|
(Phần 1)
Cái ông Tú Gàn này,
alias Lữ Giang, alias
Nguyễn Cần, quả thật là
một trí thức Công Giáo,
thì cứ cho là trí thức
đi, không biết ngượng
[xin mượn đỡ từ của một
trí thức Công Giáo không
biết ngượng khác:
Nguyễn Văn Lục]. Không
biết ngượng vì tôi đã
nói là đừng có gửi bài
ổng viết trên tờ báo lá
cải Saigon Nhỏ cho tôi
nữa, nhưng thỉnh thoảng
ông ta vẫn cứ tiếp tục
gửi những bài ông viết
chẳng ra gì cho tôi qua
E-mail. Gần đây nhất là
bài “Chuyện 50 Năm
VNCH” trên Saigon
Nhỏ. số ngày 13.10.2006,
và rồi tiếp theo là bài
Trong Cơn Hỗn Loạn..
Đã từ lâu tôi thật tình
chẳng muốn mất thì giờ
phê bình Tú Gàn, vì
chẳng có bài nào ông ấy
viết cho ra hồn, nhưng
bài “Chuyện 50 Năm
VNCH” thuộc loại
“ziết sử” này của Tú Gàn
thì có phê bình vài điểm
để mua vui cùng độc giả
kể cũng là chuyện đáng
làm.
Tú Gàn đã nổi tiếng
là “chuyên viên phịa sử”
nhưng có lẽ vì quá “Dốt
Sử” [từ của Giáo sư
Nguyễn Mạnh Quang] mà
lại muốn nổi tiếng nên
ông ta phải mượn tờ lá
cải Saigon Nhỏ để phổ
biến những bài “phịa sử”
của mình, nhưng càng
phịa thì càng lòi cái
dốt của mình ra, vì một
lẽ rất giản dị, không ai
có thể phịa sử cả. Tôi
vẫn thường nghĩ, ông Tú
Gàn chẳng gàn tí nào.
Trái lại ổng khôn ra
phết. Ông lấy bút hiệu
là Tú Gàn cho nên tha hồ
phịa, tha hồ viết lếu
láo, vì độc giả khi đọc
bài của ổng chỉ có thể
nói: “À, cái ông này gàn
thật nên mới viết như
vậy.” Do đó những điều
ông phịa hay viết lếu
láo chẳng liên quan gì
đến ông trí thức Công
Giáo: Chánh Án Nguyễn
Cần, alias Lữ Giang.
Nghệ thuật phịa và viết
lếu láo của ông Tú, Gàn
mà Khôn, điển hình là:
“Theo tài liệu
thì….”
nhưng không bao giờ đưa
ra tài liệu đó để chứng
minh. Nhưng
trong thời buổi này,
không ai có thể viết ẩu
về lịch sử, khi mà các
tài liệu lịch sử đã có
tràn ngập khắp mọi nơi,
nhất là trên Internet và
trong các tác phẩm đã
xuất bản. Vì vậy, viết
một cách lập lờ thì
không thể lừa dối được
ai.
Kiến thức tạp nhạp
của Tú Gàn thể hiện ngay
trong câu mở đầu của bài
như sau: “Hôm
Chúa Nhật
22.10.2006 tới đây..”
“Nhật” là ngày, và
“Chúa Nhật” là ngày của
Chúa. Đúng không?
Nhưng đó là Chúa nào,
Chúa Trịnh hay Chúa
Nguyễn? Tú Gàn không nói
ra nhưng ai cũng biết là
Tú Gàn muốn nói Chúa
nào, Chúa của Tú Gàn,
Chúa mà Tú Gàn nghiện
nặng, cai không được và
không đủ can đảm và lý
trí để mà cai. Nhưng
vấn đề là trên thế gian
này làm gì có ngày nào
là ngày của Chúa? Bảy
ngày trong tuần lễ là
dựa theo tên các hành
tinh theo như bảng dưới
đây:
Hành Tinh
Tên La-Tinh
Tên Pháp
Tên Anh
Tên Saxon
Sun Dies
Solis
Dimannche
Sunday Sun's
day
Moon Dies
Lunae Lundi Monday
Moon's day
Mars Dies
Martis Mardi Tuesday
Tiw's day
Mercury Dies
Mercurii Mercredi Wednesday
Wooden's day
Jupiter Dies
Jovis Jeudi Thursday
Thor's day
Venus Dies
Veneris Vendredi Friday Frigg's
day
Saturn Dies
Saturni Samedi Saturday
Saterne's day
Vậy “Chúa Nhật”, nếu
là Chúa của Tú Gàn, thì
phải là “Godday” hay
“Jesusday” theo tiếng
Mỹ, hay “Dieujour” hay
“Jesusjour” theo tiếng
Pháp [nhại theo tiếng
Mỹ], mà hình như tiếng
Mỹ hay tiếng Pháp chẳng
có những từ nào như
vậy. Vấn đề là God hay
Jesus ở đây chính là
Chúa của Tú Gàn nhưng
tuyệt đối không phải là
Chúa của cả thế giới
cũng như không phải của
93% người dân Việt Nam.
