|
(Phần 2)
Thực
chất của
hai cuộc
chiến ở
Việt Nam
như vậy,
vậy thì
sự tranh
chấp
giữa chủ
nghĩa tư
bản và
chủ
nghĩa
cộng sản
ở đâu mà
ra, ở
trong
đầu Tú
Gàn?
Hơn nữa,
Tú Gàn
còn
viết:
“Việt
Nam trở
thành
một nước
nghèo
nhất thế
giới.”
Không
biết Tú
Gàn đã
có dịp
về Việt
Nam để
quan sát
xã hội
Việt Nam
ngày nay
và so
sánh với
xã hội
Việt Nam
dưới
thời
VNCH xem
Việt Nam
đã trở
thành
một nước
nghèo
nhất
trên thế
giới như
thế
nào.
Việt Nam
vốn là
một nước
nghèo,
nặng về
nông
nghiệp,
nhưng
không
phải là
một nước
nghèo
nhất
trên thế
giới.
Theo một
tài liệu
cũ trên
Internet
thì nếu
chỉ dựa
trên
những
con số
và không
kể đến
sự khác
biệt về
giá sinh
hoạt thì
tính
theo Per
Capita
Income,
Việt Nam
xếp hạng
139/178
[trên 39
nước],
tính
theo GDP
PPP
(Purchasing
Power
Parity)
thì Việt
Nam xếp
hạng
131/192
[trên 61
nước,
bây giờ
còn khá
hơn
nữa].
Theo tài
liệu của
CIA
Factbook
(Aneki.com)
thì
trong số
20 nước
nghèo
nhất
trên thế
giới
(Poorest
countries
in the
world),
không có
tên Việt
Nam
trong
đó.
Trong số
những
nước
giầu
nhất ờ Á
Châu
(Richest
countries
in Asia)
thì lại
có tên
Việt nam
trong
đó, tuy
xếp hạng
19/20.
Tôi biết
rằng
viết lếu
láo bậy
bạ như
trên chỉ
là của
Tú Gàn
viết chứ
không
phải là
của
chánh án
Nguyễn
Cần của
VNCH
viết,
vậy
Nguyễn
Cần khỏi
lo về
chuyện
người ta
vạch ra
cái mớ
kiến
thức ăn
đong của
mình.
Nhưng
thật ra
thì dân
Việt
Nam, một
nước
nghèo
nhất
trên thế
giới,
theo Tú
Gàn,
sinh
hoạt như
thế
nào?
Tôi tình
cờ, tình
cờ thôi,
vì không
có bỏ
tiền ra
mua, đọc
được
trên tờ
Ngày
Nay
ở
Minnesota,
số 417,
ngày 15
tháng
10,
2006,
trang
B1,
trong
mục Sổ
Tay Du
Lịch,
bài “Du Lịch
Hà Nội:
Khách
Hàng Là
Thượng
Đế”
của
Hoàng
Sơn Long
vài đoạn
như
sau:
“Trên
con
đường Cổ
Ngư…, du
khách sẽ
không
thể nào
tìm
được:
“Lối xưa
xe ngựa
hồn thu
thảo”.
Mà chỉ
thấy
toàn xe
gắn máy,
xe du
lịch bốn
bánh,
rất hiếm
xe đạp.
Phương
tiện di
chuyển
ngày nay
tại thủ
đô Hà
Nội là
xe gắn
máy,
thời xe
đạp đã
đi vào
dĩ
vãng..”;
“Nhìn
những
người
đứng sắp
hàng dài
chờ để
mua kem
Tràng
Tiền….”;
“Tại một
cửa hàng
bán phở
không đủ
chỗ cho
khách,
khách
ngồi
tràn ra
vỉa hè…”,
tôi cảm
thấy
thật tội
nghiệp
cho
người
dân của
một
nước, mà
theo Tú
Gàn,
nghèo
nhất thế
giới:
không có
cả xe
đạp mà
đi,
không có
cơm gạo
mà ăn.
Cũng
may mà
họ còn
có xe
gắn máy,
xe du
lịch bốn
bánh để
đi, có
kem có
phở để
ăn, nếu
không
chắc là
sẽ phải
ngồi nhà
chờ chết
đói
thôi.
Ngoài
ra, vì
là một
nước
nghèo
nhất thế
giới,
theo Tú
Gàn, nên
Hoàng
Sơn Long
than
phiền:
“Hà
Nội vẫn
còn khép
kín
khiêm
nhường
với 4 vũ
trường
hạng
sang
trong
khi Sài
Gòn quay
cuồng
trên các
sàn nhảy
nhiều
ánh đèn
màu,
nhạc hội
hàng
đêm.”
Cuối
cùng
trong
đoạn
trích
dẫn Tú
Gàn,
chúng ta
có thể
đọc: “mặc dầu
cuộc
chiến đã
chấm dứt
hơn 30
năm, hận
thù vẫn
còn
chồng
chất!”
Một
câu hỏi
được đặt
ra là:
hận thù
từ phía
nào?
