bản in |
¿ trở ra mục lục
| 29 tháng 3, 2009 |
PHẦN II
◎◎◎
CHƯƠNG 10
HẬU QUẢ: CON NGƯỜI TRONG XÃ HỘI KI-TÔ ĐÃ MẤT HẾT TÍNH NGƯỜI
Tìm hiểu trong thánh kinh, tìm hiểu
phương cách rèn luyện và nội dung những dạy của Nhà Thờ
Vatican trong chính sách “đào tạo thanh thiếu niên theo tinh
thần công giáo”, các nhà sử học thấy rằng những bài kinh
thánh chỉ là một phần trong những thành phần nòng cốt của
chủ trương “biến con người có văn hiến thành con súc sinh”
để cho Nhà Thờ Vatican dễ dàng lợi dụng và khai thác. Vì
thế mà chúng tôi mới dùng nhóm chữ “Hậu quả: Con
người trong xã hội Ki-tô đã biến thành con người súc sinh”.
Thiết tường dùng nhóm chữ trên đây mới nói lên được thực
chất của chính sách đào tạo con người của Giáo Hội La Mã.
Cũng vì vậy mà trong bài viết đăng trong mục Thiên Hạ Phong
Trần của tờ tuần báo Việt Nam Mới phát hành tại Seattle
trong số ra ngày 23/12/1997 và số ra ngày 30/12/1997,
nhà báo Long Ân có đưa ra nhận xét rằng đạo Thiến Chúa Lã Mã
đã biến tín đồ thành con người súc sinh. Dưới đây là nguyên
văn của lời nhận xét này:
“Con người đã nhân danh tôn giáo để
làm những chuyện điên cuồng nhất, đã nhân danh tôn giáo để
biện minh cho quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con
người đã phản lại tôn giáo, đã chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc
tìm kiếm chính mình, đã cúi đầu đi trên bốn chân để từ con
người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.”[1]
Cũng nói về thực trạng này, ông
Charlie Nguyễn viêt như sau:
“Trong kinh cầu ông Thánh Phan-xi-cô
Xa-vi-e có những câu như: "Ông Thánh Phan-xi-cô soi sáng
phương Đông... là đá tảng đỡ Hội thánh Phương Đông... Ông
Thánh Phan-xi-cô phá tan đạo bụt thần... Ông Thánh
Phan-xi-cô là lịnh rao tiếng Đức Chúa Thánh Thần cho những
dân mọi rợ" (NK 782-791). Với những câu kinh nói trên, rõ
ràng Giáo hội Công Giáo Việt Nam đã công khai bày tỏ ý muốn
"phá tan đạo Phật" và công khai nhục mạ các dân tộc Đông
phương, trong đó có Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, Đại Hàn,
Tân Gia Ba, Thái Lan... là những dân tộc mọi rợ! Quê hương
của Phan-xi-cô là Tây Ban Nha so với những con rồng Châu Á
thôi chứ chưa cần phải so sánh với Nhật Bản cũng đủ thấy
cách xa nhau một trời một vực. Nếu dịch các câu kinh này ra
tiếng Tây Ban Nha cho họ đọc, chắc chắn những người Tây Ban
Nha có liêm sỉ phải cảm thấy xấu hổ.
Chúng ta cần phải hiểu thế nào là
mọi rợ. Theo tôi thì người Công Giáo hiện nay còn
đang ở trong tình trạng rất mọi rợ về tâm linh và còn lâu họ
mới có thể trở thành người văn minh về phương diện này.
Trước hết, họ luôn luôn mang tâm cảm là những "con chiên"
tức những con cừu non (Lamb: young sheep). Giống
cừu, nhất là cừu non, thường rất ngu, chúng chỉ hùa theo bày
như chuyện những con cừu của Panurge mà học sinh trung học
thời trước đã học qua những giờ về Littérature Francaise đều
biết. Muốn trở thành người Việt Nam bình thường, người
Công Giáo phải trải qua nhiều bước trong quá trình tiến hóa
tâm linh mới đạt được. Bước đầu tiên họ phải gạt bỏ cái mặc
cảm là bầy chiên ngu ngốc của Vatican để nhận ra nhân cách
con người của mình. Nghĩa là họ phải trải qua
quá trình tiến từ súc vật để trở thành người đứng thẳng
(Homo Erectus).
Sau đó, họ cần phải loại bỏ cái thói
xấu thích ăn thịt người (Cannibal) dù chỉ là ăn thịt người
tưởng tượng khi họ xếp hàng lên phía bàn thờ cố đạo cho
"Rước Mình Thánh Chúa". Phép bí tích Mình Thánh Chúa đã biến
người Công Giáo thành những kẻ ăn thịt người vừa man rợ vừa
ngây ngô đến tức cười sống giữa xã hội văn minh của loài
người chúng ta. Cách đây vài chục năm, tôi đã có lần lên
chịu lễ nhưng tôi không nuốt bánh Thánh. Tôi ra khỏi nhà
thờ, nhổ bánh Thánh xuống đất và dùng gót giầy đạp lên nó.