Vậy từ “Chúa Nhật” không
thích hợp trong ngôn ngữ
Việt Nam. Đó là điều mà
Tú Gàn, dù có gàn thật
đi chăng nữa, nhưng chỉ
cần một kiến thức thông
thường sơ đẳng cũng phải
biết sự tế nhị trong
việc xử dụng ngôn từ
này. Nhưng điều này lại
chứng tỏ Tú Gàn không
những gàn mà còn ngu,
ngu vì thời buổi này còn
nghiện Chúa và viết ẩu
như vậy.
Hay Tú Gàn cho Chúa
của ông ta chính là mặt
trời? Nhưng trong vũ
trụ thì mặt trời không
có gì đặc biệt, nó chỉ
là một ngôi sao nhỏ
trong số tỷ tỷ ngôi sao
trong vũ trụ, hay nói
khác đi, nó chỉ là một
hạt bụi vũ trụ, và sẽ
không còn tồn tại nữa
trong vòng 5 tỷ năm
tới. Ông Tú Gàn ơi!
Thời buổi này mà nói đến
“Chúa Nhật” không sợ
người ta cười cho hay
sao. Nhưng một người
không biết ngượng như
ông thì sợ gì người ta
cười, ai cười hở mười
cái răng, có phải như
vậy không? Nước Mỹ là
một nước tự do nhất thế
giới, ai muốn viết gì
thì viết, kể cả viết lếu
láo. Nhưng chúng ta nên
nhớ rằng, viết lếu láo
không phải là một đặc
quyền của riêng ai trong
những xã hội tự do, vì
độc giả cũng có quyền
vạch ra những sự lếu láo
trong bài viết của bất
cứ ai, kể cả Giáo hoàng
của Công Giáo.
Bây giờ, chúng ta hãy
đọc vài đoạn “phịa sử”
của Tú Gàn mà ông ta cho
là “để trả lại sự thật
cho lịch sử”, cái lịch
sử do ông ấy phịa ra.
Tú Gàn viết:
“Sau đại chiến thứ hai,
hầu hết các quốc gia
trên thế giới đã thu hổi
độc lập toàn vẹn mà
không phải tốn một giọt
máu nào. Trái lại, Việt
Nam đã trở thành quốc
gia bất hạnh nhất trên
thế giới vì có sự tranh
chấp giữa chủ nghĩa tư
bản và chủ nghĩa cộng
sản trên mảnh đất nhỏ bé
này, đưa tới một cuộc
chiến kéo dài 30 năm với
hậu quả là hàng triệu
người đã chết, gần ba
triệu người phải bỏ nước
ra đi, Việt Nam trở
thành một nước nghèo
nhất thế giới và mặc dầu
cuộc chiến đã chấm dứt
hơn 30 năm, hận thù vẫn
còn chồng chất!”
Tú Gàn quả thực là viết
lếu láo, vì chẳng làm gì
có sự tranh chấp giữa
chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa cộng sản trên đất
nước Việt Nam. Cuộc
chiến tranh Đông Dương
thứ nhất, 1945-1954, là
cuộc chiến Việt Nam
chống thực dân Pháp khi
Pháp muốn trở lại Đông
Dương để tái lập
chế độ thực dân thuộc
địa của Pháp ở Việt Nam,
đưa Việt Nam trở lại
vòng nô lệ Pháp, với hơn
80% chiến phí do Mỹ cung
cấp. Và cuộc
chiến thứ hai,
1955-1975, là
cuộc chiến Việt Nam
chống sự can thiệp và
xâm lăng của Mỹ.