Chỉ cần
đọc báo
chí cũng
như
những
website
từ bên
nhà và
đối
chiếu
với báo
chí và
website
ở hải
ngoại,
chúng ta
ta thấy
rõ hận
thù rất
ít có ở
trong
nước.
Điều tệ
hại nhất
ở hải
ngoại là
các bậc
cha mẹ
đã
truyền
lại cho
bọn con
em trẻ
mối hận
thù của
lớp
trước,
làm ô
nhiễm
đầu óc
của
chúng
trong
khi một
trang sử
đã lật
qua, và
người
Việt Nam
cần phải
hướng về
tương
lai.
Nhiều
luận
điệu còn
tỏ ra là
hận thù
cả nước
chứ
không
riêng
một lớp
người
nào.
Cái gì ở
Việt Nam
cũng xấu
bất kể
đến sự
thật, đó
là luận
điệu
quen
thuộc
trên
diễn đàn
hải
ngoại,
kể cả
của các
bậc gọi
là trí
thức.
Chúng ta
nên đọc
Chương 5
trong
cuốn
“Người
Việt Cao
Quý”
trong đó
có nói
về một
lớp trí
thức
vọng
ngoại.
Bây giờ
chúng ta
hãy đọc
tiếp ông
Tú Gàn
“Ziết
sử”:
1.
Thành
lập Việt
Nam Dân
Chủ Cộng
Hòa:
Bằng
những
mánh
khóe xảo
quyệt,
ngày
17.8.1945,
Việt
Minh đã
cướp
được
chính
quyền
tại Hà
Nội.
Ngày
23.8.1945,
Hồ Chí
Minh
công bố
thành
phần
chính
phủ lâm
thời của
nước
Việt Nam
Dân Chủ
Cộng Hòa
và ngày
25.8.1945
Bảo Đại
tuyên bố
thoái
vị. Ngày
2.9.1945,
Hồ Chí
Minh đọc
bản
Tuyên
Ngôn Độc
Lập tại
vườn hoa
Ba Đình.
Tuy
nhiên,
ngày
17.8.1945
Tướng De
Gaulle
đã cử Đô
Đốc
Thierry
d’Argenlieu
làm Cao
Ủy Pháp
kiêm
Tổng Tư
Lệnh tại
Đông
Dương để
đưa quân
tái
chiếm
Đông
Dương,
ngăn
chận sự
lan tràn
của chủ
nghĩa
cộng
sản.
Không
kháng cự
nổi
Pháp,
ngày
6.3.1946,
Hồ Chí
Minh
phải ký
với Pháp
Hiệp
Định Sơ
Bộ
(Accords
Préliminaires).
Theo
hiệp
định
này,
Pháp chỉ
công
nhận
“Việt
Nam
là một
quốc gia
tự do
(état
libre),
tự trị
trong
Liên
Bang
Đông
Dương và
trong
Liên
Hiệp
Pháp”.
Nhưng
sau đó
Pháp
đuổi
Việt
Minh
chạy có
cờ. Phải
đến
tháng 10
năm 1959
[1949??]
khi Đảng
Cộng Sản
Trung
Quốc
thắng ở
Trung
Hoa,
Việt
Minh mới
được Mao
Trạch
Đông
huấn
luyện và
viện trợ
để đánh
bật Pháp
ra khỏi
Đông
Dương.
Ngày
20.7.1954,
Pháp
phải ký
Hiệp
Định
Genève,
trao
phần đất
từ vĩ
tuyến 17
trở ra
cho Hồ
Chí
Minh.
Lúc đó
Đảng
CSVN mới
thật sự
có nước
Việt Nam
Dân Chủ
Cộng
Hòa.
“Ziết
sử” như
vậy thật
là hết
xẩy. Trước
hết, câu
Nhưng
sau đó
Pháp
đuổi
Việt
Minh
chạy có
cờ
chứng tỏ
Tú Gàn
rất hồ
hởi, hi
vọng
Pháp sẽ
trở lại
và “thế
lực đen
đã nổi
tiếng là
phi dân
tộc thì
thế nào
cũng
phản dân
tộc” lại
có dịp
làm tay
sai cho
Pháp để
phát
triển.
Nhưng hi
vọng này
tan
thành
mây khói
khi Pháp bị
đánh bật
ra khỏi
Đông
Dương.
Buồn năm
phút!
Thứ đến,
bằng
những
mánh
khóe xảo
quyệt
nào
mà ngày
17.8.1945,
Việt
Minh đã
cướp
được
chính
quyền
tại Hà
Nội?
Ông Tú
Gàn
không
cho độc
giả
biết.
Đây là
luận
điệu
quen
thuộc
của
những kẻ
chống
Cộng ấu
trĩ, cố
tình phủ
nhận
những sự
thật
lịch sử.
Một câu
hỏi cần
được đặt
ra là,
Việt
Minh cướp
được
chính
quyền
từ đâu,
cướp như
thế nào,
chính
quyền đó
đang nằm
trong
tay ai
và thực
chất
chính
quyền đó
như thế
nào?