Tôi đạp lên bánh Thánh với cảm giác như mình đang hết sức
đạp thẳng vào Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ và giáo hoàng ở
Vatican. Nhờ hành động này, tôi cảm thấy đã tiến hóa một lúc
tới hai bước: Một là tôi từ bỏ thân phận làm con cừu của
Vatican để "trở lại" làm người. Đồng thời tôi đã tiến
một bước nhảy vọt về tâm linh từ một tên mọi
rợ dã man ăn thịt người để "trở lại" thành người bình thường
trong xã hội. Sau khi trở lại làm người bình
thường, tôi phải học hỏi về cội nguồn dân tộc và nhận thức
được giá trị rất cao của nền văn hóa nhân bản của tổ tiên
chúng ta. Phải trải qua một quá trình tự giáo dục và chiến
đấu với bản thân hết sức quyết liệt, tôi mới có thể cải hóa
tâm linh của mình từ một tín đồ Công Giáo để tiến lên làm
một người Việt Nam bình thường như mọi người Việt Nam bình
thường khác. Cho tới bây giờ, tôi mới dám tự hào được làm
một người Việt Nam bình thường! Khi bình tâm nghĩ lại tôi
cảm thấy đồng bào Công Giáo của mình thật đáng thương vì họ
còn ở trong tình tạng bán khai tâm linh mà chính họ không
biết nên đã quay ngược chê dân tộc mình là mọi rợ. Thật là
một sự đau xót vô cùng.”[2]
Với những kinh nghiệm bản thân là một
tín đồ Ki-tô từ nhiều đời, đã từng là chủng sinh theo đuổi
học nghề làm linh mục, đã từng chứng kiến tận mắt những hành
động tội ác của thân phụ ông và những người đồng đạo của ông
trong thời Kháng Chiến 1945-1954, và đã từng nắm giữ chức
vụ thẩm phán trong tòa án quân sự của các chính quyền đạo
phiệt Ca-tô tại miền Nam trong nhiều năm trước ngày
30/4/1975, ông Charlie Nguyễn tức Bùi Văn Chấn đã cho chúng
ta thấy rõ nỗi lòng ray rứt và những bước đường chiến đấu
trong nội tâm của ông để thoát khỏi cái thân phận con người
súc sinh để trở về con người bình thương giống như những
người Việt Nam bình thường khác.
Bản văn trên đây của ông Charlie Nguyễn
cũng cho chúng ta thấy rõ các kinh sách công giáo (được dùng
để đào tạo con người theo tinh thần công giáo của Nhà Thờ
Vatican) đã gây tác hại cho người công giáo Việt Nam như thế
nào đúng như những gì mà chúng tôi đã trình bày trong các
Chương 8 và Chương 9 ở trên! Phần dưới đây, chúng tôi sẽ nêu
lên một số những con người súc sinh cụ thể có danh tính rõ
ràng trong xã hội Ki-tô giáo do chính sách ngu dân và giáo
dục nhồi sọ của Nhà Thờ Vatican tạo nên đúng như các lời
nhận xét của Nhà Báo Long Ân và của học giả Charlie Nguyễn
như đã trình bày ở trên và cũng là đúng như ý mong muốn của
Nhà Thờ Vatican.
*
* *
Thánh kinh viết rằng:
"Đức Chúa Trời dựng nên lòai người
như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức
Chúa Trời. Ngài dựng nên người nam cùng người nữ.” (“So
God created man in His own image; in the image of God he
created him, male and female He created them.”[3]
Nếu tìm hiểu sâu rộng trong Cựu Uớc cũng như trong Tân Ước, chúng ta sẽ thấy
rằng, những con người được Thiên Chúa Jehovah tạo ra không phải chỉ theo hình
hài của Thiên Chúa mà còn theo cả những ác tính cực kỳ ghê tởm của Ngài. Hình hài và những
ác tính này của Thiên Chúa Jehovah lại cũng được các giáo
hoàng và các vị chức sắc cao cấp cũng như tất cả các giáo sĩ
trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội coi như là khuôn vàng
thước ngọc và triệt để theo gương bắt chước rồi phát triển
tối đa để thỏa mãn thú tính sống đời loạn luân, loạn dâm,
phi luân, gian tham, tàn ngược và cực kỳ man rợ trong xã
hội loài người. Vấn đề này cũng đã được trình bày trong
Chương 7 ở trên và sẽ được trình bày với nhiều chi tiết hơn
trong Chương 13 ở sau. Phần trình bày trong Chương 7 cho
chúng ta thấy rõ là hầu hết các nhà lãnh đạo Giáo Hội La Mã
cũng như giới giáo sĩ Ca-tô đã triệt để tuân hành đúng theo
lời dạy ghi trong Thánh Kinh để sống đời loạn luân, phi
luân, dâm loàn, gian tham, tàn ngược đúng như những lời lẽ
ghi trong Thánh Kinh.
Chương 8 cho chúng ta thấy Nhà Thờ
Vatican đưa ra chủ trương phải nắm độc quyền giáo dục đề đào
tạo thanh thiếu niên theo tinh thần Công Giáo, nghĩa là làm
cho giáo dân và nhân dân dưới quyền cũng mất hết nhân tính
với thâm ý để cho họ sẽ noi gương các giáo hoàng và giới tu
sĩ áo đen sống đời loạn luân phi luân, dâm loan, gian tham,
tàn ngược, giống y như những lời dạy trong Thánh Kinh như đã
trình bày trong Chương 7 ở trên. Đây là nếp sống văn hóa hay
nếp sống đạo lý trong xã hội Ki-tô giáo. Nền đạo lý quái
đản này đã sinh sản ra những vụ án và những chuyện lọan
luân, phi luân, dâm loàn, v.v..., cũng ghê gớm không khác gì
những chuyện được ghi chép trong Thánh Kinh và cũng không
khác gì những hành động ghê tởm của các giáo hoàng và giới
tu sĩ trong Giáo Hội. Vấn đề này đã được trình bày trong
Chương 7 ở trên và sẽ nói rõ đậm nét với nhiều bằng chứng
lịch sử trong Chương 13 ở sau.