Đây mới là sự
thật lịch sử đó, ông Tú
Gàn ạ. Ông Tú Gàn hãy
đọc
đoạn sau đây của Daniel
Ellsberg trong cuốn Secrets: A Memoir of
Vietnam and the Pentagon
Papers, Viking,
2002, p.255:
Không làm gì có chiến
tranh Đông Dương thứ
nhất và thứ nhì, chỉ có
một cuộc xung đột nối
tiếp trong một phần tư
thế kỷ..
Dùng ngôn từ thực tế,
đứng về một phía (Mỹ),
ngay từ đầu nó
đã là một cuộc chiến của
Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ,
sau đến toàn là Mỹ.
Trong cả hai trường hợp,
nó là một cuộc
đấu tranh của người Việt
Nam – không
phải là tất cả người
Việt Nam nhưng cũng đủ
để duy trì cuộc đấu
tranh – chống chính sách
của Mỹ và những kinh
viện, ủy nhiệm,
kỹ thuật gia, hỏa lực,
và cuối cùng, quân đội
và phi công, của Mỹ.
Cuộc chiến đó không có
gì là “nội chiến”, sau
1956 hay 1960, như nó đã
không từng là nội chiến
trong cuộc tái chiếm
thuộc địa của Pháp được
Mỹ ủng hộ.
Bảo rằng
chúng ta “xía vào” cái
gọi là “đích thực là một
cuộc nội chiến”, như hầu
hết các tác giả Mỹ, và
ngay cả những người có
khuynh hướng tự do chỉ
trích cuộc chiến cho
rằng như vậy cho đến
ngày nay, đơn giản chỉ
là che dấu một sự thực
đau lòng hơn, và cũng
chỉ là một huyền thoại
như là luận điệu chính
thức về một “cuộc xâm
lăng từ miền Bắc”.
Theo tinh thần Hiến
Chương Liên Hiệp Quốc và
theo những lý tưởng mà
chúng ta công khai thừa
nhận, đó là một cuộc
ngoại xâm, sự xâm lăng
của Mỹ.
(There had been no First
and Second Indochina
Wars, just one
continuous conflict for
almost a quarter of
century.
In practical terms, on
one side, it had been an
American war almost from
its beginning: at first
French-American,
eventually wholly
American. In
both cases it was a
struggle of Vietnamese –
not all of them but
enough to persist –
against American policy
and American financing,
proxies, technicians,
firepower, and finally,
troops and pilots.
It was no more a “civil
war” after 1955 or 1960
than it had been
during the US-supported
French at colonial
reconquest… To
say that we had
“interfered” in what is
“really a civil war”, as
most American writers
and even liberal critics
of the war do to this
day, simply screened a
more painful reality and
was as much a myth as
the earlier official one
of “agression from the
North”. In terms of the
UN Charter and our own
avowed ideals,
it was a war of foreign
agression, American
aggression.)
Tại sao Daniel Ellsberg
lại có thể viết như
vậy. Vì Ellsberg là
viên chức trong chính
quyền Mỹ, đã từng đọc
được những tài liệu mật
nhất của Mỹ và biết rõ
nhất về thực chất cuộc
chiến ở Việt Nam. Chính
ông là người đã tiết lộ
Tài Liệu Ngũ Giác
Đài (The Pentagon
Papers). Và ông viết
đoạn trên năm
2002 chứ không
phải là trong thời kỳ
“phản chiến” sôi nổi
trên đất Mỹ. Nếu chúng
ta đã đọc một số những
sách viết về cuộc chiến
Việt Nam, viết sau 1975,
của các học giả và cựu
quân nhân Mỹ, thì chúng
ta sẽ thấy rằng đa số
đồng ý với Daniel
Ellsberg về điểm này.
Có lẽ ông Tú Gàn cũng
nên biết thêm một tài
liệu khác về bản chất
của cuộc chiến ở Việt
Nam cách đây trên 30
năm. Trong cuốn Chiến Tranh Việt Nam Và
Văn Hóa Mỹ (The
Vietnam War and American
Culture, Columbia
University Press, New
York, 1991),
John Carlos Rowe and
Rick Berg viết, trang
28-29:
Cho tới năm 1982 – sau
nhiều năm tuyên truyền
liên tục mà hầu như
không có tiếng nói chống
đối nào được phép đến
với đại chúng – trên 70%
dân chúng vẫn coi cuộc
chiến (ở Việt Nam)
“căn bản là sai
lầm và phi đạo đức”,
chứ không chỉ là “một
lỗi lầm.”
