 |
11 tháng 11, 2009
|
Stephen Kinzer là một
nhà văn và cũng là nhà báo Mỹ. Ông là một cộng tác viên kỳ cựu của báo
New York Times, từng tác nghiệp trong hơn 50 nước trên 5 châu lục. Trong
thập niên 1980’, ông đã từng làm phóng sự về các cuộc cách mạng và biến động
tại Trung Mỹ. Vào năm 1990, ông được thăng chức Trưởng Nhiệm sở tại Berlin
và viết về sự biến dạng của các nước Đông Âu sau cuộc cách mạng nhung. Ông
cũng đã là Văn phòng trưởng của New York Times tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) từ
1996 đến 2000.
Hiện nay, ông dạy tại về Báo chí và Chính sách Ngoại giao Mỹ
tại đại học Northwestern University, bang Illinois. các tác phẩm đã xuất bản
của ông là
Bitter Fruit: The Story of the
American Coup in Guatemala, với
Stephen Schlesinger; (Doubleday, 1982); Crescent and Star: Turkey Between
Two Worlds, (Farrar, Strauss and Giroux, 2001);
All the Shah's Men: An American Coup and
the Roots of Middle East Terror, (John Wiley & Sons, 2003);
Overthrow: America's Century of Regime
Change from Hawaii to Iraq, (Times
Books, 2006);
Blood of Brothers: Life and War in
Nicaragua, with a new afterword, (Harvard
University Press, 2007); A Thousand Hills: Rwanda's Rebirth
and the Man Who Dreamed It, (John
Wiley & Sons, 2008) - [Theo Wikipedia]
Trích từ Chương 7 của Cuốn “Lật Đổ” (Overthrow, Times Book, New York City, 2006) đề cập đến vai trò của Mỹ, nhất là thái độ không quyết đoán của Tổng thống Kennedy vì lập trường thiếu thống nhất của các phụ tá, trong cuộc lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm của quân dân miền Nam..
Các cơ quan thông tấn chẳng bao giờ ngủ nên
không lạ gì khi Malcolm Browne phóng viên của Associated Press ở Sài Gòn,
vẫn còn làm việc khi điện thoại văn phòng của mình reo lên vào tối ngày 10
Tháng 6 năm 1963. Người gọi là (Thượng tọa) Thích Đức Nghiệp, một nhà sư
Phật giáo mà Browne đã quen biết trong khi tác nghiệp về các cuộc xung đột
leo thang giữa Phật giáo đồ và chính quyền do Công giáo-thống trị ở miền Nam
Việt Nam. Ông nói với Browne rằng bất cứ ai xuất hiện tại chùa Xá Lợi sáng
hôm sau sẽ chứng kiến "một sự kiện quan trọng".
Tối hôm ấy, nhà sư đã gọi vài phóng viên nước
ngoài khác với cùng một thông điệp. Chỉ có Browne coi đó là nghiêm túc. Ông
đã viết nhiều về cuộc nổi dậy của Phật giáo lan rộng và cảm nhận rằng nó sẽ
có thể định hướng tương lai của Việt Nam. Trước bình minh sáng hôm sau, ông
và trợ lý người Việt khởi hành đến chùa. Họ thấy chùa đông nghẹt các nhà sư
trong tăng bào màu vàng nghệ và ni chúng với áo màu lam. Không khí bên trong
đã nóng, ngột, và ngào ngạt mùi hương. Khói cuồn cuộn bay lên từ hàng trăm
lò hương. Chư tăng ni lắng mình trong tiếng niệm kinh.
Browne chọn một chỗ
ngồi. Một trong những ni cô đến gần ông, và trong khi bà rót trà, ông có thể
nhìn thấy dòng nước mắt chảy xuống trên mặt bà. Một vài phút sau đó, TT.
Thích Đức Nghiệp trông thấy ông và đến gần. Ông có một đề nghị đơn giản:
đừng vội rời "cho đến khi sự kiện kết thúc."
Browne ngồi giữa cảnh này khoảng nửa giờ. Đột
nhiên, theo một hiệu lệnh, các tăng ni ngừng tụng kinh, đứng dậy, và nghiêm
trang theo nhau ra khỏi chùa và kết thành một hàng bên ngoài. Họ tập hợp
phía sau một chiếc ô-tô Austin cũ chở năm nhà sư và họ đi theo chiếc ô-tô
qua các đường phố. Đoàn người dừng ở nơi giao lộ của hai đường Phan Đình
Phùng và Lê Văn Duyệt, một trong những con đường lớn của thành phố. Những
người biểu tình làm thành một vòng tròn để chặn tất cả các lối vào.
Ba nhà sư bước ra khỏi
chiếc xe, một vị cao niên được nâng đở bởi những vị khác. Những vị sư trẻ
đặt một đệm vuông trên mặt đường tại trung tâm giao lộ và giúp vị sư già yên
vị theo kiểu ngồi kiết già tòa sen. Trong khi ngài lần hạt và lâm râm niệm
danh hiệu thiêng liêng A Di Đà Phật, "Vãng Sanh Cực Lạc," họ lấy một thùng
xăng từ xe và tưới một hỗn hợp xăng màu hồng-và-diesel lên ngài. Sau khi họ
bước xa ra, ngài cầm một hộp diêm, quẹt lên rồi thả xuống đùi mình. Ngay lập
tức, lửa ôm trọn ngài.
Khi
gió thổi ngọn lửa khỏi mặt ông ta, tôi có thể thấy rằng mặc dù đôi mắt nhắm
kín, nét mặt của ông bị méo mó bởi nổi đau đớn cùng cực. Nhưng trong suốt
cuộc thử thách của mình, ông không bao giờ thốt lên một tiếng hoặc thay đổi
vị trí của mình, ngay cả khi mùi thịt cháy lan đầy không khí. Một tiếng kêu
van kinh hoàng từ đám đông, và tiếng tụng kinh rời rạc từ vài nhà sư vì bị
gián đoạn bởi tiếng la khóc của nỗi đau đớn. Hai nhà sư trương ra một biểu
ngữ lớn bằng vải (viết tiếng Anh), "Một Nhà Sư Tự Thiêu cho Các Đòi Hỏi của
Phật giáo,"
Choáng váng bởi những gì ông đã nhìn thấy, như một phản xạ Browne bấm máy
ảnh liên tục. Sau một vài phút, một xe chửa lửa và nhiều xe cảnh sát với còi
hú xuất hiện, nhưng những người biểu tình nằm ngay ở phía trước các xe nầy
và bám vào bánh xe nên xe không thể tiếp cận được với giàn thiêu. Nhanh
chóng ngọn lửa bắt đầu dịu dần. Khi lửa tàn, vài nhà sư đã xuất hiện với một
quan tài bằng gỗ và cố gắng nâng xác chết của người đàn ông đặt vào đó. Tay
chân của ông đã trở nên cứng ngắt. Chiếc quan tài đã được mang về chùa Xá
Lợi, cả hai cánh tay ló ra ngoài. Một cánh còn bốc khói.