Thiết nghĩ rằng, đây là nếp sống văn
hóa Ki-tô do Nhà Thờ Vatican chủ tâm tạo nên. Nó là những
nếp sống văn hóa không còn một chút gì gọi là văn hiến, vì
rằng, như đã nói ở trong Chương 8, nó đã hủy diệt mất cái
tình yêu hồn nhiên thiên bẩm của con người đối với
con người. Tình trạng này đã khiến con người sống theo nếp
sống văn hóa Ki-tô trở thành những hạng người bất nhân và
phi luân giống như loài súc sinh. Đây là sự kiện có thật đã
và đang xẩy ra ở trong các cộng đồng tín hữu Ki-tô ở Âu Mỹ
cũng như ở trong các cộng đồng Ki-tô người Việt. Một trong
những bằng chứng này là, đọc các diễn đàn E-mail của người
Việt hải ngọai tại Bắc Mỹ, người viết được biết họ chuyển
cho nhau mấy câu thơ mang năng tính cách phản nhân luân và
dã man giống y hệt như lời dạy trong Thánh Kinh và giống y
hệt như lời dạy của Nhà Thờ Vatican mà chúng tôi đã nêu lên
trong Chương 7 và Chương 8 (Mục II) ở trên. Dưới đây là
những câu thơ quái đản này:
Nếu cha tôi mà theo Cộng Sản,
Tình cha con đứt đoạn không thương.
Một mai đây giữa chốn sa trường,
Tôi sẽ nhắm thẳng ngực người mà bắn.[4]
Rõ rà là nội dung hay tinh thần của bốn
câu thơ trên đây là do chịu ảnh hưởng sâu nặng của tinh thần
lời dạy của Giáo Hoàng Paul IV (như đã nói ở trên) và của
lời Chúa Jesus đã phán trong Matthew (10: 34-37).
Tóm lại, bốn câu thơ "phản nhân luân”
này thực sự là thành quả của chính sách đào tạo con người “theo
tinh thần Công Giáo” của Nhà Thờ Vatican. Dưới đây,
chúng tôi sẽ xin ghi lại một số những con người tiêu biểu
được Nhà Thờ Vatican rèn luyện “theo tinh thần Công Giáo” đã
hành xử không khác gì những chuyên lọan luân, phi luân, gian
tham, tàn ngược và cực kỳ dã man ở trong thánh kinh và đời
sống hàng ngày của các giáo hoàng và giới tu sĩ Ca-tô như
đã trình bày nơi các Phần II và Phần III trong Chương 7 ở
trên:
Chuyện thứ nhất: Đây là vụ
vừa là tàn sát vừa là hành hạ nạn nhân một cách cực kỳ man
rợ chưa từng thất trong lịch sử nhân loại ngọai trừ đối với
tín đồ Ca-tô và Nhà Thờ Vatican. Chuyện này được sách
Smokescreens ghi lại với nguyên văn như sau:
“Một vụ tàn sát người tập thể
tương tự như vậy cũng xẩy ra ở Ái Nhĩ Lan vào năm 1641. Bọn
tín đồ Ca-tô chủ mưu chọn ngày 23 tháng 10 là ngày lễ kỷ
niệm Ignatius Loyola, người sáng lập ra Dòng Tên: Chúng dự
trù một cuộc tổng nổi dậy trong toàn quốc. Tất cả những
người theo đạo Tin Lành đều phải bị giết ngay tức thì. Để
làm cho những người Tin Lành không chú ý đến việc làm của
chúng, chúng tỏ ra rất là tử tế với họ. Sáng sớm ngày vùng
dậy, bọn chủ mưu đều có võ trang đi lùng bắt những người Tin
lành. Gặp người nào là chúng giết người đó, không một chút
thương xót. Những người Tin Lành này chưng hửng trong kinh
hoàng. Họ đã sống trong yên bình từ nhiều năm. Giờ đây, gặp
cảnh ngộ như vậy, họ không biết phải chạy trốn đi đâu. Những
kẻ tàn sát họ lại là những người láng giềng, bạn bè và bà
con của họ. Phụ nữ bị trói vào cọc (cột) lột trần đến
thắt lưng, vú bị cắt đứt ra để cho máu chẩy cho đến chết.
Những đàn bà mang thai thì bị trói và treo vào cành cây.
Chúng mổ bụng nạn nhân lấy thai nhi ra để cho chó ăn.
Trong khi đó thì những ông chồng của nạn nhân bị cưỡng bách
phải đứng nhìn những cảnh dã man như vậy.”