Tài liệu
về Việt
Minh
đứng ra
nắm lấy
chính
quyền
(seize
power)
vào
tháng
8/1945
trong kế
hoạch
tổng
khởi
nghĩa
khi thời
cơ thuận
tiện,
thường
được
biết là
cuộc
cách
mạng
tháng 8,
hiện nay
không
thiếu,
và chỉ
có những
kẻ chống
Cộng
thiếu
moron
trong óc
mới có
thể viết
là “Việt
Minh
cướp
chính
quyền
bằng
những
mánh
khóe xảo
quyệt.”
Muốn
biết tại
sao Việt
Minh có
thể đứng
ra nắm
chính
quyền và
được
tuyệt
đại đa
số người
dân ba
miền ủng
hộ vào
khi đó,
chúng ta
cần phải
biết
Việt
Minh đã
được
thành
lập từ
năm nào,
đã có
những
hoạt
động gì
chống
Pháp và
Nhật,
những
bậc lãnh
đạo
trong
Việt
Minh là
những
ai, có
những
thành
tích gì
đối với
dân tộc
Việt Nam
v..v..
và đối
chiếu
với
những tổ
chức,
hoạt
động và
thành
tựu của
Việt Nam
Quốc Dân
Đảng và
Việt Nam
Cách
Mạng
Đồng
Minh Hội
thì mới
có thể
có một
nhận
định
chính
xác
được.
Đây là
một bài
học lịch
sử khá
dài mà
tôi
không
muốn dạy
cho Tú
Gàn.
Sau đây
là một
chi tiết
Tú Gàn
cần
biết.
Duiker
viết
trong
cuốn “The
Communist
Road To
Power In
Vietnam”,
1981,
trang
110: “Ngay cả
Giáo hội
Công
Giáo La
Mã ở
Việt Nam
cũng
công
khai
công
nhận
chính
phủ mới
trong
một bức
thư
phụng vụ
gửi cho
2 triệu
tín đồ
Công
Giáo…Một
giám mục
Pháp ở
Saigon
đã thốt
lên lời
than
phiền
trong
cơn bối
rối:
“Người
ta đã
thay đổi
những
người
A-na-mít
của
chúng
tôi”.
Ngày 23
tháng 9,
1945,
Giáo Hội
Công
Giáo
Việt Nam
khẩn cầu
Giáo
hoàng
cầu
nguyện
cho nền
độc lập
của Việt
Nam”.
(Even
the
Roman
Catholic
hierarchy
noted
its open
approval
of the
new
government
in a
pastoral
letter
to the 2
million
Vietnamese
Catholics,
and many
Vietnamese
Catholics
joined
the new
Vietminh-sponsored
Catholic
National
Salvation
Association.
At one
point,
the
French
bishop
of
Saigon
was
brought
to
exclaim
in
frustration:
“On nous
a changé
nos
Annamites!”
On
September
23 the
Vietnamese
Catholic
hierarchy
requested
the Pope
in Rome
to pray
for
Vietnamese
independence)
Về vấn
đề này,
chúng ta
có thể
đọc được
nhiều
chi tiết
hơn
trong
cuốn Dieu et
Cesar
của Linh
Mục Trần
Tam
Tĩnh:
"Cuối
năm
1945,
Việt Nam
giành
lại được
độc lập
từ tay
người
Pháp,
lòng yêu
nước
của
người
Công
giáo VN
bùng lóe
lên với
những
cuộc
biểu
tình của
hàng
chục
ngàn
giáo dân
mang
biểu ngữ
và hô
khẩu
hiệu
"Giáo
Hoàng
Muôn
Năm",
"Giáo
Hội Việt
Nam của
Người
Việt
Nam",
"Việt
Nam Độc
Lập Muôn
Năm"
(Vive le
Pape,
L'Église
Vietnamienne
aux
Vietnamiens,
Vive le
Vietnam
Indépendant.)
Nhưng
rồi
Linh mục
Tĩnh
viết:
"Vậy,
với các
giám mục
và linh
mục dẫn
đầu, tín
đồ Công
Giáo
muốn phá
bỏ hình
ảnh của
một giáo
hội đã
cộng tác
với quân
xâm
lăng,
một giáo
hội phục
vụ nước
Pháp,
một giáo
hội đã
sống
ngoài lề
sự tranh
đấu cho
chủ
quyền và
tự do
của dân
tộc.
Một
trang sử
đã lật
qua
nhưng
khốn
thay
chẳng
được bao
lâu"
(Ainsi,
avec les
évêques
et les
prêtres
en tête,
les
catholiques
voulaient
détruire
l'image
d'une
église
collaboratrice
avec les
agresseurs,
d'une
église
au
service
de la
France,
d'une
église
qui
avait
vécu en
marge
d'un
peuple
en lutte
pour sa
souvenaineté
et sa
liberté.
Une page
est
tournée.
Mais,
malheureusement
pas pour
longtemps.)
Cùng một
nhận
xét, dựa
trên
những sự
kiện
lịch sử,
Cao Huy
Thuần
viết
trong
cuốn Đạo
Thiên
Chúa Và
Chủ
Nghĩa
Thực Dân
Tại Việt
Nam,
trg.