Những tấm ảnh
của Browne về nhà sư tự thiêu đã làm choáng váng mọi người trên thế giới.
Ngày hôm sau, một vị khách thăm Phòng Bầu Dục nhận thấy rằng Tổng thống John
F. Kennedy đã có một xấp ảnh nằm trên bàn làm việc của ông. Hình như chúng
tượng trưng cho sự tan rã của miền Nam Việt Nam và sự bất lực của tổng thống
Ngô Đình Diệm. Trong vài tháng kế tiếp, những hình ảnh này đã giúp thúc đẩy
chính quyền Kennedy hướng về một quyết định trọng đại. Diệm đã mất sự tin
tưởng của của chính quyền (Mỹ) và sẽ bị lật đổ.
۞۞۞
Đất nước Việt Nam xanh tươi, uốn lượn như đuôi rồng dọc theo bờ biển ngoằn
ngoèo của Đông Dương, đã trở thành một thuộc địa của Pháp vào thế kỷ XIX. Nhiều
thế hệ của các gia đình người Pháp đã xây dựng cuộc sống ở đấy, khai khẩn rừng
thành những đồn điền cao su và biến Sài Gòn, thủ đô, thành một tiền đồn thuộc
địa lạ kỳ. Trong những năm hỗn loạn sau khi Thế Chiến II, tinh thần dân tộc và
chống thực dân bùng lên ở Việt Nam cũng như nó đã nổ ra tại những vùng đất xa
xôi như Iran và Guatemala. Nhiều nhà lãnh đạo nước ngoài đã không nhận ra sức
mạnh của tinh thần đó. Kẻ đại cận thị lại là người Mỹ. Sự mù lòa của họ sẽ dẫn
Hoa Kỳ đến sự thất bại quân sự lớn nhất trong lịch sử của nó
Nhật Bản đã chiếm đóng và kiểm soát Việt Nam trong
chiến tranh thế giới. Một đoàn quân du kích Việt Minh, đã tiến hành chiến
tranh du kích chống lại kẻ chiếm đóng, sử dụng vũ khí (và thuốc lá) do Mỹ
thả xuống. Sau khi Nhật đầu hàng, nhà lãnh đạo đảng, ông Hồ Chí Minh, một
người trông có vẻ yếu đuối khoảng 50 tuổi với một bộ râu mỏng, quyết định
rằng đã đến lúc phải tuyên bố nền độc lập của nước ông. Ngày 2 tháng 9 năm
1945, trước một đám đông lớn tại phía bắc thành phố Hà Nội, ông đã đọc một
bài tuyên ngôn mà bất kỳ người Mỹ nào cũng cảm thấy quen thuộc.
Ông tuyên bố “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa
cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có
quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Theo bản
năng, ông Hồ nhắm đến Hoa Kỳ, một phần vì ông có điều mà theo một nhà sử học
gọi là “cả đời ngưỡng mộ người Mỹ” và một phần vì ông có ít đồng minh
khác. Nước Pháp, quyết định tái lập quyền thống trị cũ của họ tại Việt Nam,
từ chối công nhận chính phủ mới của ông. Nước Anh, vốn sợ tấm gương của Việt
Minh sẽ có ảnh hưỡng đến các thuộc địa riêng của mình, cũng phản đối ông.
Lãnh đạo cộng sản tại Trung Quốc và Liên Xô lo sợ chủ nghĩa dân tộc của ông.
Thật là hợp lý khi ông hướng về Washington để mong được giúp đỡ.
Tất cả nỗ lực của ông Hồ để thu hút sự hỗ trợ của Mỹ, trong đó bao gồm việc
gửi thư đến tổng thống Harry Truman và Tướng George Marshall, tỏ ra vô hiệu
quả. Người Pháp đã tái lập vai trò cũ của mình tại Việt Nam. Dần dần ông Hồ
nhận ra rằng nếu ông muốn làm cho đất nước của mình thực sự độc lập, Việt
Minh đành sẽ phải tham gia cuộc chiến tranh khác, lúc này chống lại thực dân
Pháp. Cuộc chiến đạt đến đỉnh điểm khi Dwight Eisenhower đảm nhận chức tổng
thống năm 1953
Lúc bấy giờ, người Pháp đã bị tả tơi sau bao năm chiến đấu chống du kích
Việt Nam. Họ kết luận, với nỗi đau lớn, là họ phải từ bỏ thuộc địa lộng lẫy
của họ và mong cầu hòa bình. Đầu năm 1954, các nhà đàm phán của Pháp và Việt
Minh đã gặp gở tại Geneva. Các nhà đàm phán từ Trung Quốc, Liên Xô, Anh, và
Hoa Kỳ cũng có mặt tại đấy. Bộ trưởng Ngoại giao Dulles cầm đầu đoàn đại
biểu Mỹ. Một nhân vật có tầm vóc ít nhất cũng ngang bằng, ông Chu Ân Lai,
đại diện Cộng sản Trung Quốc. Dulles vốn coi chế độ Trung Quốc chẳng khác gì
ác quỷ, và khi một phóng viên hỏi liệu ông sẽ gặp ông Chu, ông Dulles trả
lời lãnh đạm: "Không, trừ khi xe ô tô của chúng tôi đụng nhau"
Dulles đến Geneva hy vọng ngăn chặn một thỏa thuận. Ông đã thành công rất
ít trong việc nầy, và rời khỏi nơi ấy sau một tuần. Không lâu sau đó, các
nhà đàm phán còn lại đồng ý một sự phân vùng tạm thời của Việt Nam dọc theo
vĩ tuyến 17. Cộng sản sẽ kiểm soát ở phía bắc và có thủ đô tại Hà Nội. Cựu
đồng minh của Pháp sẽ thành lập một chính phủ riêng ở phía nam, với thủ đô
tại Sài Gòn. Sẽ có các cuộc bầu cử toàn quốc trong hai năm, sau đó miền Bắc
và miền Nam sẽ được tái hợp. Trong khi chờ đợi, ngoại quốc không được gửi vũ
khí hoặc quân đội vào bất cứ bên nào của Việt Nam
Pháp chấm dứt nền cai trị của mình ở Việt Nam với một
buổi lễ thích nghi lặng lẽ. Vào ngày 9 tháng mười 1954, dưới một bầu trời
mưa, một nhóm nhỏ các binh sĩ tập hợp quanh một cột cờ tại Sân vận động Hà
Nội và hạ lá cờ tam tài xuống. Một lính kèn thổi vài điệu sầu thảm. Không
có bài hát hoặc bài phát biểu. Trong vòng tám năm chiến tranh không chính
đáng, Pháp bị tổn thất thảm hại với 44.967 người chết và 79.560 người khác
bị thương.