Nguyên văn: (“A similar massacre
occurred in Ireland in 1641. The conspirators picked October
23, the feast of Ignatius Loyola, the founder of the Jesuit
Order. They planned a general uprising for the whole
country. All Protestants would be killed at once. To throw
them off guard while the plan was being made, extra acts of
kindness were shown to the Protestants. Early in the morning
the conspirators were armed and every Protestant they could
find was immediately murdered. They showed no mercy. From
children to the aged, they were killed. Even invalids were
not spared. They were caught by complete surprise. They had
lived in peace and safety for years and now find no place to
run. They were massacred by neighbors, friends, and even
relatives. Death often was the least they had to fear. Women
were tied to posts, stripped to the waist, their breast cut
off with shears and left to bleed to death. Others who were
pregnant were tied to tree branches, their unborn babies cut
out and fed to the dogs while the husbands were forced to
watch.")[5]
Chuyện thứ 2: Đây là vụ tàn
sát người một cách cực kỳ dã man để trả thù cho Chúa cũng
xẩy ra tại Croatia trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Chuyện này
cũng được sách Smokescreens ghi lại chuyện này như sau:
“Nạn nhân của bọn mật vụ Ustachi
(đạo phiệt Gia-tô Croatia trong thời bạo chúa Ante Pevalich)
không những bị tra tấn tàn nhẫn về thể xác, mà còn bị hành
hạ đau đớn về tinh thần và lương tâm nữa. Một trường hợp vô
cùng dã man và tàn ác chưa từng thấy như trường hợp dưới đây
đã được ghi lại và phối kiểm qua nhiều nhân chứng có tuyên
thệ: “Tại Nevesinje, bọn mât vụ Ustachi càn bắt hết tất
cả cha mẹ (vợ chồng) và bốn người con của một gia đình người
Serb (theo đạo Chính Thống). Người cha bị giam riêng ở một
chỗ khác, người mẹ và 4 người con bị giam ở một chỗ khác.
Suốt trong 7 ngày giam giữ, chúng không cho nạn nhân ăn uống
gì hết. Rồi thì chúng mang đến cho người mẹ và 4 đứa con mỗi
người một miếng thịt nướng khá lớn và nước uống thừa thãi.
Sau nhiều ngày không được ăn uống, những người bất hạnh này
ăn hết sạch miếng thịt nướng đó. Sau khi ăn xong, bọn mật vụ
Ustachi mới nói với gia đình nạn nhân rằng đó là thịt người
cha của họ."
Nguyên nhân: "The atrocities of the
Ustachi far surpassed mere physical torture. Their victims
were tormented emotionally as well. An example of the
unprecedented brutality is recorded by the sworn testimony
of several witnesses regarding the following incident. At
Nevesinje, the Ustachi arrested one whole Serbian family
consisting of father, mother and four children. The mother
and children were separated from the father. For seven days
they were tortured by starvation and thirst. Then they
brought the mother and children a good-sized roast, and
plenty of water to drink. These unfortunates were so hungry
that they ate the entire roast. After they finished, the
Ustachi told them that they had eaten the flesh of their
father.” [6]
Ở Việt Nam: Đạo Ca-tô được các ông
giáo sĩ của Nhà Thờ Vatican đem đến Việt Nam để rao truyền
và đem theo cả “cái truyền thống trả thù cho Chúa một
cách cực kỳ dã man” của “cái tôn giáo phản nhân luân
ác ôn” này để cấy vào đầu óc cừu non người Việt. Vì
thế, tín đồ Ca-tô người Việt mới có những hành động cực kỳ
dã man giống như những người đồng đạo của họ ở Âu Châu. Vấn
đề này sẽ được trình bày đầy đủ trong Chương 13 (Phần III) ở
sau.
Chuyện thứ 3: Chuyện loạn luân
và sát nhân này là do ảnh hưởng trực tiếp trong thánh kinh
được ghi rõ ràng trong Sáng Thế Ký (19:30-38), và do những
tấm gương đời sống loạn dâm, loạn luân cũng những hành động
cực kỳ man rợ của các giáo hoàng như John XII (955-963), Leo
VIII (963-964) Benedict VI (973-974), Benedict IX
(1033-1044), John XII (1316-1334), John XXIII, (1410-1415),
Pius II (1458-1464), Innocent VIII (1484-1492), Sixtus IV
(1471-1484), Alexander VI (1492-1503), v.v... Các nhà viết sử
đều khẳng định rằng hầu hết các giáo hoàng và giới tu sĩ
trong Giáo Hội La Mã đều có nếp sống bê bối thối tha, loạn
luân, dâm loàn không kém gì các giáo hoàng trên đây. Nếp
sống này quả thật là những chuỵện rất bình thường đối với
họ và rất phổ quát trong Giáo Hội. Bình thường và phổ quát
đến nỗi rằng Giáo Hoàng Sixtus III (432-340) khi bị bắt đem
ra xử về tội dụ dỗ một bà nữ tu, thì ông ta dùng ngay lời
Chúa Jesus nói ngày xưa để biện minh cho cái tội dụ dỗ một
"dì phước" thành người tình của ông ta. Đó là chuyện để
đời. Câu chuyện này được Giáo-sĩ Peter de Rose kể lại trong
cuốn Vicars Of Christ với nguyên văn lời của Giáo Hoàng
Sixtus III như sau:
“Khi bị ra trước vành móng ngựa xử
lý về tội dụ dỗ một vị nữ tu, Giáo Hoàng Sixtus III đã tự
bào chữa bằng cách viện dẫn lời Chúa Jesus rằng, “Trong đám
các ngươi, kẻ nào tự thấy mình không có tội thì hãy nhào ra
mà liệng đá vào người đàn bà đáng thương này trước nhất."
