to deal harshly with the Jews.
Pagans were forbidden to convert to Judaism and many restrictions were placed on
Jewish life. Marriages between Jews and Christians were punished by death. The
Roman Emperor Theodosius II (A.D 408-450) forbade Jews to hold public office or
to build synagogues. The Emperor Justinian (A.D 483-565) went further: He
condemned the Jews as heretics and ordered their synagogues to be confiscated by
the state and trasformed into churches.
Justinian also legalized the pillaging and burning of synagogues by Christian
bishops and monks.
The
anti-Jewish laws set down in Spain were even harsher. In 694 the seventh
Council of Toledo declared all Jews to be slaves, and ordered their
property and possession confiscated. The Council also decreed that Jewish
children were to be taken from their parents at age seven to be raised by the
clergy and later married to Christians.
...Noted
historian Solomon Grayzel estimates that 10,000 Jews were slain in Central
Europe during the First Crusade. The prolonged and hideous massacre of Moslems
and Jews - men, women and children -when Jerusalem fell added to the number of
victims. Many Jews were burned to death in their synagogues.
In
1215, during the reign of Pope Innocent III, it was decreed that all Jewish
males older than thirteen and Jewish females older than eleven must wear a
yellow patch on the front and back of their garnments. This "badge" was
regarded as a mark of shame, symbolizing the continuing hostile division between
Christians and the so-called murderers of Christ.
...This
murderous persecution of Jews continued throughout the Middle Ages. On June 4,
1391, the Archdeacon of Ecija incited a riot in Seville, Sapin, which resulted
in the killing of 4000 Jews. The same summer, in city after city across Europe,
Jews were burned out of their homes and synanogues. The number of Jewish deaths
is placed at 50.000.
From
its beginning, Protestantism was as anti-Semitic as Catholicism. Martin Luther,
founder and leader of the Protestant Reformation (1517) persecuted the Jews
vehemently..
This
brings us to what is perhaps the most appalling epoch of anti-Semitism the
world has witnessed. The mass extermination of millions of Jews by the Nazi
forces during World War II was the result of many social, political, cultural,
psychological, and religious factors. Christianity, however, must bear partial
liability.
Adolf Hitler was a Catholic. He never left the Church,
nor was he excommunicated. In his discussion with Bishop Berning of Osnabruk in
April 1933, Hitler remarked: "As for the Jews, I am carry on with the same policy which
the Catholic Church has adopted for 1500 years." Hitler claimed to be following
the Church's lead, planning to do what Christians had done throughout history -
namely, murder Jews.
There was no doubt that Nazi anti-Semitism was derived,
at least in part, from Christian anti-Semitism, which grew out of the foundation
laid by the Catholic Church and the later teaching of Luther. The Nazi credo
was equally a part of German nationalism. Together, Christian bigotry and
German nationalism spawned the insanity that murdered 6.000.000 Jews.)
Ki Tô Giáo đã làm mất nhân tính của người Do Thái như thế
nào? Chúng ta hãy đọc lời mô tả giáo đường Do Thái sau đây của chính "Thánh"
John Chrysostom trong thế kỷ 4, người được coi là một trong những “Thượng phụ”
lập giáo vĩ đại nhất của Ca Tô Giáo (Saint John
Chrysostom, 4th century, one of the greatest of the "Church Fathers", Brown,
Ibid., p. 10):
"Cái
Giáo đường Do Thái còn tệ hơn là một ổ điếm...là sào huyệt của những tên vô lại
và là nơi vãng lai của loài dã thú...là đền đài của quỷ dữ hiến thân cho sự sùng
bái hình tượng...là nơi trú ẩn của quân cướp và kẻ trụy lạc. Đó là nơi hội họp
của những kẻ phạm tội...nơi hội họp của những kẻ giết Chúa... một nơi tệ hơn là
một tiệm rượu, là sào huyệt của những tên trộm cắp, là một nhà chứa, nơi trú ngụ
của những kẻ phạm tội, nơi trú ẩn của quỷ."
(The synanogue is worse than a brothel...it is the den
of scoundrels and the repair of wild beasts... the temple of demons devoted to
idolatrous cults...the refuge of brigands and debauchees, and the cavern of
devils. It is a criminal assembly of Jews...a place of meeting for the
assassins of Christ..a house worse than a drinking shop.. a den of thieves; a
house of ill fame, a dwelling of iniquity, the refuge of devils...)