Rất ít người ở Hà Nội biết đến buổi lễ. Họ đã quá bận rộn chuẩn bị đón đoàn
quân Việt Minh chiến thắng của họ. Những ngày sau khi Pháp rút lui; 30.000
quân du kích diễn hành vào thành phố. Chiến thắng của họ chưa hoàn thành,
bởi vì Việt Nam đã bị chia đôi, nhưng sự phân chia chỉ có hai năm thôi. ông
Hồ Chí Minh đã gây ra một cuộc bại trận kinh hoàng cho kẻ thù giàu mạnh hơn
nhiều. Ông là người nổi tiếng nhất của đất nước. Nhiều người Việt cho rằng
qua cuộc bầu cử năm 1956, ông sẽ được chọn để lãnh đạo đất nước của họ.
Ngoại trưởng Dulles đã làm mọi cách mà ông có thể làm để giữ cho Pháp lưu
lại tại Việt Nam, nhưng họ vẫn quyết định ra đi. Tuy nhiên, điều đó không có
nghĩa là ông ta chịu ngồi yên khi các cử tri Việt bầu một người Cộng sản để
lãnh đạo đất nước thống nhất của họ. Ông không bao giờ xét tới khả năng tìm
kiếm một cuộc hòa giải với ông Hồ. Thay vào đó, ông ta đã ra tay phá bỉnh
hiệp định Geneva bằng cách làm cho sự chia cắt đất nước trở thành vĩnh viễn.
Chỉ đạo dự án này đầy tham vọng này, Dulles đã chọn Đại tá Edward
Landsdale, chuyên gia chống phản loạn thành đạt nhất của Mỹ vào thời đó.
Lansdale đã giành một chiến thắng lớn trong việc đập tan quân du kích ở
Philippines, hợp tác với một nhà lãnh đạo người Phi nói được tiếng Anh,
Ramon Magsaysay mà ông đã lôi ra từ chỗ vô danh, tài trợ rộng rãi, điều động
leo qua các cấp chính trị, và cuối cùng đặt vào ghế tổng thống. Ông cần cùng
loại đối tác cho dự án Việt Nam của ông. Có một kẻ đang chờ đợi.
Ngô Đình Diệm là một người sùng đạo Công giáo, xuất thân theo một con đường
quan lại Việt Nam khá dài. Ông đã học về hành chính công cộng [Ghi chú của
người dịch: từ trường Hậu Bổ], ở tuổi 30, đã làm Thượng thư Bộ Lại trong nội
các thân Tây của Hoàng đế Bảo Đại. Về sau ông nghiêng về nền độc lập nhưng
vì do việc chống Chủ nghĩa Cộng sản mạnh mẽ của mình mà ông đã từ chối tham
gia Việt Minh. Năm 1950, ông du hành tới Mỹ, nơi ông đã dành hai năm sống
một cuộc sống tu sĩ ẩn dật tại chủng viện Maryknoll tại Lakewood, New
Jersey, và Ossining, New York. Ông cũng đã có nhiều cuộc tiếp xúc chính trị
quí giá. Thông qua sự trung gian của kẻ chống Cộng hung hản là Hồng y
Francis Spellman, ông đã gặp các viên chức Bộ Ngoại giao và các thành viên
có ảnh hưởng của Quốc hội. Spellman đã đặc biệt giới thiệu ông đến các chính
trị gia Công giáo, trong đó có Thượng nghị sĩ John F. Kennedy của
Massachusetts.
Khi người Mỹ phải tìm ra một người Việt Nam để thực
hiện cuộc đấu thầu của họ tại Sài Gòn, ông Diệm là một trong số ít người mà
họ biết đến. Lúc bấy giờ, ông là một người độc thân đẩy đà béo tốt 53 tuổi,
sống ẩn dật tại một tu viện Benedictine tại Bỉ. Dulles và Landsdale chưa hề
gặp qua ông ta, nhưng Landsdale bảo chứng cho lập trường chống-Cộng sản đáng
tin cậy của ông ta, và đó là tất cả những gì Dulles cần nghe. Nước Pháp
không có ứng cử viên nào tốt hơn để đề nghị. Cả Hoàng đế Bảo Đại dễ sai bảo
đang sống tại Cannes cũng chẳng có ai. Vài tháng trước khi quân Pháp rút đi,
ông Diệm đã được đánh bóng cho hợp lệ. Ông đã bay từ Paris đến Sài Gòn, và
nhậm chức thủ tướng vào ngày tốt mà người Á đông gọi là ngày "song thất,"
ngày thứ bảy của tháng thứ bảy, ngày 7 tháng 7 năm 1954.
Landsdale đã cho ông Diệm một vài ngày để ổn định, và sau đó đã đến gặp ông
tại Dinh Gia Long hoa lệ, trước đây là nơi cư trú của thống đốc Pháp. Rảo bộ
xuống một trong các hành lang của dinh nầy, ông đã đụng vào cái mà sau này
ông mô tả là "một người đàn ông tròn trịa trong bộ âu phục màu trắng",
và hỏi xem Thủ tướng Chính phủ Diệm đang ở đâu.
Người đàn ông trả lời rằng “Tôi chính là Diệm đây”.
Đó là bước khởi đầu
của một cuộc hợp tác dài, bất hạnh mà Landsdale đã che chở cho Diệm, và
trong vòng một vài tháng đã cứu ông ta khỏi hai cuộc mưu toan đảo chính, mà
một cuộc đã bị dập tắt bằng cách hối lộ các nhà lãnh đạo phiến quân với 12
triệu đô-la của CIA. Sau đó, ông đã phát động các chiến dịch chống Cộng sản
mà Dulles đã gửi ông đến để tiến hành.