Nguyên văn:"When Pope Sixtus III (432- 440)
was put on trial for seducing a nun, he ably defended
himself by quoting Christ's words, "Let him who is
without
fault among you throw the first stone."
[7]
Chính vì thực trạng này mà trong xã hội
Ki-tô mới có những chuyện cực kỳ ghê tởm, giống y
như những
chuyện ở trong Thánh Kinh và giống y như đời sống
nhơ nhớp đầy tội ác của các nhà lãnh đạo của Giáo Hội La Mã
và của giới tu sĩ Ki-tô mà người Pháp gọi là “bọn qua đen”.
Một trong những chuyện cực kỳ ghê tởm này mới xẩy ra gần đây
và được tờ The News Tribune (Tacoma, Washington) số ra ngày
Thứ Năm 19/3/2009 đăng nơi trang A3 như sau:
“Tin từ Poelton Austria: Người
cha nhận tội vì đã giữ con gái trong buồng giam trong nhiều
năm: Hôm Thứ Tư (18/3/2009), ngồi trước vành móng ngựa,
Josef Fritzl vội vàng nhận tất cả những tội ác - một đặc
tính làm mọi người ngạc nhiên trong những tiết lộ cho biết
ông ta đã cầm tù người con gái của ông ta cả 24 năm trong
một buồng giam nơi mà ông ta đã hãm hiếp nạn nhân và sinh đẻ
tới 7 người con rất là kín đáo. Tội ác này làm cho cả thế
giới chú ý: Fritzl đã bình thản nhìn nhận tội ác trong đó
có cả tội sát nhân (sát hại một trong 7 đứa trẻ này).
Fritzl nói rằng ông ta xúc động khi nghe những lời khai đau
khổ của người con gái của ông qua một cuôn băng ghi âm.
Fritzl, 73 tuổi, nhìn nhận hết tất
cả tội ác nêu lên trong bản cáo trạng và nói với các quan
tòa trong phiên xử rằng đó là những “hành động bệnh hoạn của
ông ta.”
Nguyên văn: “St. Poelton,
Austria.- Father pleads guilty to keep daughter in dungeon
for years: Josef Fritzl abruptly pleaded guilty to all of
the charges against him Wednesday – a surprising twist (đặc
tính) amid discolsures that the daughter he imprisoined for
24 years in a dungeon where she bore him seven children
secretly sat in on the trial.
Adding intrigue to a case that
has drawn worldwide attention, Fritzl calmly acknowledged
his guilt, including to homcide, and said his change of
heart came after hearing his daughter’s heart wrenching
videotaped testimony.
“I declare myself guilty to
the charges in the indictment,” Frirzl, 73, told a panel of
judges, referring to what he called “my sick behavior.” A
Verdicts and sentences were expcted today after chosing
statements.”[8]
Chuyện này cũng được Báo Sàigòn Nhỏ số 640 ra
ngày 20/3/2009 tóm lược và dăng nơi trang 12 với nguyên văn
như sau:
“Áo: Kẻ loạn luân ra tòa.- (SGN
– TH) – Josef Friztl giấu mắt sau chiếc kẹp tài liệu màu
xanh và nói với luật sư: “Tôi sợ lắm” trước phiên tòa xử y
về tội giam giữ và cưỡng hiếp con gái suốt 24 năm trời.
Fritzl tiếp tục giấu mặt sau kẹp tài liệu này khi thẩm phán
bắt đầu làm việc. Phiên tòa được bảo vệ an ninh nghiêm ngặt
diễn ra ở thành phô St. Pollen các thủ đô Áo 65 km, hôm nay.
Fritzl bị buộc tội giết người, cưỡng hiếp, loạn luân, giam
và bắt con gái làm nô lệ một cách bất hợp pháp….
Giới chức Áo cho hay Fritzl
tống giam và liên tục cưỡng hiếp con gái - Elizabeth -
trong gần một phần tư thế kỷ dưới căn hầm không cửa sổ mà
ông ta xây ở thị trấn Amstetten. Elizabth sinh cho ông ta 7
đứa con, trong đó một đức chết khi vừa ra đời. Công tố việ
truy tố Fritzl tội giết người vì cho rằng đứa bé này có thể
sống nếu y đưa nó đi bệnh viện.
Ba trong số những đứa con lớn
lên dưới căn hầm ở Amstetten chưa từng thấy ánh nắng mặt
trời cho tới tháng 4 năm ngóai (2008) khi vụ việc được phanh
phui. Ba đứa khác được bà ngoại nuôi dưỡng ở căn nhà trên
mặt đất. Những đứa bé này cùng với Elizabeth được điều trị
tại bệnh viện tâm thần. Họ đang sống ở một nơi cách biệt và
được đảm bảo an ninh.
Không một nạn nhân nào sẽ ra mặt làm
chứng trước tòa. Thay vào đó, 8 thành viên bồi thẩm đoàn sẽ
xem đoạn băng ghi lại lời khai của Elizabeth và một trong số
những người anh của cô.”[9]
Không ai chối cái được tên tội đồ loạn
luân và sát nhân Josef Friztl này sinh ra và lớn lên
trong xã hội Ki-tô giáo và được rèn luyện theo tinh thân
Ki-tô giáo để “sống theo đức tin Ki-tô”, nghĩa là
sống theo tinh thần thánh kinh Ki-tô và sống theo gương mẫu
của các nhà lãnh đạo và giáo sĩ Ki-tô. Kết quả là nó đã hành
xử đúng như những tấm gương loạn luân, phi luân và dã man
như đã xẩy ra lên trong thánh kinh, trong giáo triều Vatican
và trong giới giáo sĩ Ki-tô mà chũng tôi đã trình bày trong
Chương 7 và Chương 8 ở trên.
