gười
dân Việt, với bản chất hiền lành, mộc mạc, "dĩ hòa vi quý",
không bao giờ muốn gây sự hiềm khích giữa các khối dân chúng
có tín ngưỡng khác nhau. Hệ thống tín ngưỡng của Việt Nam,
trong tinh thần Tam Giáo (Thích, Nho, Lão) Đồng Nguyên, là
một hệ thống chiết trung, nghĩa là không bám chặt vào một
tín ngưỡng hay một hệ thống tư tưởng chuyên biệt nào, thể
hiện một tinh thần bao dung, không có tính cách loại trừ.
Cho nên, rất có thể có những người không đồng ý với công
việc nghiên cứu của tôi: đưa ra những sự thật về Ki-Tô giáo,
cho rằng như vậy chỉ gây chia rẽ tôn giáo. Tôi thông cảm và
tôn trọng ý kiến của họ. Ý kiến trên bắt nguồn từ một tình
cảm cao quý cá nhân, nhưng đặt không đúng chỗ, vì tình cảm
này không xét đến ảnh hưởng của tôn giáo trên mọi vấn đề xã
hội, nhất lại là một tôn giáo ngả nhiều về chính trị và xã
hội thế tục như Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô Giáo Rô-Ma nói
riêng. Kinh nghiệm Việt Nam trong thời Pháp thuộc và trong
9 năm dưới chính quyền Ca-Tô Ngô Đình Diệm ở miền Nam có thể
cho chúng ta nhận rõ vấn đề: Ca-Tô Giáo chỉ chiếm 7% dân
chúng nhưng được hợp thức hóa là một tôn giáo trong khi Phật
Giáo, chiếm khoảng 80% dân chúng, chỉ được coi như là một
hiệp hội, và do đó về pháp lý không khác gì một hội như hội
quần vợt.
Nhìn
rõ vấn đề tôn giáo trong xã hội, học giả Paul Blanshard đã
viết như sau trong cuốn Nền Tự Do Của Mỹ và Quyền Lực
Ca-Tô (American Freedom and Catholic Power), trang 4,
như sau:
"Anh
không bao giờ nên chỉ trích tôn giáo của người khác", cái
giáo lý nghe có vẻ vô hại đó, phát xuất từ những tình cảm
cao quý, nhưng thật là nguy hại cho lối sống dân chủ. Nó
không để ý đến bổn phận phải bênh vực sự thật trong mọi
ngành tư duy của mọi công dân tốt. Nó không xét đến sự kiện
là phần lớn cái mà con người gọi là tôn giáo cũng là chính
trị, lành mạnh xã hội và kinh tế. Giữ yên lặng về "tôn
giáo của người khác" có thể đưa đến nền y tế hạng hai, nền
giáo dục thấp kém, và chính quyền phản dân chủ."
(You
should never criticize another man's religion", that
innocent-sounding doctrine, born of the noblest
sentiments, is full of danger to the democratic way of
life. It ignores the duty of every good citizen to
stand for the truth in every field of thought. It fails to
take account of the fact that a large part of what
men call religion is also politics, social hygiene and
economics. Silence about "another man's religion" may mean
acquiescence in second-rate medicine, inferior education and
anti democratic government.)
Mặt
khác, về vấn đề chia rẽ tôn giáo, nếu chúng ta nhìn kỹ lịch
sử thì chúng ta sẽ thấy rằng, trong mấy trăm năm nay, từ khi
Ca-Tô giáo Rô-ma du nhập Việt Nam, và cho tới tận ngày nay,
sự chia rẽ tôn giáo không phát xuất từ đại khối dân tộc, mà
từ một tín ngưỡng thuộc thiểu số, vào khoảng 7% dân số: tín
ngưỡng Ca-Tô, dựa trên thế lực ngoại bang và cường quyền.
Lịch sử Việt Nam, từ khi Ca-Tô Giáo du nhập Việt Nam năm
1533, trong thời Pháp thuộc, và trong 20 năm, từ 1955 đến
1975, ở miền Nam Việt Nam, đã chứng tỏ như vậy. Thật vậy,
chính Linh mục Lương Kim Định cũng phải thú nhận trong cuốn
Cẩm Nang Triết Việt, trang 57, rằng:
"...sự truyền đạo Thiên Chúa vào Việt
Nam...đã đưa đến sự chia khối dân tộc
đang thống nhất thành hai phe lương giáo làm cho sự liên lạc
giữa đôi bên trở nên nhức nhối đầy e dè nghi kỵ. Đấy là
một tai nạn lịch sử mà thời gian tuy có giảm đi nhưng xem ra
không sao xóa sạch được."