Các
chiến thuật của Landsdale lan tỏa từ phá hỏng các chiếc xe buýt của thành
phố Hà Nội cho đến mua chuộc thầy bói để tiên đoán sự khổ ải dưới nền cai
trị của Cộng sản. Một trong những kế hoạch lớn nhất của ông là giúp lập ra
một cuộc di cư của hàng trăm ngàn giáo dân Công giáo từ Bắc vào Nam, thúc
giục họ phải bỏ chạy với một chiến dịch gồm thông điệp phát thanh tuyên bố,
“Chúa Kitô đã đi vào Nam” và “Mẹ Maria đã rời miền Bắc”. Những
điều này không gây ra được cuộc nổi loạn mà Landsdale đã dự kiến, và với mỗi
ngày trôi qua, cuộc bầu cử cả nước càng đến gần hơn. Mọi người đều nhận ra
rằng nó sẽ đưa ông Hồ, người cha già dân tộc lên làm tổng thống của một nước
Việt Nam thống nhất. Eisenhower đã đoán rằng "có thể là tám mươi phần
trăm dân số" sẽ bầu cho ông Hồ. Điều này đặt cho người Mỹ một vấn nạn
nghiêm trọng. Khi một phụ tá mang đến Bộ trưởng Ngoại giao Dulles một điện
văn từ ông Diệm đề nghị một lối thoát, ông đã đọc nó ngay lập tức.
"Ông ta ngồi rất yên lặng," Paul Kattenburg Chánh Sự Vụ
chuyên trách Việt Nam của Bộ Ngoại giao nhớ lại. "Chúng tôi đều ngồi rất
lặng lẽ. Tôi có thể nhớ lại rõ rệt tiếng tích tắc của cái đồng hồ treo
tường, và hơi thở nặng nề của ông ta khi ông đã đọc xong tờ giấy – quay sang
chúng tôi, một ít người trong chúng tôi đã có mặt tại cuộc họp đó, và nói
rằng, 'Tôi không tin Diệm muốn tổ chức bầu cử, và tôi tin rằng chúng ta nên
hỗ trợ ông ta trong vụ này.’"
۞۞۞
Việt Nam dự trù bị chia đôi chỉ trong hai năm mà thôi. Điều ấy đã bị
thay đổi sau khi ông Diệm và Dulles quyết định không tổ chức cuộc bầu cử năm
1956 theo lịch trình. Không có cuộc bầu cử thì không thể có sự thống nhất.
Thay vào đó là hai quốc gia mới ra đời: Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam.
Vào cuối năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý mà, theo một phúc trình, ông
đã giành được 98,2 phần trăm số phiếu, ông Diệm đã lật đổ vua Bảo Đại và tự
phong mình làm quốc trưởng. Ông đã sử dụng quyền lực mới của mình để áp đặt
một bản hiến pháp cho ông được toàn quyền [cai trị]. Trong khi ông Hồ cai
trị miền Bắc Việt Nam theo phong cách truyền thống Cộng sản, thông qua một
bộ chính trị gồm các đồng chí tin cậy, ông Diệm đã lập một bộ chính trị của
riêng mình, lấy từ những bà con thân tín. Họ trị vì đất nước như là một gia
đình.
Người em trai nhỏ nhất của ông Diệm, Ngô Đình Cẩn, không nắm giữ chức vụ
chính thức nào nhưng đã cai trị miền Trung Việt Nam như một lãnh chúa phong
kiến. Anh trai trưởng, Ngô Đình Thục, là một tổng giám mục Công giáo và cũng
là một nhà kinh tài tham lam đã làm giàu bằng cao su, gỗ, và bất động sản.
Một người thứ ba, Ngô Đình Luyện đã trở thành đại sứ tại Anh. Kẻ quan trọng
nhất và nổi nhất là người em thứ tư của tổng thống, Ngô Đình Nhu, và bà vợ
thích khoa trương của Nhu. Ông Nhu, một kẻ ngưỡng mộ say mê Machiavelli, đôi
khi được gọi là "Rasputin người Việt," [Ghi chú của người dịch: Grigori
Yefimovich Rasputin là tên đạo sĩ, thuật sĩ Nga gian ác sống trong nội điện
của Nga Hoàng Tsar Nicholas II, và cũng là kẻ đã làm sụp đổ triều đại phong
kiến cuối cùng Romanov này của Nga] đã là cố vấn thân cận nhất và là
bản-ngã-hoán-vị của Tổng thống Diệm. Bà Nhu, một kẻ miệng lưỡi bảo vệ chế
độ, đã từng nói bà ta không sợ chết bởi vì "Tôi yêu quyền lực, và trong
đời sau, thậm chí tôi có cơ hội đạt được quyền lực còn mạnh hơn bây giờ."
“Bộ Chính trị” của Ngô Đình Diệm: TGM Ngô Đình Thục,
Cố vấn Ngô Đình Nhu và vợ là Trần Lệ Xuân, và “Lãnh chúa miền Trung” Ngô
Đình Cẩn
Quyết tâm của Mỹ để bảo vệ sự độc lập của Nam Việt Nam
khiến ông Hồ và các đồng chí của mình phát động cuộc chiến tranh chống thực
dân lần thứ ba của họ. Năm 1960, họ tuyên bố một chiến dịch quân sự nhằm vào
"việc tiêu diệt Đế quốc Mỹ và bè lũ Ngô Đình Diệm". Vài tháng sau đó, một
loạt các nhà lãnh đạo của các nhóm đối kháng chính trị và tôn giáo ở miền
Nam đã công bố thành lập một liên minh mới, Mặt trận Giải phóng Quốc gia
[Ghi chú của người dịch: Đúng ra là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam
Việt Nam: hay gọi tắt là Mặt Trận Giải Phóng, MTGP] để có thể đối đầu
với chính quyền ông Diệm về chính trị trong khi du kích bây giờ gọi là
Việt Cộng, tiến hành cuộc chiến tranh trên chiến trường.
Washington coi sự hình thành của Mặt trận Giải phóng Dân tộc chẳng qua chỉ
là một trò tuyên truyền giựt gân của Cộng sản. Đó là một lỗi lầm thảm thiết.