Tưởng cũng nên nhớ lại
vài sự kiện. Mỹ
đã dính sâu vào nỗ lực
của Pháp để tái chiếm
thuộc địa cũ của họ,
biết rằng kẻ thù là
phong trào quốc gia của
Việt
Nam.
Số tử vong vào khoảng
nửa triệu. Khi Pháp rút
lui, Mỹ lập tức
hiến thân vào việc phá
hoại Hiệp Định Genève
năm 1954, dựng lên ở
miền Nam một chế độ
khủng bố, cho đến năm
1961, giết có lẽ khoảng
70000 “Việt Cộng”, gây
nên phong trào kháng
chiến mà từ 1959 được sự
ủng hộ của nửa miền Bắc
tạm thời chia đôi bởi
Hiệp Định Genève mà Mỹ
phá ngầm.
Trong những năm 1961-62,
Tổng thống Kennedy phát
động cuộc tấn công thẳng
vào vùng quê Nam Việt
Nam với những cuộc thả
bom trải rộng, thuốc
khai quang trong một
chương trình được thiết
kế để lùa hàng triệu
người dân vào những trại
(ấp chiến lược?) nơi đây
họ được bảo vệ bởi những
lính gác, giây thép gai,
khỏi quân du kích mà Mỹ
thừa nhận rằng được dân
ủng hộ. Mỹ khẳng định
là đã được mời đến,
nhưng như tờ London
Economist đã nhận định
chính xác, “một kẻ xâm
lăng là một kẻ xâm lăng
trừ phi được mời bởi một
chính phủ hợp pháp.”
Mỹ chưa bao giờ coi
những tay sai mình dựng
lên là có quyền hợp pháp
như vậy, và thật ra Mỹ
thường thay đổi những
chính phủ này khi họ
không có đủ thích thú
trước sự tấn công của Mỹ
hay tìm kiếm một sự dàn
xếp trung lập được mọi
phía ủng hộ
nhưng bị coi là nguy
hiểm cho những kẻ xâm
lăng, vì như vậy là phá
ngầm căn bản cuộc chiến
của Mỹ chống Nam Việt
Nam. Nói ngắn
gọn, Mỹ xâm lăng Nam
Việt Nam, ở đó Mỹ đã
tiến tới việc làm ngơ
tội ác xâm lăng với
nhiều tội ác khủng khiếp
chống nhân loại trên
khắp Đông Dương.
(As late as 1982 – after
years of unremitting
propaganda with
virtually no dissenting
voice permitted
expression to a large
audience – over 70% of
the general population
(but far fewer “opinion
leaders”) still regarded
the war as
“fundamentally wrong and
immoral,’ not merely “a
mistake”..
It is worth recalling
a few facts. The US was
deeply committed to the
French effort to
reconquer their former
colony, recognizing
throughout that the
enemy was the
nationalist movement of
Vietnam. The death toll
was about half a
million. When France
withdrew, the US
dedicated itself at once
to subverting the 1954
Geneva settlement,
installing in the south
a terrorist regime that
killed perhaps 70000
“Viet Cong” by 1961,
evoking resistance
which, from 1959, was
supported from the
northern half of the
country temporarily
divided by the Geneva
settlement that the US
had undermined.
In 1961-1962,
President Kennedy
launched a direct attack
against rural South
Vietnam with large-scale
bombing and defoliation
as part of a program
designed to drive
millions of people to
camps where they would
be “protected” by armed
guards and barbed wire
from the guerillas whom,
the US conceded, they
were willinggly
supporting. The US
maintained that it was
invited in, but as the
London Economist
accurately observed, “an
invader is an invader
unless invited in by a
government with a claim
to legitimacy.” The US
never regarded the
clients it installed as
having any such claim,
and in fact it regularly
replaced them when they
failed to exhibit
sufficient enthusiam for
the American attack or
sought to implement the
neutralist settlement
that was advocated on
all sides and was
considered the prime
danger by the
aggressors, since it
would undermine the
basis for their war
against South Vietnam.
In short, the US invaded
South Vietnam, where it
proceeded to compound
the crime of aggression
with numerous and quite
appalling crimes against
humanity throughout
Indochina.)
Cũng vì vậy mà tháng 11
năm 1966, Bertrand
Russell, người đã lãnh 2
giải Nobel, đã đứng ra
thành lập một Tòa Án
Quốc tế Xử Tội Ác Chiến
Tranh (The
International War Crimes
Tribunal), có 18 quốc
gia tham dự, và ủy ban
xét xử của tòa án (The
tribunal committee) gồm
có 25 nhân sĩ nổi tiếng
trên thế giới như sau:
-
Bertrand
Russell
(Tribunal Honorary
President)- Peace
Activist;
Philosopher;
Mathematician
-
Jean-Paul Sartre
(Tribunal Executive
President)-
Philosopher;
-
Vladimir Dedijer
(Tribunal Chairman
and President of
Sessions)- M.A.