547-548:
"Sau
ngày
Việt Nam
tuyên bố
độc lập
vào
tháng
8-1945,
những
tín đồ
Thiên
Chúa,
trong
một tình
yêu nước
nồng
nhiệt
mới mẻ
hoàn
toàn, đã
xác định
rõ rệt
và long
trọng
lòng tha
thiết
với độc
lập và
quyền
lợi dân
tộc.
"Các con
chiên
Việt
Nam, tờ
Kỷ Yếu
các phái
bộ viết,
biết
rằng
tương
lai của
tôn giáo
họ được
nêu
lên.
Nếu họ
chứng tỏ
được
lòng yêu
nước ra
dưới mắt
của cả
nước,
chắc
chắn họ
sẽ lấp
được cái
hố còn
ngăn
cách họ
với đồng
bào
phi-Thiên
Chúa của
họ. Nếu
họ khước
từ, họ
làm cho
cái hố
đó không
vượt qua
được.
Vì thế
không
còn gì
phải
nghi ngờ
về bổn
phận
nữa, chỉ
còn phải
theo đó
mà hành
động.
Đa số
con
chiên đã
lựa
chọn.
Được các
giám mục
của
giống
nòi họ
soi sáng
và ủng
hộ, họ
không
còn muốn
phạm lỗi
lầm của
những
người
trước
trong
thế kỷ
vừa
qua. Họ
cương
quyết
không
chịu làm
lại tín
ngưỡng
mình
bằng
cách
dính líu
với
chính
quốc.
Họ muốn
bảo vệ
sự độc
lập của
đạo
Thiên
Chúa
bằng
cách
cùng làm
việc với
đồng bào
phi-Thiên
Chúa
của họ
cho xứng
nghĩa
của nền
độc lập
của tổ
quốc."
(Giibal,
Les
Catholiques
en
Vietnam.
Buổi
diễn
thuyết
tại
Trung
Tâm
Nghiên
Cứu
Á-Phi,
Paris,
1953.)
Và vì
thế bốn
Giám mục
Việt Nam
lập tức
lựa chọn
lấy mấy
lập
trường
vào ngày
23-9-1945,
họ đã
viết thư
cho Giáo
hoàng
Piô XII
nhân
danh
"dân tộc
Việt
Nam" để
yêu cầu
"sự ban
phước
lành,
lòng đại
lượng
cùng các
lời cầu
nguyện
để ủng
hộ nền
độc lập
mà nó
vừa mới
thu hồi
được và
bảo vệ
bằng mọi
giá."
(Ibid.)
Đó là
lần đầu
tiên mà
đạo
Thiên
Chúa
Việt Nam
chịu hòa
mình
trong
cộng
đồng dân
tộc và
gắn liền
quyền
lợi của
họ vào
quyền
lợi đất
nước.
Nhưng
than
ôi! Tia
lửa yêu
nước vụt
tắt ngay
mấy
tháng
sau,
Pháp đổ
quân vào
Việt
Nam,
chiến
tranh
Đông
Dương
bùng nổ
và tín
đồ Thiên
Chúa lại
hợp tác
với
ngoại
bang."
Tại
sao? Vì
theo một
sắc lệnh
của Giáo
Hoàng
Pie XII
ban hành
ngày 1
tháng 7
năm
1949,
tuyên bố
"tuyệt
thông",
một tín
điều
thuộc
loại mê
tín nhất
trần
gian của
Giáo hội
đưa ra
để mê
hoặc và
nắm giữ
những
đầu óc
thấp kém
của đám
tín đồ ở
dưới,
bất cứ
người
nào cộng
tác với
Cộng
sản,
tuyên
truyền
cho CS,
đọc sách
báo CS
v...v..
nên giáo
hội Gia
Tô Việt
Nam lại
hợp tác
với quân
đội
Pháp,
được
Pháp
trang bị
vũ khí
để lập
những
chiến
khu "tự
trị" như
Bùi Chu,
Phát
Diệm...,
lại đứng
ngoài lề
công
cuộc
kháng
chiến để
bảo vệ
nền độc
lập mới
thu hồi
của dân
tộc Việt
Nam. Đó
là sự
độc hại
của ý
thức hệ
Thiên
Chúa
Giáo
trên đầu
óc của
các tín
đồ Thiên
Chúa
Giáo ở
Việt Nam
bắt đầu
từ ngày
giáo sĩ
thừa sai
đầu tiên
vào Việt
Nam để
truyền
cái đạo
mà ngày
nay hầu
hết Âu
Châu
đang từ
bỏ dần
dần. Sự
độc hại
này cũng
đưa đến
sự phá
nát miền
Nam Việt
Nam của
chính
quyền
Ngô Đình
Diệm sau
này, một
chính
quyền mà
Bernard
Fall gọi
là
“Spanish-style
absolute
monarch”
và gọi
Ngô Đình
Diệm là
“the
Grand
Inquisitor”
giống
như
Tormequada
ở Tây
Ban
Nha.