MTGP, một liên minh khá rộng của các đảng phái chính trị thiên tả, trí thức
thành thị, và các chuyên gia lớp trung lưu, phát triển thành một phong trào
mạnh mẻ trong nhiều tỉnh. Trong thời gian hai hoặc ba năm đầu hình thành, và
ở một mức độ nào đó, ngay cả về sau này, khi nó trở thành trực tiếp liên
minh với miền Bắc Việt Nam, nó có những quyền lợi khác hẳn với những quyền
lợi của người Cộng sản. Người Mỹ không bao giờ tìm cách thăm dò những khác
biệt ấy hoặc mở bất kỳ kênh liên lạc nào với lực lượng thường dân chống
Diệm.
Bộ trưởng Ngoại giao Dulles ngã bệnh, nghỉ hưu, và mất
năm 1958. Sau đó, Tổng thống Eisenhower dường như hết còn quan tâm đến Việt
Nam. Vào ngày 19 tháng 1 năm 1961, một ngày trước khi ông rời chức vụ, ông
đã giới thiệu tóm tắt cho Tổng thống-được bầu Kennedy về những điểm lộn xộn
trên thế giới. Có nhiều chuyện để nói. Chế độ thân Mỹ tại Lào đã bị sụp đổ.
Một cuộc nổi loạn chống thực dân đang hoành hành ở Algeria và một cuộc dấy
động khác dường như sắp bùng phát tại Congo. CIA đã đào tạo được một đội
quân bí mật để xâm lược Cuba với hy vọng lật đổ chế độ mới của Fidel Castro.
Căng thẳng đã dâng cao tại Berlin. Tuy nhiên phải mất vài tháng, cho Kennedy
mới nhận ra được những khía cạnh kỳ quặc của cuộc họp.
"Ông biết đấy," Kennedy tỏ sự ngạc nhiên với một phụ tá, "Eisenhower
không bao giờ đề cập đến nó, không bao giờ thốt lên từ ngữ ‘Việt Nam.'"
Trong nhiệm kỳ tổng thống của Kennedy, số binh sĩ Mỹ tại miền Nam Việt Nam
tăng từ 865 đến 16.500. Kennedy đã gửi phi cơ chiến đấu, trực thăng, pháo
binh nặng, và đủ các loại vũ khí khác, không có thứ nào có thể xoay chuyển
được chiến cuộc. Trong thực tế, như nhà báo và sử gia Stanley Karnow đã viết
sau này, Viện trợ Mỹ "thì nghịch lý, làm mất sinh lực của chế độ Diệm."
Viện trợ, chủ yếu là quân sự, đã làm Diệm càng tin rằng ông ta đang tiến
hành một cuộc xung đột qui ước và nó củng cố sự đề kháng của ông về các cải
cách chính trị, kinh tế và xã hội. Hơn nữa, các đội quân của ông càng lúc
càng miễn cưỡng đối đầu thẳng thừng với Việt Cộng, mà càng ỷ lại vào các
cuộc không kích và pháo kích của Mỹ để làm công việc cho họ. Điều này phù
hợp với Diệm, người đã chỉ thị các sĩ quan của mình nên tránh thương vong.
Trong quan điểm của ông ta, vai trò chính của họ không phải để chiến đấu
chống Việt Cộng mà để bảo vệ ông ta chống lại các cuộc đảo chính có thể xảy
ra.
Một trong những đặc phái viên đầu tiên của Kennedy gửi đến Việt Nam - sẽ còn
dài dài nhiều nữa - là Phó Tổng Thống Lyndon Johnson, người đã bay
tới Sài Gòn vào Tháng 5 năm 1961. Khi trở về, Johnson là một người tin tưởng
vào “lý thuyết domino", bị thuyết phục rằng nếu để Cộng sản chiếm được Nam
Việt Nam, thì không mấy chốc họ sẽ đẩy cuộc chiến của họ đến "bãi biển
Waikiki." Trong một bài phát biểu của mình, ông đã đi xa như khen ngợi Diệm
như là "Churchill của Đông Nam Á," mặc dù sau đó khi Karnow hỏi ông rằng ông
có thực sự tin điều đó không, ông ngập ngừng và trả lời "Cục cứt họ, Diệm
là thằng nhãi duy nhất mà chúng ta có ở đó."
Với dòng ngắn gọn ấy, Johnson kết tinh chính sách Hoa
Kỳ tại Việt Nam trong cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Diệm là
người thay chân Mỹ. Thiếu một nền tảng quần chúng, lôi ra từ một nhóm tôn
giáo mà chỉ đại diện cho 10 phần trăm dân số đất nước mình, bao quanh bởi
một gia đình tham nhũng và không màng đến công việc hàng ngày của chính phủ,
ông đã được lựa chọn bởi vì không ai khác phù hợp với đòi hỏi của người Mỹ.
Cũng như ở nhiều nước khác, người Mỹ tìm ở miền Nam Việt Nam một người lãnh
đạo vừa có thể là một người quốc gia làm hài lòng đám đông và vừa còn có thể
làm những gì Washington muốn, nhưng chỉ để thấy rằng họ không thể nào có cả
hai [điều kiện đó được].
Ông Diệm trở nên khó chịu với vai trò của Mỹ ngày càng tăng ở nước ông. Đã
hơn một lần ông than phiền với đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, Frederick Nolting,
rằng quân đội Mỹ chỉ làm gia tăng cường độ của cuộc xung đột bằng cách khiêu
khích những phản ứng mạnh mẽ từ phía Bắc. Dù vậy những toán lính, được gọi
là "cố vấn" như một cách để duy trì viễn tưởng rằng họ không tham
chiến, ồ ạt đổ vào. Giữa năm 1961 và 1963, họ tham gia vào hàng trăm trận
đánh, và máy bay Mỹ đã bay hàng ngàn xuất kích ném bom chống lại các vị trí
Việt Cộng. Trong cùng thời kỳ đó, 108 người Mỹ bị giết, và Hoa Kỳ bị mất 23
máy bay.