Đó là ngôn từ của một vị “thánh” Ca Tô,
một nhà lập giáo vĩ đại của Ca Tô
giáo. Không biết có phải do truyền thống Ca Tô
giáo hay không mà trước đây Giáo hoàng John
Paul II đã dùng những ngôn từ thiếu văn hóa để phê bình những nhà truyền giáo
Tin Lành ở Nam Mỹ, và Hồng Y Ratzinger, nay là giáo hoàng Benedict XVI, cũng
dùng những ngôn từ khá hạ cấp và thiếu giáo dục để phê bình Phật Giáo như chúng
ta đã biết.
Nhưng không phải chỉ có “thánh” John
Chrysostom là có loại ngôn từ đặc biệt như trên. Chúng ta hãy đọc vài lời
“thánh phán” khác của Ca Tô Giáo Rô-ma.
“Thánh” Bernard coi toàn thể dân tộc Do Thái là “súc
vật ngu đần và còn tệ hơn cả súc vật nữa”, “một loại thông minh thô thiển, ngu
đần” vì chúng không chịu theo Chúa. [Với kiến thức của nhân loại ngày nay
về vũ trụ học, sinh học, xã hội học, tôn giáo học v..v.. thì lời mô tả này để
dành cho những người theo Chúa thì có lẽ đúng hơn]
(Brown, Ibid., p. 12: St. Bernard charged the
whole Jewish people with “a stupidity bestial and more than bestial,” an
“intelligence coarse, dense, and as it were bovine” because they did not follow
the Lord..
“Thánh” Augustine, nhà thần học vĩ đại nhất của Ca Tô
Giáo, nói trong một bài giảng đạo:
Người Do Thái bắt giữ ông ta (Giê-su),
nhục mạ ông ta, trói ông ta, đội mũ gai cho ông ta, phỉ nhổ làm nhục ông ta,
quất roi lên người ông ta, treo ông ta trên cây, đâm ông ta bằng một cây giáo…
Người Do Thái đã giết ông ta.”
Trong một bài giảng khác, Augustine gán cho người Do Thái
tội “cố ý mù quáng không biết đến Thánh Kinh”, “thiếu hiểu biết” và “những kẻ
ghét chân lý”
(Brown, Ibid.: Augustine, the great theologian,
says in a sermon: "The Jews hold him, the Jews insult him,
the Jews bind him, crown him with thorns, dishonor him with spitting, scourge
him, hang him upon the tree, pierce him with a spear...The Jews killed him."
In
another sermon he characterized the Jews as "willfully blind to Holy Scripture,"
"lacking in understanding" and "haters of truth." )
Những lời “thánh phán” như trên chứng tỏ những “thánh Ca-Tô” đó bản chất chỉ là
những kẻ cuồng tín ngu đần của thời bán khai. Đó là những người mà Ca Tô Giáo ca
tụng là “Thượng phụ lập giáo” của Ca Tô Giáo (Church fathers). Ngày nay chúng
ta biết rằng, “vô thần”, “không tin vào Thiên Chúa”, “không tin vào Thánh Kinh”,
“không chịu theo Chúa” chính là một biểu hiện của danh dự, của sự thông minh (a
badge of honor, of intelligence). Sự suy thoái của Ki Tô Giáo trên khắp thế
giới, song song với sự tiến bộ trí thức của nhân loại, hơn gì hết đã chứng tỏ
điều này.
Về những lời “thánh phán” như trên và về vấn đề Ca Tô
giáo bách hại dân Do Thái, Bác Sĩ Nguyễn Văn Thọ, một người theo Ca Tô giáo khoảng 30 năm lúc thiếu thời, trong một bài
viết vô cùng giá trị đối với các tín đồ Ca Tô
giáo
để họ hiểu rõ đạo của mình với nhan đề "Ít Nhiều Nhận Định về Thiên Chúa
Giáo" đăng trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa, Tuyển Tập I, trg.
41-42, đã viết một cách châm biếm như sau:
"Cái thắc mắc khác của tôi,
là một giáo
hội đầy ơn Chúa, đầy chân lý và tình thương như vậy, khi thực sự đã cai trị Âu
châu, lại làm cho Âu châu run sợ vì tàn ác.
Linh mục Edward A. Synam, tác giả quyển
The Popes and The Jews in the
Middle Ages cũng đã
phải thành khẩn công nhận rằng: khi Âu châu được đặt dưới quyền thống
trị của các giáo hoàng thời Trung Cổ đã không biết chuyện bình đẳng và công
bằng, luật pháp thì dã man từ ý hướng đến hình phạt, và đã chĩa mũi dùi vào dân
chúng Do Thái tội nghiệp.