Oxon., Doctor of
Jurisprudence;
historian
-
Wolfgang Abendroth-
Doctor of
Jurisprudence;
Professor of
Political Science,
Marburg University
-
Gunther Anders-
Writer and
philosopher
-
Mehmet Ali Aybar-
International
lawyer; Member of
Turkish Parliament;
President, Turkish
Workers’ Party
-
James Baldwin-
African American
novelist and
essayist
-
Lelio Basso-
International
lawyer; Deputy of
Italian Parliament
and Member of the
Commission of
Foreign Affairs;
Professor, Rome
University.
President of PSIUP
(Italian Socialist
Party of Proletarian
Unity).
-
Simone de Beauvoir-
Writer and
philosopher
-
Lazaro Cardenas-
Former President of
Mexico
-
Stokely Carmichael-
Chairman, Student
Nonviolent
Coordinating
Committee
-
Lawrence Daly-
General Secretary,
UK National Union of
Mineworkers.
Socialist.
-
Dave Dellinger-
American pacifist;
Editor, Liberation;
Chairman, Fifth
Avenue Parade
Committee.
-
Isaac Deutscher-
Historian
-
Haika Grossman-
Jurist; Jewish
liberation fighter
-
Gisele Halimi-
Paris lawyer;
attorney for
Djamila Bouhired;
author of works on
French repression of
Algeria
-
Amado V. Hernandez-
Poet Laureate of the
Philippines;
Chairman, Democratic
Labor Party; Acting
President, National
Organization of
Philippine Writers.
-
Melba Hernandez-
Chairman, Cuban
Committee for
Solidarity with Viet
Nam, now the
Cuba-Viet Nam
Friendship
Association
-
Mahmud Ali Kasuri-
Member National
Assembly of
Pakistan, Senior
Advocate Supreme
Court of Pakistan
-
Sara Lidman-
Swedish
Writer
-
Kinju Morikawa
Attorney;
Vice-Chairman, Japan
Civil Liberties
Union, a human
rights organization.
-
Carl Oglesby-
Past President,
Students for a
Democratic Society;
playwright;
political essayist.
-
Shoichi Sakata-
Professor of Physics
-
Laurent Schwartz-
Professor of
Mathematics, Paris
University.
-
Peter Weiss-
Playwright; Author;
Experimental Film
Director
Sau khi thu thập
nhiều bằng chứng và nghe
thuyết trình về những
tội ác của Mỹ và VNCH
của 30 nhân chứng trong
đó có cả cựu quân nhân
Mỹ ở Việt Nam, Tòa Án đã
biểu quyết 11 khoản mà
khoản đầu tiên là:
“Chính quyền Mỹ có
phạm những hành động xâm
lăng chống Việt Nam theo
những điều lệ của luật
quốc tế hay không?
Ủy ban đồng thanh biểu
quyết: CÓ!”
[Has the Government of
the United States
committed acts of
aggression against
Vietnam under the terms
of international law?
YES
(unanimously)].
Lẽ dĩ nhiên, sau đệ nhị
thế chiến, Mỹ là một
cường quốc vào bậc nhất
trên thế giới, tha hồ áp
dụng cường quyền thắng
công lý, nên Tòa án của
Russell chẳng làm được
gì Mỹ, nhưng ít nhất
cũng gây được tiếng vang
trên khắp thế giới, và
làm động cơ cho những
phong trào phản chiến ở
phương trời Âu Mỹ.
Và ngày nay, phỏng theo
Tòa Án của Russell, một
Tòa Án Thế Giới về Iraq
cũng đã được thành lập
để phân tích cuộc “xâm
chiếm Iraq” của Mỹ [Wikipedia,
the free encyclopedia:
Nearly four decades
later, the
Russell Tribunal
model was followed by
the
World Tribunal on Iraq,
which was held to make a
similar analysis of the
Project for the New
American Century,
the
2003 Invasion of Iraq
and subsequent
occupation of Iraq,
and the links between
these.]
(Xin xem tiếp Phần 2/2
>>>)
Các bài đối thoại cùng tác giả
|