Ông Diệm than phiền về "tất cả các binh lính này tôi không bao giờ yêu cầu
họ đến đây." Trong một cuộc kinh lý Vịnh Cam Ranh, ông chỉ ra hải cảng và
nói với các phụ tá của ông, 'Người Mỹ muốn có một căn cứ ở đó, nhưng tôi
không bao giờ chấp nhận." Khi Đại sứ Nolting, sau một kịch bản được viết ở
Washington nói với ông rằng Hoa Kỳ muốn "chia sẻ tiến trình quyết định trong
lĩnh vực chính trị, kinh tế và quân sự," ông trả lời "Việt Nam không muốn
thành một nước bảo hộ." Người ta bắt đầu gọi ông ta là một kẻ được bảo hộ
lừng khừng, một khách hàng từ chối cư xử giống như một khách hàng, một kẻ
múa rối tự giựt lấy dây của riêng mình. Tồi tệ nhất lại đến khi người em
trai và cố vấn trưởng, Ngô Đình Nhu, gợi ý rằng có lẽ là thời gian đã đến để
thương lượng với Việt Cộng.
"Tôi chống chủ nghĩa cộng sản từ quan điểm của học thuyết, nhưng tôi không
chống cộng sản từ quan điểm chính trị hay nhân đạo," Ông Nhu đã nói với một
phỏng vấn viên truyền hình vào mùa xuân năm 1963. "Tôi xem những người
cộng sản như anh em, con cừu đi lạc. Tôi không nghiêng về một cuộc tấn công
chống lại những người cộng sản bởi vì chúng tôi là một đất nước nhỏ, và
chúng tôi chỉ muốn sống trong hòa bình."
Màn cuối trong vở kịch thống trị của Diệm đã hé mở. Vào ngày 8 tháng Năm,
Phật tử tụ tập ở Huế để đánh dấu ngày Đản sinh lần thứ 2.527 của Đức Phật.
Bạo quyền địa phương, Ngô Đình Cẩn - cũng là em trai của tổng thống - đã
đồng ý quyết định thi hành một nghị định cũ cấm quần chúng ăn mừng không
được treo cờ ngủ sắc của Phật giáo, mặc dù chỉ một vài ngày trước đó cả
thành phố đều phất phới biểu ngữ Công giáo đánh dấu kỷ niệm lần thứ 25 ngày
Tổng giám mục Ngô Đình Thục được thụ phong. Phật giáo đã bắt đầu một loạt
các cuộc biểu tình phản đối. Cảnh sát đã bắn vào họ, giết chết một người phụ
nữ và tám trẻ em.
Lãnh
đạo Phật giáo đã phản ứng bằng cách tung ra một chiến dịch toàn quốc chống
lại Diệm. Họ phân phát tờ rơi, gặp gỡ với các nhà báo nước ngoài và tổ chức
các cuộc biểu tình và tuyệt thực. Người dân hưởng ứng chính nghĩa của họ,
thường ít dính dáng gì đến tôn giáo. Họ là những người nghèo nổi lên chống
lại những người giàu, người bình dân bất chấp quyền lực của kẻ độc tài, và,
theo lời phóng viên David Halberstam của New York Times, "người Á đông
thế kỷ XX, phản đối chống lại những người Á đông già nua được uốn nắn từ một
quá khứ quan lại."
Khi ông Diệm đã không đáp ứng với phong trào này, các
nhà lãnh đạo Phật giáo đã thông báo rằng các nhà sư có thể tự sát như một
cách để biểu lộ độ sâu của sự tức giận của họ. Diệm coi thường mối đe dọa
này. Nhiều người Mỹ tại Việt Nam, bao gồm cả một số phóng viên tin tức, cũng
coi thường như thế. Một người không coi thường là Malcolm Browne.
Nhà sư đã tự thiêu cho đến chết vào sáng ngày 11 tháng
sáu có Pháp danh là Thích Quảng Đức. Ông ở tuổi sáu mươi bảy, đã thành một
tỳ kheo gần nửa thế kỷ, và được tôn kính như là một Bồ Tát, một người đang
trên đường đạt đến giác ngộ nhưng chọn từ bỏ nó để giúp đỡ những người khác
trở nên giác ngộ. Trong một lời tuyên bố mà các đồng tu của ông phân phối
sau khi ông chết, ông đã “kính cẩn” cầu xin Diệm tỏ "lòng nhân đức và lòng
từ bi" đối với tất cả các tôn giáo. Thành viên to mồm nhất của gia đình cầm
quyền, Bà Nhu, trả lời bằng cách giểu cợt cảnh tượng mà bà gọi là "nướng
thịt". Bà nói rằng "Hãy để họ tự thiêu. Chúng tôi sẽ vổ tay."
Không ai ở Washington coi nhẹ cuộc tự thiêu. Nó là một phần của một dòng
chảy đều đặn các tin xấu từ Việt Nam mà Tổng thống Kennedy và các phụ tá của
ông buộc phải đối mặt trong suốt mùa xuân và mùa hè năm 1963. Du kích quân
Việt Cộng đã thiết lập quyền kiểm soát hơn 20 phần trăm của miền Nam Việt
Nam và di chuyển tự do trong một vùng rộng lớn gấp đôi. Quân đội Nam Việt
Nam đã tõ lộ miễn cưỡng chiến đấu. Tham nhũng trong giới quan quyền, được
nuôi dưỡng bởi các chương trình viện trợ Mỹ phủ phê, đã lan tràn. Ông Diệm
mất sự ủng hộ của dân. Để giữ trật tự, ông buộc phải cai trị bằng đàn áp,
phần lớn được điều hành bởi người em trai và cố vấn trưởng, ông Ngô Đình
Nhu.
Một trong các quyết định đầu tiên của tổng thống Kennedy sau khi nhà sư tự
thiêu là thay thế Đại sứ Nolting, một người Virginia phong nhã đã trở nên
gần gũi với Diệm. Ông Kennedy xem xét việc đề nghị Landsdale, nhưng có một
quy tắc bất thành văn là không được bổ nhiệm viên chức của CIA làm đại sứ,
nên ông đã bỏ ý tưởng ấy. Thay vào đó, ông đã chọn một nhân vật hoàn toàn
khác hẳn, một trong những đối thủ chính trị lâu đời nhất của ông, Henry
Cabot Lodge, một trụ cột quý tộc của Đảng Cộng hòa.