Tôi nghĩ
rằng, Tú
Gàn và
những
người có
cùng
luận
điệu
“ziết
sử”
chống
Cộng ấu
trĩ như
trên,
nên đọc
ít nhất
là hai
cuốn
sách rất
đáng tin
cậy viết
về tình
hình
Việt Nam
vào năm
1945:
Cuốn “Why
Viet
Nam”,
1980,
của
Archimedes
L. A.
Patti,
một
Thiếu Tá
của OSS
đã từng
hoạt
động
cùng với
Việt
Minh, và
cuốn “The
Communist
Road To
Power In
Vietnam”,
1981,
của Sử
Gia
William
J.
Duiker.
Nếu muốn
bổ túc
thêm chi
tiết thì
có thể
đọc thêm
hai cuốn
khác:
“Backfire:
Vietnam
– The
Myths
That
Made Us
Fight,
The
Illusion
That
Helped
Us Lose,
The
Legacy
That
Haunts
Us
Today”,
1985,
của Giáo
sư Sử
Loren
Baritz,
và “The
Endless
War:
Vietnam’s
Struggle
For
Independence”,
1989,
của Giáo
sư Sử
James P.
Harrison.
Tất cả
những
cuốn này
đều viết
sau
1975.Sau
phần
viết về
sự
Thành
lập Việt
Nam Dân
Chủ Cộng
Hòa,
Tú Gàn
viết
sang
phần
Thành
lập Việt
Nam Cộng
Hòa.
2.
Thành
lập Việt
Nam Cộng
Hòa:
Năm
1945,
sau khi
Việt
Minh
cướp
chính
quyền,
một cuộc
tranh
chấp đã
xẩy ra
giữa phe
theo
Cộng Sản
và phe
không
theo.
Qua áp
lực của
chính
quyền
Tưởng
Giới
Thạch,
cả hai
phe đã
hợp tác
với nhau
một thời
gian.
Nhưng
sau khi
quân đội
Trung
Hoa rút
khỏi
Việt
Nam, hai
phe đã
tàn sát
lẫn nhau
để tranh
quyền
làm bá
chủ đất
nước.
Phe
chống
Cộng đã
vận động
đưa
Cựu
Hoàng
Bảo Đại
trở về
hợp tác
với Pháp
để đánh
bại Việt
Minh và
dần dần
thu hồi
độc lập
như các
nước Á
Châu
khác.
Ngày
5.6.1948,
tại vịnh
Hạ Long,
trên
chiến
hạm
Duguay-Trouin,
Cao Ủy
Pháp tại
Đông
Dương là
Émile
Bollaert,
người
thay thế
Thierry
d’Argenlieu,
đã cùng
với Cựu
Hoàng
Bảo Đại
ký Tuyên
Ngôn
Chung
(declaration
commune)
gồm ba
điểm,
trong đó
điều 1
xác
định:
“Nước
Pháp
long
trọng
nhìn
nhận sự
độc lập
của nước
Việt
Nam.”
(La
France
reconnait
solennement
l’indépendance
du
Vietnam).
..
Tuy
nhiên,
chủ
quyền
vẫn nằm
nơi tay
người
Pháp vì
người
Pháp vẫn
nắm trọn
quyền cả
về quân
sự lẫn
tài
chánh.
Năm
1954,
khi biết
chắc
Việt Nam
sẽ bị
chia
đôi, Cựu
Hoàng
Bảo Đại
đã quyết
định đưa
ông Ngô
Đình
Diệm về
để cứu
vãn tình
thế,
nhất là
bảo vệ
ngôi của
nhà
Nguyễn,
vì ông
ta vốn
là cựu
thần của
nhà
Nguyễn.
Thật là
một điều
thú vị
khi phân
tích
đoạn
trên của
Tú Gàn.
Tôi có
cảm
tưởng là
Tú Gàn
viết mà
không
biết
mình
viết cái
gì. Thứ
nhất,
phe
không
theo
Cộng Sản
là phe
nào? Đó
là phe
của
Nguyễn
Hải Thần
và Vũ
Hồng
Khanh,
theo
chân
quân Tàu
ô giải
giới
Nhật của
Tưởng
Giới
Thạch về
Việt Nam
. Khi
đó,
VNQDĐ và
Đồng
Minh
Hội,
Phục
Quốc
v..v..
đều
không có
mấy quần
chúng
hậu
thuẫn và
không có
thành
tích gì
đặc biệt
trong
công
cuộc
chống
Pháp và
Nhật.
Tổ chức
lỏng
lẻo,
không có
lãnh tụ
tài
năng.
Hai phe
tàn sát
lẫn nhau
chẳng
qua chỉ
là một
số cán
bộ hai
phe giết
nhau lẻ
tẻ mà
thôi,
thí dụ
vụ Ôn
Như
Hầu.
Chỉ có
một cuộc
chống
đối nhau
bằng vũ
lực giữa
Việt
Minh và
VNQDĐ ở
Vĩnh Yên
và Việt
Minh đã
nhanh
chóng
dẹp tan
VNQDĐ.