Tôi lại càng thêm phục Giáo hoàng Innocent III vì đã coi
dân tộc Do Thái ngang hàng với "BÒ", với "SÚC VẬT", và ngài còn cho thế là lịch sự tử tế, vì theo Ngài, tiên tri Isaiah đã
coi dân Do Thái thua bò, thua giống vật nữa.
Nếu Nostradamus, Marx, Einstein (các vị này đều là gốc Do Thái) mà đọc
được những lời của Giáo hoàng Innocent III, chắc phải khiếp vía, vì không biết
Ngài thông minh đến mức nào, mà dám coi người Do Thái như bò, như súc vật.
Khi đã coi
rẻ Do Thái đến như vậy, đã coi đạo Do Thái tầm thường đến như vậy, thì tịch thu
các sách Talmud - thánh thư của Do Thái giáo - chất lên nhiều xe, đem ra đốt
giữa thành phố Paris năm 1242, theo lệnh của vua thánh Louis và được sự
chúc phúc tán đồng của Giáo hoàng Gregory IX là một chuyện rất tầm thường đối
với Công Giáo, vì những "thánh thư Do Thái" đồi bại như vậy, giữ nó làm cái gì.
Có một điều
khó hiểu là những thế kỷ từ 11 đến 15 huy hoàng như vậy, đối với người Do Thái
lại là 4 thế kỷ kinh hoàng. Chẳng những thế ngay người Âu châu cũng đã vô ơn,
đã đầy thiên kiến khi đánh giá những thế kỷ Trung Cổ (476-1453) đầy ánh sáng
Thiên Chúa và Phúc Âm ấy là "Thời đại Hắc Ám"
(The Dark
Ages). Nhưng khi phong
trào khảo cứu lại nền văn minh Hi Lạp nảy sinh ra, họ đã dám gọi đó là "Thời kỳ
Phục Sinh"
(Renaissance, thế kỷ 14-16); và khi phong trào
đề cao lý trí con người được khởi xướng, họ lại dám gọi đó là "thời Kỳ Phát
Quang"
(Enlightenment, thế kỷ 18). Thực là ngạo mạn, nhảm nhí vô cùng."
Các Giáo hoàng, Thánh Ca Tô coi người Do Thái
tệ mạt như vậy, nhưng sự thực thì sao? Ai cũng biết Do Thái là một dân tộc
thông minh, có nhiều cá nhân xuất sắc trong mọi lãnh vực, và nhất là có tài làm
ra tiền. Nền tư bản của Mỹ ít ra là một phần nằm trong tay người Do Thái. Vì
là một dân tộc thông minh nên người Do Thái không thể chấp nhận Giê-su, con của
một anh thợ mộc, đầu óc và kiến thức không có gì đặc biệt, tư cách kém cỏi, theo
như nhận định của triết gia Bertrand Russell, làm Chúa cứu thế của dân tộc họ. Đây là lý do
chính làm Ca Tô
thù ghét người Do Thái, vu cho người Do
Thái cái tội giết Chúa để có cớ kích động sự thù hận trong đám giáo dân ngu tối,
cuồng tín, hồ hởi bách hại người Do Thái để "vinh danh Thiên Chúa trên Trời".
Sau
đệ nhị thế chiến với chính sách diệt chủng Do Thái của Đức Quốc Xã với sự im
lặng đồng lõa của Ki Tô Giáo, chính Giáo Hoàng John XXIII đã đưa ra lời cầu
nguyện sau đây cho giáo hội công giáo hoàn vũ:
“Dấu ấn của Cain đã đóng lên trán của chúng ta. Qua nhiều thế kỷ, người anh em
Abel của chúng ta đã nằm trên vũng máu mà chúng ta rút ra, và tràn nước mắt mà
chúng ta đã gây ra vì đã quên đi tình yêu thương của Người. Xin Chúa
hãy tha thứ cho chúng tôi về lời nguyền rủa mà chúng tôi đã gán cho những người
Do Thái. Hãy tha thứ cho chúng tôi vì đã đóng
đinh Ngài trên thập giá lần thứ hai trong thân thịt của họ. Vì chúng tôi không biết là chúng tôi
đã làm gì.” (Thánh Kinh viết, vì sự bất
công của Thượng đế nên Cain ghen tị và giết em ruột của mình là Abel. TCN)
(Peter de Rosa, Vicars of Christ: The Dark Side Of The Papacy, p. 6: The
mark of Cain is stamped upon our foreheads. Across the centuries, our brother
Abel has lain in blood which we drew, and shed tears we caused by forgetting Thy
love. Forgive us, Lord, for the curse we falsely attributed to their name as
Jews. Forgive us for crucifying Thee a second time in their flesh. For we knew
not what we did.)