Lodge đã đại diện cho tiểu bang Massachusetts tại Thượng viện cho đến năm
1952, khi ông mất ghế vào tay ông Kennedy. Sau sự thất bại ấy, Ngoại trưởng
Dulles sắp xếp cho ông ta làm Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, nơi ông đã đóng
vai trò hỗ trợ trong việc lật đổ Jacobo Arbenz ở Guatemala. Năm 1960, ông
Lodge là đồng ứng viên với Richard Nixon trên phiếu của đảng Cộng hòa mà
Kennedy và Lyndon Johnson đánh bại. Sự nổi danh của ông, kinh nghiệm ngoại
giao của ông, nền tảng chính trị mạnh mẻ của ông tại Washington, và sự thành
thạo về Pháp ngữ của ông đã làm cho ông thành một sự lựa chọn hợp lý cho
chức vụ ở Việt Nam. Kề cả cái phả hệ đảng Cộng hòa của ông. Kennedy và các
phụ tá của ông đều biết rằng chức vụ ở Sài Gòn đầy rủi ro và thích cái ý
tưởng có một đảng viên Cộng hòa để đổ lỗi nếu mọi việc bị sai quấy.
Ông Lodge tìm thấy Nam Việt Nam trong tình trạng hỗn
loạn khi ông đến Sài Gòn vào buổi tối ngày thứ Sáu, 23 tháng tám năm 1963.
Tình trạng bất ổn ngày càng tăng, khi có thêm cuộc tự thiêu của bốn nhà sư
Phật giáo, và đã làm Tổng thống Diệm đặt đất nước dưới luật giới nghiêm. Các
đội cảnh sát đã tấn công chùa chiền Phật giáo và bắt giữ hàng trăm nhà sư,
trong đó có ngài tăng thống Phật giáo tám mươi tuổi. Ở Huế họ đã đánh một
trận chiến đường phố ác liệt tám giờ liền chống lại những người biểu tình
Phật tử.
Ngày cuối tuần ấy tại Washington, trong một sự biểu lộ kinh hải của nhầm lẫn
và sai hiệu lệnh của chính quyền Kennedy đã vấp vào một tiến trình “thay đổi
chế độ” kết thúc bằng máu. Nó là đỉnh cao của tuần tranh cãi về cách đối phó
với Diệm. Một số trong chính quyền tin tưởng rằng ông vẫn còn là hy vọng tốt
nhất cho miền Nam Việt Nam. Những người khác đã bỏ rơi ông ta và phù phép
cho sự sụp đổ của ông.
Ngày thứ bảy, 24 tháng Tám, cả ba người ủng hộ Diệm mạnh nhất ở Washington
đã ra khỏi thủ đô. Ngoại trưởng Dean Rusk đang tham dự một trận đấu banh
Yankees ở New York, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara thì đang nghỉ mát
tại Wyoming, và Tổng thống Kennedy đang ở tại nhà nghỉ mát trên Cape Cod. Vì
thế bộ máy ngoại giao của Mỹ đều nằm trong tay của ba viên chức cấp thấp
hơn, tất cả đều muốn Diệm bị lật đổ.
Người hăng say nhất là Trợ lý Ngoại trưởng Ngoại giao
Roger Hilsman, chuyên gia trưởng của Đông Á Sự Vụ. Hilsman, đã một thời là
lính đặc công ở Miến Điện trong Thế chiến thứ II, coi mình là chuyên gia
trên cả hai việc chống nổi loạn và chính trị của Đông Dương. Vào ngày thứ
Bảy ấy, ông đã thảo ra một điện thư định mệnh gởi cho Lodge. Điện thư nầy ra
lệnh cho ông Lodge nói trực tiếp với ông Diệm rằng Hoa Kỳ "không thể chịu
đựng được nữa một tình huống mà trong đó quyền lực nằm hết trong tay của Nhu"
và yêu cầu rằng Diệm cắt đứt tất cả quan hệ chính trị với người em của mình.
Nếu Diệm "vẫn còn ngoan cố và từ chối," điện thư nói, "chúng ta phải đối mặt
với khả năng rằng chính Diệm không thể được duy trì."
"Phù hợp với các điều nêu trên," điện thư đã kết luận, “Đại sứ và các nhóm
trong nước cần khẩn trương xem xét lại tất cả việc khả thi thay thế lãnh đạo
và thực hiện các kế hoạch chi tiết làm sao chúng ta có thể thay thế Diệm nếu
điều này trở nên cần thiết. "
Buổi chiều hôm đó, Hilsman và một trong những đồng minh
chính của ông, Phụ tá Ngoại giao Everell Harriman, đi tìm George Ball, người
đang Xử lý thường vụ Bộ Ngoại giao trong khi sự Rusk vắng mặt. Họ tìm ra ông
ta trên sân Golf Road tại Maryland. Ball là thành viên thứ ba của bộ ba
chống-Diệm ở Bộ Ngoại giao. Ông thích điện thư của Hilsman và đồng ý điện
thoại Kennedy và khuyên được gửi đi Sài Gòn.
Vì lý do vẫn chưa được biết rõ ràng, tổng thống Kennedy
đã không tập trung vào mức độ nghiêm trọng của điện thư này. Ông có thể đã
bị phân tâm bởi những thú vui cuối tuần của ông. Ông George Ball đã dùng lời
lẽ đúng cách trong lối kêu gọi để trấn an tổng thống. Tổng thống Kennedy đã
chỉ sửa một thay đổi nhỏ trong tin nhắn, và rồi chấp thuận nó. Ông Kennedy
nói: "Geoge à, nếu Rusk và Gilpatrick đồng ý, thì tiến hành".
Không Rusk và cũng chẳng Phụ tá Quốc phòng Roswell
Gilpatrick được tham vấn, nhưng ông Ball đã không đề cập đến điều đó. Sau
khi gác điện thoại, ông gọi Rusk tại New York và nói với ông ta rằng ông
đang chuẩn bị để gửi một điện thư đến Sài Gòn mà Tổng thống Kennedy đã phê
duyệt. Ngoại trưởng Rusk, cũng như thói quen của mình, nói với họ rằng bất
cứ điều gì Tổng thống chấp thuận đều tốt đối với với ông ta. Thậm chí ông
còn tăng cường điện thư với một câu mới: "Ngài cũng có thể nói với các cấp
chỉ huy quân sự tương ứng, chúng ta sẽ cung cấp hỗ trợ trực tiếp cho họ
trong bất kỳ thời gian tạm thời khi cơ cấu chính quyền trung ương bị dứt
đoạn."
Theo thủ tục của Bộ Ngoại giao, một điện thư có tầm quan trọng như thế này
phải được chấp thuận không chỉ đơn giản bởi tổng thống và ngoại trưởng mà
còn bởi bộ trưởng quốc phòng, giám đốc CIA, và chủ tịch của ban Tham mưu
trưởng liên quân. Tất cả đã ngoài tầm liên lạc vào buổi tối thứ bảy ấy, thay
vào đó, Ball kiểm tra với các phụ tá của họ. Các quan chức ở cấp ấy né tránh
phủ quyết chỉ thị của tổng thống, và không ai giám làm vậy.