Chuyện “Phe
chống
Cộng đã
vận động
đưa
Cựu
Hoàng
Bảo Đại
trở về
hợp tác
với Pháp
để đánh
bại Việt
Minh và
dần dần
thu hồi
độc lập
như các
nước Á
Châu
khác.”
là
chuyện
hoang
đường
của Tú
Gàn phịa
ra. Ai
cũng
biết Bảo
Đại đã
thoái vị
và làm
cố vấn
tối cao
trong
chính
phủ của
Việt
Minh.
Nhưng
ông cựu
Hoàng
playboy
này
chẳng lý
gì đến
quốc gia
dân tộc,
suốt từ
lúc đầu
chỉ đóng
vai một
ông Vua
bù nhìn
của
Pháp,
rồi
Nhật.
Rồi ông
đi sang
Pháp,
sống phè
phỡn ở
Cannes,
và năm
1949
được
Pháp
bưng về
làm bung
xung
chống
Cộng.
Và một
lần nữa,
ông ta
lại đóng
vai bù
nhìn của
Pháp.
Về
chuyện
“Nước
Pháp
long
trọng
nhìn
nhận sự
độc lập
của nước
Việt
Nam.”
cũng
vậy, đó
chỉ là
một trò
hề.
Patti
viết,
trang
388:
“Nước
Pháp
long
trọng
nhìn
nhận sự
độc lập
của nước
Việt
Nam.”
được
tuyên bố
vào ngày
2 tháng
2. Khi
khảo sát
cặn kẽ,
cái “độc
lập” này
chỉ là
lớp
trang
trí mà
đàng
sau, cấu
trúc
thuộc
địa vẫn
còn y
nguyên.”
(Formal
French
ratification
of
Vietnamese
“independence”
was
announced
on the
second
of
February.
This
“independence”
when
carefully
examined
is
revealed
as
largely
new
window
dressing
behind
which
the
colonial
structure
remains
intact.)
Và Giáo
sư Sử
James P.
Harrison
cũng
viết,
trang
120:
“Ngay
trước
khi Pháp
thất
trận
cuối
cùng, và
đầu
tháng 6,
1954,
một hiệp
ước khác
(cái thứ
5) cho
nền “độc
lập hoàn
toàn”
của Việt
Nam được
ký kết.
Không
bao lâu
sự thành
lập
chính
thức của
Quốc Gia
Việt Nam
vào
tháng 7,
1949,
chính
Bảo Đại
đã phải
thú nhận
là, đó
không
phải là
“giải
pháp Bảo
Đại.. mà
chỉ là
giải
pháp của
Pháp”,
nghĩa
là, một
chiêu
bài mới
để mở
rộng hơn
sự ủng
hộ Pháp
tuy rằng
Pháp vẫn
giữ
nguyên
những
đặc
quyền.”
[On the
very eve
of the
final
French
defeat,
in early
June
1954,
yet
another
[the
fifth]
treaty
for
“total
independence”
was
signed.
Not long
after
the
official
creation
of his
State of
Vietnam
in July
1949,
Bao Dai
himself
was
forced
to
admit,
it is
not a
“Bao Dai
solution…but
just a
French
solution,
that is,
another
ploy to
try to
broaden
France’s
base of
support
while
nonetheless
retaining
its
privileges.]
Đó là
thực
chất
chính
phủ Bảo
Đại
chống
Cộng cho
Pháp.
Điều này
còn rõ
ràng hơn
nữa qua
chính
câu sau
đây của
Tú Gàn:
Tuy
nhiên,
chủ
quyền
vẫn nằm
nơi tay
người
Pháp vì
người
Pháp vẫn
nắm trọn
quyền cả
về quân
sự lẫn
tài
chánh.
Vậy thì
rõ ràng
chính
phủ Bảo
Đại là
một
chính
phủ bù
nhìn,
bởi vậy
cho nên
quần
chúng
Việt Nam
mới
không
ủng hộ
ông ta.
Bây
giờ
chúng ta
hãy sang
tới vấn
đề mà Tú
Gàn gọi
là việc
Thành
lập Việt
Nam Cộng
Hòa
của Ngô
Đình
Diệm.
Trước
khi bàn
đến
chuyện
có thật
là Ngô
Đình
Diệm đã
thành
lập Việt
Nam Cộng
Hòa hay
không,
tưởng
chúng ta
cũng nên
biết Ngô
Đình
Diệm là
người
như thế
nào.
Nói ngắn
gọn,
trong
khi Việt
Minh tổ
chức
chống
Pháp thì
Ngô Đình
Diệm làm
quan cho
Pháp và
dùng đèn
cầy đốt
hậu môn
những
người
yêu nước
chống
Pháp.
Tại
sao? Vì
ông ta
cho rằng
họ đều
là Cộng
Sản, mà
Cộng Sản
là kẻ
thù
không
đội trời
chung
với Công
Giáo.