Chuyện thứ 4: Dưới đây là một
sản phẩm của nền đạo lý vị kỷ với đặc tính súc sinh mà người
viết nghĩ rằng ở các xã hội theo tam giáo cổ truyền của Đông
Phương chưa bao giờ có. Con người súc sinh này đã được các
cơ quan truyền thông Hoa kỳ loan tin đầy đủ. Dưới đây là bản
tin do tờ báo The Columbian (Vancouver, WA) số ra ngày
19/12/1994 nói sơ qua về hành động súc sinh của con người
súc sinh này đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong lòng
xã hội của những người có niềm tin tuyệt đối vào ông Chúa
Cha Jehovah và Chúa Con Jesus. Nguyên văn bản tin này như
sau:
"Tội ác của tên tội đồ Jeffrey
Dahmer thật là tàn ác ghê gớm hầu như là không thể nào xẩy
ra trong một xã hội văn minh: giết người, băm chặt nạn nhân
ra từng miếng mà còn ăn thịt cả 17 thanh thiếu niên nạn
nhân. Cho nên không có ai tỏ ra thương sót khi hay tin nó
bị đánh chết ở trong khám đường Wisconsin trong tuần này."
Nguyên văn: "His crimes were so horrific as to be
almost umimaginable in civilized society: killing,
multilating and sometimes cannibalizing 17 young men and
boys. So there were no outpouring of sympathy when Jeffrey
Dahmer was brutally murdered on Wisconsin prison this
week..."[10]
Tên tội đồ Jeffrey Dahmer sát hại 17
thanh thiếu niên, rồi chặt ra từng mảnh, đem chứa trong tủ
lạnh để ăn dần. Sự kiện này làm cho nhân lọai phải bàng
hoàng không thể tưởng tượng được trong một xã hội văn minh
như ngày nay lại có một chuyện kinh tởm ghê gớm như vậy! Ai
cũng biết rằng thằng Jeffrey Dahmer sinh ra, lớn lên và
trưởng thành trong xã hội văn minh Ki-tô. Sự kiện này khiến
cho người viết đặt ra vấn đề là những hành động tội ác kinh
tởm ghê gớm như vậy có phải là do ảnh hưởng của những lời
dạy ở trong Thánh Kinh cũng như trong những tín lý Ki-tô,
trong giáo luật, và cũng là do ảnh hưởng của những hành động
cực kỳ bạo ngược, hết sức dã man và vô cùng tàn ác của các
Đức Thánh Cha, của giới tu sĩ mà người viết đã nêu đích danh
trong Chuơng 7
ở trên trong cái tôn giáo quái đản nảy không?
Viết đến đây, người viết nhớ lại bản
văn của ông Charlie Nguyễn nói về cái tục lệ “ăn thịt
người và uống máu người” trong đạo Ki-tô được diển
ra dưới
hình thức “rước lễ” mà chúng tôi đã trích dẫn ở trong phần
đầu của chương sách này. Có thể nói rằng hành động man rợ
này của tên tội đồ Jeffrey Dahmer là do ảnh hưởng trực tiếp
của nếp sống văn hóa Ki-tô gây ra là MỘT trong những NGUYÊN
NHÂN đã khiến cho văn hào Voltaire gọi đạo Thiên Chúa La Mã
là “cái tôn giáo ác ôn” và học giả Henry Guillemin
gọi Giáo Hội La Mã là “cái giáo hội khốn nạn”
(Malheureuse Église).
Người viết không biết các bậc thức giả trong đó có
Giáo Hoàng Benedict XVI cũng như các vị chức sắc và tu sĩ
trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mã có bao giờ nghĩ
như vậy không.?
Thực ra, trong gần hai ngàn năm qua,
Giáo Hội La Mã, từ Giáo Hoàng cho đến các vị chức sắc cao
cấp trong giáo triều Vatican, các ông hồng y, tổng giám mục,
giám mục, linh mục và giáo dân đã liên tục có những hành
động tội ác không kém gì tội ác của tên tội đồ Jeffrey
Dahmer.