Nhiều người Ca Tô cho rằng “Đức Thánh Cha” của họ rất chân thành thú
nhận tội ác của Ca Tô giáo trong vấn đề bách hại người Do Thái. Nhưng thực ra
thì không phải là “Vì chúng tôi không biết là chúng tôi đã làm gì.”
mà là “chúng tôi” đã biết rất rõ là “chúng
tôi” đã làm gì. “Chúng tôi” đã theo sát lời dạy của
Chúa Jésus Christ trong Tân Ước, Luke 19:27: “Hãy mang những kẻ thù
của Ta ra đây, những người không muốn Ta ngự trị trên chúng (nghĩa là
những người không muốn trở thành tôi tớ hèn hạ của Chúa), và giết chúng ngay
trước mặt ta.” Mặt khác, gây tội ác với người Do Thái thì phải thành tâm
xưng tội và tạ tội với người Do Thái, chứ không thể xin Chúa tha tội. Chúa ở
đâu mà tha tội. Mang một cái hình bóng tưởng tượng ra để chạy tội thế gian là
một điều không ai có thể chấp nhận ngày nay. Mấy ông mục sư, linh mục đi hiếp
dâm con nít vẫn phải vào tù ngồi để đền tội, bất kể là Chúa có tha tội cho họ
hay không.
Sau đệ nhị Thế Chiến, cả hai giáo hội Ca Tô
và Tin Lành, với mặc cảm tội lỗi, đã tỏ ra
hòa hoãn hơn đối với dân Do Thái. Hai tôn giáo này cũng tỏ ra, ít nhất là ở
ngoài mặt, bớt kỳ thị hơn đối với những tôn giáo phi Ki Tô. Chính sách bách
hại người Do Thái của Ca Tô và Tin
Lành, đưa đến sự tàn sát có tính cách diệt chủng 6 triệu người Do Thái trong
những trại tập trung của Đức quốc xã, đã làm cho cả thế giới bất bình lên án.
Trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, Giáo hội Ca Tô
không còn chọn lựa nào khác, vì quyền lực
thế tục đã mất không còn khả năng bách hại những người ngoại đạo bằng những hành
động bất nhân tàn ác, là phải đưa ra chiêu bài hòa hợp tôn giáo trên đầu môi
chót lưỡi qua Công Đồng Vatican II. Nhưng trên thực tế, Ca-Tô Giáo Rô-ma vẫn
cho rằng chỉ có một con đường duy nhất đưa đến sự “cứu rỗi” của Giê-su là đi qua
ngả trung gian Vatican. Và cũng vì vậy, trong hơn 40 năm nay, chiêu bài hòa hợp
tôn giáo của Vatican vẫn chỉ có trên mặt văn tự, vì không có hệ phái Ki Tô nào
khác chịu hòa hợp với một định chế tôn giáo gian dối, chuyên nói ngược nói
suôi. Những tôn giáo phi Ki Tô còn dè dặt hơn nữa, vì những kinh nghiệm lịch sử
cho thấy rõ rằng, hòa hợp tôn giáo với Ca Tô Giáo Rô-ma là đánh đu với tinh.
Tài Liệu Tham Khảo:
Richard L. Rubenstein & John K. Roth, Approaches To
Auschwitz: The Holocaust and its Legacy, John Knox Press, Georgia, 1987.
Robert G.L. Waite, Hitler and Nazi Germany, Holt,
Rinehart & Winston, Inc., NY , 1969
Gary Wills, Why I Am A Catholic, Houghton Mifflin
Company, NY, 2002
Michael Phayer, The Catholic Church and the Holocaust,
1930-1965, Indiana University Press, IN., 2000.
Daniel Jonah Goldhagen, A Moral Reckoning: The Role of
the Catholic Church in the Holocaust and its Unfulfilled Duty of Repair, ,
Alfred A. Knopf, NY, 2002
Mark McKain, Anti-Semitism, Greenhaven Press, MI,
2005.
David A. Rausch, A Legacy of Hatred: Why Christians Must
Not Forget The Holocaust, Moody Press, Chicago, 1984.
Các
tài liệu trên Internet.
Các bài tôn giáo cùng tác giả
|