Đối với
những
người
Công
Giáo
thuộc
loại
cuồng
tín và
nghiện
đạo như
Ngô Đình
Diệm thì
bổn phận
của họ
là cần
phải
tiêu
diệt
những
người
Cộng Sản
bất kể
là họ có
yêu nước
hay
không.
Ngô Đình
Diệm đã
nổi
tiếng là
một quan
án đạo
Tây Ban
Nha
(Spanish
Inquisitor).
Trên
thực tế,
ý thức
hệ Cộng
Sản đã
phá vỡ
nền tảng
ý thức
hệ Công
Giáo,
cho nên
những kẻ
cuồng
tín Công
Giáo rất
thù hận
Cộng
Sản.
Cũng vì
vậy mà
Giáo hội
Công
Giáo đã
phải
phịa ra
chuyện
Đức Mẹ
hiện ra
ở
Fatima,
truyền
cho mấy
đứa con
nít mù
chữ
những
thông
điệp như
“Giáo
hoàng
phải
hiến
dâng cho
thế giới
trái tim
vô nhiễm
của mẹ”;
“phải
hiến
dâng Nga
Sô Viết
cho mẹ”
và mẹ
tiên
đoán “Nga sô
sẽ cải
đạo theo
Công
Giáo La
Mã”
và rồi
“Đức
Thánh
Cha sẽ
dâng
hiến Nga
sô cho
mẹ.”
Trò bịp
này
chẳng
lừa dối
được ai
vì sau
khi Cộng
Sản sập
tiệm vào
năm 1989
thì Nga
lại coi
Công
Giáo La
Mã như
một đạo
bất hợp
pháp ở
Nga, ra
luật cấm
Công
Giáo
truyền
đạo ở
Nga.
Thứ
đến,
trong
khi cả
nước
kháng
chiến
chống
Pháp trở
lại Việt
Nam thì
năm 1950
Ngô Đình
Diệm
xuất
ngoại,
làm “chí
sĩ” nằm
trong Tu
Viện
Công
Giáo
Marykoll
ở
Lakeland,
New
Jersey,
Hoa Kỳ
suốt
trong 2
năm
1951-1952,
và rồi ở
tu viện
công
giáo
Benedict
ở Bỉ cho
đến
1954,
trước
khi về
nước làm
Thủ
Tướng do
Bảo Đại
bổ
nhiệm,
rồi âm
mưu bày
trò
trưng
cầu dân
ý truất
phế Bảo
Đại, lên
làm cái
gọi là
Tổng
Thống
của Việt
Nam Cộng
Hòa, tạo
dựng nên
một nền
chính
trị toàn
trị, gia
đình trị
và Công
Giáo
trị..
Cuộc
trưng
cầu dân
ý này là
một trò
hề chiếm
đoạt và
phản
bội.
Marilyn
B. Young
viết
trong
cuốn The
Vietnam
Wars:
1945-1990,
1991,
trang
53:
“Diệm
thắng
(cuộc
trưng
cầu dân
ý) với
98.2
phần
trăm số
phiếu.
Ở
Saigon,
có
450,000
cử tri
đi bầu
phiếu,
có tới
605,025
phiếu bỏ
cho
Diệm”
[Diem
rolled
to
victory
with
98.2
percent
of the
vote.
In
Saigon,
out of a
total of
450000
registered
voters,
an
astonishing
605025
voted
for
Diem.].
Thật
là đẹp
mặt ông
Tổng
Thống
của nền
Đệ Nhất
Việt Nam
Cộng
Hòa.
Nhưng
thực
chất
Việt Nam
Cộng Hòa
của miền
Nam Việt
Nam là
gì?
Chúng ta
hãy nghe
Thượng
Nghị Sĩ
John F.
Kennedy
phát
biểu
ngày 1
tháng 1,
1956,
Loren
Baritz,
trang
210:
“Nếu
chúng ta
không
phải là
cha mẹ
của
(Nam)
Việt Nam
nhỏ bé,
thì chắc
chắn
chúng ta
là những
cha mẹ
đỡ đầu
của nó.
Chúng ta
chủ tọa
khi khai
sinh ra
nó,
chúng ta
giúp cho
nó sống,
và chúng
ta đã
giúp để
hoạch
định cho
tương
lai của
nó”.
Và ít
lâu
trước
khi bị
ám sát ở
Dallas,
Tổng
Thống
Kennedy
phát
biểu:
“Không
có Hoa
Kỳ, Nam
Việt Nam
sẽ sụp
đổ chỉ
qua
đêm.”
(John F.
Kennedy
on June
1, 1956:
If we
are not
the
parents
of
little
Vietnam,
then
surely
we are
the
godparents.
We
presided
at its
birth,
we gave
assistance
to its
life, we
have
helped
to shape
its
future.
And in
1963:
“Without
the
U.S.,
South
Vietnam
would
collapse
overnight.”).
Nam
Việt Nam
chẳng
qua chỉ
là một
sản phẩm
của Mỹ
tạo ra
để chống
Cộng cho
Mỹ.