Chuyện thứ 5: Đây là chuyện con
bắn chết cha xẩy ra ở thành phố Port Orchard, tiểu bang
Washington,. Chuyện này được tờ The News Trinbune (Tacoma,
Washington) số ra ngày 25/3/3009 loan tin như sau:
“PORT ORCHARD: Một người đàn ông
nhận tội sát nhân bắn chết người cha ruột.- …. “Vào ngày 6
tháng 4 (2009), Warren sẽ phải đương đầu với bản án giết
chết người cha ruột tên là Russell Warren 61 tuổi vào ngày
11 tháng 10 năm 2004, khi nạn nhân đang ngồi coi TV ở trong
nhà.” (“PORT ORCHARD: Man pleads guilty to murder in
shooting of his father.- Warren faces sentencing April 6
(2009) for killing his father, 61 year-old Russell Waren,
who was shot while watching television at his home Oct.11,
2004.”)[11]
Hành động của thằng warren bắn chết cha ruột
của nó khiến cho chúng ta nhớ lại lời Chúa con Jesus phán
trong Thánh Kinh [Matthew (10: 34-37)] với nguyên văn như
sau:
“Ta đến đây không phải mang lại sự
bình an, mà là mang gươm dáo. Ta đến để con trai chống lại
cha, con gái chống lại mẹ, con dâu chống lại mẹ chồng và làm
cho người trong nhà trở thành thù địch chống lại nhau. Kẻ
nào yêu kính cha mẹ hơn ta thì không đáng gì đối với Ta, và
kẻ nào yêu thương con cái hơn Ta cũng không đáng gì đối với
Ta. ” Nguyên văn: “Do not think that I came to
bring peace on earth. I did not come to bring peace but a
sword.” “For I have come to set a man against his father, a
daughter against her mother, and a daugher-in-law against
her mother-in–law.” “And a man’ s foe will be of his own
household.” “He who loves father or mother more than Me is
not worthy of Me. And he who loves son or daughter more than
Me is not worthy of Me.”
Sựu kiện này cho chúng ta thấy rõ lời dạy của Chúa hay
trong thánh kinh là nguyên nhân trực tiếp đến những hãnh động tội ác phản nhân
luân và dã man của những tên tội đồ như đã nói ở trên trong xã hội Ki-tô
giáo.
Chuyện thứ 6: Đây là môt giáo
sĩ chủ tâm sát hại đứa con ruột của mình để được tiếp tục
hành nghề linh mục. Chuyện như sau: Vì muốn duy trì cái địa
vị hay chức vụ trong cái nghề nói láo, vừa được sống đời phủ
phê, vừa được giáo dân trọng vọng xưng tụng là “cha”, ông
Linh-muc Dagoberto Valle Arriaga nhẫn tâm giết cả
đứa con ruột của ông ta để phi tang với hy vọng sẽ không bị
bứng ra khỏi cái nghề béo bở này. Câu chuyện dã man này được
tờ Seattle Times số ra ngày Thứ Sáu 12/8/2007 loan tin trong
mục Nation & World với tựa đề là “Một linh mục giết chết
đứa con của ông ta và lãnh án 55 năm tù”. Dưới đây là nguyên
văn bản tin này:
“Mexico priest who killed son
sentenced to 55 years
By The Associated Press
“Tin từ Mexico City.- Một linh
mục người Mễ Tây Cơ bị tuyên án 55 năm tù vì tội giết chết
người con trai của ông ta với mục đích không cho cấp trên
của ông ta biết rằng ông ta có con, công tố viện nói như
vậy vào ngày Thứ Năm (11/8/2007).
Văn phòng Bộ Tư Pháp của Mễ Tây
Cơ nói rằng Linh-mục Dagoberto Valle Arriaga thú nhận rằng
hai năm trước, ông đã giết đứa con trai của ông tên là Oscar
Emmanuel Valle Hernandez. Linh-mục Dagoberto Valle Arriaga
đã ăn ở với một người đàn bà tên là Maria Felix Hernandez
Espinoza và là cha đẻ ra người con này. Bản thông cáo của
chính quyền nói rằng ông linh mục này sợ rằng các viên chức
của Giáo Hội biết được ông có người con này và sẽ đuổi ông
ra khỏi cái nghề làm linh mục. Ông Valle lả một linh mục của
Giáo Hội La Mã ở thành phố Texcoco. Thành phố này nằm ở
phía đông Thủ Đô Mexico City. Hôm Thứ Năm (11/8/2007) người
ta đã gọi điện thoại đến Giáo Phận Texcoco, nhưng không
được trả lời. Văn phòng Bộ Tư Pháp nói rằng, ngày 14/9/2005,
Linh-muc Dagoberto Valle Arriaga bắt cóc đứa con trai của
ông ở thành phố Ecatepec cũng nằm trong nước Mễ Tây Cơ và
đem nó đến miền cận bắc tiểu bang Guanajuato rồi giết nó.
Chính quyền không nói rõ tuổi của
đứa bé, ngày nào đứa bé này bị sát hại và sát hại như thế
nào. Hội Trẻ Em Mất Tích Mễ Tây Cơ báo cáo rằng khi mất tích
thì em bé này được 8 tuổi, sau đó không bao lâu thì em bị
sát hại. Ngoài cái án 55 năm tù, Linh-mục Dagoberto Valle
Arriaga còn bị phạt 10 ngàn Mỹ kim.”
Nguyên văn: MEXICO CITY.- A
Mexican priest has been sentenced to 55 years in prison for
killing a son he did not want his superiors to discover,
prosecutors said Thursday. The Rev. Dagoberto Valle Arriaga
confessed to killing his son, Oscar Emmanuel Valle
Hernandez, two years ago, said the attorney general's office
for the central state of Mexico. Valle, who fathered the
child with a woman identified as Maria Felix Hernandez
Espinoza, was afraid church officials would learn of the
child's existence and remove him from the priesthood,
authorities said in a statement. Valle was a Roman Catholic
priest in the city of Texcoco, east of Mexico City. A
telephone call to the diocese in Texcoco was not returned
Thursday. Valle kidnapped his son in the city of Ecatepec,
also in Mexico state, on Sept. 14, 2005, and brought him to
the north-central state of Guanajuato, where he eventually
killed him, the attorney general's office said.