Không
nhức nhối và e dè nghi kỵ làm sao được khi mà tín đồ Ca-Tô
tỉnh ngộ Charlie Nguyễn đã phải đau lòng viết sách tố cáo
tinh thần nô lệ của Hội Đồng Giám Mục Ca-Tô Việt Nam, và nêu
lên sự kiện là cho tới tận ngày nay, trong các sách bổn,
kinh cầu nguyện, kinh nhựt khóa của giáo dân Ca-Tô Việt Nam
v..v.., vẫn còn chứa những câu có tính cách xúc phạm đến
toàn thể dân tộc Việt
Nam, đến ông bà tổ tiên chúng ta, đến
Phật Giáo và tất cả những tôn giáo khác v..v.., những câu
như: "Kẻ dữ là kẻ chẳng có đạo"; "Xin Chúa đoái thương
dân tộc Việt Nam đang còn ngồi trong bóng tối tăm
ngoại giáo"; "..đang ở nơi tối tăm thờ lạy bụt (Phật) thần
ma quỉ"; "Ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e phá tan đạo Bụt
Thần"; "Ông Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e là lịnh rao truyền
tiếng Đức Chúa Thánh Thần cho những dân mọi rợ." v..v..
(Xin đọc "Công Giáo: Huyền Thoại Và Tội Ác", và
"Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm" của Charlie Nguyễn, Giao
Điểm xuất bản, 2001)
Khi
xưa, nấp dưới bóng thực dân Pháp, và dưới hai chế độ Ca-Tô ở
miền Nam, sự hiện hữu của những bản kinh này thật là dễ
hiểu, vì cường quyền và bạo lực đã thắng công lý. Nhưng
ngày nay, nước nhà đã độc lập và thống nhất, sự hiện hữu của
những bản kinh trên trong một dân tộc mà Ca-Tô giáo chỉ
chiếm 7% dân số thì thực là một điều khó hiểu. Đối với tôi
thì, vì hiểu rõ bản chất của Ki Tô Giáo nói chung, Ca-Tô
Giáo Rô-ma nói riêng, nên tôi chẳng chấp vào những điều
huênh hoang hung hăng cuồng tín bắt nguồn từ vô minh và ảo
tưởng kiêu căng vô lối, hỗn xược của đám người nô lệ trong
giáo hội Ca-Tô Việt Nam. Nhưng đối
với đại khối dân tộc thì sao? Ai đã chia rẽ tôn giáo ở
đây? Chắc chắn không phải là những người viết sách đưa ra
những sự thực lịch sử của Ca Tô Giáo Rô-Ma, đặc biệt là
Ca-Tô Giáo Rô-Ma tại Việt Nam, hay lịch sử Tin Lành.
Đưa
ra những sự kiện lịch sử về Ki-Tô Giáo không có nghĩa là gây
chia rẽ tôn giáo, chống Ki-Tô giáo, hay gây hận thù giữa
những khối dân tộc có tín ngưỡng khác nhau. Sự thật là sự
thật, sự thật không có tính cách bè phái và tuyệt đối không
thiên vị. Lương tâm trí thức của bất cứ người Việt Nam nào quan tâm
đến vấn đề tôn giáo là phải tôn trọng sự thật trong các tôn
giáo, bất kể sự thật đó như thế nào. Trong thời đại này,
chúng ta phải có can đảm đối diện với sự thật dù sự thật đó
không hợp ý ta hay mang đến cho chúng ta ít nhiều phiền
muộn.
Với
quan niệm như vậy tôi đã không ngần ngại dấn thân vào làm
một công việc mà tôi biết rằng bạc bẽo và không có ích lợi
cho bản thân: đó là nghiên cứu và đưa ra những sự thật về Ki
Tô Giáo, những sự thật mà các tín đồ Ki Tô Giáo Việt Nam
cũng như những người phi-Ki-Tô rất ít biết đến, do hoàn cảnh
lịch sử của nước nhà trong hơn 100 năm nay. Chúng ta cần
phân biệt rõ ràng giữa những sự thật, kết quả nghiên cứu của
những bậc thức giả có uy tín nhất trong Ki Tô Giáo cũng như
trong môi trường trí thức đại học Âu Mỹ, và những điều xuyên
tạc cố ý với ý định hạ thấp hay bôi nhọ tôn giáo.