Giáo sư
Baritz
đã viết
nguyên
một
chương
về Sự Phát
Minh Ra
Nam Việt
Nam,
(The
Invention
of South
Vietnam),
Chương
3, trong
cuốn Backfire
của
ông.
Tôi
không
muốn phê
bình
tiếp Tú
Gàn, vì
bài “Chuyện
50 Năm
VNCH”
của ổng
không có
một giá
trị lịch
sử nào.
Sắp đến
ngày
1/11 nên
người
Công
Giáo ở
hải
ngoại
lại tập
trung
vào
chiến
dịch
“phục
hồi tinh
thần tam
đại Việt
gian của
Ngô Đình
Diệm”.
Điều này
thể hiện
trong
câu cuối
của Tú
Gàn, hàm
ý còn
ông Diệm
thì
không
mất
nước:
“Năm
1955,
khi
Tướng
Collins
đòi thay
ông Diệm
bằng
Phan Huy
Quát hay
Trần Văn
Đỗ,
Thượng
Nghị Sĩ
Mansfield
đã nói:
"Nếu ông
Diệm bỏ
đi hay
bị lật
đổ... Hồ
Chí Minh
có thể
đi bộ
vào và
chiếm
đất nước
không có
bất cứ
khó khăn
nào."
Lời tiên
tri đó
đến năm
1975 đã
thành
hiện
thực.”
Nhưng Tú
Gàn khôn
mà không
ngoan,
vì năm
1955 là
năm Mỹ
vừa mới
dựng lên
chế độ
Ngô Đình
Diệm để
chống
Cộng cho
Mỹ và
phá Hiệp
Định
Genève,
ngăn
chận sự
thống
nhất đất
nước quy
định bởi
cuộc
Tổng
Tuyển Cử
năm 1956
trên
toàn
quốc.
Không lạ
gì khi
đó Mỹ
hết lời
ca tụng
Diệm, và
sau này
Phó Tổng
Thống
Johnson
còn gọi
Diệm là
Winston
Churchill
của Á
Đông
trong
khi trả
lời câu
hỏi của
Stanley
Karnow
là có
thực ông
ta nhận
định như
vậy
không
thì
Johnson
đã trả
lời “Cục
cứt, đó
là tên
nhóc duy
nhất
chúng ta
có ở đó”
(Shit!
He is
the only
boy we
got
there).
Tú Gàn
cũng
không
biết
rằng ,
năm
1962,
sau khi
đi quan
sát tình
hình
Đông Nam
Á,
Thượng
Nghị Sĩ
Mike
Mansfield
đã phúc
trình
cho Tổng
Thống
Kennedy
vào ngày
18 tháng
12,
1962,
nội dung
có thể
tóm tắt
như sau,
Gareth
Porter,
Vietnam:
A
History
In
Documents,
1981,
trang
235:
“Sau một
chuyến
tham
quan
Đông Nam
Á,
THượng
Nghị Sĩ
Mike
Mansfield,
một
người có
nhiều
ảnh
hưởng
lúc đầu
đã ủng
hộ Ngô
Đình
Diệm,
khuyến
cáo Tổng
Thống
Kennedy
là Hoa
Kỳ đang
ở trong
nguy cơ
bị thu
hút vào
cuộc
chiến
tranh
toàn
diện
chống du
kích
Cộng sản
và dựng
lên “một
dạng cai
trị
thuộc
địa” ở
Nam Việt
Nam.
Ông ta
ghi chú
rằng ít
có ai để
ý đến
khả năng
tình
hình sẽ
trở nên
tệ hại
hơn
nhiều và
khuyên
Tổng
Thống
hãy bắt
đầu nghĩ
đến giải
pháp
ngoại
giao để
giảm
thiểu sự
dính líu
của Mỹ
vào lục
địa Đông
Nam Á”
[qua
chính
sách cai
trị của
Ngô Đình
Diệm].
(After a
visit to
Southeast
Asia,
Senator
Mike
Mansfield,
an early
and
influential
supporter
of Ngo
Dinh
Diem.
warned
president
Kennedy
that the
U.S. was
in the
danger
of being
sucked
into
full-scale
war
against
the
Communist
guerillas
and of
setting
up “some
form of
neocolonial
rule” in
South
Vietnam.
He noted
that
little
thought
had been
given to
the
possibility
of a
serious
worsening
of the
situation
and
advised
the
President
to begin
to think
in terms
of a
diplomatic
solution
that
would
minimize
U.S.
inviolvement
on the
mainland
Southeast
Asia)
Điều
này có
nghĩa là
Mike
Mansfield
đã nhìn
thấy
viễn
tượng
chiến
thắng
của Cộng
Sản và
khuyên
Kennedy
nên rút
lui kịp
thời.
Và chúng
ta đã
biết,
Tổng
Thống
Kennedy
đã nói
với phụ
tá của
ông là
nếu ông
tái cử
thì sẽ
rút ra
khỏi
Việt
Nam.
Đây mới
là chính
sử, ông
Tú Gàn ạ!
(Xin xem tiếp Phần 1/2
>>>)
Các bài đối thoại cùng tác giả
|