Authorities did not release the exact
day of the murder, the age of the child or describe the
circumstances. The Mexican Association of Missing Children
reported that the child was 8 years old when he disappeared,
shortly before his death. Valle also faces a fine of
$10,000.” [12]
Tóm lại, nguyên nhân khiến cho Linh-mục
Dagoberto Valle Arriaga giết đứa con ruột của ông ta vì sợ
rằng sự hiện diện hay tồn tại của đứa con bất hạnh này sẽ có
thể làm cho ông ta bị Giáo Hội không cho ông ta hành nghề
linh mục nữa. Việc làm tội ác dã man này bị phát giác. Ông
tu sĩ đa-tô này bị đưa ra trước pháp đình, bị xử phạt 10
ngàn tiền phạt và 55 năm tù.
Chuyện thứ 7: Chuyện này xẩy ra tại giáo phận Joliet thuộc tiểu bang
Illinois vào năm trước năm 1992 được báo chi phanh phui rồi đưa
ra trước
công luận và được ông Charlie Nguyễn sưu tầm, ghi lại trong
cuốn Thực Chất Đạo Công Giáo & Các Đạo Chúa trong đó có mấy
đọan chính với nguyên văn như sau:
“Đối với những thiếu niên của những
gia đình ngoan đạo thì các tu sĩ Công Giáo luôn luôn được
chúng coi là những người thánh thiện (holy men) và có uy tín
hơn cả cha mẹ của chúng. Khi bị các tu sĩ lạm dụng tình dục,
chúng không dám về mách cha mẹ vì sợ bị cha mẹ la mắng hay
trừng phạt. Năm 1992, một số nhà tâm lý học đã phỏng vấn 15
em nhỏ ở Lafayeete, Louisiana bị tu sĩ lạm dụng tình dục.
Các em cho biết đã không dám tố cáo vì bị các linh mục hăm
dọa: "Nếu tố cáo sẽ bị Chúa đầy xuống hỏa ngục" hoặc "mày
phải câm miệng, nếu không, quỷ sẽ bắt mày!" Mấy bé gái bị
linh mục sờ mó đã khai: "Cha nói Chúa đã chọn con để giúp
cha biết cái đó thế nào!".. .Trong chương này có một
chuyện đáng chú ý. Đó là chuyện của Cristine Clark
thuộc giáo phận Joliet, Illinois. Lúc cô lên 7 tuổi, đi học
lớp giáo lý để rước lễ lần đầu thì cô đã bị cha xứ là Ed Staphanie dụ dỗ hôn hít sờ mó. Năm cô 14 tuổi,
cô bị cha xứ dạy cách thủ dâm cho ông ta. Năm 18 tuổi, cha
xứ giao cấu với cô. Lúc này cô tỏ ra rất lo lắng vì sợ tội.
Cha khẳng định giao cấu với cha không có tội vì đó là ý
Chúa. Sau đó, Cristine không thể chịu đựng được nữa nên
nói với cha mẹ ý định tố cáo nội vụ trước cảnh sát. Linh-mục
Ed Stephanie thấy nguy nên trình sự việc với Tòa Giám Mục
Joliet. Tòa giám mục này cho người đến trao cho gia đình
Cristine số tiền 450 ngàn đô-la để mua sự im lặng.
Ngày 15/4/1988, Cristine ký giấy cam
kết không tố cáo. Tuy nhiên, Linh-mục Ed Staphanie bị nhiều
người khác tố cáo nên y bị cảnh sát bắt vào mùa thu năm
1992.” [13]
Phần trình bày trên đây cho chúng ta
thấy rõ con người được đào tạo “theo tinh thần Công Giáo”
để “sống đạo theo đức tin Ki-tô” và “sống theo
lương tâm Công Giáo” là những con người súc sinh, đúng
như nhà báo Long Ân đã nhận xét mà chúng tôi đã ghi lại ở
trên.
CHÚ THÍCH
[1]
Nguyễn Mạnh Quang, Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa Toàn
Thư 1954-1953 (Houston, TX: Văn Hóa, 2000), tr.
340.
[2]
Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 275-278.
[4] Đạt
Phạm. "Chuyện Cấm Đàn Bà" Dat_Pham@Dell.com. Ngày
16 Feb 2004.
[5] Jack
T. Chick, Smokescreens (Chino, CA: Chick
Publications, 1983), p. 17.
[6] Jack
T. Chick, Ibid., 32.
[7]
Peter de Rosa. Vicars of Christ (New York:Crown
Publisher Inc., 1988), p 403.
[8] The
Associated Press. “Father pleads guilty to keep
daughter in dungeon for years.” The News Tribune
[Tacoma, Washington] 19 March 2009, Morning edition:
A3.
[9]
Sàigòn Nhỏ số 640, ngày 20/3/2009 – trang 12.
[10]
David Briggs (The Associated Press) "Clerics: Is the
World Better without heinois criminals?" The
Columbian. [Vancouver, WA] December 19, 1994: C7.
[11]
The News Tribune [New York] 25 March 2009. Morning
edition: B2.
[12]
The Associated Press. “Mexico priest who killed son
sentenced to 55 years.” Seattle Times [Seattle]
12/8/2007.
[13]
Charlie Nguyễn, Thực Chất Đạo Công Giáo và Các
Đạo Chúa (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2003),
tr. 76-77.