Tôi
không chủ trương gây hận thù hay chia rẽ, nhưng tôi quan
niệm rằng sự mở mang dân trí là điều kiện tất yếu của sự
tiến bộ quốc gia, và sự hòa hợp trong các khối dân tộc chỉ
có thể có khi chúng ta hiểu rõ tín ngưỡng của nhau và tìm
những phương cách để cùng nhau chung sống trên đất nước thân
yêu của chúng ta. Hận thù và chia rẽ bắt nguồn từ sự thiếu
hiểu biết chứ không từ sự hiểu biết những sự thực tôn giáo.
Sự hòa hợp tôn giáo trong các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ,
nơi đây có vô số những sách viết về mọi tôn giáo, là một tấm
gương để chúng ta soi vào.
Tôi
không chống cá nhân những người theo Ki Tô Giáo, Ca-Tô cũng
như Tin Lành. Đối với tôi, không có lý do gì để chống họ,
nhất là chỉ vì họ đi theo một tôn giáo hợp với sở thích của
họ. Tuy nhiên, trong thời đại này, những sự thực lịch sử
cũng như giáo lý của tôn giáo, bất kể là tôn giáo nào, cần
phải được trình bày rõ ràng để cho người dân biết đâu là sự
thực. Đưa ra những sự thật về tôn giáo để nhận rõ đâu là
nguồn gốc khổ đau cũng như đâu là nguồn gốc hạnh phúc mà tôn
giáo đã mang đến cho nhân loại, ít ra là trong vài ngàn năm
qua, tôi cho là một điều cần thiết.
Do
đó, tôi chống hệ thống giáo quyền của Ca-Tô Giáo Rô-ma vì hệ
thống này đã nô lệ hóa đầu óc con người và biến tín đồ thành
những người vô tổ quốc "thà mất nước chứ không thà mất
Chúa" chứ tôi không chống các tín đồ Ca-Tô mà tôi cho là
nạn nhân của Giáo hội Ca Tô toàn cầu. Tôi chống cái giáo
điều "quên mình trong vâng phục" của Ca-Tô Giáo và
tinh thần nô lệ Vatican của Giáo Hội Ca-Tô tại Việt Nam chứ
không chống các tín đồ được dạy từ nhỏ là phải "quên mình
trong vâng phục". Bởi vì đây chính là những nguồn gốc mang
đến sự chia rẽ trong đại khối dân tộc. Tôi chống "thẩm
quyền Thánh Kinh" (Bible authority) của Tin Lành mà các
tín đồ Tin Lành phải tuyệt đối tin là không thể sai lầm, vì
chính thẩm quyền này đã mang đến bao sự đau thương cho nhân
loại, và vì Thánh Kinh có rất nhiều điều sai lầm về thần học
cũng như về khoa học, nhưng không chống tín đồ Tin Lành.
Tuy
nhiên, làm công việc bạc bẽo này, tôi ý thức được rằng, đưa
ra những sự thật về Ki Tô Giáo có thể sẽ phải đối diện với
nhiều nguy hiểm cay đắng, hiểu lầm và ngay cả những phản ứng
cuồng tín, nhưng tôi cho rằng sự yên lặng lại còn mang đến
nhiều nguy hiểm lớn hơn cho dân tộc và quốc gia. Tôi hiểu
rằng, bất cứ người nào lên tiếng phê phán hệ thống quyền
lực Ca-Tô hay thẩm quyền của Thánh Kinh đều phải gồng mình
lên đội cái mũ "chống KiTô", vì đó là sách lược chống đỡ của
hệ thống quyền lực Ki Tô Giáo nói chung, chụp cái nhãn hiệu
"chống Ki Tô Giáo" lên mọi ý kiến hay kết quả khảo
cứu nào không phù hợp với những điều "giáo hội dạy
rằng.." hay "Thánh Kinh viết rằng..". Ngoài ra
họ cũng còn phải cam chịu mang danh hiệu là "kẻ thù của
các tín đồ Ki Tô" vì hệ thống giáo quyền Ki Tô luôn luôn
đồng nhất hóa những tham vọng của giới giáo sĩ với những cái
mà họ cho là ước muốn của tín đồ, và reo rắc vào đầu óc tín
đồ quan niệm sai lầm là mọi công cuộc nghiên cứu về thực
chất Ki Tô Giáo, những điều mà tín đồ không thể ngờ vì không
biết đến, đều bắt nguồn từ một tâm hận thù.
Đức
Khổng Tử có nói: "Thay vì ngồi nguyền rủa bóng tối, tốt
hơn là thắp lên một ngọn đèn nhỏ". Cuốn sách này không
có tham vọng sẽ trở thành một nguồn sáng sáng hơn ánh sáng
của một ngọn đèn nhỏ.
Các bài tôn giáo cùng tác giả