Một khi các nhóm chống Diệm đã yên tâm với những sự chấp thuận này, họ chỉ
cần lệnh tiến hành cuối cùng của tổng thống Kennedy. Ông Michael Forrestal,
một thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia, gọi tổng thống để xin phép.
Với sự ngạc nhiên, ông thấy tổng thống đột ngột do dự. Ông đã có những xét
lại. Ông Kennedy đã hòi rằng "Các ông có chắc mọi chuyện đều tốt đẹp không?"
Ông Forrestal tìm cách trấn an tổng thống, và thế là xong. Lúc 9 giờ 43 phút
tối hôm đó, một nhân viên tại Bộ Ngoại giao gởi điện thư đi. Các cuộc tranh
luận đúng ra phải có trước đấy đã nổ ra vào buổi sáng thứ hai.
Một Kennedy tức giận triệu tập các cố vấn ngoại giao của ông vào Nhà Trắng
và bắt đầu bằng việc khiển trách nghiêm khắc Hilsman, Harriman, Ball, và
Forrestal về cái mà ông gọi là "tính bốc đồng" của họ. Tướng Maxwell Taylor,
chủ tịch của Tham mưu Liên quân, cũng bực mình không kém. Ông nói ông sẽ
không bao giờ chấp thuận điện thư, và cáo buộc những người soạn thảo nó là
dàn dựng "một cuộc chạy nước rút hùng hổ" mà chỉ khả thi trong một ngày cuối
tuần. Phó tổng thống Johnson, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara, và giám đốc CIA
John McCone tất cả đều cảnh báo rằng việc lật đổ Diệm sẽ tạo ra nhiều vấn đề
hơn là nó giải quyết. Cuộc tranh luận kéo dài hơn bốn ngày họp hành, làm cho
Kennedy tức giận và nãn lòng. Ông than với một người bạn trong tuần ấy rằng
"Trời ơi! Chính phủ của tôi đang tan rã!"
Tại Sài Gòn, Đại sứ Lodge đã hăng say chuẩn bị cho cách
“thay đổi chế độ.” Ông đã gửi tín hiệu đến các tướng bất đồng và gởi một
loạt các loại điện thư đến Washington thúc giục hành động nhanh chóng chống
lại Diệm. Trong một bức đề ngày 29 tháng 8, ông cảnh báo rằng nếu Hoa Kỳ
không "ra tay nhanh" Nam Việt Nam sớm có thể rơi vào tay các chính trị gia
thân cộng hoặc ít nhất là trung lập.
Chúng ta đang lao vào vào một tiến trình lật đổ
chính quyền Diệm mà không còn đường rút lui nào đáng nể. Không có lối quay
trở lại bởi vì uy tín của Hoa Kỳ đã được cam kết công khai cho mục đích này
bằng biện pháp lớn, và sẽ trở nên hơn thế khi sự kiện bị rò rỉ ra ngoài.
Trong một ý nghĩa cơ bản hơn, theo tôi, không có chuyện quay trở lại vì cuộc
chiến không thể thắng được dưới một chính quyền Diệm.
Bản điện thư ấy rõ ràng gây ấn tượng với Kennedy. Một vài ngày sau khi nhận
được nó, ông ngồi trên bải cỏ của nhà nghỉ mát ở Cape Cod giành cho một cuộc
phỏng vấn truyền hình với Walter Cronkite của CBS. Khi ông Cronkite hỏi nếu
ông nghĩ rằng chính phủ Diệm có thể giành chiến thắng trong cuộc chiến
tranh, ông Kennedy đã cho một câu trả lời mà cũng là một tín hiệu cho Sài
Gòn: "Với những thay đổi trong chính sách và nhân sự thì tôi nghĩ rằng nó có
thể. Nếu nó không thực hiện những thay đổi ấy, tôi nghĩ rằng cơ hội chiến
thắng cuộc chiến sẽ không rất tốt."
Khi hai ông Diệm và Nhu nghe được điều này, họ hiểu rằng chế độ của họ đã
gặp nguy hiểm. Họ đành tìm một chiến lược mới. Ông Nhu quyết định đề xuất
một cuộc tiếp xúc hữu nghị với miền Bắc. Ngay sau đó, Mặt trận Giải phóng
cho biết họ sẵn sàng tham gia một chính phủ liên hiệp ở miền Nam, Tổng Thư
ký Liên Hiệp Quốc U Thant kêu gọi “trung lập hóa” miền Nam, và sự thống nhất
cuối cùng của Việt Nam; Tổng thống Charles de Gaulle của Pháp tán thành ý
tưởng; và đại sứ Pháp tại Sài Gòn bắt đầu làm việc bí mật với một đồng
nghiệp Ba Lan để sắp xếp địa chỉ liên lạc giữa các chính phủ của miền Bắc và
miền Nam Việt Nam, mặc dù không đủ bí mật để ngăn CIA biết được họ đang làm
những gì.
Chính quyền Kennedy đang lựa chọn giữa hai sự chuyển đổi khủng khiếp là hỗ
trợ một chính phủ tham nhũng và mất lòng dân và đang thua trận, hoặc chống
lưng cho một cuộc đảo chính lật đổ chính phủ ấy. Từ những ưu điểm lịch sử,
thực là hợp lý để hỏi tại sao không có ai gợi ý về sự lựa chọn thứ ba hiển
nhiên. Hoa Kỳ có thể đơn giản rửa tay khỏi cuộc khủng hoảng và để cho dân
Việt Nam tự giải quyết. Điều đó rất có thể sẽ dẫn đến việc thành lập một
chính quyền Cộng sản hay thân Cộng trên toàn bộ đất nước, nhưng đó, vẫn là
những gì cuối cùng đã xảy ra. Một cuộc rút quân vào thời điểm này đã có thể
cứu hàng trăm ngàn sinh mạng, tránh sự tàn phá của Việt Nam, và ngăn cho Hoa
Kỳ một chấn thương quốc gia lớn nhất kể từ cuộc nội chiến. Tại sao không có
ai đề nghị điều đó?
(Xxem tiếp phần 2)
Trần Thanh Lưu
Nov. 2009